Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Mở Cửa Bất Tử 4 - Sự dối lừa kinh khiếp

2026-03-03 00:55:29
MỞ CỬA BẤT TỬ 4

SỰ LỪA DỐI KINH KHIẾP

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình pháp PAGEREF _Toc112766465 \h 1

II. Thân hành niệm PAGEREF _Toc112766466 \h 3

III. Tuệ giác Đức Phật PAGEREF _Toc112766467 \h 12

I. Trình pháp

Ở Linh Quy Pháp Ấn có hai đề mục quan trọng là trước khi ngồi thiền phải xem một hình ảnh để quán chiếu, và sau khi ngồi thiền thì trải tâm từ, đọc bài kinh Tâm Từ. Sau khi xem clip để thấy được bản chất thân thể con người của chính mình. Xin mời đại chúng phát biểu cảm nghĩ của mình.

Mời chú Tâm Nhân, chú Phật tử từ Taxes, Houston, nửa vòng trái đất trở về đây chỉ được tham dự vài ngày, hôm nay được học cùng quý thầy. Mời chú nói về cảm nhận sau khi xem đoạn clip.

Phật tử Tâm Nhân:

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Thầy, đại chúng cùng huynh đệ. Con là Tâm Nhân, hội đủ duyên lành, hôm nay con được ngồi đây. Sau khi xem đoạn clip đó, cảm nhận của con là một ngày nào đó con cũng sẽ tan hoại giống như vậy. Từ đó bớt đi sự nuông chiều bản thân vì chắc chắn con sẽ giống như vậy. Con chỉ có suy nghĩ như vậy thôi.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư thầy 1:

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên giáo thọ, đại chúng cùng huynh đệ. Con xin trình bày cảm nhận của con khi xem clip này. Sau khi xem clip, con suy nghĩ, mình sẽ già, bệnh, chết, nhưng nghĩ, mình già, bệnh, chết thì quãng đường còn dài. Con quán hôm nay mình được ngồi dưới mái nhà chùa, được xem clip và được nghe những dòng pháp của các bậc Giáo thọ sư, Tôn túc, vượt rừng núi, mấy ngàn cây số để đến đây chỉ dạy cho mình. Vậy khi ra về, ngày mai, ngày mốt, mình có còn được cơ hội đến đây, có còn được ngồi nghe những dòng pháp nữa hay không, hay vô thường đến với mình?

Hằng ngày mình ăn những gì, cảm nhận tất cả đều là tứ đại. Tứ đại này hình thành do duyên hợp, mình ăn vào rồi chấp chặt nên trói cột với nhau, rồi khởi sanh ham muốn, không biết chán chường, không thấy hổ thẹn cbản thân mình và cứ nuôi dưỡng xác thân tứ đại này. Hằng ngày trau chuốt, gìn giữ, khi ai đụng tới mình, đụng tới cái ta thì sanh sân si, cho là ta, của ta, của tôi, chấp cái thân tứ đại này là thật, là có, là hằng có chứ không nghĩ rằng đó thật sự là cảnh vô thường, tan rã, biến hoại, một ngày nào đó mình cũng sẽ như những xác chết xem lúc nãy.

Sư thầy 2:

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch thầy Giáo thọ cùng toàn thể đại chúng. Sau khi được xem clip, điều đầu tiên con thấy ghê, sau đó từng dòng suy nghĩ tuôn chảy. Đời người như Phật nói: sanh, lão, bệnh, tử; cho dù người giàu hay nghèo, có địa vị, quyền lực hay của cải, rồi cũng chết. Vừa rồi là clip mổ người chết đó ra, trong đó có nhiều thứ kết hợp lại để ra được cái thân tứ đại này. Chúng ta ăn vào rồi cũng đi ra, tại sao mình cần phải có đồ ăn ngon, ăn cho vừa miệng, phải đúng khẩu vị, trong khi đó rồi nó cũng ra ngoài? Cái thân của mình ngày này qua tháng nọ, vô thường cũng ập đến, mình cũng chết, vậy tại sao mình lại không chịu tu tập, giải thoát, giác ngộ mà lại cứ rong ruổi ham vui trong các dục lạc? Và con cũng thấy được người chết đó còn trẻ, chưa già, nên chúng ta đừng nghĩ già rồi mới chết, ở đây người chết còn trẻ, người mới sinh ra cũng chết, ta ngồi đây, có một cái gì đến bất ngờ cũng chết. Cái chết đến một cách vô thường, nó rình rập, nên mình cần phải chánh niệm tỉnh giác, cầu tuệ giải thoát, không ham mê ngũ dục.

***

II. Thân hành niệm

Trong kinh Tứ niệm xứ, Đức Phật nói: “Thân này bản tánh là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy” – câu này phải học thuộc lòng. Khi Minh Thành qua thăm các huynh đệ đang tu học ở trường đại học Maha Chulalongkorn, Thái Lan, có một huynh đệ cũng từng học ở đây. Huynh đệ này hỏi thăm pháp thực hành, Minh Thành có chia sẻ về quán bất tịnh. Sau khi chia sẻ xong, huynh đệ này nói một câu mà Minh Thành rất tâm đắc: “Thưa Thầy, đến bây giờ con mới thấy được là phía sau lớp da này là một sự dối lừa khủng khiếp.” Câu nói này, Minh Thành rất tâm đắc, nó phù hợp với Kinh, với Luật, với Pháp.

Phía sau lớp da này là một sự dối lừa khủng khiếp. Tất cả chúng ta bị lớp da này che mắt, lừa gạt, bị nó làm cho mù lòa, làm cho mình không thấy đường, chỉ thấy lớp vỏ ngoài thôi. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật nói thân này như là cái bao, đựng đậu này đậu kia, bây giờ nói cho dễ hiểu một chút, thân này là cái bao đựng bộ đồ lòng heo. Trong cái bao đó là ruột, gan, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, phổi; trong cái bao đó là máu, mủ, mỡ, nước miếng, mồ hôi, nước ở khớp xương, đàm, phân, nước tiểu. Trong cái bao đó chứa đầy những thứ mà khi thấy được là mình ghê tởm.

Chính cái bao làm cho cả cuộc đời này mình khao khát đến tột độ, kiếm tìm không bao giờ ngừng nghỉ. Thậm chí trong mơ, trong tưởng cũng khao khát những dục ái của thân xác, mà không biết ở phía sau bên trong nó là một sự đáng nhàm chán ghê tởm, đáng khiếp sợ. Đó là vì mình bị thói quen của nghiệp lực che mắt, bị tập khí, dục ái che mắt, bị sự đam mê thích thú ở trong sự không thấy không biết che mắt.

Nhưng nhờ có Đức Thế Tôn: “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích” để giúp cho tất cả chúng sanh sáng con mắt trí huệ, mở con mắt Chánh Pháp. Phải nhớ là người có mắt trí tuệ chứ không phải người mù.

Cho nên Đức Thế Tôn nói “Pháp của Ta là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu.” Pháp của Đức Phật phải được người trí tự bản thân giác hiểu. Người trí là người chịu nghe, học, chịu nhìn lại, chịu suy tư; người đó giống như người có mắt, nên khi đèn sáng vào bóng tối người đó sẽ thấy; còn người không chịu nghe, không chịu học, không chịu tu, không chịu nhìn lại thì người đó giống như kẻ mù trong giáo pháp. Bằng chứng là pháp có rõ ràng trong Kinh, Luật như vậy, được thầy giảng dạy như vậy, nhưng về mình không chịu thực tập, không chịu nhìn thì đó là kẻ mù trong giáo pháp của Như Lai.

Pháp đòi hỏi mình phải có sự thể nghiệm, đến để mà thấy, là phải nhìn lại, phải quán chiếu, phải chiêm nghiệm, phải nghiền ngẫm, phải thực tập, phải hành trì; không phải là thực tập một ngày, một tuần, một năm, mười năm mà phải là nhiều năm cho đến cả đời, và kết quả của nó đem lại là vượt tầm pháp giới. Kết quả của giáo pháp đem lại là sự thành tựu tâm giải thoát và tuệ giải thoát; sự phá đổ thân kiến, vô minh, tham ái và chấp thủ; là bất động tâm giải thoát đối với tất cả các pháp trong cuộc đời này.

Cho nên, trong sự tu tập, nhất là đối với người xuất gia thanh thiếu niên trẻ tuổi không thể thiếu pháp Quán Bất Tịnh này trong mỗi ngày tu tập. Phải đem nó làm thời khóa hành trì. “Này các Tỳ-kheo, có một pháp môn mà pháp môn này có lợi ích lớn, lợi lạc lớn, quả báu lớn đưa đến an tịnh, giác ngộ, thắng trí Niết bàn, đó là pháp quán bất tịnh.” Đó là pháp bạch cốt tưởng, quán chiếu về bộ xương trắng, quán chiếu ba mươi hai thể trược, quán tứ đại, để thấy rõ ràng “trong cơ thể này chỉ là đất, nước, gió, lửa, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi.”

Thấy như vậy, biết như vậy sẽ phá vỡ nhìn nhận mê lầm, đập đổ vô minh và tham ái, lập tức đoạn tận tất cả lậu hoặc. Sự thấy biết này là của bậc Chánh Đẳng Giác, nếu Đức Thế Tôn không ra đời thì không một ai ở trong cõi tam giới này chỉ ra được pháp quán này cả, quý huynh đệ nhớ kỹ điều đó. Ngoài Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác ra, thì bốn mươi a tăng kỳ và trăm ngàn đại kiếp mới xuất hiện vị này một lần. Ngoài vị đó ra không có một ai chỉ pháp quán bất tịnh này để diệt tận tham dục, nhổ tận gốc rễ. Phải thực tập thì mới thấy, chứ không phải đơn giản như mình niệm Phật hay là ngồi thở thở, đọc vài câu kinh. Đó chỉ là phương pháp cắt cơn tạm thời.

Còn pháp này là nhổ tận gốc rễ tham dục, tham ái, chặt nó như chặt cây sala, làm cho nó không có mọc trở lại nữa. Điều này đòi hỏi mình phải có sự kiên trì, trường viễn, dài lâu, bền bỉ, chịu khó. Giáo pháp của Như Lai là đối với những người tinh cần, tinh tấn, nỗ lực chứ không phải pháp dành cho kẻ lười biếng, giải đãi, dễ vui, phóng túng. Pháp của Như Lai là nói cho người tinh tấn tinh cần, cho người ít nói biết đủ, chứ không phải nói cho người đa dục. Pháp Như Lai là nói cho người sống ở nơi nhàn tịnh chứ không phải nói cho người ưa thích ồn ào, náo nhiệt. Đây là tám pháp của bậc đại nhân, trong tạng kinh Nikāya, Tăng Chi Bộ kinh, chỉ những người đó mới thực chứng được giáo pháp tối thượng này.

Đây là một thông điệp Minh Thành muốn gửi đến những vị Tăng trẻ, điều này quan trọng. Huynh đệ về thực tập mỗi ngày một tiếng đồng hồ rồi sẽ thấy hiệu quả đến bất ngờ. Nói một tiếng là thấp nhất, nâng lên hai tiếng và bất cứ lúc nào cũng quán nhìn thân thể. Những đối tượng nào làm cho mình sanh dục nhiễm, phải quán chiếu, nhìn xuyên qua lớp da của đối tượng đó. Đừng nhìn xuyên qua áo quần thôi, phải nhìn xuyên qua lớp da, xuyên không thủng là rất nguy hiểm. Phải xuyên qua lớp da để thấy trong đó là một đống bầy nhầy, là bộ đồ lòng mà ngày xưa mình thường ăn cháo.

Quý huynh đệ phát biểu phải quán mình già, bệnh, chết.., điều đó đương nhiên đúng nhưng chưa nhạy bén, chưa trí huệ vì đâu phải đợi đến già, ngay bây giờ dù còn trẻ nó đã bất tịnh như vậy, bản tánh, tính chất đã là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy. Từ gót chân cho đến đỉnh tóc, quán chiếu thật kỹ, thật sâu sắc, “bao bọc bởi da, chứa đầy những vật bất tịnh.” Trong thân chứa đầy là da, tóc, lông, móng, răng, thịt, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thận, phân, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, da, nước miếng, nước mũi, tủy, nước khớp xương, nước tiểu…

Ba mươi hai thể trược phải học thuộc lòng, khi quán cái nào thì làm cho nó hiện ra trước mặt mình, trở thành bệnh tướng, bất cứ lúc nào mình muốn cho bệnh tướng đó hiện ra thì nó sẽ hiện ra. Cái đó gọi là được thành tựu được định tướng. Đức Phật ví dụ thân này như bao đồ mà hai cái đầu là trống, đựng đầy các loại hạt. Tại sao hai đầu trống? Vì nó có hai lỗ ở trên ở dưới. Thân thể này có chín lỗ. Trong bài kinh “Một Ung nhọt”, Đức Phật nói:

Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 9. Chương Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, bài kinh Một Ung Nhọt)

Cũng vậy, chúng ta phải quán chiếu cái thân này như vậy, nhàm chán, từ bỏ thì sẽ được giải thoát. Từ bỏ nó ở trong sự ái luyến chấp thủ, chứ không phải từ bỏ là tự tử. Phải từ bỏ trong sự bám chặt, bấu chặt, dính chặt, nắm chặt. Từ bỏ ý niệm tôi, của tôi, từ bỏ nó thì sẽ được an vui giải thoát.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang lại cỏ, củi, cành cây, lá của Jetavana này, và đốt chúng hay tùy theo duyên sử dụng chúng. Các Ông có nghĩ rằng: " Người (ấy) mang chúng tôi, hay đốt, hay tùy theo duyên sử dụng chúng tôi "?

- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì cái ấy không phải chúng con. Bạch Thế Tôn, cái ấy không phải thuộc tự ngã của chúng con.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các Ông. Các hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn – Phần 22a- A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, IV. Phẩm Không Phải Của Các Ông, bài kinh Không phải của các Ông)

Phải quán cái thân tứ đại này, sáu xúc xứ, sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này, thân tứ đại này, ngũ uẩn này không phải là mình, không phải của mình. Cái gì không phải của mình thì từ bỏ, như vậy sẽ được an vui giải thoát. Khi lọt lòng, mình chỉ oa oa oa, ba tiếng thôi, hai ký rưỡi, ba ký, bây giờ tăng lên sáu chục ký, vậy năm mươi ký kia nó từ đâu? Đó là từ thức ăn của cha mẹ, từ máu của người mẹ nuôi mình, từ sữa, từ những vật thực bên ngoài, nhận nó vào xong rồi nói đó là của mình, là tôi, là của tôi. Đến khi thân này rã ra thì sẽ văng một cánh tay, gãy rớt cái chân, tất cả đều hoại diệt.

Xin thưa quý huynh đệ, trên Linh Quy Pháp Ấn, tu và học mỗi một ngày là mười hai giờ, trong đó có một thời khóa gọi là quán chiếu hiện thực. Thời khóa tu này không có một tự viện nào trên toàn thế giới có hết ngoài Linh Quy, bởi vì đây là quán chiếu thực pháp. Đó là cho xem cảnh sóng thần, động đất, chiến tránh, cảnh ung thư, tai nạn giao thông, cảnh trẻ em Châu Phi bảy tuổi mà chỉ như một đứa trẻ 5-6 ký, không có đồ ăn, nước uống, xem những cảnh nghèo trong nước, ngoài nước, trên toàn thế giới. Đó gọi là giờ quán chiếu hiện thực trước khi ngồi thiền, xem xong mới ngồi thiền. Minh Thành cũng có tâm nguyện, nếu đủ duyên, khi trên đó thành tựu, Minh Thành sẽ mở khóa tu cho chư Tăng. Khóa tu một ngày chỉ mười hai tiếng, còn những khóa tu đặc biệt thì một ngày chỉ mười lăm, mười sáu tiếng, mình ngủ tám tiếng được rồi. Trong khóa tu đó, ngay khi tu, quý vị sẽ thấy ngay được giá trị thiết thực, lợi ích của nó. Điều này bảo đảm, chắc chắn, vì tu theo Chánh Đẳng Giác, làm sao không có kết quả được. Nghĩa là mình tu theo sát y trong kinh Nikāya, không có khác.

Ở Indonesia, cách đây vài hôm, nghe nói có ba mươi mấy người chết do động đất, sóng thần, hôm sau lại nghe bốn trăm tám mươi mấy người chết, mới vừa hôm qua là nghe tám trăm mấy chục người chết. Hàng ngàn người chết và thân thể la liệt trên biển. Bây giờ Minh Thành có cho trên núi xem những cảnh chết chìm, khi vớt lên, bụng sình trương lên gấp năm lần cái bụng bình thường, và xem chín giai đoạn của một tử thi. Minh Thành để dành hết như kho báu, mà kho báu này xem ớn lắm, nhưng lại phát sanh trí huệ, còn kho báu là mấy tờ xanh xanh thì nó chỉ sinh ra dục tham. Xem những cảnh này mới là kho báu thật. Mấy thân xác đó phình lên và nó rịn ra những nước. Quán chín giai đoạn của một tử thi là thi thể đó quăng ở nghĩa địa một, hai ngày, thì nó trương phồng lên, xanh đen, nát thối ra. Đây là quán cho thân chính mình, lúc đó xem đó là thân của mình, phải quán đó là thân của mình. Cho nên phải “quán thân trên nội thân, có cái thân đây, an trú chánh niệm, quán tánh sanh khởi trên thân, quán tánh diệt tận ở trên thân, quán tánh sanh diệt ở trên thân”. Có thân đây thì phải quán, cho nên bài kinh Tứ Niệm Xứ phải học thuộc lòng. Bài này là báu vật 3.000 năm của Phật giáo.

Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niếtbàn. Đó là Bốn Niệm Xứ.

(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Dù cho các huynh đệ qua các nước Phật Giáo Nguyên Thủy hay bất cứ chỗ nào thì cũng một con đường độc nhất đó thôi. Đây là con đường độc nhất thanh tịnh, phá vỡ vô minh, tham ái, thấy biết sai lầm, để thành tựu trí huệ chân chánh thực pháp ở nơi tự thân của mình. Không cần trị ở ngoài, chỉ cần trị ngay trong tâm, bên trong trị được là bên ngoài tự trị. Quán thân này quăng bỏ trong nghĩa địa, các loài quạ, kênh kênh, diều hâu, chó rừng, chúng chạy đến, ngoạm vào, giật miếng thịt sứt ra. Phải quán thân này quằn quại, đau đớn như vậy, đặt mình vào thân thể đó và quán.

Cho nên lúc nãy Minh Thành nhắc quý huynh đệ không nói chuyện, vì nói chuyện sẽ bị phân tâm, phải đặt hết tâm vào những hình ảnh đó, làm cho lúc đó thọ sanh khởi cảm giác rùng rợn. Lúc Minh Thành quán trong một tháng nhập thất kỳ rồi là khoảng mười lần bị rúng động, nổi da gà, nước mắt chảy ròng ròng, vì thấy mình đang bị như vậy. Phải nhập mình vào cái thân đó thì sự quán đó mới sâu, mới thành tựu. Còn xem mà nói chuyện như xem phim thì không có gì hết, xem xong rồi về cũng y như vậy, vì nó không làm mình phát sanh cảm giác.

Trong các khóa tu nếu phát sanh cảm giác thì khóa tu đó mới ảnh hưởng đến trí huệ, nhận thức của mình, làm cho mình bị rúng động, phát sanh cảm giác nhờm tởm, quán đến mức muốn ói mửa vì nó hôi dơ, quán đến lúc nó bị sình thối là muốn ói, phải quán đến mức độ như vậy. Quán thân bị quăng bỏ ở nghĩa địa khi xương còn liên kết với nhau, còn thịt và máu, còn các đường gân cột lại. Lâu ngày, thân đó bị ăn, rã từ từ, thịt máu dính lại trong đó, còn các đường gân, từ từ thịt máu không còn những còn các đường gân cột lại, từ từ chỉ còn bộ xương, gân cũng bị rã hết. Quán chiếu rải rác chỗ này chỗ kia là xương tay, xương chân, xương ống chân, xương bắp vế, xương mông, xương sống, xương sườn, xương sọ…

Chúng ta phải quán để thấy rõ, “tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy.” Đọc câu này lên, mỗi chữ này là ngàn vàng, không phải bình thường, phải tôn kính, phải thờ những câu chữ này. Khi tu tập, đọc câu này, trí của mình được soi sáng rực lên, lúc đó dục, tham, ái bị tan, ít nhất nó cũng được giảm, giảm dần, cái giảm từ từ sẽ tăng. Khi thấy rõ, xác định rõ “thân này không phải tôi, không phải của tôi” thì lúc đó mình đã Hướng Dự Lưu và nhập Sơ quả Tu-đà-hoàn.

Ngay lúc trí mình xác định điều đó rõ ràng là mình đã bước vào bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật. Đây là một sự thật có thể làm được chứ không phải nói trên lý thuyết. Khi quán hoài như vậy, cuối cùng sẽ thuần thục, khi đã thuần thục thì lòng tham muốn của mình sẽ giảm rất nhiều. Khi trí mình xác quyết, thấy rõ thân này không phải mình, không phải của mình nữa thì lúc đó mình bắt đầu Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu, bước vào bốn đôi tám chúng của Đức Phật, chính thức bước vào Tăng bảo “đáng chấp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.”

Chỉ toàn là xương trắng, vỏ ốc, những đống xương lâu hơn một năm, những mảnh xương thối ra, vỡ ra, trở thành bột, gió thổi bay hết, không còn gì. “Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.”

(Kinh Tứ Niệm Xứ)

“Quán thân trên nội thân hay quán thân trên ngoại thân”: quán thân trên nội thân là quán trên những bộ phận bên trong, ngoại thân là những bộ phận bên ngoài của thân gọi là quán ngoại thân. “Quán tánh sanh khởi ở trên thân hay quán tánh diệt tận ở trên thân”: tánh sanh khởi trên thân là quán những gì sanh khởi ra, ví dụ ngứa, đổ mồ hôi, nhức răng, đau bụng.., hoặc quán nói một lát có hai cục trắng ở khóe miệng… mình phải quán những điều đó.

Lúc trước Minh Thành học, còn là Tăng sinh, có một vị nói một lát là có hai cục trắng hai bên, nhìn như vậy mình quán bất tịnh, đó là quán nội thân. Còn quán nội thân: khi mình đi đại, tiểu tiện, những thứ bất tịnh tràn ra.., mình nhìn, quán để sanh khởi sự nhàm chán, gớm ghiếc nó. Đừng giấu diếm, che đậy nó, mà phải nhìn thẳng, nhìn sâu, nhìn triệt để thì lúc đó sẽ phát sanh trí huệ. Khi phát sanh trí huệ thì sự nhàm chán sanh khởi; nhàm chán sanh khởi dẫn đến không còn tham muốn; không tham muốn sẽ dẫn đến chỗ giải thoát.

Như thật tri kiến sẽ đưa đến sự nhàm chán, viễn ly; sự nhàm chán, viễn ly đưa đến ly tham; ly tham đưa đến giải thoát. Đó là quy trình của sự tu hành, không có vượt ra khỏi quy trình đó. Tất cả các bậc Hiền Thánh trong quá khứ, hiện tại cho đến vị lai, một ngàn tỷ năm sau cũng đi theo quy trình này, không có khác. Không thể có một bậc Chánh Đẳng Giác nào nói khác điều này cả.

Cho dù ức ức tỷ năm cũng không có một bậc Chánh Đẳng Giác nào nói khác điều này. Bây giờ không tu thì một ức tỷ năm sau, mình cũng phải học pháp tu này thôi. Đó là học Chánh Pháp, còn nếu học Tà Pháp thì mỗi ngày ái dục tăng trưởng lên thêm, sân hận, si mê, bản ngã tăng thêm, chỉ muốn đời sao tốt thêm hơn thôi – nói tu giải thoát nhưng lại cầu cho sanh tử luân hồi. Ghê gớm không? Điều này rất thâm sâu. Miệng thì nói muốn tu để chấm dứt luân hồi nhưng trong lòng lại thấy vui, mong muốn đời sau còn tốt hơn đời này nữa, đó gọi là hữu ái.

Chính là yêu thích cái hiện hữu, điều này làm cho mình cầu sanh tử vì mình muốn tiếp tục nữa để cho mình sung sướng. Chỉ ở trong kinh đây Đức Phật mới chỉ rõ cho mình thấy rằng mình không muốn chấm dứt, không muốn tàn diệt năm uẩn mà chỉ muốn đầu tư, tích trữ cho năm uẩn ở trong tương lai.

III. Tuệ giác Đức Phật

Đoạn Đức Thế Tôn nói thấy cảnh già, bệnh, chết, và Ngài muốn đi xuất gia, vua Tịnh Phạn nói: “Con đừng đi, ở nhà con muốn gì phụ hoàng cũng cho hết”, khi đó Ngài nói: “Nếu Phụ vương cho con không già, không bệnh, không chết, không khổ đau thì con không cần đi.” Phụ vương đành chịu chứ không thể nào cho được điều đó. Chính chỗ này mới giải quyết được vấn đề của Đức Phật, nếu không thì không giải quyết được.

Cuối cùng, Đức Phật đã chấm dứt năm uẩn, không còn sinh tử luân hồi. Còn bây giờ, mình đang tu theo kiểu đầu tư cho năm uẩn ở trong tương lai, tất cả những điều mình làm là muốn đời sau được hưởng, làm gì mình cũng tính mai mốt thu hoạch, tính không thua gì người buôn bán. Như vậy là đã có mình, có tôi, có cái của tôi; có cái tôi, cái của tôi trong tương lai sẽ ra sao; tương lai sắc, cảm giác, suy tưởng, nhận thức của tôi ra làm sao, đó rõ ràng là vô văn phàm phu, chứ không phải là Đa văn Thánh đệ tử vì chấp nhận năm uẩn là tôi, là của tôi.

Quá khứ tôi đã từng như thế này, sắc của tôi, những cảm giác, suy tưởng, nhận thức của tôi là như thế này; hiện tại sắc của tôi là như thế này; sắc của tôi, những cảm giác, suy tưởng, nhận thức của tôi trong tương lai sẽ như vậy như vậy. Đây là trí huệ Thiện Thệ, trí huệ mà chín mươi mấy đạo đương thời thấykhủng khiếp, đây là tiếng gầm của con sư tử, cất lên là gây chấn động, hoảng sợ hết toàn cõi Ấn Độ, Ngũ Thiên Trúc lúc đó. Quý huynh đệ nghĩ, thân này như ở một nơi tù ngục, tăm tối, nghèo khổ, bệnh tật, ô nhiễm đầy rẫy.., vậy mà mình muốn đầu tư ở trong đó. Vậy, mình có thấy thật sự đây là khổ chưa?

“Này các Tỳ-kheo, có một sự thật mà các thầy cần phải cố gắng, nỗ lực để rõ biết, đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt đó. Đây là một sự thật. Có một sự thật mà các thầy cần phải cố gắng, nỗ lực để liễu tri đau khổ.”

Ở ngoài đời, nói tới khổ là người ta sợ lắm, kêu “Thôi đừng nói, bi quan quá, sao cứ nói khổ không vậy.” Nhưng mục đích thật sự của sự tu tập theo Chánh pháp của Đức Phật là để thấy được khổ. Ngài Ajahn Chah, khi còn sinh tiền, mỗi ngày đi vòng vòng thiền viện, Ngài hỏi mấy thầy, mấy sư “Hôm nay có khổ không?”, các thầy trả lời: “Dạ có”, Ngài nói: “Tốt, tốt.” Tại vì mình được thành tựu Khổ trí, điều này quan trọng. Một căn nhà bị cháy mà có những đứa trẻ chơi giỡn trong đó, nó không biết là khổ tới, sẽ khổ, sẽ bị sập đổ, sẽ bị đốt, sẽ bị chết cháy, điều đó có phải là ngu không? Nếu mình biết ngôi nhà đó sắp sửa sập, nó đang cháy… vậy có phải là khôn không?

Đó chính là Khổ trí. Khổ trí là thấy được những sự nguy hại. Thấy được sự nguy hại của tứ đại, của năm uẩn, đó là sự nguy hại của các pháp để thành tựu sự xuất ly, đi ra khỏi. Những bậc A-la-hán, những bậc Thánh Tăng, những bậc Chánh Đẳng Giác là thành tựu trí huệ xuất ly, là đi ra; mình thì còn đam mê trong đó nhưng lại nói là tôi đi theo Phật, gọi là “thích này, thích kia, thích đủ thứ”. Đây là điều rất quan trọng.

Ba mươi năm Minh Thành đi tầm cầu giáo pháp bằng cả sinh mạng, bây giờ mới tìm ra. Tới đây là đã không còn tìm nữa rồi, đã đến tận cùng của giáo pháp. Cho nên, hiện tại xác quyết, rõ ràng là không tìm cầu pháp nữa, đến bây giờ mới dám nói như vậy. Thấy pháp, rõ pháp, và bây giờ chỉ thực tập để chứng pháp thôi. Điều này rất quan trọng, không thôi trước giờ cứ tưởng mình ở trong Chánh Pháp, nhưng thực ra là mình sai hết. Khi học kỹ vào tạng kinh mới thấy những điều mình nghĩ lúc trước là sai, tại vì học theo bậc này, bậc kia nhưng những vị đó không phải là bậc Chánh Đẳng Giác thì làm sao chỉ cho mình Chánh Đẳng Giác được. Cho nên bây giờ Minh Thành chi theo những lời dạy trong tạng kinh Nikāya thôi, ngoài ra để qua một bên hết.

Vì những vị đó là phàm phu, cho dù có chứng được quả vị gì thì cũng không bằng Chánh Đẳng Giác. Vậy sao mình có thể để lời Phật dạy sang một bên mà đi theo những bậc đó được? Thế nên, dù những điều khác có vang vọng như thế nào cùng để sang một bên, sát theo lời Đức Phật, rồi sẽ thấy hiệu quả của nó, sẽ thấy trí huệ mình thành tựu và mình sẽ quay lưng lại với tất cả sự lòe loẹt của các thế giới.

Khi thành tựu được trí huệ, quý huynh đệ mới thấy mình thành tựu được Chánh Pháp, thực nghiệm rồi mới thấy, kỳ diệu lắm. Những gì Đức Phật nói đều có thật, tại vì mình không đặt hết lòng tin vào Phật, không thành tựu được bất động tín đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới. Khi có được niềm tin bất động, không dao động nữa, chỉ y theo lời Đức Phật, không tin vào ai nữa thì lúc đó mình sẽ thấy. Niềm tin bất động là Hướng Dự Lưu và Dự Lưu quả. Quý huynh đệ có nhân duyên đặc biệt lắm nên mới được nghe Chánh Pháp. Chánh Pháp này bây giờ rất khó được nghe, không phải dễ.

“Sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận ở trên thân.” Ví dụ, trong một hơi thở, thở vào một lát rồi sẽ thở ra, ngưng một lát mới thở vào nữa. Đó chính là sanh diệt của hơi thở. Mình không phải thở hoài, mà phải có ngưng một chút. Tiếng nói cũng có sanh diệt. Tiếng này sanh, rồi diệt, rồi tiếng mới sau đó mới sanh tiếp. Mỗi tiếng nói cũng sanh diệt. Mình viết chữ, mình nhai cũng sanh diệt. Mọi thứ đều sanh diệt hoài thôi nhưng mình không thấy. Cho nên phải quán tánh sanh khởi ở trên thân, tánh diệt tận ở trên thân.

Chúng ta nhìn thường thường, quán chiếu thường thường thì sẽ thấy tất cả mọi thứ đều đang sanh diệt hết. Đó là thành tựu Sanh Diệt Trí. Thành tựu trí sanh diệt này rồi sẽ không còn ham mê, đam mê nhiều nữa, bắt đầu mình sẽ từ bỏ, chấm dứt đối với sắc uẩn; từ bỏ đối với cảm giác – thọ uẩn; từ bỏ đối với tưởng uẩn; từ bỏ được suy nghĩ – hành uẩn; từ bỏ đối với nhận thức – thức uẩn, nhận thức của mình là sanh diệt, duyên khởi, duyên sanh. Trí huệ này thù thắng, vi diệu lắm, càng học, càng hiểu thì mình càng tôn kính Đức Thế Tôn.

Không ai có thể chỉ ra điều này cả, vì giáo pháp này đưa đến chỗ không còn một manh giáp nào hết, phá tung vỡ hết tất cả các pháp. Trí này gọi là trí kim cương, vì quán bất tịnh này không chỉ giúp mình phá tham dục mà còn phá luôn chấp ngã, cái tôi, cái của tôi, phá luôn ngã sở, phá luôn tham ái, chấp thủ, hưởng thụ,… Tất cả đều bị phá vỡ hết. Cho nên, nếu tu thành tựu là đạt Thánh quả tối cao A-la-hán, tối thiểu là Dự Lưu. Đó là nhờ phương pháp bất tịnh quán, phải tu cho đến mức đó. Có những vị tu hành, có ai đi ngang thì đều nhìn thấy đó là cái đầu sọ, đầu lâu, bộ xương, vì đã thành tựu định tướng. Các Ngài cứ quán như thế hoài, lúc nào cũng giữ định tướng đó, nên nhìn đâu cũng thấy ra như vậy.

Khi Minh Thành đến Thiện viện Pa-Auk, vừa bước đến cửa là có một bộ xương cao khoảng 1,8m. Người ta nói đây là bộ xương của một cô hoa hậu đẹp nhất Myanmar, cô phát tâm cúng dường bộ xương sau khi chết, hàm ý nhắc nhở tất cả rằng: một người cho dù đẹp đến mức được mọi người tôn vinh, đăng quang, đội vương miện, thì cuối cùng khi chết rồi cũng chỉ là một bộ xương mà thôi. Bây giờ bộ xương của cô vẫn còn treo trước cửa của vườn thiền Pa-Auk. Vậy mà mình không thấy khổ với bộ xương đó, tự khổ với bộ xương chính mình, rồi kiếm thêm một bộ xương nữa. Dù biết là kiếm bộ xương đó cũng khổ lắm nhưng vẫn ráng kiếm.

Đau đớn cho cuộc đời này lắm, khi hiểu ra rồi thì sẽ thấy cay đắng, đau đớn, xấu hổ đối với đời sống tu tập của mình. Chúng ta không thấy được mục đích, không thấy được điều gì là cần yếu phải hành trì, không nỗ lực, tinh cần để tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chúng ta bỏ đi gánh nặng của thiện pháp, đó là gánh nặng của người xuất gia, rất nặng. Đừng nghĩ đi tu là sẽ không làm gì hết. Lầm to! Chết, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đang chờ đối với người xuất gia, khủng khiếp lắm, nếu biết, chúng ta sẽ thấy vô cùng sợ hãi. Ví dụ bình thường, mình mượn của người ta một món đồ khoảng một triệu hoặc mượn số tiền là vài triệu nhưng mình không trả thì ngoài đời sẽ có nhiều chuyện có thể xảy ra. Còn chúng ta đi tu, thiếu nợ biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu tiền mà mình không thành tựu đời sống phạm hạnh thì đó là tự mình đang lừa gạt chính mình, lừa gạt cha mẹ, ông bà, lừa gạt hết tất cả đàn na tín thí. Điều này rất nguy hiểm, khi quán chiếu thấy vô cùng đáng sợ, khủng khiếp lắm. Mình gạt người ta, nói mình đi tu, về cứu độ, nhưng khi vào tu thì mình đã làm gì, có đúng như lời mình nói không? Nói về những điều này thấy sợ lắm, nổi da gà hết. Sau này chúng ta sẽ học những bài pháp về hổ thẹn, không biết sợ, những bài pháp sâu xa, khó dạy, khó nói của Ngài Ma Ha Ca Diếp.

./.