Tinh Hoa Nikaya Giảng Giải 8 - Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 2
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 8
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 2
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh Đệ Tử PAGEREF _Toc137398585 \h 1
II. Yêu và hận PAGEREF _Toc137398586 \h 4
III. Lợi ích học thuộc lòng pháp PAGEREF _Toc137398587 \h 8
IV. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya PAGEREF _Toc137398588 \h 12
I. Thánh Đệ Tử
“Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên, mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng.” Con đố ai mà hiểu được câu này, là thưởng 1 bộ đại tạng kinh Nikāya luôn. “Mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng”, thành ra kinh Nikāya là không phải dễ hiểu. Đi đến thù thắng là đi đến đâu? Mời thầy dơ tay.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính máy bạch trên thượng tọa, giáo thọ sư cùng toàn thể huynh đệ. Câu trên con được hiểu là từ “mau chóng” ở đây là cái niệm như mê mà lúc đó được tỉnh thức, đưa cái niệm đến thù thắng. “Thù thắng” ở đây là đi đến chứng ngộ Thánh trí của bậc Thánh. Nhờ được chậm chạp nhớ lại, bất giác nhớ lại những gì lúc trước có học mà quên, nay được nghe lại và được nhớ nghĩ. Nhờ nhớ nghĩ an trú trong cái niệm, và do cái niệm nó khởi lên bởi 5 căn và nhờ 5 căn được duy trì trong cái niệm chậm chạp. Nhờ niệm chậm chạp duy trì từng bước như vậy, và nhờ 5 lực thúc đẩy cái niệm đi đến thù thắng và chứng ngộ Thánh trí. Nhờ chứng ngộ Thánh trí nên vượt thoát ra 3 cõi sanh tử.
-Thầy: Thánh trí là gì thưa thầy?
- Dạ Thánh trí là đoạn trừ tham, sân, si và thấy rõ được 5 uẩn: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Thôi cho 1 tràng pháo tay đi, kha khá mà chưa chính xác lắm, nhưng mà vậy cũng khá rồi đó.”
Tức là vị này khi bình thường đã nghe pháp, học thuộc lòng pháp, tụng pháp và có dùng tâm ý quán sát, khéo léo thể nhập trong pháp một phần nào đó. Nhưng mà khi gần chết, sắp sửa ra đi thì vị này mất Chánh niệm. Đưa vô những trường hợp như bị xe đụng, trâu bò húc chết hay là đột ngột bị tai nạn té chết, đại khái vậy đó. Hay là bất thình lình, chết bất đắc kỳ tử, tức là chết ngang, chết bất ngờ, chết đột ngột. Người ta gọi là hoành tử, chữ “hoành” đó là ngang, thì người này mất Chánh niệm. Tuy người này mất Chánh niệm, nhưng mà cái thiện lành, phước báu, sự tu tập của người này được sanh lên thiên giới, ở chung với chư Thiên. Và vị này được sống rất là an lạc, vị này được nghe đọc lại những lời trong Thánh điển Nikāya.
Thì lần lần người này nhớ lại những cái pháp mà trước mình đã được nghe, đã suy tư, quán sát tu tập, thì người này đi đến thù thắng. Chữ “thù thắng” ở đây là đi vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, còn nếu như nói ở trên chư Thiên là đi đến tịnh chư Thiên, là bất lai Thánh quả. Tại vì chư Thiên là có 2 dạng chư Thiên, 1 là phàm phu Thiên, 2 là Thánh đệ tử Thiên. Cái này chúng ta phải nắm vững, chứ hồi đó mình chưa học Nikāya mình không có biết. Phàm phu Thiên là chư Thiên bình thường, Thánh đệ tử Thiên là chư Thiên thành tựu Chánh kiến, khác nhau. Phàm phu thiên là chỉ có phước thôi, nhưng mà Thánh đệ tử Thiên có tuệ. Chữ “phước” và “tuệ”, không giống như trước giờ mình hiểu bình thường “phước huệ song tu” đồ đâu nha.
Chữ “tuệ” này là Thánh trí tuệ trong Nikāya, phân biệt cho kỹ. Chỉ có Thánh tuệ của Nikāya mới giúp cho người ta ly tham, từ bỏ đối với ngũ uẩn, còn tất cả phàm phu tuệ không đưa đến ly tham. Cho nên bây giờ chúng ta học đại đa số học về thiện pháp của nhân thiên, chúng ta nhớ ha. Đại đa số là học những pháp lành của nhân thiên, nên muốn nói sao thì nói, mạnh ai muốn gì thì nói, nói tùm lum ta la hết, miễn thiện pháp là được à. Cái đó gọi là thiện pháp của nhân thiên, không có khả năng đoạn tận tham, sân, si và xuất ly ngũ uẩn. Chỉ duy nhất Thánh tuệ ở trong Nikāya thì mới có thể diệt tận hoàn toàn tham, sân, si, xuất ly ngũ uẩn. Nhớ chỗ này hết sức quan trọng nha, nắm vững chỗ này hết sức quan trọng, không thôi suốt đời mình tu cũng không nắm được cái này đâu.
Cho nên sanh lên trời có 2 loại trời, 1 loại trời là trời bình thường, do phước thiện của việc tu thập thiện, hoặc là tu tứ vô lượng tâm là làm vua trời, phạm thiên luôn. Nhưng mà vẫn là phàm phu thiên, dù cho là vua trời đi nữa cũng là phàm phu à. Ông vua có khổ không? Có tham, sân, si không? “Dạ có”, thì đó. Còn Thánh đệ tử thiên là vị chư Thiên này có những vị phạm Thiên thành tựu Chánh kiến, đệ tử của Đức Phật. Thì ở trong kinh Nikāya dùng chữ “đệ tử của Như Lai”, hoặc chữ “Thánh đệ tử” là tất cả đều là bốn đôi tám chúng hết, chúng ta nhớ kỹ. Tối thiểu cũng là hướng dự lưu, tại vì người ta tu đúng Chánh pháp. Cái thấp nhất là hướng dự lưu, là hướng đến cái sự từ bỏ đối với ngũ uẩn.
Mà chúng ta tu 5 năm, 7 năm, 10 năm có ý muốn từ bỏ ngũ uẩn không? Cái này coi bộ khó à (có cô mới nói không liền đó). Là mình mãi mãi là phàm phu thôi, nhanh vô cùng luôn, mới hỏi là nói không liền, nhanh, quyết định là phàm phu vĩnh viễn, mãi mãi. Tức là người đó không có cơ hội hướng thể nhập vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, chỉ trong phước thiện của nhân thiên thôi. Bởi chỗ thâm sâu của Thánh pháp là chỗ này, chúng ta học Nikāya rồi chúng ta mới thấy nó khủng khiếp lắm. Chính vì vậy mà không có các bậc Thánh là vậy đó, tại vì khó mà từ bỏ ngũ uẩn lắm. Bỏ mấy cái bên ngoài đã khó rồi, chứ đừng nói chi vô tới cảm thọ của mình, những hình bóng trong tâm rồi những suy nghĩ, nhận thức, chấp thủ đó mà bỏ những cái đó là khủng khiếp lắm. Bậc đại chiến thắng tối thượng của nhân thiên, khó lắm.
Chính vì vậy người ta tu không nổi, người ta mới chế ra những cái mà người ta nói: “Cái này ngon hơn.” Những người sau họ chế biến ra, họ nói: “Những cái phía sau này mới ngon lành, mới to lớn.” Để ý thật kỹ, cái gốc của Đức Phật là chỗ đó đó. Thoát ra khỏi ngũ uẩn thì mới giải quyết được cái sanh, già, bệnh, chết. Đức Phật lúc đầu Ngài còn làm thái tử chúng ta nhớ không? Ngài nói sao, Ngài muốn cái gì? “Bây giờ phụ vương Ngài muốn con ở nhà, thì làm sao cho con trẻ mãi không già, khỏe hoài không bệnh, sống hoài đừng có chết.” Ngài muốn thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Thì chính chỗ này mới giải quyết được mục đích xuất giá của Ngài, chứ không thôi mình nói xuất gia là “liễu sanh thoát tử”, là thoát cái gì? Chính giáo pháp này giải quyết được câu hỏi vĩ đại lúc ban đầu của Bồ Tát trước khi đi xuất gia.
Rồi khi vượt ra khỏi ngũ uẩn rồi là không còn sanh tử nữa, tâm bất động, giải thoát. Không còn phải tái sanh, tái tục, tái tạo ra những cái thân máu mủ, bất tịnh, đầy giẫy những tham, sân, si, dục, ái, bản ngã nữa, cho nên mới gọi là vô sanh, bất sanh. Cho nên “bất sanh, bất diệt lão cồ đàm”, cái chữ đó ý nghĩa đó là như vậy. Tại vì nó không còn tái tạo cái thân sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, đâu có sanh tử nữa. Mà mình còn yêu cái này, khoái cái này, thích cái này, muốn cái này, muốn cái của người kia nữa thì làm sao mà mình hết sanh, làm sao mình đi đến chỗ vô sanh. Cho nên mình tái sanh, mà tái sanh thì còn tái tham, tái dục, tái ái, tái sân, tái hận, tái giành giật, tái tranh đấu, tái chiếm hữu, còn có tái tử như có thấy mới nói đó đúng rồi, là còn có chết.
II. Yêu và hận
Cho nên mình mới tái ngộ lại những người yêu và hận, mà gặp lại nhau thì: “Ôi trời đất ơi”. Mới nói nghe thọ, tưởng, hành thấy ớn rồi mà còn kẻ thù 10 năm, 30 năm gặp lại. Đời sau mới vừa đẻ ra thôi, còn nhỏ xíu, mới 5, 3 tuổi mà gặp mặt là muốn đánh à. Bởi vì đời trước là kẻ thù, oan gia tái ngộ, oan gia ngõ hẹp. Tự nhiên mới vừa gặp mặt là: “Nhìn mặt thấy ghét, không ưa”. Dù chưa nói chuyện nữa, mới nhìn mặt à, có không cười dữ vậy, sư cô ngồi đầu bàn nè? Còn mới gặp thôi là tiếng sét ái tình, trời đất ơi xẹt 1 cái rồi xong về bỏ ăn, mất ngủ, tương tư. Nhớ không? Ở trong “Trúc lâm dậy sống, kỳ duyên tái thế”, nhớ cô thiên kim tiểu thư không? Cái này nhớ dễ lắm chứ sao lại quên?
Gặp nhau 1 cái là bỏ ăn, mất ngủ, bệnh luôn. Bây gia xin phụ thân: “Vô xin cho ông thầy đó hoàn tục, không thôi là con chết”. Mà ông cha là tôn sùng Phật giáo, ổng thấy xấu hổ quá trời quá đất, tự nhiên vô kêu ông thầy đi hoàn tục lấy con mình. Nhưng mà thương con quá xá thương, thiên kim tiểu thư, có 1 mụm con à, nên mặt dày vô xin hòa thượng: “Cho Ngọc Lâm hoàn tục, cứu con của con. Giờ con của con nằm trên giường bệnh sắp chết rồi, bỏ ăn, mất ngủ, đêm đêm nhớ hình bóng ám ảnh hoài.” Rồi ông thầy Ngọc Lâm mới hy sinh, nhưng trước khi đi sư phụ dặn: “Con đi lần này là làm rạng rỡ cho Phật giáo nghe, con phải nhớ nghe không? Sau khi nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phụ thê giao bái xong vô động phòng.
Khi vô phòng thì Ngọc Lâm hỏi cô thiên kim có nhớ lời hứa là mình nói gì sẽ nghe theo cái đó không? Cô thiên kim nói nhớ. Ngọc Lâm bảo cô thiên kim đi đốt nắm hương, sau đó ông thầy cầm nắm hương đi và kêu cô thiên kim đi theo sau, đi hành hương, đi hành thiền. Sau khi đi nhiều vòng thì cô thấm mệt, mồ hôi, son phấn nhòe hết ra, đầu bù tóc rối, mặt mày lem luốt, nước mắt, nước mũi chảy ra. Xong cô nhìn vô gương thấy Ngài đi chừng nào thì mặt Ngài hồng chừng nấy, còn cô thì không quen. Mấy con ma dục, ma ái nó chạy mấy dép hết trơn, rồi Ngài kêu cô nhìn xem có xứng không? “Tôi thì đi tu, từ nhỏ chánh tín xuất gia, đồng chơn nhập đạo, bây giờ mặt mày hồng hào, sáng sủa xuất trần. Còn cô xấu xí, lem luốt, đầu bù tóc rối như vậy xứng không?” Rồi thuyết pháp luôn ngay tại chỗ, thân bất tịnh, rồi cô giác ngộ.
Sau này đi xuất gia luôn, đặt tên là Giác Chúng, giác ngộ cho chúng sanh. Từ ngày đó trở về sau là Ngài không có gặp lại, sau khi xuất gia cho cổ rồi là Ngài không gặp lại tới chết luôn. Cắt cái duyên xúc, Ngài sợ gặp lại rồi tâm chưa đoạn tận ái rồi sao. Cho nên bây giờ mình trở lại nói yêu và hận, mình tu cũng vậy, như thiện và ác pháp. Mình huân tập cái thiện nhiều, bất thình lình mình chết thì theo cái thiện. Còn bây giờ huân tập cái xấu, cái ác nhiều thì bất thình lình mình chết thì theo cái xấu, cái ác. Cho nên đừng có sợ, nói: “Bây giờ mình chết mình còn pháp không, chết rồi làm sao?” Không có sợ, cứ tu, cứ làm thiện, cứ quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã, cứ huân tu tinh hoa Nikāya, chết rồi là nhập bốn đôi tám chúng hiền Thánh thôi.
Huân tập những cái thấy biết về trí tuệ này, từ từ, ngày thêm 1 chút. Bây giờ mình chưa muốn bỏ ngũ uẩn, nhưng mình nghe cái này riết, mình nhìn, rồi mình quán sát riết, khéo thể nhập từ từ, mai mốt mình chán, mình bỏ, ngon lành, vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Phật, cho nên chữ “chúng sanh ấy đi đến thù thắng” là vậy. Thành ra Thánh trí là: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và con đường hướng diệt khổ”, đó là bốn Thánh trí nói gọn là khổ Thánh trí. Tức là thấy sắc này là khổ, thọ này là khổ, tưởng này là khổ, hành này là khổ, thức này là khổ, thấy được như vậy là Thánh trí. Mà làm sao con người có thể thấy nổi được như vậy, nếu mà không học của Phật, không thiền quán, không nhắc nhở thường luôn không thể nào thấy nổi.
Cho nên có sự tu học như vậy là lợi ích thứ nhất, còn lợi ích thứ 2 chúng ta nghe câu tiếp theo, thì vị này cũng tu tập y như nãy giờ nói, nhưng mà có khác là “vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy.” Tức là vị ấy sanh chỗ chư Thiên nhưng chỗ đó không có đọc, không có tụng, không có nói kinh Nikāya, chỗ này không có pháp cú, không có pháp từ. Chỗ này đặc biệt nè: “Nhưng có Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.”
Cho nên mình không có lo, chỗ này “vị Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại” là bạn đạo của Ngài đó. Tức là đời trước tu chung với nhau, thì vị này chứng Thánh quả, vị này có thần thông, cho nên các vị có tâm tự tại, có thần thông này sẽ lên trên thiên giới thuyết pháp. Mình đọc Nikāya mình thấy nhiều lắm, mình đọc Nikāya mình thấy ngài Mục-Thiền-Liên đi lên đó thuyết pháp. Thì lúc đó chư Thiên ở tầng trời rất là cao cấp, ở trên đó đang làm những cung điện mới, đẹp và lớn gọi là kinh dinh vĩ đại. Các vị này ở phạm Thiên, thì các vị này suy nghĩ mình là thường trụ, là bất biến, là Niết-bàn, mình là tối thượng, không bị vô thường. Sống cho tới khi trái đất này hoại còn chưa chết nữa, sống như vậy là quá xá quà xa rồi.
Vừa có những suy nghĩ như vậy, ngài Mục-Thiền-Liên ngồi dưới đây đọc được tâm niệm của vị chư thiên, trong khoảng co duỗi cánh tay, ở tại Trúc Lâm tinh xá biến ra trước mặt chư Thiên, trong phạm Thiên chúng. Thì như vậy vị Thiên chủ mới nói: “Lâu quá mới được diện kiến thưa Tôn giả”. Vị này đem ghế gỗ cho ngài Mục-Thiền-Liên ngồi, các vị kia nói chuyện, rồi dẫn Ngài đi vô tham quan cung điện mới khoe này kia. Ngài Mục-Thiền-Liên dùng ngón chân cái, đạp vô cái cung điện thì nó rung rinh muốn sập hết trơn. Thì những người này khiếp vía, hoảng hồn, hãi hùng. Có những vị nói: “Thế Tôn hả, đây là Như Lai hả”. Có vị trả lời: “Không, đây là bạn đồng đạo cua tôi, huynh đệ thôi.”
Tức là ngài Mục-Thiền-Liên là đệ tử xuất gia của Đức Phật, còn ngài phạm Thiên là đệ tử cư sĩ tại gia, thì cùng chung 1 thầy, bậc đạo sư, thì như vậy là đồng môn, đồng học, đồng đạo, huynh đệ, người xuất gia người tại gia. Thì những người này hoảng hồn hết, Ngài ấy cho các vị chư Thiên đó biết tưởng đâu là thường phải không? Cho thấy vô thường là vậy đó, rồi Ngài mới thuyết pháp. Nhiều trường hợp như vậy, cho nên các vị thần thông là các Ngài có duyên với chư Thiên sẽ lên đó thuyết pháp. Thì cũng vậy, ở đây: “Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên.” Vị Tỳ-kheo này lên đó thuyết pháp thì người bị chết mà thất niệm này suy nghĩ, nhớ lại đây đúng là pháp luật trước kia mình tu.
“Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.” Để đoạn tận các tham, sân, si để vào Thánh quả, đây là lợi ích thứ 2. “Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống.” Ví dụ đó ý là mình có nghe pháp rồi, mình rành về cái pháp đó, bây giờ nói lại là mình nhớ biết liền. Thí dụ như bây giờ mình học tứ Thánh đế rồi phải không? Khi mà có ai nói về “khổ tập diệt đạo” mình biết không? Thì cũng vậy đó. Nhưng mà mình biết bằng kiến thức, bằng từ ngữ chứ mình chưa có chứng pháp. Còn nếu mà vị đã sâu sắc trong sự tu tập thì các vị nhớ nhanh lắm, nhớ thâm sâu vào trong cảm thọ.
III. Lợi ích học thuộc lòng pháp
Rồi bây giờ trường hợp tiếp theo là gì? “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên”. Chúng ta thấy không? Tức là có người bạn cùng là chư Thiên nói pháp cho người đó, nhắc cho người đó. Giống như bây giờ mình tu, huynh đệ vậy đó, nhưng mà người sư huynh, sư tỷ của mình là người đã đạt pháp rồi, còn mình chưa có đạt. Thì bây giờ người đạt pháp này, sẽ nhắc nhở cho người chưa đạt. Đó là lợi ích đó, vị chư Thiên này là vị đã thành tựu Chánh kiến, đã thành tựu pháp nhắc nhở cho vị này.
Chúng ta ở đây có ai hồi đó được gặp bậc thiện tri thức hướng dẫn từ từ, rồi chúng ta mới đi tu phải không? Nó giống vậy đó, mình sẽ gặp người đó. Thì ở đây trên cõi trời cũng giống vậy thôi, mình sẽ gặp người đó thuyết pháp cho mình. Rồi mình nhớ lại mình tu, rồi mình đi đến thù thắng. Đó là lợi ích, trường hợp thứ 3, bây giờ đến trường hợp thứ 4. “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.”
Đó là bốn lợi ích của người tu học Chánh pháp, cái trường hợp cuối cùng này là không có cần giảng pháp, chỉ cần nhắc sơ qua là người này nhớ liền. Cho nên mình thấy không? Thế tử Tất-Đạt-Đa đó, Ngài thấy là nhớ liền. Ngài đã huân tập những cái này, cho nên Ngài có một hướng đi. Cho nên chúng ta nhớ đây là lợi ích trong việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya không có mất. Học Nikāya xong chết là sanh thiên không à, bây giờ học là phải có tu nữa, chứ không phải học kiến thức không đâu. “Chiếc Vé An Toàn”, ai đọc dùm chỗ này coi. Phải có người nào giọng tốt tốt 1 chút, để cho đại chúng nghe rõ 1 chút. Mình hưởng ứng cho nhanh, nhiệt tình coi.
Dạ mô Phật con xin đọc ạ: “Như vậy, nhờ khéo ý quan sát ý nghĩa các pháp, nhờ trí tuệ thể nhập sự thật của các pháp trong khi nghiên cứu, nghe, học, đọc, tụng các pháp trong lời Phật dạy trong kinh Nikāya. Khi mạng chung, nếu hành giả bị thất niệm, thì 1 trong 4 sự kiện sau đây sẽ xảy ra:
- Trường hợp thứ 1: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc và đọc lại, nhắc nhở lại những lời của Đức Phật cho hành giả nghe. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 1, lợi ích thứ 1 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 2: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc lại, không nhắc nhở lại những lời của Đức Phật. Nhưng sẽ có 1 người tu có thần thông, vị này tu học theo đúng Chánh pháp, đạt được tâm tự tại, đến thuyết giảng Chánh pháp cho hội chúng chư thiên này. Ví như có một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy mau chống đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống”.
Cũng vậy, khi được nghe vị tu có thần thông này thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 2, lợi ích thứ 2 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 3: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc tụng, không nhắc nhở lại những lời của Đức Phật. Nhưng có 1 vị thiên tử, thuyết giảng Chánh pháp cho hội chúng chư Thiên ấy. Ví như có một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy mau chống đi đến kết luận: “Đây là tiếng tù và”.
Cũng vậy, khi được nghe vị thiên tử này thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 3, lợi ích thứ 3 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 4: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc tụng, không nhắc nhở lại những lời dạy của Đức Phật. Nhưng có người trước đây là bạn đạo với hành giả, nhờ hóa sanh tại cảnh giới chư Thiên, cùng nơi với hành giả. Vị này nhắc nhở hành giả nhớ lại đời sống trước, nhớ lại pháp tu trước mà hành giả đã tu tập cùng với vị ấy. Ví như có 2 người bạn nhỏ cùng chơi trò chơi đất bùn, sua này lớn lên, 2 người này gặp lại nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ trò chơi này không?” Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!”
Cũng vậy, khi được nghe người bạn đạo trước đây nhắc nhở và thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 4, lợi ích thứ 4 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
Tóm lại, khi hành giả tu tập và thể nhập vào dòng pháp này đi đến mạng chung. Nếu hành giả thất niệm, thì 4 trường hợp, 4 lợi ích sau đây sẽ đến với hành giả:
- Thứ 1: Hành giả được sanh tại một thiên giới, và được các chư Thiên ở đấy nhắc nhở và hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 2: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả được 1 bậc có thần thông tu theo Chánh pháp đến giảng pháp, nhắc nhở hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 3: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả có 1 vị thiên tử đến giảng pháp, nhắc hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 4: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả có 1 bạn đạo ở đời trước, giờ hóa sanh cùng chỗ với hành giả, nhắc hành giả tu học tiếp tục.
Đó là 4 trường hợp, 4 lợi ích, 4 sự kiện xảy ra với hành giả, khi hành giả mạng chung bị thất niệm. Nhưng nhờ trước đó, hành giả đã tu học theo dòng pháp này, với trí tuệ khéo quán sát, và khéo thể nhập ý nghĩa và sự thật của các pháp, nên có được lợi ích đó. Như vậy, khi tu học theo con đường này, khi tu học theo dòng pháp này, hành giả sẽ có được sự an toàn, sự bảo đảm, sự chắc chắn cho mình. Một chiếc vé an toàn, ngồi 1 chỗ an toàn, vững chắc trên chiếc thuyền Bát nhã. Với 8 sự chân chánh, vỹ đại, thần diệu và hoàn hảo. Mà bậc Chánh đẳng giác đã truyền trao để vượt biển sanh tử, vượt thoát khỏi sanh, già, bệnh chết, vượt thoát khỏi dục, ái, tham, sân, si, bản ngã. Vượt thoát khỏi địa ngũ, ngạ quỷ, súc sanh, vô thường và phiền não.
Hành giả hãy hoan hỉ lên, hân hoan lên, vui cười lên. Khi 2.500 sau Đức Phật nhập diệt, chúng ta còn được thấy, được nghe, được đọc, được học và được hành. Thực hành theo những lời nói, lời dạy, lời chỉ bảo, lời phơi bày sự thật. Những điều chơn chánh, hy hữu và thần diệu từ kim khẩu của Đức Thế Tôn. Hãy hạnh phúc lên, hãy hoan hỉ lên, hãy rạng ngời niềm vui, niềm an lạc và trí tuệ khi tu học theo dòng Thánh pháp này.”
IV. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya
(Con mời thầy đọc đoạn tiếp đến hết số 4 đi. Mười lợi ích, pháp học, pháp hành được rộng mở)
“Mười lợi ích khi học và hành theo Nikāya:
-Thứ 1: Trực chỉ Phật ngôn.
-Thứ 2: Biết được thực tế đời sống và xã hội thời Đức Phật,
-Thứ 3: Được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật.
- Thứ 4: Pháp học, pháp hành rộng mở không bị gò bó.
- Thứ 5: Tâm nguyện tu học chân chánh có khả năng được thành tựu.
- Thứ 6: Biết rõ điều cần tu tập.
- Thứ 7: Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
- Thứ 8: Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo.
- Thứ 9: Thực tu theo Nikāya sẽ thực chứng sự chấm dứt sanh tử.
- Thứ 10: Tuệ đã khai mở, đạo sẽ thành tựu.
+ Thứ 1: Trực chỉ Phật ngôn: Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả sẽ đi thẳng vào lời dạy của Đức Phật. Tiếp cận trực tiếp với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, khi Ngài còn tại thế. Tránh được sự truyền tải ý nghĩa giáo pháp có khi đúng, có khi lệch của vị này, vị kia. Tránh được việc đến với đạo Phật, nhưng nhìn nhận và hiểu biết Đạo Phật thông qua kinh của người khác.
+ Thứ 2: Biết được thực tế đời sống và xã hội thời Đức Phật. Trong khi nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, hành giả biết được với những sự kiện thực tế đã từng xảy ra trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế. Hoàn cảnh xã hội thời đó, đời sống thực tế của Đức Phật và các buổi thuyết giảng Chánh pháp của Ngài.
+ Thứ 3: Khi được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật trong nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, trí tuệ của hành giả được mở rộng. Hành giả được nghe biết đôi phần về trí tuệ thâm sâu, vi diệu của Đức Phật thông qua các bài thuyết giảng của Ngài. Và đối diện cách xử trí của Ngài trước các cuộc cực vấn, chất vấn của ngoại đạo.
+ Thứ 4: Pháp học, pháp hành được mở rộng, không bị gò bó. Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả thấy biết được pháp học, pháp hành. Đã được Đức Phật trình bày đa dạng với nhiều hình thức, nhiều gốc độ, nhiều khía cạnh. Hành giả học hỏi được nhiều cách tu tập, nhiều phương tiện tu tập, không bị hạn chế, bó buộc trong một phương tiện tu tập, theo một cá nhân, 1 tông phái nào.”
Chúng ta dừng lại 1 chút, phía trên là chúng ta bước qua 10 lợi ích khi học và thực hành theo Nikāya. Ở phần đầu là 4 lợi ích tổng quát dựa theo bài kinh “Khi Nghe Với Tai”, Tăng Chi Bộ 2. Còn 10 lợi ích này là trong 1 thời gian dài tác giả đã nghiên cứu, tu tập, hành trì, thành tựu và nhìn thấy ra được 10 lợi ích. Thì cái lợi ích đầu tiên là cái lợi ích mà mình trực tiếp học với Đức Phật. “Trực chỉ Phật ngôn” tức là mình trực tiếp học với lời dạy của Đức Phật, không qua những lời dạy của người khác, cái này hết sức là quan trọng. Con hồi xưa đi tu, con đâu có vô được học lời Phật liền đâu, vô là mình học được rất là nhiều những tư tưởng khác nhau. Cho nên cái này là cái hết sức quan trọng, hồi nãy con đã nhắc với chúng ta rồi.
Lợi ích đầu tiên là đi thẳng vào lời dạy của bậc Chánh đẳng Chánh giác, cái này là lợi ích quý báu nhất, cái này mới gọi là Chánh pháp đó. Cho nên tại sao mình nói “Chánh pháp khó nghe”, là mình rất là khó được nghe lời thật sự của Đức Phật nói. Mà bây giờ chúng ta học Nikāya, chúng được cái đó, đây gọi là “Chánh pháp nan văn” là chỗ đó đó. Cho nên mình chưa học Nikāya mình sẽ không hiểu “Chánh pháp khó nghe”, mình chỉ hiểu 1 cách chung chung thì không phải. Chánh pháp là lời dạy nguyên chất của Đức Phật, mà lời của người khác diễn ra mà không được Phật ấn chứng thì cái đó không phải. Nhớ nha, hôm trước mình cũng có học những bài kinh của ngài Xá-Lợi-Phất giảng đúng không? Có những bài kinh mà ngài Phú-Lâu-Na, ngài Mục-Thiền-Liên giảng phải không?
Thì những bài kinh đó là có sự ấn chứng của Đức Phật và các bậc Thánh Tăng kết tập, thì cái đó gọi là Chánh pháp. Còn bất cứ lời nào, bất cứ của ai mà nếu không phải những bậc chứng ngộ trong bốn đôi tám chúng hiền Thánh mà nói, thì nó sẽ đi lệch ra ở trong ngũ uẩn. Chứ nó không có dẫn mình đi ra ngũ uẩn, mà dẫn mình đi vô. Nó không dẫn mình ly tham, mà nó dẫn mình sanh ra tham thêm. Nó không dẫn mình diệt ngã, mà nó dẫn mình tăng ngã. Chúng ta để ý có thấy những chỗ này không? Nếu mà không đúng Chánh pháp, mình làm 1 thời gian rồi đó khi mình thấy mình ngon hơn người ta, chỗ đó là chỗ không có đúng Chánh pháp. Chánh pháp là có công năng làm cho mình ly tham, đoạn ái, diệt dục, phá ngã, xóa tan vô minh, thì cái đó mới là Chánh pháp.
Thì cái lợi ích hết sức quan trọng đó là đi thẳng vô lời dạy của Đức Phật, trực tiếp với những lời dạy của Đức Phật khi Ngài còn tại thế. “Và tránh được sự truyền tải giáo pháp có khi đúng và có khi lệch của những vị này, vị kia”. Bây giờ chúng ta thấy giảng sao ạ? Một hồi cái “Có câu này, có cô kia, cổ đức có câu này, kinh nói…” mà không biết kinh nào nói, mình tự nói 1 hồi cái nói kinh nói, cái này hết sức nguy hiểm. Kinh Trường Bộ, Trung Bộ hay Tương Ưng Bộ phải nói rõ phẩm nào, quyển nào, tập 1 hay là tập 2, trong bài kinh nào. Chứ không có nói 1 hồi cái: “Có câu”, xong rồi: “Kinh nói”. Nói 1 hồi nhớ ba chớp ba nháng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, cái mình nói cái này của Phật. Cái này rất nguy hiểm, nhưng mà bây giờ nhiều không? “Nhiều”
Cho nên mạt pháp luôn là như vậy đó, nói tầm bậy tầm bạ. Mà khổ cái là quên mà không chịu mình quên, cũng không chịu mở sách ra đọc. Tại vì: “Mở sách ra đọc như vậy là mình dở, mình phải nói thao thao bất tuyệt, nói ro ro như vậy người ta mới nể.” Cái này còn chết nữa, bản ngã thuyết pháp. Nhiều cái để mình học lắm, cho nên con chưa có chấm cho các thầy các cô giảng đó, chứ con chấm chắc là… (cười). Con thiệt ra con ngồi đó chấm mấy bữa là các Ngài cũng tạm ứng, chắc là thiếu người hay gì đó, thì con chấm được 1, 2 vị thôi là có nghiên cứu Nikāya được đôi phần, chút đỉnh, chứ còn ngoài ra là rớt hết. Nếu mà nhân thiên pháp thì được, nhưng Thánh pháp thì không được, nhớ kỹ à.
Nhân thiên pháp thì được, tức là hướng dẫn người ta làm lành, lánh dữ, để sau này người ta chết rồi làm người, sanh lên trời thì có thể. Nhưng mà để giúp cho người ta diệt khổ, giải thoát thì không được. Bởi vì chính mình còn không biết, thì lấy gì giúp người ta, phải không? Cho nên “Chánh pháp khó nghe” là chỗ này. “Chánh pháp khó nghe”, 4 chữ này không phải là đơn giản. Cho nên là “sự truyền tải giáo pháp có khi là đúng, có khi lệch của vị này, vị kia”. Tránh được việc đến với đạo Phật, nhưng nhìn nhận và hiểu biết Đạo Phật thông qua kinh của người khác”. Cái này nhiều không? Cũng là cái pháp đó, nhưng ông thầy giảng 1 hồi là ra tư tưởng của ổng, mà cũng là cái pháp đó nhưng cô này giảng 1 hồi ra cái tư tưởng của cô.
Rồi người nghe tưởng đâu ông giảng đó là dữ dằn lắm, vô tình thì mình làm cho mình phát triển cái mình bự ra. Chứ không phải là mình tôn kính pháp, mà đang truyền bá pháp và đang thật sự là hoằng pháp. Mà mình đang hoằng cái mình để cho nó bự, cho người ta biết về mình nhiều hơn. Chứ không phải biết về Đức Phật, biết về pháp. Cho nên nhiều người nói: “Pháp của thầy hay qúa”, con nói: “Dạ con thưa không phải ạ, cái này là pháp của Phật”, cái này hết sức quan trọng. Không có pháp của thầy, không có bất cứ 1 ai trong tam thiên, đại thiên thế giới này có thể nói được pháp Thánh đạo trừ bậc Chánh đẳng chánh giác, kể cả ngài Xá-Lợi-Phất, Mục-Thiền-Liên, Ca-Diếp. Duy nhất bậc tối tôn, tối thượng, bậc pháp nhãn, bậc pháp chủ, bậc pháp bổn, là bậc nương tựa của tất cả pháp từ đó có ra, là Đức Thế Tôn thôi.
Không có người thứ 2, có đủ Thánh trí huệ để nói ra cái pháp đó. Thành ra đi vào Nikāya chúng ta thấy có nhiều cái đặc biệt lắm, những cái hiểu của mình trước nay là không có phải chính xác. Cho nên mình đặt pháp môn này, đặt pháp môn kia, chế ra những cách tu này, tu nọ, là mình chưa có thành tựu Chánh kiến, nhớ kỹ cái này hết sức quan trọng. Bây giờ có nhiều vị chế ra những pháp môn tu mới phải không? Cái đó đó. Mà hồi trước con không biết, con cũng khoái cái đó lắm, vô minh mà. Tính được làm tổ sáng chế ra pháp môn, cái này rất nguy hiểm. Mà những người như vậy, tức là chưa có thành tựu Chánh kiến mới như vậy. Còn những người thành tựu Chánh kiến, là tôn kính Đức Phật tuyệt đối.
Các bậc Thánh là tôn kính Đức Phật tuyệt đối, tại vì các Ngài đoạn tận các lậu hoặc, chứng Thánh quả, các Ngài mới biết thật sự ân đức của Đức Như Lai tới mức độ nào, mới biết giá trị của Thánh pháp tới mức độ nào. Cho nên mình học cái này, thứ nhất là mình trực tiếp lời Phật dạy, không có hiểu sai, lệch lạc qua lăng kính của người này người kia. Bây giờ chúng ta học là học rất là nhiều tông phái, con dịch xong cuốn “10 tông phái”, ba trăm mấy chục trang, bây giờ để đó luôn chứ không có xuất bản. Quyển đó rất là nổi tiếng, rất là khó dịch, 10 tập, bây giờ để ở nhà bản cảo thôi chứ không in ra.
Thành ra mình nhớ kỹ, nhớ chính xác nha, những cái này là chúng ta xắt cốt tinh túy, tinh hoa, tinh anh, tinh luyện, tinh thuần, tinh chất giáo pháp. Cố gắng đọc cho thật là kỹ, nghe thật là kỹ, nắm thật là vững. Những cái này là hành trang cho mình đến suốt cuộc đời, và nhiều kiếp sau. Pháp học và pháp hành của mình sau này mình hoằng pháp, mình có chỗ y cứ vững chắc là Thánh điển. Nói ra là lời của bậc Chánh đẳng chánh giác, tối tôn tối thượng. Và con mong rằng, con kính khuyên tất cả quý thầy, quý cô trong lớp giảng sư này phải để tâm thật nhiều vào 4 bộ Nikāya. Và khi giảng thuyết là dẫn chứng ở trong Nikāya đó, nếu không thuộc cứ đọc không sao hết.
Phải học thật nhiều trong Nikāya, dẫn chứng thật nhiều và tập viết luận văn lấy trong này ra viết. Lấy cái đó làm Thánh điển y cứ, rồi chúng ta sẽ thấy Phật giáo Việt Nam sẽ bước sang 1 trang sử mới. Để rồi rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng cho Phật giáo thế giới. Hoan hỉ chưa ạ? Để tâm vào cái này thật là nhiều. Phật giáo Việt Nam ta sẽ bước qua 1 trang sử mới, tất cả Phật giáo trên thế giới sẽ về đây học, về nước chúng ta tìm học. Hồi xưa chúng ta đi qua Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar học, bây giờ bên đó phải quay về đây học. Đã đến cái thời của Phật giáo Việt Nam, cố gắng và thành công.
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 2
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 03 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh Đệ Tử PAGEREF _Toc137398585 \h 1
II. Yêu và hận PAGEREF _Toc137398586 \h 4
III. Lợi ích học thuộc lòng pháp PAGEREF _Toc137398587 \h 8
IV. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya PAGEREF _Toc137398588 \h 12
I. Thánh Đệ Tử
“Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên, mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng.” Con đố ai mà hiểu được câu này, là thưởng 1 bộ đại tạng kinh Nikāya luôn. “Mau chóng chúng sanh ấy đi đến thù thắng”, thành ra kinh Nikāya là không phải dễ hiểu. Đi đến thù thắng là đi đến đâu? Mời thầy dơ tay.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính máy bạch trên thượng tọa, giáo thọ sư cùng toàn thể huynh đệ. Câu trên con được hiểu là từ “mau chóng” ở đây là cái niệm như mê mà lúc đó được tỉnh thức, đưa cái niệm đến thù thắng. “Thù thắng” ở đây là đi đến chứng ngộ Thánh trí của bậc Thánh. Nhờ được chậm chạp nhớ lại, bất giác nhớ lại những gì lúc trước có học mà quên, nay được nghe lại và được nhớ nghĩ. Nhờ nhớ nghĩ an trú trong cái niệm, và do cái niệm nó khởi lên bởi 5 căn và nhờ 5 căn được duy trì trong cái niệm chậm chạp. Nhờ niệm chậm chạp duy trì từng bước như vậy, và nhờ 5 lực thúc đẩy cái niệm đi đến thù thắng và chứng ngộ Thánh trí. Nhờ chứng ngộ Thánh trí nên vượt thoát ra 3 cõi sanh tử.
-Thầy: Thánh trí là gì thưa thầy?
- Dạ Thánh trí là đoạn trừ tham, sân, si và thấy rõ được 5 uẩn: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Thôi cho 1 tràng pháo tay đi, kha khá mà chưa chính xác lắm, nhưng mà vậy cũng khá rồi đó.”
Tức là vị này khi bình thường đã nghe pháp, học thuộc lòng pháp, tụng pháp và có dùng tâm ý quán sát, khéo léo thể nhập trong pháp một phần nào đó. Nhưng mà khi gần chết, sắp sửa ra đi thì vị này mất Chánh niệm. Đưa vô những trường hợp như bị xe đụng, trâu bò húc chết hay là đột ngột bị tai nạn té chết, đại khái vậy đó. Hay là bất thình lình, chết bất đắc kỳ tử, tức là chết ngang, chết bất ngờ, chết đột ngột. Người ta gọi là hoành tử, chữ “hoành” đó là ngang, thì người này mất Chánh niệm. Tuy người này mất Chánh niệm, nhưng mà cái thiện lành, phước báu, sự tu tập của người này được sanh lên thiên giới, ở chung với chư Thiên. Và vị này được sống rất là an lạc, vị này được nghe đọc lại những lời trong Thánh điển Nikāya.
Thì lần lần người này nhớ lại những cái pháp mà trước mình đã được nghe, đã suy tư, quán sát tu tập, thì người này đi đến thù thắng. Chữ “thù thắng” ở đây là đi vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, còn nếu như nói ở trên chư Thiên là đi đến tịnh chư Thiên, là bất lai Thánh quả. Tại vì chư Thiên là có 2 dạng chư Thiên, 1 là phàm phu Thiên, 2 là Thánh đệ tử Thiên. Cái này chúng ta phải nắm vững, chứ hồi đó mình chưa học Nikāya mình không có biết. Phàm phu Thiên là chư Thiên bình thường, Thánh đệ tử Thiên là chư Thiên thành tựu Chánh kiến, khác nhau. Phàm phu thiên là chỉ có phước thôi, nhưng mà Thánh đệ tử Thiên có tuệ. Chữ “phước” và “tuệ”, không giống như trước giờ mình hiểu bình thường “phước huệ song tu” đồ đâu nha.
Chữ “tuệ” này là Thánh trí tuệ trong Nikāya, phân biệt cho kỹ. Chỉ có Thánh tuệ của Nikāya mới giúp cho người ta ly tham, từ bỏ đối với ngũ uẩn, còn tất cả phàm phu tuệ không đưa đến ly tham. Cho nên bây giờ chúng ta học đại đa số học về thiện pháp của nhân thiên, chúng ta nhớ ha. Đại đa số là học những pháp lành của nhân thiên, nên muốn nói sao thì nói, mạnh ai muốn gì thì nói, nói tùm lum ta la hết, miễn thiện pháp là được à. Cái đó gọi là thiện pháp của nhân thiên, không có khả năng đoạn tận tham, sân, si và xuất ly ngũ uẩn. Chỉ duy nhất Thánh tuệ ở trong Nikāya thì mới có thể diệt tận hoàn toàn tham, sân, si, xuất ly ngũ uẩn. Nhớ chỗ này hết sức quan trọng nha, nắm vững chỗ này hết sức quan trọng, không thôi suốt đời mình tu cũng không nắm được cái này đâu.
Cho nên sanh lên trời có 2 loại trời, 1 loại trời là trời bình thường, do phước thiện của việc tu thập thiện, hoặc là tu tứ vô lượng tâm là làm vua trời, phạm thiên luôn. Nhưng mà vẫn là phàm phu thiên, dù cho là vua trời đi nữa cũng là phàm phu à. Ông vua có khổ không? Có tham, sân, si không? “Dạ có”, thì đó. Còn Thánh đệ tử thiên là vị chư Thiên này có những vị phạm Thiên thành tựu Chánh kiến, đệ tử của Đức Phật. Thì ở trong kinh Nikāya dùng chữ “đệ tử của Như Lai”, hoặc chữ “Thánh đệ tử” là tất cả đều là bốn đôi tám chúng hết, chúng ta nhớ kỹ. Tối thiểu cũng là hướng dự lưu, tại vì người ta tu đúng Chánh pháp. Cái thấp nhất là hướng dự lưu, là hướng đến cái sự từ bỏ đối với ngũ uẩn.
Mà chúng ta tu 5 năm, 7 năm, 10 năm có ý muốn từ bỏ ngũ uẩn không? Cái này coi bộ khó à (có cô mới nói không liền đó). Là mình mãi mãi là phàm phu thôi, nhanh vô cùng luôn, mới hỏi là nói không liền, nhanh, quyết định là phàm phu vĩnh viễn, mãi mãi. Tức là người đó không có cơ hội hướng thể nhập vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, chỉ trong phước thiện của nhân thiên thôi. Bởi chỗ thâm sâu của Thánh pháp là chỗ này, chúng ta học Nikāya rồi chúng ta mới thấy nó khủng khiếp lắm. Chính vì vậy mà không có các bậc Thánh là vậy đó, tại vì khó mà từ bỏ ngũ uẩn lắm. Bỏ mấy cái bên ngoài đã khó rồi, chứ đừng nói chi vô tới cảm thọ của mình, những hình bóng trong tâm rồi những suy nghĩ, nhận thức, chấp thủ đó mà bỏ những cái đó là khủng khiếp lắm. Bậc đại chiến thắng tối thượng của nhân thiên, khó lắm.
Chính vì vậy người ta tu không nổi, người ta mới chế ra những cái mà người ta nói: “Cái này ngon hơn.” Những người sau họ chế biến ra, họ nói: “Những cái phía sau này mới ngon lành, mới to lớn.” Để ý thật kỹ, cái gốc của Đức Phật là chỗ đó đó. Thoát ra khỏi ngũ uẩn thì mới giải quyết được cái sanh, già, bệnh, chết. Đức Phật lúc đầu Ngài còn làm thái tử chúng ta nhớ không? Ngài nói sao, Ngài muốn cái gì? “Bây giờ phụ vương Ngài muốn con ở nhà, thì làm sao cho con trẻ mãi không già, khỏe hoài không bệnh, sống hoài đừng có chết.” Ngài muốn thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Thì chính chỗ này mới giải quyết được mục đích xuất giá của Ngài, chứ không thôi mình nói xuất gia là “liễu sanh thoát tử”, là thoát cái gì? Chính giáo pháp này giải quyết được câu hỏi vĩ đại lúc ban đầu của Bồ Tát trước khi đi xuất gia.
Rồi khi vượt ra khỏi ngũ uẩn rồi là không còn sanh tử nữa, tâm bất động, giải thoát. Không còn phải tái sanh, tái tục, tái tạo ra những cái thân máu mủ, bất tịnh, đầy giẫy những tham, sân, si, dục, ái, bản ngã nữa, cho nên mới gọi là vô sanh, bất sanh. Cho nên “bất sanh, bất diệt lão cồ đàm”, cái chữ đó ý nghĩa đó là như vậy. Tại vì nó không còn tái tạo cái thân sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, đâu có sanh tử nữa. Mà mình còn yêu cái này, khoái cái này, thích cái này, muốn cái này, muốn cái của người kia nữa thì làm sao mà mình hết sanh, làm sao mình đi đến chỗ vô sanh. Cho nên mình tái sanh, mà tái sanh thì còn tái tham, tái dục, tái ái, tái sân, tái hận, tái giành giật, tái tranh đấu, tái chiếm hữu, còn có tái tử như có thấy mới nói đó đúng rồi, là còn có chết.
II. Yêu và hận
Cho nên mình mới tái ngộ lại những người yêu và hận, mà gặp lại nhau thì: “Ôi trời đất ơi”. Mới nói nghe thọ, tưởng, hành thấy ớn rồi mà còn kẻ thù 10 năm, 30 năm gặp lại. Đời sau mới vừa đẻ ra thôi, còn nhỏ xíu, mới 5, 3 tuổi mà gặp mặt là muốn đánh à. Bởi vì đời trước là kẻ thù, oan gia tái ngộ, oan gia ngõ hẹp. Tự nhiên mới vừa gặp mặt là: “Nhìn mặt thấy ghét, không ưa”. Dù chưa nói chuyện nữa, mới nhìn mặt à, có không cười dữ vậy, sư cô ngồi đầu bàn nè? Còn mới gặp thôi là tiếng sét ái tình, trời đất ơi xẹt 1 cái rồi xong về bỏ ăn, mất ngủ, tương tư. Nhớ không? Ở trong “Trúc lâm dậy sống, kỳ duyên tái thế”, nhớ cô thiên kim tiểu thư không? Cái này nhớ dễ lắm chứ sao lại quên?
Gặp nhau 1 cái là bỏ ăn, mất ngủ, bệnh luôn. Bây gia xin phụ thân: “Vô xin cho ông thầy đó hoàn tục, không thôi là con chết”. Mà ông cha là tôn sùng Phật giáo, ổng thấy xấu hổ quá trời quá đất, tự nhiên vô kêu ông thầy đi hoàn tục lấy con mình. Nhưng mà thương con quá xá thương, thiên kim tiểu thư, có 1 mụm con à, nên mặt dày vô xin hòa thượng: “Cho Ngọc Lâm hoàn tục, cứu con của con. Giờ con của con nằm trên giường bệnh sắp chết rồi, bỏ ăn, mất ngủ, đêm đêm nhớ hình bóng ám ảnh hoài.” Rồi ông thầy Ngọc Lâm mới hy sinh, nhưng trước khi đi sư phụ dặn: “Con đi lần này là làm rạng rỡ cho Phật giáo nghe, con phải nhớ nghe không? Sau khi nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phụ thê giao bái xong vô động phòng.
Khi vô phòng thì Ngọc Lâm hỏi cô thiên kim có nhớ lời hứa là mình nói gì sẽ nghe theo cái đó không? Cô thiên kim nói nhớ. Ngọc Lâm bảo cô thiên kim đi đốt nắm hương, sau đó ông thầy cầm nắm hương đi và kêu cô thiên kim đi theo sau, đi hành hương, đi hành thiền. Sau khi đi nhiều vòng thì cô thấm mệt, mồ hôi, son phấn nhòe hết ra, đầu bù tóc rối, mặt mày lem luốt, nước mắt, nước mũi chảy ra. Xong cô nhìn vô gương thấy Ngài đi chừng nào thì mặt Ngài hồng chừng nấy, còn cô thì không quen. Mấy con ma dục, ma ái nó chạy mấy dép hết trơn, rồi Ngài kêu cô nhìn xem có xứng không? “Tôi thì đi tu, từ nhỏ chánh tín xuất gia, đồng chơn nhập đạo, bây giờ mặt mày hồng hào, sáng sủa xuất trần. Còn cô xấu xí, lem luốt, đầu bù tóc rối như vậy xứng không?” Rồi thuyết pháp luôn ngay tại chỗ, thân bất tịnh, rồi cô giác ngộ.
Sau này đi xuất gia luôn, đặt tên là Giác Chúng, giác ngộ cho chúng sanh. Từ ngày đó trở về sau là Ngài không có gặp lại, sau khi xuất gia cho cổ rồi là Ngài không gặp lại tới chết luôn. Cắt cái duyên xúc, Ngài sợ gặp lại rồi tâm chưa đoạn tận ái rồi sao. Cho nên bây giờ mình trở lại nói yêu và hận, mình tu cũng vậy, như thiện và ác pháp. Mình huân tập cái thiện nhiều, bất thình lình mình chết thì theo cái thiện. Còn bây giờ huân tập cái xấu, cái ác nhiều thì bất thình lình mình chết thì theo cái xấu, cái ác. Cho nên đừng có sợ, nói: “Bây giờ mình chết mình còn pháp không, chết rồi làm sao?” Không có sợ, cứ tu, cứ làm thiện, cứ quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã, cứ huân tu tinh hoa Nikāya, chết rồi là nhập bốn đôi tám chúng hiền Thánh thôi.
Huân tập những cái thấy biết về trí tuệ này, từ từ, ngày thêm 1 chút. Bây giờ mình chưa muốn bỏ ngũ uẩn, nhưng mình nghe cái này riết, mình nhìn, rồi mình quán sát riết, khéo thể nhập từ từ, mai mốt mình chán, mình bỏ, ngon lành, vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Phật, cho nên chữ “chúng sanh ấy đi đến thù thắng” là vậy. Thành ra Thánh trí là: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và con đường hướng diệt khổ”, đó là bốn Thánh trí nói gọn là khổ Thánh trí. Tức là thấy sắc này là khổ, thọ này là khổ, tưởng này là khổ, hành này là khổ, thức này là khổ, thấy được như vậy là Thánh trí. Mà làm sao con người có thể thấy nổi được như vậy, nếu mà không học của Phật, không thiền quán, không nhắc nhở thường luôn không thể nào thấy nổi.
Cho nên có sự tu học như vậy là lợi ích thứ nhất, còn lợi ích thứ 2 chúng ta nghe câu tiếp theo, thì vị này cũng tu tập y như nãy giờ nói, nhưng mà có khác là “vị ấy khi mạng chung bị thất niệm, được sanh cộng trú với một loại Thiên nhân. Tại đấy, các vị sống an lạc không đọc các pháp cú cho vị ấy.” Tức là vị ấy sanh chỗ chư Thiên nhưng chỗ đó không có đọc, không có tụng, không có nói kinh Nikāya, chỗ này không có pháp cú, không có pháp từ. Chỗ này đặc biệt nè: “Nhưng có Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây ta đã sống Phạm hạnh”. Này các Tỳ-kheo, chậm chạp niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.”
Cho nên mình không có lo, chỗ này “vị Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại” là bạn đạo của Ngài đó. Tức là đời trước tu chung với nhau, thì vị này chứng Thánh quả, vị này có thần thông, cho nên các vị có tâm tự tại, có thần thông này sẽ lên trên thiên giới thuyết pháp. Mình đọc Nikāya mình thấy nhiều lắm, mình đọc Nikāya mình thấy ngài Mục-Thiền-Liên đi lên đó thuyết pháp. Thì lúc đó chư Thiên ở tầng trời rất là cao cấp, ở trên đó đang làm những cung điện mới, đẹp và lớn gọi là kinh dinh vĩ đại. Các vị này ở phạm Thiên, thì các vị này suy nghĩ mình là thường trụ, là bất biến, là Niết-bàn, mình là tối thượng, không bị vô thường. Sống cho tới khi trái đất này hoại còn chưa chết nữa, sống như vậy là quá xá quà xa rồi.
Vừa có những suy nghĩ như vậy, ngài Mục-Thiền-Liên ngồi dưới đây đọc được tâm niệm của vị chư thiên, trong khoảng co duỗi cánh tay, ở tại Trúc Lâm tinh xá biến ra trước mặt chư Thiên, trong phạm Thiên chúng. Thì như vậy vị Thiên chủ mới nói: “Lâu quá mới được diện kiến thưa Tôn giả”. Vị này đem ghế gỗ cho ngài Mục-Thiền-Liên ngồi, các vị kia nói chuyện, rồi dẫn Ngài đi vô tham quan cung điện mới khoe này kia. Ngài Mục-Thiền-Liên dùng ngón chân cái, đạp vô cái cung điện thì nó rung rinh muốn sập hết trơn. Thì những người này khiếp vía, hoảng hồn, hãi hùng. Có những vị nói: “Thế Tôn hả, đây là Như Lai hả”. Có vị trả lời: “Không, đây là bạn đồng đạo cua tôi, huynh đệ thôi.”
Tức là ngài Mục-Thiền-Liên là đệ tử xuất gia của Đức Phật, còn ngài phạm Thiên là đệ tử cư sĩ tại gia, thì cùng chung 1 thầy, bậc đạo sư, thì như vậy là đồng môn, đồng học, đồng đạo, huynh đệ, người xuất gia người tại gia. Thì những người này hoảng hồn hết, Ngài ấy cho các vị chư Thiên đó biết tưởng đâu là thường phải không? Cho thấy vô thường là vậy đó, rồi Ngài mới thuyết pháp. Nhiều trường hợp như vậy, cho nên các vị thần thông là các Ngài có duyên với chư Thiên sẽ lên đó thuyết pháp. Thì cũng vậy, ở đây: “Tỳ-kheo có thần thông, đã đạt được tâm tự tại, thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên.” Vị Tỳ-kheo này lên đó thuyết pháp thì người bị chết mà thất niệm này suy nghĩ, nhớ lại đây đúng là pháp luật trước kia mình tu.
“Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.” Để đoạn tận các tham, sân, si để vào Thánh quả, đây là lợi ích thứ 2. “Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống.” Ví dụ đó ý là mình có nghe pháp rồi, mình rành về cái pháp đó, bây giờ nói lại là mình nhớ biết liền. Thí dụ như bây giờ mình học tứ Thánh đế rồi phải không? Khi mà có ai nói về “khổ tập diệt đạo” mình biết không? Thì cũng vậy đó. Nhưng mà mình biết bằng kiến thức, bằng từ ngữ chứ mình chưa có chứng pháp. Còn nếu mà vị đã sâu sắc trong sự tu tập thì các vị nhớ nhanh lắm, nhớ thâm sâu vào trong cảm thọ.
III. Lợi ích học thuộc lòng pháp
Rồi bây giờ trường hợp tiếp theo là gì? “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, vị ấy được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và một Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên”. Chúng ta thấy không? Tức là có người bạn cùng là chư Thiên nói pháp cho người đó, nhắc cho người đó. Giống như bây giờ mình tu, huynh đệ vậy đó, nhưng mà người sư huynh, sư tỷ của mình là người đã đạt pháp rồi, còn mình chưa có đạt. Thì bây giờ người đạt pháp này, sẽ nhắc nhở cho người chưa đạt. Đó là lợi ích đó, vị chư Thiên này là vị đã thành tựu Chánh kiến, đã thành tựu pháp nhắc nhở cho vị này.
Chúng ta ở đây có ai hồi đó được gặp bậc thiện tri thức hướng dẫn từ từ, rồi chúng ta mới đi tu phải không? Nó giống vậy đó, mình sẽ gặp người đó. Thì ở đây trên cõi trời cũng giống vậy thôi, mình sẽ gặp người đó thuyết pháp cho mình. Rồi mình nhớ lại mình tu, rồi mình đi đến thù thắng. Đó là lợi ích, trường hợp thứ 3, bây giờ đến trường hợp thứ 4. “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, như kinh: Ứng tụng … Phương quảng. Các pháp ấy, được nghe bằng tai, được tụng đọc bằng lời, do ý quan sát, do kiến khéo thể nhập … nhưng không có Tỳ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên; và không có Thiên tử thuyết pháp cho hội chúng chư Thiên. Nhưng có thể có người được hóa sanh: “Này bạn, bạn có nhớ không? Này bạn, bạn có nhớ không, tại chỗ ấy chúng ta đã sống Phạm hạnh?” Vị ấy trả lời: “Này bạn, tôi nhớ! Này bạn, tôi nhớ”. Chậm chạp, này các Tỳ-kheo, niệm được khởi lên. Rồi mau chóng, chúng sanh ấy đi đến thù thắng.”
Đó là bốn lợi ích của người tu học Chánh pháp, cái trường hợp cuối cùng này là không có cần giảng pháp, chỉ cần nhắc sơ qua là người này nhớ liền. Cho nên mình thấy không? Thế tử Tất-Đạt-Đa đó, Ngài thấy là nhớ liền. Ngài đã huân tập những cái này, cho nên Ngài có một hướng đi. Cho nên chúng ta nhớ đây là lợi ích trong việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya không có mất. Học Nikāya xong chết là sanh thiên không à, bây giờ học là phải có tu nữa, chứ không phải học kiến thức không đâu. “Chiếc Vé An Toàn”, ai đọc dùm chỗ này coi. Phải có người nào giọng tốt tốt 1 chút, để cho đại chúng nghe rõ 1 chút. Mình hưởng ứng cho nhanh, nhiệt tình coi.
Dạ mô Phật con xin đọc ạ: “Như vậy, nhờ khéo ý quan sát ý nghĩa các pháp, nhờ trí tuệ thể nhập sự thật của các pháp trong khi nghiên cứu, nghe, học, đọc, tụng các pháp trong lời Phật dạy trong kinh Nikāya. Khi mạng chung, nếu hành giả bị thất niệm, thì 1 trong 4 sự kiện sau đây sẽ xảy ra:
- Trường hợp thứ 1: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc và đọc lại, nhắc nhở lại những lời của Đức Phật cho hành giả nghe. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 1, lợi ích thứ 1 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 2: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc lại, không nhắc nhở lại những lời của Đức Phật. Nhưng sẽ có 1 người tu có thần thông, vị này tu học theo đúng Chánh pháp, đạt được tâm tự tại, đến thuyết giảng Chánh pháp cho hội chúng chư thiên này. Ví như có một người thiện xảo về tiếng trống. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng trống. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng trống hay không phải là tiếng trống. Người ấy mau chống đi đến kết luận: “Đây là tiếng trống”.
Cũng vậy, khi được nghe vị tu có thần thông này thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 2, lợi ích thứ 2 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 3: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc tụng, không nhắc nhở lại những lời của Đức Phật. Nhưng có 1 vị thiên tử, thuyết giảng Chánh pháp cho hội chúng chư Thiên ấy. Ví như có một người thiện xảo về tiếng tù và. Người ấy trong khi đi giữa đường có thể nghe được tiếng tù và. Người ấy không có nghi ngờ, không có do dự, đó là tiếng tù và hay không phải là tiếng tù và. Người ấy mau chống đi đến kết luận: “Đây là tiếng tù và”.
Cũng vậy, khi được nghe vị thiên tử này thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 3, lợi ích thứ 3 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
- Trường hợp thứ 4: Sau khi bị thất niệm, khi mạng chung, hành giả được sanh chung với 1 loại thiên nhân. Tại đây các vị thiên nhân này sống an lạc, nhưng không đọc tụng, không nhắc nhở lại những lời dạy của Đức Phật. Nhưng có người trước đây là bạn đạo với hành giả, nhờ hóa sanh tại cảnh giới chư Thiên, cùng nơi với hành giả. Vị này nhắc nhở hành giả nhớ lại đời sống trước, nhớ lại pháp tu trước mà hành giả đã tu tập cùng với vị ấy. Ví như có 2 người bạn nhỏ cùng chơi trò chơi đất bùn, sua này lớn lên, 2 người này gặp lại nhau. Người bạn này có thể nói với người bạn kia: “Này bạn, bạn có nhớ cái này không? Này bạn, bạn có nhớ trò chơi này không?” Người ấy có thể trả lời: “Này bạn, tôi có nhớ! Này bạn, tôi có nhớ!”
Cũng vậy, khi được nghe người bạn đạo trước đây nhắc nhở và thuyết giảng Chánh pháp. Hành giả tư duy, quán sát và thấy rõ: “Đây chính là pháp và luật trước đây ta đã sống, đã tu tập”. Chậm chạp, hành giả khởi lên trí nhớ về các pháp mà mình đã học. Sau đó hành giả mau chống đi đến thù thắng, mau chống đi đến thành tựu các pháp mà hành giả cần phải thành tựu tiếp theo. Đó là thành tựu thứ 4, lợi ích thứ 4 khi hành giả tu học theo dòng pháp này.
Tóm lại, khi hành giả tu tập và thể nhập vào dòng pháp này đi đến mạng chung. Nếu hành giả thất niệm, thì 4 trường hợp, 4 lợi ích sau đây sẽ đến với hành giả:
- Thứ 1: Hành giả được sanh tại một thiên giới, và được các chư Thiên ở đấy nhắc nhở và hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 2: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả được 1 bậc có thần thông tu theo Chánh pháp đến giảng pháp, nhắc nhở hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 3: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả có 1 vị thiên tử đến giảng pháp, nhắc hành giả tu học tiếp tục.
- Thứ 4: Hoặc tại Thiên giới ấy, hành giả có 1 bạn đạo ở đời trước, giờ hóa sanh cùng chỗ với hành giả, nhắc hành giả tu học tiếp tục.
Đó là 4 trường hợp, 4 lợi ích, 4 sự kiện xảy ra với hành giả, khi hành giả mạng chung bị thất niệm. Nhưng nhờ trước đó, hành giả đã tu học theo dòng pháp này, với trí tuệ khéo quán sát, và khéo thể nhập ý nghĩa và sự thật của các pháp, nên có được lợi ích đó. Như vậy, khi tu học theo con đường này, khi tu học theo dòng pháp này, hành giả sẽ có được sự an toàn, sự bảo đảm, sự chắc chắn cho mình. Một chiếc vé an toàn, ngồi 1 chỗ an toàn, vững chắc trên chiếc thuyền Bát nhã. Với 8 sự chân chánh, vỹ đại, thần diệu và hoàn hảo. Mà bậc Chánh đẳng giác đã truyền trao để vượt biển sanh tử, vượt thoát khỏi sanh, già, bệnh chết, vượt thoát khỏi dục, ái, tham, sân, si, bản ngã. Vượt thoát khỏi địa ngũ, ngạ quỷ, súc sanh, vô thường và phiền não.
Hành giả hãy hoan hỉ lên, hân hoan lên, vui cười lên. Khi 2.500 sau Đức Phật nhập diệt, chúng ta còn được thấy, được nghe, được đọc, được học và được hành. Thực hành theo những lời nói, lời dạy, lời chỉ bảo, lời phơi bày sự thật. Những điều chơn chánh, hy hữu và thần diệu từ kim khẩu của Đức Thế Tôn. Hãy hạnh phúc lên, hãy hoan hỉ lên, hãy rạng ngời niềm vui, niềm an lạc và trí tuệ khi tu học theo dòng Thánh pháp này.”
IV. Lợi ích khi học và hành theo Nikāya
(Con mời thầy đọc đoạn tiếp đến hết số 4 đi. Mười lợi ích, pháp học, pháp hành được rộng mở)
“Mười lợi ích khi học và hành theo Nikāya:
-Thứ 1: Trực chỉ Phật ngôn.
-Thứ 2: Biết được thực tế đời sống và xã hội thời Đức Phật,
-Thứ 3: Được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật.
- Thứ 4: Pháp học, pháp hành rộng mở không bị gò bó.
- Thứ 5: Tâm nguyện tu học chân chánh có khả năng được thành tựu.
- Thứ 6: Biết rõ điều cần tu tập.
- Thứ 7: Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
- Thứ 8: Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo.
- Thứ 9: Thực tu theo Nikāya sẽ thực chứng sự chấm dứt sanh tử.
- Thứ 10: Tuệ đã khai mở, đạo sẽ thành tựu.
+ Thứ 1: Trực chỉ Phật ngôn: Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả sẽ đi thẳng vào lời dạy của Đức Phật. Tiếp cận trực tiếp với những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, khi Ngài còn tại thế. Tránh được sự truyền tải ý nghĩa giáo pháp có khi đúng, có khi lệch của vị này, vị kia. Tránh được việc đến với đạo Phật, nhưng nhìn nhận và hiểu biết Đạo Phật thông qua kinh của người khác.
+ Thứ 2: Biết được thực tế đời sống và xã hội thời Đức Phật. Trong khi nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, hành giả biết được với những sự kiện thực tế đã từng xảy ra trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế. Hoàn cảnh xã hội thời đó, đời sống thực tế của Đức Phật và các buổi thuyết giảng Chánh pháp của Ngài.
+ Thứ 3: Khi được tiếp xúc với trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật trong nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, trí tuệ của hành giả được mở rộng. Hành giả được nghe biết đôi phần về trí tuệ thâm sâu, vi diệu của Đức Phật thông qua các bài thuyết giảng của Ngài. Và đối diện cách xử trí của Ngài trước các cuộc cực vấn, chất vấn của ngoại đạo.
+ Thứ 4: Pháp học, pháp hành được mở rộng, không bị gò bó. Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả thấy biết được pháp học, pháp hành. Đã được Đức Phật trình bày đa dạng với nhiều hình thức, nhiều gốc độ, nhiều khía cạnh. Hành giả học hỏi được nhiều cách tu tập, nhiều phương tiện tu tập, không bị hạn chế, bó buộc trong một phương tiện tu tập, theo một cá nhân, 1 tông phái nào.”
Chúng ta dừng lại 1 chút, phía trên là chúng ta bước qua 10 lợi ích khi học và thực hành theo Nikāya. Ở phần đầu là 4 lợi ích tổng quát dựa theo bài kinh “Khi Nghe Với Tai”, Tăng Chi Bộ 2. Còn 10 lợi ích này là trong 1 thời gian dài tác giả đã nghiên cứu, tu tập, hành trì, thành tựu và nhìn thấy ra được 10 lợi ích. Thì cái lợi ích đầu tiên là cái lợi ích mà mình trực tiếp học với Đức Phật. “Trực chỉ Phật ngôn” tức là mình trực tiếp học với lời dạy của Đức Phật, không qua những lời dạy của người khác, cái này hết sức là quan trọng. Con hồi xưa đi tu, con đâu có vô được học lời Phật liền đâu, vô là mình học được rất là nhiều những tư tưởng khác nhau. Cho nên cái này là cái hết sức quan trọng, hồi nãy con đã nhắc với chúng ta rồi.
Lợi ích đầu tiên là đi thẳng vào lời dạy của bậc Chánh đẳng Chánh giác, cái này là lợi ích quý báu nhất, cái này mới gọi là Chánh pháp đó. Cho nên tại sao mình nói “Chánh pháp khó nghe”, là mình rất là khó được nghe lời thật sự của Đức Phật nói. Mà bây giờ chúng ta học Nikāya, chúng được cái đó, đây gọi là “Chánh pháp nan văn” là chỗ đó đó. Cho nên mình chưa học Nikāya mình sẽ không hiểu “Chánh pháp khó nghe”, mình chỉ hiểu 1 cách chung chung thì không phải. Chánh pháp là lời dạy nguyên chất của Đức Phật, mà lời của người khác diễn ra mà không được Phật ấn chứng thì cái đó không phải. Nhớ nha, hôm trước mình cũng có học những bài kinh của ngài Xá-Lợi-Phất giảng đúng không? Có những bài kinh mà ngài Phú-Lâu-Na, ngài Mục-Thiền-Liên giảng phải không?
Thì những bài kinh đó là có sự ấn chứng của Đức Phật và các bậc Thánh Tăng kết tập, thì cái đó gọi là Chánh pháp. Còn bất cứ lời nào, bất cứ của ai mà nếu không phải những bậc chứng ngộ trong bốn đôi tám chúng hiền Thánh mà nói, thì nó sẽ đi lệch ra ở trong ngũ uẩn. Chứ nó không có dẫn mình đi ra ngũ uẩn, mà dẫn mình đi vô. Nó không dẫn mình ly tham, mà nó dẫn mình sanh ra tham thêm. Nó không dẫn mình diệt ngã, mà nó dẫn mình tăng ngã. Chúng ta để ý có thấy những chỗ này không? Nếu mà không đúng Chánh pháp, mình làm 1 thời gian rồi đó khi mình thấy mình ngon hơn người ta, chỗ đó là chỗ không có đúng Chánh pháp. Chánh pháp là có công năng làm cho mình ly tham, đoạn ái, diệt dục, phá ngã, xóa tan vô minh, thì cái đó mới là Chánh pháp.
Thì cái lợi ích hết sức quan trọng đó là đi thẳng vô lời dạy của Đức Phật, trực tiếp với những lời dạy của Đức Phật khi Ngài còn tại thế. “Và tránh được sự truyền tải giáo pháp có khi đúng và có khi lệch của những vị này, vị kia”. Bây giờ chúng ta thấy giảng sao ạ? Một hồi cái “Có câu này, có cô kia, cổ đức có câu này, kinh nói…” mà không biết kinh nào nói, mình tự nói 1 hồi cái nói kinh nói, cái này hết sức nguy hiểm. Kinh Trường Bộ, Trung Bộ hay Tương Ưng Bộ phải nói rõ phẩm nào, quyển nào, tập 1 hay là tập 2, trong bài kinh nào. Chứ không có nói 1 hồi cái: “Có câu”, xong rồi: “Kinh nói”. Nói 1 hồi nhớ ba chớp ba nháng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, cái mình nói cái này của Phật. Cái này rất nguy hiểm, nhưng mà bây giờ nhiều không? “Nhiều”
Cho nên mạt pháp luôn là như vậy đó, nói tầm bậy tầm bạ. Mà khổ cái là quên mà không chịu mình quên, cũng không chịu mở sách ra đọc. Tại vì: “Mở sách ra đọc như vậy là mình dở, mình phải nói thao thao bất tuyệt, nói ro ro như vậy người ta mới nể.” Cái này còn chết nữa, bản ngã thuyết pháp. Nhiều cái để mình học lắm, cho nên con chưa có chấm cho các thầy các cô giảng đó, chứ con chấm chắc là… (cười). Con thiệt ra con ngồi đó chấm mấy bữa là các Ngài cũng tạm ứng, chắc là thiếu người hay gì đó, thì con chấm được 1, 2 vị thôi là có nghiên cứu Nikāya được đôi phần, chút đỉnh, chứ còn ngoài ra là rớt hết. Nếu mà nhân thiên pháp thì được, nhưng Thánh pháp thì không được, nhớ kỹ à.
Nhân thiên pháp thì được, tức là hướng dẫn người ta làm lành, lánh dữ, để sau này người ta chết rồi làm người, sanh lên trời thì có thể. Nhưng mà để giúp cho người ta diệt khổ, giải thoát thì không được. Bởi vì chính mình còn không biết, thì lấy gì giúp người ta, phải không? Cho nên “Chánh pháp khó nghe” là chỗ này. “Chánh pháp khó nghe”, 4 chữ này không phải là đơn giản. Cho nên là “sự truyền tải giáo pháp có khi là đúng, có khi lệch của vị này, vị kia”. Tránh được việc đến với đạo Phật, nhưng nhìn nhận và hiểu biết Đạo Phật thông qua kinh của người khác”. Cái này nhiều không? Cũng là cái pháp đó, nhưng ông thầy giảng 1 hồi là ra tư tưởng của ổng, mà cũng là cái pháp đó nhưng cô này giảng 1 hồi ra cái tư tưởng của cô.
Rồi người nghe tưởng đâu ông giảng đó là dữ dằn lắm, vô tình thì mình làm cho mình phát triển cái mình bự ra. Chứ không phải là mình tôn kính pháp, mà đang truyền bá pháp và đang thật sự là hoằng pháp. Mà mình đang hoằng cái mình để cho nó bự, cho người ta biết về mình nhiều hơn. Chứ không phải biết về Đức Phật, biết về pháp. Cho nên nhiều người nói: “Pháp của thầy hay qúa”, con nói: “Dạ con thưa không phải ạ, cái này là pháp của Phật”, cái này hết sức quan trọng. Không có pháp của thầy, không có bất cứ 1 ai trong tam thiên, đại thiên thế giới này có thể nói được pháp Thánh đạo trừ bậc Chánh đẳng chánh giác, kể cả ngài Xá-Lợi-Phất, Mục-Thiền-Liên, Ca-Diếp. Duy nhất bậc tối tôn, tối thượng, bậc pháp nhãn, bậc pháp chủ, bậc pháp bổn, là bậc nương tựa của tất cả pháp từ đó có ra, là Đức Thế Tôn thôi.
Không có người thứ 2, có đủ Thánh trí huệ để nói ra cái pháp đó. Thành ra đi vào Nikāya chúng ta thấy có nhiều cái đặc biệt lắm, những cái hiểu của mình trước nay là không có phải chính xác. Cho nên mình đặt pháp môn này, đặt pháp môn kia, chế ra những cách tu này, tu nọ, là mình chưa có thành tựu Chánh kiến, nhớ kỹ cái này hết sức quan trọng. Bây giờ có nhiều vị chế ra những pháp môn tu mới phải không? Cái đó đó. Mà hồi trước con không biết, con cũng khoái cái đó lắm, vô minh mà. Tính được làm tổ sáng chế ra pháp môn, cái này rất nguy hiểm. Mà những người như vậy, tức là chưa có thành tựu Chánh kiến mới như vậy. Còn những người thành tựu Chánh kiến, là tôn kính Đức Phật tuyệt đối.
Các bậc Thánh là tôn kính Đức Phật tuyệt đối, tại vì các Ngài đoạn tận các lậu hoặc, chứng Thánh quả, các Ngài mới biết thật sự ân đức của Đức Như Lai tới mức độ nào, mới biết giá trị của Thánh pháp tới mức độ nào. Cho nên mình học cái này, thứ nhất là mình trực tiếp lời Phật dạy, không có hiểu sai, lệch lạc qua lăng kính của người này người kia. Bây giờ chúng ta học là học rất là nhiều tông phái, con dịch xong cuốn “10 tông phái”, ba trăm mấy chục trang, bây giờ để đó luôn chứ không có xuất bản. Quyển đó rất là nổi tiếng, rất là khó dịch, 10 tập, bây giờ để ở nhà bản cảo thôi chứ không in ra.
Thành ra mình nhớ kỹ, nhớ chính xác nha, những cái này là chúng ta xắt cốt tinh túy, tinh hoa, tinh anh, tinh luyện, tinh thuần, tinh chất giáo pháp. Cố gắng đọc cho thật là kỹ, nghe thật là kỹ, nắm thật là vững. Những cái này là hành trang cho mình đến suốt cuộc đời, và nhiều kiếp sau. Pháp học và pháp hành của mình sau này mình hoằng pháp, mình có chỗ y cứ vững chắc là Thánh điển. Nói ra là lời của bậc Chánh đẳng chánh giác, tối tôn tối thượng. Và con mong rằng, con kính khuyên tất cả quý thầy, quý cô trong lớp giảng sư này phải để tâm thật nhiều vào 4 bộ Nikāya. Và khi giảng thuyết là dẫn chứng ở trong Nikāya đó, nếu không thuộc cứ đọc không sao hết.
Phải học thật nhiều trong Nikāya, dẫn chứng thật nhiều và tập viết luận văn lấy trong này ra viết. Lấy cái đó làm Thánh điển y cứ, rồi chúng ta sẽ thấy Phật giáo Việt Nam sẽ bước sang 1 trang sử mới. Để rồi rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng cho Phật giáo thế giới. Hoan hỉ chưa ạ? Để tâm vào cái này thật là nhiều. Phật giáo Việt Nam ta sẽ bước qua 1 trang sử mới, tất cả Phật giáo trên thế giới sẽ về đây học, về nước chúng ta tìm học. Hồi xưa chúng ta đi qua Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar học, bây giờ bên đó phải quay về đây học. Đã đến cái thời của Phật giáo Việt Nam, cố gắng và thành công.