Nghiệp & Quả Báo 26 - Khẩu Nghiệp Đáng Sợ
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 26
Khẩu Nghiệp Đáng Sợ!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phá hòa hợp tăng PAGEREF _Toc160820467 \h 1
II. Nguy hại nói nhiều và lợi ích nói vừa phải PAGEREF _Toc160820468 \h 2
III. Khẩu nghiệp khen - chê PAGEREF _Toc160820469 \h 3
IV. Khẩu nghiệp – búa ở trong miệng PAGEREF _Toc160820470 \h 5
V. Dặn dò PAGEREF _Toc160820471 \h 13
I. Phá hòa hợp tăng
" - Phá hòa hợp tăng, phá hòa hợp tăng, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là phá hòa hợp Tăng?
- Ở đây, này Upàli, các Tỳ-kheo:
1. Thuyết phi pháp là pháp.
2. Thuyết pháp là phi pháp.
3. Thuyết phi luật là luật.
4. Thuyết luật là phi luật.
5. Thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai nói, Như Lai thuyết.
6. Thuyết điều Như Lai có nói, có thuyết, là điều Như Lai không nói, không thuyết.
7. Thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường sở hành.
8. Thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai không thường sở hành.
9. Thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai chế đặt.
10. Thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai không có chế đặt.
Chính do mười sự này, họ phá hoại, họ chia rẽ, họ hành bất động yết-ma, họ tuyên đọc giới bổn Pàtimokkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là chúng Tăng bị phá hoại" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (V). Phá Hòa Hợp Tăng)
Những điều Đức Phật không nói thì lại bảo là Đức Phật nói, còn những điều Đức Phật nói thì lại bảo cái đó không có nói, những điều này rất thâm sâu. Mình đem hai chữ "chánh pháp" ra hỏi thử một người xuất gia thì chưa chắc họ biết chánh pháp là gì chứ đừng nói chi là cư sĩ, nhưng nếu không biết chánh pháp là gì thì làm sao tu? Ngay cả không phải người xuất gia bình thường mà những nhà nghiên cứu cho nên chúng ta rất phước đức, phải nắm bắt cơ hội quý báu này.
Chánh pháp là luôn nhìn lại thân thể của mình nó làm bằng cái gì, từ cái gì mà nó kết hợp và nó tan hoại như thế nào, tâm mình như thế nào, duyên gì nó sanh và duyên gì nó diệt, cái tâm dơ bẩn như thế nào và cần tẩy rửa như thế nào, tẩy rửa như thế nào là đúng cách, nhìn ra được các cảm giác, những nguyên nhân làm mình khổ đau, dập tắt những nguyên nhân đó thì đó là chánh pháp. Nhiều khi đi chùa lạy 30 năm còn chưa biết chánh pháp là gì thành ra mình rất may mắn nên phải nắm bắt cơ hội quý báu này. Khi đã nghe, đã hiểu chánh pháp thì phải thực tập, thực hành, đừng cô phụ công đức của Đức Phật và các bậc Thánh.
II. Nguy hại nói nhiều và lợi ích nói vừa phải
Kính bạch chư tôn thiền đức và các bậc hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục chuyên đề về nghiệp trong kinh tạng Nikāya, hôm nay chúng ta sẽ bước qua những bài kinh liên quan đến khẩu nghiệp, trong Tăng Chi Bộ kinh, tập II, bài kinh Người nói nhiều.
" - Có năm nguy hại này cho người nói nhiều. Thế nào là năm?
Nói láo; nói lời hai lưỡi; nói lời độc ác; nói lời phù phiếm; sau khi thân hoại hạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này cho người nói nhiều" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (IV). Người Nói Nhiều)
Trên đây là năm nguy hiểm và tác hại của một người nói nhiều.
"Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người nói vừa phải. Thế nào là năm?
Không nói láo; không nói hai lưỡi; không nói lời độc ác; không nói lời phù phiếm; sau khi thân hoại hạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người nói vừa phải" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (IV). Người Nói Nhiều)
Không phải là không nói mà là nói vừa phải, hai chữ "vừa phải" này là đề tài cho chúng ta quán chiếu, tu tập. Bài kinh này ngắn gọn nhưng rất quan trọng, Đức Phật dùng hai từ "nói nhiều" và "nói vừa phải", khi mình bực bội, sân hận lên mà mình nói vừa phải thì mình sẽ ngăn chặn được khẩu nghiệp.
III. Khẩu nghiệp khen - chê
Bài kinh thứ hai là bài kinh Mất gốc trong Tăng Chi Bộ, tập I, trong bài kinh này Đức Phật sẽ cho chúng ta biết khẩu nghiệp khen chê phải cẩn thận, Đức Phật sẽ cho chúng ta thấy thế nào là người không có thông minh và bị mất gốc.
"- Tán thán, không tán thán, tín nhiệm, không tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là bốn ?
Không có suy xét, không có cứu xét, tán thán người không đáng tán thán ;
Không có suy xét, không có cứu xét, không tán thán người đáng được tán thán ;
Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ không đáng tín nhiệm;
Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự bất tín nhiệm tại những chỗ đáng được tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagàma, (III). Mất Gốc (1))
Đúng ra gặp ai cũng khen là tốt mà? Có nhiều người nói đạo nào cũng tốt, những cái này rất sâu sắc, chỉ có Nikāya mới chỉ ra điều này. Trong Nikāya hết 80-90% là thiền quán, quán xét, tư duy quán sát, người đáng khen thì lại không khen, người không đáng khen thì lại khen, mình xưng tán người không đáng xưng tán, mình ca tụng người không đáng được ca tụng, mình xưng vương, tán thưởng, khen ngợi một người không đáng thì Đức Phật gọi đó là kẻ ngu, mất gốc.
Trong kinh Nikāya Đức Phật sẽ lặp tới lặp lui những ý quan trọng, không suy xét, không cứu xét tức là không có chánh tư duy, không có chánh kiến, không nhìn kĩ, không xét kĩ, nghe người ta nói là tin, tin vào những điều không đáng tin, không nên tin, như vậy gọi mà mê tín, cuồng tín. Những gì Đức Thế Tôn nói rất vắn tắt, điều là định lý, khẩu quyết, đó là những cấu trúc, định luật cho nên muốn hiểu phải chiêm nghiệm, quán sát, suy tư, thiền quán rất nhiều.
Nói tiếng việt là những cái đáng khen thì không khen, cái không đáng khen thì lại khen, những chỗ nên tin thì không tin, những chỗ không nên tin thì lại tin, nếu người nào rơi vào đầy đủ bốn điều này thì Đức Phật gọi là mất gốc, không thông minh, không phải bậc chân nhân, thương tích, phạm tội, bị người trí quở trách, tạo nên nhiều phạm tội, vô phước.
"Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như một người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là bốn?
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, không tán thán những người không đáng được tán thán;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tán thán những người đáng được tán thán;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự bất tín nhiệm tại những chỗ không đáng được tín nhiệm;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ đáng được tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều điều phước đức.
Ai khen người đáng chê
Ai chê người đáng khen
Kẻ ấy với miệng lưỡi
Chứa chấp điều bất hạnh
Do vì bất hạnh ấy
Không tìm được an lạc
Nhỏ nhen không đáng kể
Là loại bất hạnh này
Bất hạnh do cờ bạc
Phá hoại các tài sản
Lớn hơn, lớn hơn nhiều
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người
Và cả với riêng mình
Những ai với ác ý
Ðối với bậc Thiện thệ
Trải qua một trăm ngàn
Thời Nirabbudà
Và cộng ba mươi sáu
Với năm Abbudà
Bị sanh vào địa ngục
Trong suốt thời gian ấy
Nếu mắng nhiếc bậc Thánh
Với lời, ý, nguyện ác" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagàma, (III). Mất Gốc (1))
IV. Khẩu nghiệp – búa ở trong miệng
Những điều này rất quan trọng chúng ta cần chiêm nghiệm rất nhiều.
"Bấy giờ có Tỳ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Vị Tỳ-kheo này đi đến Đức Thế Tôn nói ngài Mục-kiền-liên và ngài Xá-lợi-phất có những tham muốn xấu ác, gọi là ác dục
"- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ hai, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục'
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ ba, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: ... Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Đức Phật lặp lại 3 lần bảo rằng vị Tỳ-kheo này chớ nói như vậy, hãy tin tưởng một cách trong sạch vào tôn giả Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất. Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất là những bậc rất hiền thiện, hiền trí, hiền tuệ. Vị này nói Thế Tôn tin thì tin nhưng đối với ông hai vị này có ham muốn xấu ác, Đức Thế Tôn 3 lần ngăn cản nhưng thầy Tỳ-kheo này vẫn không nghe lời can ngăn, khuyên bảo của Đức Phật. Lần thứ tư Đức Phật lặp lại đừng nói như vậy, tuy nhiên vị này vẫn khăng khăng cố chấp như vậy.
"Rồi Tỳ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân của Tỳ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Amala (A-ma-lặc); sau khi lớn lên bằng trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Đức Thế Tôn đã bốn lần khuyên ngăn nhưng vị Tỳ-kheo này với ác kiến, cố chấp, khăng khăng không chịu nghe lời Đức Phật nên trên thân thể nổi lên những mụt như hạt đậu xanh, lớn dần thành hạt đậu trắng rồi thành hạt đậu ngự, lớn dần thành trái cam, trái dưa và cuối cùng những mụt đó bể ra, máu chảy ra, mủ chảy ra toàn cơ thể, vị này ngã xuống, Đức Thế Tôn ví dụ giống như con cá nằm trên lá chuối bị trúng độc. Hình ảnh này hết sức khủng khiếp, đó là hậu quả của việc phỉ báng bậc Thánh, vu khống bậc Thánh.
"Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỳ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
- Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
- Ông là ai?
- Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.
- Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Những bậc Độc Giác là tự mình giác ngộ, phạm thiên là vua trời, tức là vừa là vua trời vừa có sự giác ngộ trong Thánh trí tuệ, đây là Thánh đệ tử thiên. Vị Tỳ-kheo này hỏi phạm thiên là ai, Thế Tôn nói ông ấy chứng Bất Lai Thánh quả rồi thì đến đây để làm gì, "đây là chuyện của tôi", đến mức độ như vậy, Thế Tôn khuyên ngăn bốn lần, bây giờ được bậc Thánh đệ tử thiên là Độc Giác Phạm thiên Bất Lai Thánh quả can ngăn cũng không nghe. Ở đây chúng ta thấy được rằng Bất Lai là không trở lại nhưng tại sao ở đây trở lại? Tâm các ngài đã tự tại cho nên mình tu đừng sợ mai này không gặp hay không độ được ai, chỉ sợ mình không hết tham, sân, si chứ đừng sợ mai này hết tham, sân, si rồi không độ được ai. Đừng lo độ người ta, phải lo độ cái tham, sân, si của mình, chưa gì đã sợ nếu vào Bất Lai rồi thì làm sao trở lại thế giới này nữa, các ngài tự tại đối với lục đạo.
Đối với các bậc Thánh thì 1000 thế giới cũng như bong bóng thôi, có những bài kinh Đức Phật nói nếu ngài vào trong hội chúng Bà-la-môn thì ngài thành Bà-la-môn, nếu vào hội chúng tu sĩ thì ngài thành tu sĩ, ngài vào hội chúng phạm thiên thì ngài thành phạm thiên, từ bài kinh đó sau này mới có ra các bản ứng hóa thân, ý sanh thân.
"Này các Tỳ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ.
Này các Tỳ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, ... hàng trăm hội chúng Gia chủ, ... hàng trăm hội chúng Sa-môn, ... hàng trăm hội chúng Bốn Thiên vương, ... hàng trăm hội chúng cõi Trời Ba mươi ba,... hàng trăm hội chúng Màra.... hàng trăm hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (IX). Các Hội Chúng)
Cho nên chỉ sợ mình chưa diệt hết tham, sân, si đối với ngũ uẩn chứ đừng sợ diệt hết thì làm sao, chỉ sợ nó không hết thôi chứ hết rồi thì khỏe, không còn gì ràng buộc, dính mắc nữa. Trở lại vấn đề thì vị này là độc giác Bất Lai Thánh quả ở Tịnh Cư Thiên.
"Con người được sanh ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
"Con người được sanh ra, Sanh với búa trong miệng" câu này chúng ta tụng trong oai nghi Sa-di, chính là được trích từ trong kinh này ra. "Phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu trung, sở dĩ trạm thân, do kỳ ác ngôn" nghĩa là phàm con người ở đời như búa để trong miệng, sở dĩ giết người là do lời nói ác. Ngày xưa con học luật là phải thuộc cả âm lẫn nghĩa, bây giờ các chú xuất gia không biết nghĩa có thuộc không nữa, 6 tháng xuất gia là thuộc cả bốn cuốn luật cả âm lẫn nghĩa là Tỳ-ni, Sa-di, oai nghi, Cảnh Sách cho nên học thuộc sẽ giúp cho mình rất nhiều cái tốt.
Mình nghĩ rằng nói lời dữ dằn để trảm người ta nhưng không ngờ lại chặt mình trước. Vị phạm thiên này nói bất hạnh do cờ bạc, rượu chè tán gia bại sản, từ đỉnh cao đại gia trong phút chốc thành kẻ ăn mày hay tù tội thì chuyện đó bất hạnh nhỏ thôi, còn cái bất hạnh lớn làm mất chính mình, mất tất cả là khởi ác ý đối với các bậc Thánh, phải rơi vào trong địa ngục chịu đau khổ lâu dài.
"Rồi Tỳ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỳ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Nghe tên là sen hồng thì tưởng đẹp nhưng thật ra rất khủng khiếp.
"Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna'. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã qua, bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đêm nay Phạm thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: "Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna". Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Khi nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu, là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?
- Này Tỳ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Một vị Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn rơi vào địa ngục sen hồng thì phải sống bao lâu trong đó, Thế Tôn nói khó tính bằng con số.
"- Bạch Thế Tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?
- Có thể được, này Tỳ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn, này Tỳ-kheo, là cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một Abbuda địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Nirabbuda địa ngục bằng một Ababà địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Ababà địa ngục bằng một Ahaha địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Ahaha địa ngục là bằng một Atato địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Atato địa ngục bằng một Kumodo địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Kumodo địa ngục là bằng một Sogandhika địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Sogandhika địa ngục bằng một Uppalako địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Uppalako địa ngục bằng một Pundarika địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Pundarika địa ngục bằng một Paduma địa ngục . Này Tỷ kheo, Tỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Con sẽ nói cho dễ hiểu, ví dụ một chiếc xe tải 50 tấn trong đó chở đầy các hột mè, cứ một trăm năm lấy một hột, lấy hết hột mè trong đó cũng chưa đủ một phần trăm của tuổi thọ trong địa ngục sen hồng đó, như vậy làm sao có thể tính bằng con số được. Ví dụ thứ hai là một ngọn núi cao, rộng vuông vức 18 cây số, dài 18 cây số, cao 18 cây số, cứ một trăm năm lại cầm cái khăn phủi ngang một lần, phủi cho đến khi nào ngọn núi đó tan thành cát bụi cũng chưa đủ một kiếp trong địa ngục sen hồng này vậy mà vị Tỳ-kheo phỉ báng ngài Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất rơi vào trong đó.
Chúng ta có thấy cái miệng của mình khủng khiếp không? Đáng sợ không? Kinh hãi không? Đức Thế Tôn ngăn lại 3 lần cũng không chịu, cứng đầu cứng cổ cố chấp, Đức Thế Tôn nói lần thứ tư cũng không chịu, đến khi trên người nổi lên cái mụt nhỏ từ hạt đậu xanh, lớn dần thành đậu trắng, đậu ngự, lớn như trái chanh, thành trái quýt, trái táo, thành dưa gang rồi cuối cùng bể ra, chảy mủ, chảy máu, ngã xuống nằm đó cho đến chết.
"Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay loại bàng sanh.
Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
Người theo ác giới, này các Tỳ-kheo, có hai chấp nhận: địa ngục hay loài bàng sanh. Người đầy đủ thiện giới, này các Tỳ-kheo, có hai chấp nhận: chư Thiên và loài Người" (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, III. Phẩm Người Ngu)
Sanh thú là chỗ thú hướng của thọ sanh, tức là đời sau. Nếu có chánh kiến và thiện giới thì sanh nhân thiên, còn tà kiến và ác giới thì sanh vào địa ngục hoặc làm bàng sanh, súc sanh. Vì vậy phải cẩn thận trong việc khen chê, khẩu nghiệp, chúng ta tu trong chánh pháp này thì những vị hướng Dự Lưu là không khó, thậm chí có những bậc hơn thế nữa. Chúng ta tu thì cần cẩn thận với khẩu nghiệp, không chỉ trong chúng mới cẩn thận mà với tất cả đều phải cẩn thận, cẩn thận cái chê khen, phải suy xét thật kĩ, quán sát cho thật sâu sắc.
V. Dặn dò
Con tán thán những vị tham dự khóa tu tịnh khẩu vì điều này rất cần thiết, trong giờ đó mình ít nói chuyện thì mình mới quay lại nhìn được sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình, mới nhìn được thân – thọ – tâm – pháp của mình, chuyện gì cần thiết mới trao đổi, nếu nói nhiều sẽ rơi vào 5 lỗi lúc đầu là nói dối, nói hai lưỡi, nói lời hung ác, độc ác, nói lời phù phiếm, sau khi thân hoại mạng chung rơi vào địa ngục vì thế phải hết sức cẩn thận với lời nói.
Trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế có biết bao người phỉ báng, chửi mắng ngài, còn ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là rải rác trong các bài kinh, các ngài bị các bạn đồng phạm hạnh, các bạn đồng tu ganh tỵ, đố kỵ, ghen ghét, ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng bị nhiều mũi tên bắn về mình.
"Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người"
(Kinh Pháp Cú 23 – Phẩm Voi, kệ 320)
Đức Thế Tôn dạy mình sau khi suy xét, sau khi cứu xét không khen những người không đáng khen, sau khi suy xét, sau khi cứu xét khen những người đáng được khen, sau khi suy xét, sau khi cứu xét không tin những chỗ không đáng tin và tin những điều đáng phải tin tưởng vì thế Thánh quả Dự Lưu là tịnh tín bất động đối với Đức Phật, tịnh tín bất động đối với Thánh pháp, bốn thánh trí về ngũ uẩn, tứ thánh đế, bát thánh đạo, đó là tin vào chỗ đáng tin, trong kinh ghi lại ai tin vào Như Lai là người đó có lòng tin tối thượng, ai có lòng tin tối thượng sẽ đạt được quả dị thục tối thượng.
" - Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Này các Tỳ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Đó là bốn Dự Lưu phần, bốn điều kiện, bốn yếu tố để mình chính thức bước vào hàng đệ tử của Đức Phật, Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh cho nên không phải nghe cái gì cũng tin. Phụ nữ rất dễ tin nhưng cũng đường nghĩ nam giới không dễ tin cho nên phải chánh tín, chánh kiến. Có một đạo ở nước ngoài xúi người ta nhịn đói chết để lên được thiên đàng, chết đã hơn 70 người, mất tích cả trăm người.
Với một xã hội hiện đại, văn minh, khoa học, tri thức nâng cao như vậy mà vẫn có những người tin như thế, với một sự không hiểu biết, không có lòng tin chân chánh, không có sự thấy biết chân chánh thì đi vào tà kiến và ác giới, tức là có cái nhìn lệch lạc, sai lầm, nhìn không đúng với nhân quả thì cái nhìn đó đưa mình đi vào địa ngục, bàng sanh, súc sanh. Dưới đây là 11 quả báo của người phỉ báng bậc Thánh:
"Này các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích quở trách các bậc Thánh là những vị đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội người ấy không gặp một trong mười một tai họa.
Thế nào là mười một:
Không chứng điều chưa chứng.
Đã chứng được thời mất đi.
Diệu pháp không được tỏ rõ.
Hay là tự kiêu trong diệu pháp.
Hay là không hoan hỷ sống Phạm hạnh.
Hay phạm một tội ô uế.
Hay từ bỏ Phạm hạnh và hoàn tục.
Hay là thọ bệnh nặng.
Hay là đạt đến điên cuồng loạn tâm.
Hay là bất tỉnh mệnh chung.
Sau khi thân hoại mạng chung rơi vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh là những đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội rằng người ấy không gặp một trong mười một tai họa này" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, I. Phẩm Y Chỉ, (VI). Tai Họa)
Mình không thể biết được ai là Thánh phàm, nhất là tu đúng Chánh Pháp thì việc đi vào đạo và quả là không có khó, không có xa vời cho nên một người mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh thì người đó chắc chắn sẽ rơi vào 11 tai họa trên. Bậc đạo sư hướng dẫn vẽ cái bàn thờ để thờ cái miệng của mình rồi lạy cái miệng của mình, không phải người khác hại mình mà mình thấy rõ ràng là chính cái miệng của mình hại mình.
Mong rằng những bài kinh hôm nay sẽ có một sự ấn tượng sâu sắc, khắc ghi vào tâm của tất cả chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận với khẩu nghiệp, giữ gìn lời nói thật kĩ lưỡng và hình ảnh của Tỳ-kheo Kokàlika đã chứng minh cho quả báo kinh hoàng, khiếp đảm, kinh hãi của những lời nói ác, nhất là phỉ báng các bậc Thánh. Đây là bài học rất lớn, rất sâu, cảnh tỉnh tất cả hữu tình chúng sanh, trong đó có chúng ta phải cẩn thận thực hành lời nói từ ái, hiền hòa, cung kính sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc trong hiện tại và nhiều hạnh phúc, an lạc dài lâu trong tương lai.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Chú Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con kính tri ân công đức trên ban hoằng pháp trung ương đã cho chúng bài pháp thoại ngày hôm nay, con kính trên ân trên thầy vì bài pháp thoại ngày hôm nay rất sâu sắc và ý nghĩa cho chúng con. Con chỉ có một ý muốn hỏi thượng tọa, như lời thượng tọa giảng dạy thì con cảm nhận khi lời mình nói ra đem lại thiện pháp cho mình và cho người thì nên nói, còn lời nào không đem lại thiện pháp cho mình và cho người thì im lặng dù đấy là sự thật hoặc không phải là sự thật vì có những sự thật khi nói ra không được tốt đẹp, không đưa đến đoàn kết thì nên im lặng thì tốt hơn. Chỗ này con chưa hiểu, kính xin thượng tọa giảng dạy cho con tốt hơn.
Sư Phụ: Điều này thì Đức Phật có dạy chúng ta rằng ngài không tuyên bố cái gì thấy là phải nói hoặc là cái gì nghe phải nói, cái gì cảm xúc phải nói hay không nói. Nếu lời nói ra đưa đến thiện pháp thì nên nói, việc làm đưa đến thiện pháp thì nên làm, còn việc làm đưa đến bất thiện pháp thì không nên nói, không nên làm. Chúng ta cứ căn cứ vào bất thiện và thiện, giữa nghiệp lành và nghiệp thiện làm chuẩn mực, trong ý nghĩ, lời nói, hành động của mình đều có trạch pháp, đều có một sự quán sát, suy xét, nhận định rạch ròi giữa thiện và bất thiện, nếu thiện thì mình nói.
./.
Nghiệp & Quả Báo 26
Khẩu Nghiệp Đáng Sợ!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Phá hòa hợp tăng PAGEREF _Toc160820467 \h 1
II. Nguy hại nói nhiều và lợi ích nói vừa phải PAGEREF _Toc160820468 \h 2
III. Khẩu nghiệp khen - chê PAGEREF _Toc160820469 \h 3
IV. Khẩu nghiệp – búa ở trong miệng PAGEREF _Toc160820470 \h 5
V. Dặn dò PAGEREF _Toc160820471 \h 13
I. Phá hòa hợp tăng
" - Phá hòa hợp tăng, phá hòa hợp tăng, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là phá hòa hợp Tăng?
- Ở đây, này Upàli, các Tỳ-kheo:
1. Thuyết phi pháp là pháp.
2. Thuyết pháp là phi pháp.
3. Thuyết phi luật là luật.
4. Thuyết luật là phi luật.
5. Thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai nói, Như Lai thuyết.
6. Thuyết điều Như Lai có nói, có thuyết, là điều Như Lai không nói, không thuyết.
7. Thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường sở hành.
8. Thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai không thường sở hành.
9. Thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai chế đặt.
10. Thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai không có chế đặt.
Chính do mười sự này, họ phá hoại, họ chia rẽ, họ hành bất động yết-ma, họ tuyên đọc giới bổn Pàtimokkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là chúng Tăng bị phá hoại" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (V). Phá Hòa Hợp Tăng)
Những điều Đức Phật không nói thì lại bảo là Đức Phật nói, còn những điều Đức Phật nói thì lại bảo cái đó không có nói, những điều này rất thâm sâu. Mình đem hai chữ "chánh pháp" ra hỏi thử một người xuất gia thì chưa chắc họ biết chánh pháp là gì chứ đừng nói chi là cư sĩ, nhưng nếu không biết chánh pháp là gì thì làm sao tu? Ngay cả không phải người xuất gia bình thường mà những nhà nghiên cứu cho nên chúng ta rất phước đức, phải nắm bắt cơ hội quý báu này.
Chánh pháp là luôn nhìn lại thân thể của mình nó làm bằng cái gì, từ cái gì mà nó kết hợp và nó tan hoại như thế nào, tâm mình như thế nào, duyên gì nó sanh và duyên gì nó diệt, cái tâm dơ bẩn như thế nào và cần tẩy rửa như thế nào, tẩy rửa như thế nào là đúng cách, nhìn ra được các cảm giác, những nguyên nhân làm mình khổ đau, dập tắt những nguyên nhân đó thì đó là chánh pháp. Nhiều khi đi chùa lạy 30 năm còn chưa biết chánh pháp là gì thành ra mình rất may mắn nên phải nắm bắt cơ hội quý báu này. Khi đã nghe, đã hiểu chánh pháp thì phải thực tập, thực hành, đừng cô phụ công đức của Đức Phật và các bậc Thánh.
II. Nguy hại nói nhiều và lợi ích nói vừa phải
Kính bạch chư tôn thiền đức và các bậc hiền trí, hôm nay chúng ta tiếp tục chuyên đề về nghiệp trong kinh tạng Nikāya, hôm nay chúng ta sẽ bước qua những bài kinh liên quan đến khẩu nghiệp, trong Tăng Chi Bộ kinh, tập II, bài kinh Người nói nhiều.
" - Có năm nguy hại này cho người nói nhiều. Thế nào là năm?
Nói láo; nói lời hai lưỡi; nói lời độc ác; nói lời phù phiếm; sau khi thân hoại hạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này cho người nói nhiều" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (IV). Người Nói Nhiều)
Trên đây là năm nguy hiểm và tác hại của một người nói nhiều.
"Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người nói vừa phải. Thế nào là năm?
Không nói láo; không nói hai lưỡi; không nói lời độc ác; không nói lời phù phiếm; sau khi thân hoại hạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này cho người nói vừa phải" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc, (IV). Người Nói Nhiều)
Không phải là không nói mà là nói vừa phải, hai chữ "vừa phải" này là đề tài cho chúng ta quán chiếu, tu tập. Bài kinh này ngắn gọn nhưng rất quan trọng, Đức Phật dùng hai từ "nói nhiều" và "nói vừa phải", khi mình bực bội, sân hận lên mà mình nói vừa phải thì mình sẽ ngăn chặn được khẩu nghiệp.
III. Khẩu nghiệp khen - chê
Bài kinh thứ hai là bài kinh Mất gốc trong Tăng Chi Bộ, tập I, trong bài kinh này Đức Phật sẽ cho chúng ta biết khẩu nghiệp khen chê phải cẩn thận, Đức Phật sẽ cho chúng ta thấy thế nào là người không có thông minh và bị mất gốc.
"- Tán thán, không tán thán, tín nhiệm, không tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là bốn ?
Không có suy xét, không có cứu xét, tán thán người không đáng tán thán ;
Không có suy xét, không có cứu xét, không tán thán người đáng được tán thán ;
Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ không đáng tín nhiệm;
Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự bất tín nhiệm tại những chỗ đáng được tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagàma, (III). Mất Gốc (1))
Đúng ra gặp ai cũng khen là tốt mà? Có nhiều người nói đạo nào cũng tốt, những cái này rất sâu sắc, chỉ có Nikāya mới chỉ ra điều này. Trong Nikāya hết 80-90% là thiền quán, quán xét, tư duy quán sát, người đáng khen thì lại không khen, người không đáng khen thì lại khen, mình xưng tán người không đáng xưng tán, mình ca tụng người không đáng được ca tụng, mình xưng vương, tán thưởng, khen ngợi một người không đáng thì Đức Phật gọi đó là kẻ ngu, mất gốc.
Trong kinh Nikāya Đức Phật sẽ lặp tới lặp lui những ý quan trọng, không suy xét, không cứu xét tức là không có chánh tư duy, không có chánh kiến, không nhìn kĩ, không xét kĩ, nghe người ta nói là tin, tin vào những điều không đáng tin, không nên tin, như vậy gọi mà mê tín, cuồng tín. Những gì Đức Thế Tôn nói rất vắn tắt, điều là định lý, khẩu quyết, đó là những cấu trúc, định luật cho nên muốn hiểu phải chiêm nghiệm, quán sát, suy tư, thiền quán rất nhiều.
Nói tiếng việt là những cái đáng khen thì không khen, cái không đáng khen thì lại khen, những chỗ nên tin thì không tin, những chỗ không nên tin thì lại tin, nếu người nào rơi vào đầy đủ bốn điều này thì Đức Phật gọi là mất gốc, không thông minh, không phải bậc chân nhân, thương tích, phạm tội, bị người trí quở trách, tạo nên nhiều phạm tội, vô phước.
"Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình sử xự như một người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là bốn?
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, không tán thán những người không đáng được tán thán;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tán thán những người đáng được tán thán;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự bất tín nhiệm tại những chỗ không đáng được tín nhiệm;
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ đáng được tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều điều phước đức.
Ai khen người đáng chê
Ai chê người đáng khen
Kẻ ấy với miệng lưỡi
Chứa chấp điều bất hạnh
Do vì bất hạnh ấy
Không tìm được an lạc
Nhỏ nhen không đáng kể
Là loại bất hạnh này
Bất hạnh do cờ bạc
Phá hoại các tài sản
Lớn hơn, lớn hơn nhiều
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người
Và cả với riêng mình
Những ai với ác ý
Ðối với bậc Thiện thệ
Trải qua một trăm ngàn
Thời Nirabbudà
Và cộng ba mươi sáu
Với năm Abbudà
Bị sanh vào địa ngục
Trong suốt thời gian ấy
Nếu mắng nhiếc bậc Thánh
Với lời, ý, nguyện ác" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagàma, (III). Mất Gốc (1))
IV. Khẩu nghiệp – búa ở trong miệng
Những điều này rất quan trọng chúng ta cần chiêm nghiệm rất nhiều.
"Bấy giờ có Tỳ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Vị Tỳ-kheo này đi đến Đức Thế Tôn nói ngài Mục-kiền-liên và ngài Xá-lợi-phất có những tham muốn xấu ác, gọi là ác dục
"- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ hai, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục'
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
- Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ ba, Tỳ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: ... Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Đức Phật lặp lại 3 lần bảo rằng vị Tỳ-kheo này chớ nói như vậy, hãy tin tưởng một cách trong sạch vào tôn giả Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất. Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất là những bậc rất hiền thiện, hiền trí, hiền tuệ. Vị này nói Thế Tôn tin thì tin nhưng đối với ông hai vị này có ham muốn xấu ác, Đức Thế Tôn 3 lần ngăn cản nhưng thầy Tỳ-kheo này vẫn không nghe lời can ngăn, khuyên bảo của Đức Phật. Lần thứ tư Đức Phật lặp lại đừng nói như vậy, tuy nhiên vị này vẫn khăng khăng cố chấp như vậy.
"Rồi Tỳ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân của Tỳ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Amala (A-ma-lặc); sau khi lớn lên bằng trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Đức Thế Tôn đã bốn lần khuyên ngăn nhưng vị Tỳ-kheo này với ác kiến, cố chấp, khăng khăng không chịu nghe lời Đức Phật nên trên thân thể nổi lên những mụt như hạt đậu xanh, lớn dần thành hạt đậu trắng rồi thành hạt đậu ngự, lớn dần thành trái cam, trái dưa và cuối cùng những mụt đó bể ra, máu chảy ra, mủ chảy ra toàn cơ thể, vị này ngã xuống, Đức Thế Tôn ví dụ giống như con cá nằm trên lá chuối bị trúng độc. Hình ảnh này hết sức khủng khiếp, đó là hậu quả của việc phỉ báng bậc Thánh, vu khống bậc Thánh.
"Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỳ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
- Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
- Ông là ai?
- Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.
- Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Những bậc Độc Giác là tự mình giác ngộ, phạm thiên là vua trời, tức là vừa là vua trời vừa có sự giác ngộ trong Thánh trí tuệ, đây là Thánh đệ tử thiên. Vị Tỳ-kheo này hỏi phạm thiên là ai, Thế Tôn nói ông ấy chứng Bất Lai Thánh quả rồi thì đến đây để làm gì, "đây là chuyện của tôi", đến mức độ như vậy, Thế Tôn khuyên ngăn bốn lần, bây giờ được bậc Thánh đệ tử thiên là Độc Giác Phạm thiên Bất Lai Thánh quả can ngăn cũng không nghe. Ở đây chúng ta thấy được rằng Bất Lai là không trở lại nhưng tại sao ở đây trở lại? Tâm các ngài đã tự tại cho nên mình tu đừng sợ mai này không gặp hay không độ được ai, chỉ sợ mình không hết tham, sân, si chứ đừng sợ mai này hết tham, sân, si rồi không độ được ai. Đừng lo độ người ta, phải lo độ cái tham, sân, si của mình, chưa gì đã sợ nếu vào Bất Lai rồi thì làm sao trở lại thế giới này nữa, các ngài tự tại đối với lục đạo.
Đối với các bậc Thánh thì 1000 thế giới cũng như bong bóng thôi, có những bài kinh Đức Phật nói nếu ngài vào trong hội chúng Bà-la-môn thì ngài thành Bà-la-môn, nếu vào hội chúng tu sĩ thì ngài thành tu sĩ, ngài vào hội chúng phạm thiên thì ngài thành phạm thiên, từ bài kinh đó sau này mới có ra các bản ứng hóa thân, ý sanh thân.
"Này các Tỳ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; Tại đấy, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ.
Này các Tỳ-kheo, Ta nhớ rằng Ta đã đi đến hàng trăm hội họ Bà-la-môn, ... hàng trăm hội chúng Gia chủ, ... hàng trăm hội chúng Sa-môn, ... hàng trăm hội chúng Bốn Thiên vương, ... hàng trăm hội chúng cõi Trời Ba mươi ba,... hàng trăm hội chúng Màra.... hàng trăm hội chúng Phạm thiên. Tại đấy, Ta lúc trước có hội họp, lúc trước có nói chuyện, lúc trước có thảo luận; tại đấy dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta trở thành như của họ; giọng nói của họ như thế nào, giọng nói của Ta trở thành như của họ" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VII. Phẩm Ðất Rung Ðộng, (IX). Các Hội Chúng)
Cho nên chỉ sợ mình chưa diệt hết tham, sân, si đối với ngũ uẩn chứ đừng sợ diệt hết thì làm sao, chỉ sợ nó không hết thôi chứ hết rồi thì khỏe, không còn gì ràng buộc, dính mắc nữa. Trở lại vấn đề thì vị này là độc giác Bất Lai Thánh quả ở Tịnh Cư Thiên.
"Con người được sanh ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
"Con người được sanh ra, Sanh với búa trong miệng" câu này chúng ta tụng trong oai nghi Sa-di, chính là được trích từ trong kinh này ra. "Phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu trung, sở dĩ trạm thân, do kỳ ác ngôn" nghĩa là phàm con người ở đời như búa để trong miệng, sở dĩ giết người là do lời nói ác. Ngày xưa con học luật là phải thuộc cả âm lẫn nghĩa, bây giờ các chú xuất gia không biết nghĩa có thuộc không nữa, 6 tháng xuất gia là thuộc cả bốn cuốn luật cả âm lẫn nghĩa là Tỳ-ni, Sa-di, oai nghi, Cảnh Sách cho nên học thuộc sẽ giúp cho mình rất nhiều cái tốt.
Mình nghĩ rằng nói lời dữ dằn để trảm người ta nhưng không ngờ lại chặt mình trước. Vị phạm thiên này nói bất hạnh do cờ bạc, rượu chè tán gia bại sản, từ đỉnh cao đại gia trong phút chốc thành kẻ ăn mày hay tù tội thì chuyện đó bất hạnh nhỏ thôi, còn cái bất hạnh lớn làm mất chính mình, mất tất cả là khởi ác ý đối với các bậc Thánh, phải rơi vào trong địa ngục chịu đau khổ lâu dài.
"Rồi Tỳ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỳ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Nghe tên là sen hồng thì tưởng đẹp nhưng thật ra rất khủng khiếp.
"Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna'. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã qua, bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, đêm nay Phạm thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: "Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna". Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Khi nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu, là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?
- Này Tỳ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Một vị Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn rơi vào địa ngục sen hồng thì phải sống bao lâu trong đó, Thế Tôn nói khó tính bằng con số.
"- Bạch Thế Tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?
- Có thể được, này Tỳ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn, này Tỳ-kheo, là cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một Abbuda địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Nirabbuda địa ngục bằng một Ababà địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Ababà địa ngục bằng một Ahaha địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Ahaha địa ngục là bằng một Atato địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Atato địa ngục bằng một Kumodo địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Kumodo địa ngục là bằng một Sogandhika địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Sogandhika địa ngục bằng một Uppalako địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Uppalako địa ngục bằng một Pundarika địa ngục. Ví như, này Tỳ-kheo, hai mươi Pundarika địa ngục bằng một Paduma địa ngục . Này Tỷ kheo, Tỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (IX). Tỳ-kheo Kokàlika)
Con sẽ nói cho dễ hiểu, ví dụ một chiếc xe tải 50 tấn trong đó chở đầy các hột mè, cứ một trăm năm lấy một hột, lấy hết hột mè trong đó cũng chưa đủ một phần trăm của tuổi thọ trong địa ngục sen hồng đó, như vậy làm sao có thể tính bằng con số được. Ví dụ thứ hai là một ngọn núi cao, rộng vuông vức 18 cây số, dài 18 cây số, cao 18 cây số, cứ một trăm năm lại cầm cái khăn phủi ngang một lần, phủi cho đến khi nào ngọn núi đó tan thành cát bụi cũng chưa đủ một kiếp trong địa ngục sen hồng này vậy mà vị Tỳ-kheo phỉ báng ngài Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất rơi vào trong đó.
Chúng ta có thấy cái miệng của mình khủng khiếp không? Đáng sợ không? Kinh hãi không? Đức Thế Tôn ngăn lại 3 lần cũng không chịu, cứng đầu cứng cổ cố chấp, Đức Thế Tôn nói lần thứ tư cũng không chịu, đến khi trên người nổi lên cái mụt nhỏ từ hạt đậu xanh, lớn dần thành đậu trắng, đậu ngự, lớn như trái chanh, thành trái quýt, trái táo, thành dưa gang rồi cuối cùng bể ra, chảy mủ, chảy máu, ngã xuống nằm đó cho đến chết.
"Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay loại bàng sanh.
Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
Người theo ác giới, này các Tỳ-kheo, có hai chấp nhận: địa ngục hay loài bàng sanh. Người đầy đủ thiện giới, này các Tỳ-kheo, có hai chấp nhận: chư Thiên và loài Người" (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, III. Phẩm Người Ngu)
Sanh thú là chỗ thú hướng của thọ sanh, tức là đời sau. Nếu có chánh kiến và thiện giới thì sanh nhân thiên, còn tà kiến và ác giới thì sanh vào địa ngục hoặc làm bàng sanh, súc sanh. Vì vậy phải cẩn thận trong việc khen chê, khẩu nghiệp, chúng ta tu trong chánh pháp này thì những vị hướng Dự Lưu là không khó, thậm chí có những bậc hơn thế nữa. Chúng ta tu thì cần cẩn thận với khẩu nghiệp, không chỉ trong chúng mới cẩn thận mà với tất cả đều phải cẩn thận, cẩn thận cái chê khen, phải suy xét thật kĩ, quán sát cho thật sâu sắc.
V. Dặn dò
Con tán thán những vị tham dự khóa tu tịnh khẩu vì điều này rất cần thiết, trong giờ đó mình ít nói chuyện thì mình mới quay lại nhìn được sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình, mới nhìn được thân – thọ – tâm – pháp của mình, chuyện gì cần thiết mới trao đổi, nếu nói nhiều sẽ rơi vào 5 lỗi lúc đầu là nói dối, nói hai lưỡi, nói lời hung ác, độc ác, nói lời phù phiếm, sau khi thân hoại mạng chung rơi vào địa ngục vì thế phải hết sức cẩn thận với lời nói.
Trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế có biết bao người phỉ báng, chửi mắng ngài, còn ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là rải rác trong các bài kinh, các ngài bị các bạn đồng phạm hạnh, các bạn đồng tu ganh tỵ, đố kỵ, ghen ghét, ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng bị nhiều mũi tên bắn về mình.
"Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người"
(Kinh Pháp Cú 23 – Phẩm Voi, kệ 320)
Đức Thế Tôn dạy mình sau khi suy xét, sau khi cứu xét không khen những người không đáng khen, sau khi suy xét, sau khi cứu xét khen những người đáng được khen, sau khi suy xét, sau khi cứu xét không tin những chỗ không đáng tin và tin những điều đáng phải tin tưởng vì thế Thánh quả Dự Lưu là tịnh tín bất động đối với Đức Phật, tịnh tín bất động đối với Thánh pháp, bốn thánh trí về ngũ uẩn, tứ thánh đế, bát thánh đạo, đó là tin vào chỗ đáng tin, trong kinh ghi lại ai tin vào Như Lai là người đó có lòng tin tối thượng, ai có lòng tin tối thượng sẽ đạt được quả dị thục tối thượng.
" - Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Này các Tỳ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Đó là bốn Dự Lưu phần, bốn điều kiện, bốn yếu tố để mình chính thức bước vào hàng đệ tử của Đức Phật, Thánh đệ tử, đệ tử của bậc Thánh cho nên không phải nghe cái gì cũng tin. Phụ nữ rất dễ tin nhưng cũng đường nghĩ nam giới không dễ tin cho nên phải chánh tín, chánh kiến. Có một đạo ở nước ngoài xúi người ta nhịn đói chết để lên được thiên đàng, chết đã hơn 70 người, mất tích cả trăm người.
Với một xã hội hiện đại, văn minh, khoa học, tri thức nâng cao như vậy mà vẫn có những người tin như thế, với một sự không hiểu biết, không có lòng tin chân chánh, không có sự thấy biết chân chánh thì đi vào tà kiến và ác giới, tức là có cái nhìn lệch lạc, sai lầm, nhìn không đúng với nhân quả thì cái nhìn đó đưa mình đi vào địa ngục, bàng sanh, súc sanh. Dưới đây là 11 quả báo của người phỉ báng bậc Thánh:
"Này các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích quở trách các bậc Thánh là những vị đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội người ấy không gặp một trong mười một tai họa.
Thế nào là mười một:
Không chứng điều chưa chứng.
Đã chứng được thời mất đi.
Diệu pháp không được tỏ rõ.
Hay là tự kiêu trong diệu pháp.
Hay là không hoan hỷ sống Phạm hạnh.
Hay phạm một tội ô uế.
Hay từ bỏ Phạm hạnh và hoàn tục.
Hay là thọ bệnh nặng.
Hay là đạt đến điên cuồng loạn tâm.
Hay là bất tỉnh mệnh chung.
Sau khi thân hoại mạng chung rơi vào cõi dữ, ác thú đọa xứ, địa ngục.
Này các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo nào mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh là những đồng Phạm hạnh, thời không có sự kiện, không có cơ hội rằng người ấy không gặp một trong mười một tai họa này" (Tăng Chi Bộ, Chương XI – Mười Một Pháp, I. Phẩm Y Chỉ, (VI). Tai Họa)
Mình không thể biết được ai là Thánh phàm, nhất là tu đúng Chánh Pháp thì việc đi vào đạo và quả là không có khó, không có xa vời cho nên một người mắng nhiếc, chỉ trích, quở trách các bậc Thánh thì người đó chắc chắn sẽ rơi vào 11 tai họa trên. Bậc đạo sư hướng dẫn vẽ cái bàn thờ để thờ cái miệng của mình rồi lạy cái miệng của mình, không phải người khác hại mình mà mình thấy rõ ràng là chính cái miệng của mình hại mình.
Mong rằng những bài kinh hôm nay sẽ có một sự ấn tượng sâu sắc, khắc ghi vào tâm của tất cả chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận với khẩu nghiệp, giữ gìn lời nói thật kĩ lưỡng và hình ảnh của Tỳ-kheo Kokàlika đã chứng minh cho quả báo kinh hoàng, khiếp đảm, kinh hãi của những lời nói ác, nhất là phỉ báng các bậc Thánh. Đây là bài học rất lớn, rất sâu, cảnh tỉnh tất cả hữu tình chúng sanh, trong đó có chúng ta phải cẩn thận thực hành lời nói từ ái, hiền hòa, cung kính sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc trong hiện tại và nhiều hạnh phúc, an lạc dài lâu trong tương lai.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Chú Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con kính tri ân công đức trên ban hoằng pháp trung ương đã cho chúng bài pháp thoại ngày hôm nay, con kính trên ân trên thầy vì bài pháp thoại ngày hôm nay rất sâu sắc và ý nghĩa cho chúng con. Con chỉ có một ý muốn hỏi thượng tọa, như lời thượng tọa giảng dạy thì con cảm nhận khi lời mình nói ra đem lại thiện pháp cho mình và cho người thì nên nói, còn lời nào không đem lại thiện pháp cho mình và cho người thì im lặng dù đấy là sự thật hoặc không phải là sự thật vì có những sự thật khi nói ra không được tốt đẹp, không đưa đến đoàn kết thì nên im lặng thì tốt hơn. Chỗ này con chưa hiểu, kính xin thượng tọa giảng dạy cho con tốt hơn.
Sư Phụ: Điều này thì Đức Phật có dạy chúng ta rằng ngài không tuyên bố cái gì thấy là phải nói hoặc là cái gì nghe phải nói, cái gì cảm xúc phải nói hay không nói. Nếu lời nói ra đưa đến thiện pháp thì nên nói, việc làm đưa đến thiện pháp thì nên làm, còn việc làm đưa đến bất thiện pháp thì không nên nói, không nên làm. Chúng ta cứ căn cứ vào bất thiện và thiện, giữa nghiệp lành và nghiệp thiện làm chuẩn mực, trong ý nghĩ, lời nói, hành động của mình đều có trạch pháp, đều có một sự quán sát, suy xét, nhận định rạch ròi giữa thiện và bất thiện, nếu thiện thì mình nói.
./.