Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 11 - Năm Pháp Trừ Khử Cơn Giận

2026-03-03 00:55:29
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NĂM TRIỀN CÁI 11

NĂM PHÁP TRỪ KHỬ CƠN GIẬN

–Thích Minh Thành–

Sáng nay khi xả thiền trên đường đi ở thất lên giảng đường thì trong ý hành Minh Thành thốt lên bài kệ.

Cảm ơn đời cho con thức giấc thêm một ngày,

Sống để sớt chia thêm một ngày,

Thêm một ngày tu tập pháp lành,

Thêm một ngày tích lũy công đức,

Thêm một ngày lan tỏa tình thương.

Cảm ơn cuộc đời vì mình còn được thức dậy, thức dậy ở đây bao gồm nghĩa bóng và nghĩa đen, thức khỏi giấc ngủ và thức khỏi giấc vô minh, cảm ơn đời cho con thức giấc thêm một ngày để sống đẹp, thêm một ngày để tu tập pháp lành, thêm một ngày để tích lũy công đức, thêm một ngày để lan tỏa tình thương, thầy Pháp An bây giờ phải cảm ơn từng ngày có mặt ở đây, mỗi khi mình ngủ thức dậy được thì phải cảm ơn vì hôm nay mình còn sống.

Đại thảm họa toàn cầu, dịch bệnh, thiên tai, biến động cả thế giới mà chúng ta còn được thức dậy thì phải cảm ơn đời cho con thêm một ngày để sống đẹp, thêm một ngày được tu tập pháp lành, thêm một ngày tích lũy công đức, thêm một ngày để có thời gian tu tập thiện pháp, để mình sống đẹp, để sớt chia tài vật, sớt chia giáo pháp. Ngày nào xả thiền cũng phải trải tâm thương và sau đó cảm ơn những người có ơn với mình, tưới tẩm đặc tính của bậc chân nhân là biết ơn, nhớ ơn đối với những người có ơn với mình, nhất là cha mẹ, ông bà, những bậc thầy, những bậc thiện tri thức, huynh đệ, bạn đạo, các vị đồng phạm hạnh. Mỗi khi thức dậy mình đều cảm ơn, biết ơn những người có ơn với mình, làm như vậy là cây biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn sẽ được tưới hằng ngày, mình nhìn mọi người có ơn với mình sẽ có cảm thọ dạt dào, ngọt ngào, cảm thọ tri ân, ít sân hận, ít hờn dỗi, oán trách vì mình thường nhìn bằng ánh nhìn của sự biết ơn, nhớ ơn.

Ngoài kia đầy giông bão, mưa rơi, bệnh tật nhưng mình còn được ngồi đây thiền tọa, lễ pháp bảo, nghe lại những lời trùng tiên Thánh pháp của Đức Thế Tôn thì mình phải thấy ấm áp, ngọt ngào, phải thấy trân quý, biết ơn trào dâng, cứ tưới tẩm hằng ngày như vậy thì đối với pháp, đối với việc tu học sẽ không bao giờ thấy chán nản, chỉ thấy yêu thích, tôn kính thêm thôi, đó là cách mà Minh Thành làm mấy mươi năm qua, không bao giờ chán nản đối với pháp, đối với sự tu học.

Cảm ơn đời cho con thức giấc

Thêm một ngày sống đẹp sớt chia

Thêm một ngày tu tập pháp lành

Thêm một ngày vun bồi công đức

Thêm một ngày lan tỏa tình thương.

Mình bắt đầu một ngày tràn đầy năng lượng, cảm xúc của từ tâm và của tri ân, nhớ ân. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn khai thị về năm triền cái.

"Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: 'Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình'.

Phẫn nộ, không hoan hỉ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.

Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.

Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nói với Thế Tôn:

-- Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục!

(Thế Tôn):

Kẻ ngu nghĩ mình thắng,

Khi nói lời ác ngữ,

Ai biết chịu kham nhẫn,

Kẻ ấy thật thắng trận.

Những ai bị phỉ báng,

Trở lại phỉ báng người,

Kẻ ấy làm ác mình,

Lại làm ác cho người.

Những ai bị phỉ báng,

Không phỉ báng đối lại,

Người ấy đã thắng trận,

Thắng cho mình cho người.

Vị ấy tìm lợi ích,

Cho cả mình và người,

Và kẻ đã phỉ báng,

Tự hiểu, lắng nguội dần.

Bậc y sư cả hai,

Chữa mình, chữa cho người,

Quần chúng nghĩ là ngu,

Vì không hiểu Chánh pháp.

Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,'... không còn trở lại đời sống này nữa'

Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, III. Asurindaka) 

Kẻ ngu si nghĩ mình thắng, mình hơn khi dùng những lời ác độc chửi mắng người khác, hủy nhục người khác nhưng ai biết nhẫn nhịn mới là người thắng trận. Kẻ ngu lầm tưởng mắng chửi mà người ta im lặng là mình thắng nhưng cái thắng thật sự là người nhẫn nhịn, nhường nhịn. Khi bị người khác mắng chửi mà mình cũng mắng chửi lại là vừa làm hại mình vừa làm hại người, làm ác cho mình cũng là làm ác cho người. Người đời nghĩ rằng mình thắng, mình hơn bằng cách chửi mà người ta cúi đầu im lặng nhưng trong Phật pháp như vậy là thua, là hại, là ác, người đời nghĩ rằng ngồi im lặng khi bị mắng chửi là thua cuộc, là ngu si nhưng do họ không hiểu chánh pháp chứ người im lặng mới thật sự là thắng.

Huynh đệ sống chung mà nói chuyện không vừa lòng thì phải xem cảm thọ lúc đó ra sao, có hành động gai mắt thì phải xem trong ý hành lúc đó ra sao thì mình sẽ biết mình thắng hay thua, cần xem lại thọ; tưởng; hành trong tâm chứ không cần phát ra khẩu hành thì mình phải nhiếp phục, nếu mình sân hận trở lại với người sân hận mình là mình làm hại mình và làm hại người đó, mình làm điều ác và cũng khiến cho người kia làm điều ác, mình bại trận và khiến cho người kia cũng bại trận, cả hai đều bại chứ không ai thắng ai. Có câu chuyện nói về hai huynh đệ cự cãi nhau, kể lại cho Hòa Thượng để phân xử thì Hòa Thượng bảo rằng ngày mai hãy đến. Ngày mai Hòa Thượng nói cả hai đều sai vì hễ có sân là sai, cả hai đều bại, người hơn thua là người bại, Đức Thế Tôn ngồi điềm nhiên mặc cho người kia chửi mắng, khinh khi, ngài xem những lời nói đó như phỉ nhổ vào hư không, ngài trú trong vô lượng tâm định, vô tướng tâm định.

Vô tướng nghĩa là trống rỗng, không có hình bóng của cái tôi trong đó, không có hình bóng của tự ngã trong tâm cho nên thiền quán thân trống rỗng chính là quán vô tướng, không có tôi, của tôi hay tự ngã trong này, không có ai ở đây nên mắng chửi là mắng chửi vào hư không. Các ngài không thấy có một người đang mắng chửi mình mà các ngài chỉ thấy có một ngũ uẩn đang vận hành trong sân hận, nghiệp quả, trong sự vô minh, khổ đau nên các ngài khởi lên tình thương cho người đó chứ không giận, mình tu cũng phải như vậy, chỉ thấy thương người đang sân giận với mình, đó là một ngũ uẩn đang trong sự thiêu đốt, bốc cháy, không có nhân ngã, hơn thua ở đây, chỉ là sự vận hành của ngũ uẩn của các cảm thọ, sự vận hành của nghiệp, của khổ đau. Quán như vậy thì không thể giận được, không thể đấu đá với người ta được, thực tập như vậy là thắng trận.

Mình không chửi mắng lại người ta thì họ sẽ từ từ hiểu ra "Tự hiểu, lắng nguội dần". Có người đến chửi mình thậm tệ, vu khống cho mình nhưng mình im lặng không đáp trả thì tự động người ta sẽ thấy xấu hổ, tự người ta lắng nguội và tự hiểu. Trong gia đình, đạo tràng, bạn đạo, cha mẹ, anh em, huynh đệ mà xảy ra hiểu lầm, họ có mắng chửi thì mình cũng tập an tịnh lắng dịu cảm thọ thì từ từ họ sẽ xin lỗi, nếu không xin lỗi thì tự thân họ cũng cảm thấy xấu hổ. Sau khi Thế Tôn đọc lên bài kệ thì vị Bà-la-môn này xúc động, tán thán Thế Tôn, xin quy y Thế Tôn và trở thành một vị A-la-hán nữa, cho nên điều phục mình chính là chinh phục người.

"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với tâm ví dụ như vết thương, với tâm ví dụ như chớp sáng, với tâm ví dụ như kim cang.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như một vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người phẫn nộ và bực tức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hạng người được ví dụ với vết thương đang làm mủ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật rõ biết: 'Ðây là khổ',.. như thật rõ biết 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt'. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người như thật rõ biết: 'Ðây là khổ', ... như thật rõ biết: 'Ðây là con đường đưa đến khổ diệt'. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người với tâm được ví như chớp sáng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang.

Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Vết Thương Làm Mủ)

Chớp sáng là ánh sáng lóe lên, đó là nương vào ánh sáng của pháp, nhìn thấy được đồ vật trong bóng đêm nghĩa là nhìn thấy được vô minh, tham, sân, si, bản ngã và thấy được tính chất của nó là khổ đau, là vô thường, là bất toại nguyện, tan hoại, như vậy gọi là tâm như chớp sáng, như ánh chớp. Ví dụ thứ nhất là chỉ cho vô văn phàm phu, ví dụ thứ hai là chỉ cho những bậc Dự Lưu và ví dụ thứ ba là chỉ cho bậc A-la-hán. Như thật rõ biết phải là bậc Dự Lưu, là tâm giống như ánh chớp, còn mình lúc nào an trú trong pháp thì thấy đúng nhưng không an trú trong pháp thì cái thấy đúng bị mất nên không được gọi là như thật thấy biết, khi nào cái thấy biết không mất đi nữa thì mới gọi là tâm chớp sáng.

Khi đang nghe pháp hay thiền quán mà chết cũng đừng sợ, những lúc đó mà chết thì có khả năng sẽ vào các dòng Thánh vì đó là lúc mình trú trong pháp cho nên các thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật khi thân hoại mạng chung được chứng Thánh rất nhiều vì pháp tu này là thấy vô thường, khổ, vô ngã, đó là lúc thấy rõ nhất nên ngay lúc quán chiếu, nghe pháp về chân lý, về khổ đau, về trí tuệ mà xảy ra tai nạn qua đời thì rất tốt lành, cái tâm cận tử nghiệp lúc đó là lành, còn lúc nào mà hoảng sợ, đam mê hay bản ngã mà chết thì cận tử nghiệp lúc đó là dữ, cái cây nghiêng về hướng nào thì ngã theo hướng đó nhưng cận tử nghiệp cũng quyết định rất quan trọng cho nên khi nào mình như thật rõ biết, xác quyết trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức và tham, sân, si, vô minh, bản ngã là đau khổ, không còn chút nào là vui sướng thì lúc đó tham dự chánh thức làm đệ tử của Đức Phật, bước vào hàng bốn đôi tám chúng, còn lúc thì thấy khổ lúc nào thấy vui là vẫn chưa như thật rõ biết.

Phương pháp tu tập đoạn trừ sân hận: Tu tập tứ vô lượng tâm và quán chiếu về nghiệp, kinh Trừ khử hiềm hận (1), Tăng Chi Bộ.

"- Có năm trừ khử hiềm hận này, này các Tỳ-kheo, ở đây, vị Tỳ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?

Trong người nào, này các Tỳ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy, bi cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy, hiềm hận cần phải trừ khử.

Trong người nào, hiềm hận được sanh, trong người ấy xả cần phải tu tập. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

Trong người nào, này các Tỳ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, vô niệm, vô tác ý cần được thực hiện. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.

Trong người nào, này các Tỳ-kheo, hiềm hận được sanh, trong người ấy, sự kiện nghiệp do mình tạo cần phải an lập là: "Tôn giả là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là khởi nguyên của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm nghiệp thiện hay ác được làm Tôn giả sẽ là người thừa tự nghiệp ấy". Như vậy, trong người ấy, hiềm hận cần phải được trừ khử.

Này các Tỳ-kheo, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỳ-kheo cần phải trừ khử một cách hoàn toàn". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (I). Trừ Khử Hiềm Hận (1))

Ở đây chúng ta thấy Đức Phật đưa ra năm phương diện để đánh phá, trừ khử cảm thọ sân. Thứ nhất Phật nói người nào có tâm hiềm hận khởi lên thì cần tu tập tâm từ, cái quan trọng là bên trong mình luôn hướng đến trừ diệt tâm sân, không chấp nhận tâm sân, không dung túng nó, không chất chứa, không cho nó cư trú trong tâm. Vì thế cái quan trọng nhất trong đây là khi có hiềm hận sanh khởi thì cần trừ khử một cách hoàn toàn, đây mới là phần chủ chốt, tổng quát, tức là mình không có ý muốn tiếp nhận cơn giận, không có ý muốn để cảm thọ sân tồn tại vì nó thiêu đốt mình, không có ý muốn nuôi dưỡng nó bên trong con người mình, đó cũng gọi là ly sân tư duy, đó cũng là chánh tri kiến, chánh tư duy.

Đức Phật đưa ra năm phương diện để đánh phá, còn mình thích cái nào thì làm cái đó nên không đủ, cũng như Thân Hành Niệm có sáu phương pháp niệm nhưng có người chỉ thích niệm hơi thở, còn lại không niệm thì làm sao đủ sức để phá chấp thân, đối với cái sân cũng vậy, muốn bứng tận gốc rễ của nó là phải có đầy đủ năm pháp Đức Phật dạy. Tuy nhiên khi mình tu sẽ có một cái duyên thuần thục với một pháp nào đó mà mình đã tu trong nhiều đời kiếp, nghĩa là pháp đó sẽ nổi trội hơn những pháp kia chứ không phải mình thích pháp nào là chọn tu pháp đó rồi bỏ hết những pháp còn lại cho nên những gì Đức Phật đưa ra phải học chứ không được thêm cũng không được bớt, chỉ có năm pháp này mới tẩy sạch được hiềm hận, cơn giận.

Năm pháp Đức Phật đưa ra chỉ toàn là tuệ quán chứ không thể ngồi định mà hết giận được, tâm yên tịnh chỉ giúp cho năm pháp này sáng tỏ thêm thôi, ngoài ra cần phải tác ý, tuệ quán mới được. Pháp thứ nhất là tâm từ, nghĩ là tâm thương và cần phải thương bản thân mình trước, thương cơn giận, thương cảm thọ sân đã làm khổ mình, những cái này cần nắm vững thì khi thực tập mới có trí tuệ, khi có trí tuệ mới quán sát, soi xét, nếu không học là không thể thực tập, không thực tập thì không đi đến kết quả chấm dứt cơn giận sanh khởi tình thương. Đây không phải là tình thương tầm thường đối trị cơn giận, cái thương này là tâm từ vượt lên trên cả thương ghét của thường tình. Cái thương này là từ sự thấu hiểu cho nên pháp tu này đều do chánh kiến dẫn đầu, nghĩa là phải thấy đúng, thấu hiểu ngũ uẩn.

Như vậy là thương cho chính mình, thương cho tự thân, thương cho cơn giận, thương cho cảm thọ sân, thương cho sự đau khổ cứ lặp tới lặp lui, hết giận người này đến giận người kia liên tục. Khi thương được chính mình rồi mới thương đến người, chính cái này mới trở thành tâm từ, còn thương khi cho ăn, thương khi cho tiền là cái thương bình thường, còn thương trong đây là thương vì sự thống khổ của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thương vì sự si mê, tối tăm, tự hành hạ mình hành hạ người.

Mong tất cả chúng sanh

Thấu hiểu và cảm thông

Những nỗi khổ của nhau

Đừng tạo thêm oan trái.

Đừng tạo thêm đắng cay,

Đừng tạo thêm khổ ải,

Cho kiếp người của nhau.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Đã quá đắng cay, đã quá khổ ải, đã quá oan trái rồi giờ còn muốn làm khổ thêm nữa hay sao? Mình chỉ thấy xót xa cho chính mình cho nên mỗi cái đều phải hướng về mình, mình đau xót cho tự thân, mình tội nghiệp cho những cảm thọ, cảm xúc này đã hành hạ, giày xéo, thiêu đốt mình.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm chấp ngã hơn thua

Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Mình thấy lo âu, sợ hãi vì mình tự giam cầm, hành hạ mình trong những cảm xúc khổ sở, nóng bức như vầy. Mình khởi lên sự đau xót, tội nghiệp cho đến mức nước mắt tuôn ra, tim vỡ ra. Tại sao mình lại sống như vậy? Tại sao mình lại tiếp nhận những cảm thọ như vầy? Tại sao mình lại chất chứa những cảm thọ này? Mình thương mình, tội nghiệp mình bao nhiêu thì mình tội nghiệp người cũng giống vậy thì mới ra tâm bi. Những cảm thọ xót xa, bi mẫn đó gội rửa, làm sạch hết cơn giận, giống như dòng nước đổ vào thì cơn lửa hạ dần, mình phải nghe những bài thiền quán từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm nhiều lần trong nhiều tháng, nhiều năm cho đến khi nào thành tựu thì thôi.

Từ đảnh tóc đến gót chân thấm đượm dào dạt cảm giác thương xót, ngấm vào toàn thân như tắm vòi hoa sen cho nên khi nhìn là mắt thương nhìn cuộc đời, thấy thương cùng khắp mọi nơi, những cảm thọ và những suy nghĩ đó là những dòng nước mát làm cho ngọn lửa sân hận giảm xuống và đi đến tắt hết. Vậy là mình buông bỏ cảm xúc này, quăng bỏ cảm giác này, xả bỏ cái tôi, cái hơn thua, đấu đá, đúng sai, cao thấp để tâm nhẹ nhàng, thảnh thơi, rộng mở. Mình cầm cục lửa than này để làm gì? Buông bỏ, vứt cục lửa than này đi để lòng được nhẹ nhàng, thảnh thơi, ung dung, tự tại.

Vô niệm là không nhớ, vô tác ý là không nghĩ. Không nhớ không nghĩ về đối tượng, về hành động hoặc câu nói làm mình giận, mình không để tâm tiếp diễn theo những cái đó. Không nghĩ ở đây không phải đầu óc trống không mà là không nghĩ về những thức ăn của sân hận và nghĩ về thức ăn của từ tâm. Nếu không suy nghĩ làm sao có từ, bi, xả, không suy nghĩ làm sao thấy được nghiệp quả, không tác ý làm sao thấy được đau khổ cho nên vô niệm là không nhớ, không nghĩ về tham, sân, si, bản ngã, nhớ và suy niệm về trí tuệ, từ bi, xả ly, về vô thường, khổ, vô ngã.

Đừng lầm tưởng tu vô niệm là không nghĩ gì cả, còn tu niệm là suốt ngày niệm liên tục, khi đã thấy đúng trong pháp thì việc tu học rất thiện xảo, linh hoạt, khéo léo, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng, tùy pháp, tùy tâm trạng mà có những pháp tương ứng, tu như vậy mới phong phú, nếu không là tu cái gì dính mắc với cái đó. Mình đâu có ăn cơm trắng không mà phải có đồ kho, đồ xào, canh, nước tương, ớt… đủ loại món vậy mà giờ tu chỉ muốn tu một cái thôi, không muốn tu nhiều, đó là lý do mình không thành tựu vì không thấy hết tất cả mọi khía cạnh, góc độ viên mãn, đồng đều, mình không đi vào được những chỗ thâm sâu của nội tâm vì không có trí tuệ đầy đủ nên mọi cái trong thân tâm mình không đủ phương tiện, cách thức để xử lý sạch hoàn toàn, chỉ có xử lý sạch hoàn toàn mới có thể đi đến lậu tận, còn mình làm được chút ít là bỏ cho nên cái học, cái tu của mình không đi đến đại thành tựu.

Mình là tác giả của sự mắng chửi chứ không có ai hết, đừng nghĩ tại người kia, tại người nọ, do mình từng gây cho người ta sự đau khổ nên đây là hậu quả của những suy nghĩ, lời nói, hành động mà trước kia mình đã làm thì bây giờ họ đến đòi nợ, mình đã vay thì nay phải trả, mình phải lãnh lấy những điều mình đã làm trước đây, mình chính là nguồn cội, khởi nguyên của nghiệp cho nên đừng đổ thừa ai, cũng đừng hỏi tại sao mình lại bị như vậy. Những gì xảy ra trong hiện tại, bị người ta đánh, chửi, hành hạ, khinh khi, hủy nhục, làm khổ mình là những điều rất quen thuộc với mình vì trước đây mình đã từng sống như vậy cho nên bây giờ mình bị lại như vậy.

Mình là kẻ tiếp nối, mình thừa hưởng rồi tiếp tục nghiệp đó, nếu mình không trừ khử, diệt tận, chấm dứt để phát khởi lên tâm xót thương của từ bi, buông xả tâm sân si, bản ngã thì mình sẽ là người thừa kế, lãnh lấy hậu quả và những đau khổ này lại tiếp diễn. Không có gì phước đức bằng tâm từ bi, sách vở sau này gọi là công đức chi vương, tâm từ bi là chúa tể của tất cả công đức, tu tâm từ này rất tuyệt vời, hóa dữ thành lành, hóa dữ thành thiện, hóa nguy hiểm thành bình an, hóa tai nạn có khi thành phước báo vì thế hãy phát triển, làm cho tâm từ bi lớn mạnh trong con người mình rồi nó sẽ hóa giải hết oan gia trái chủ, sân hận, hận thù. Sau khi cái sân được lắng dịu thì mình mới đi sâu vào tham ái, sau đó mới phá đến vô minh, nếu cái sân còn lớn mạnh thì mình sẽ không phá được những cái vi tế của dục tham, vô minh, chấp ngã cho nên phải phá sân giận trước.

Nếu mình giận ai thì làm sao có thể vào ngồi thiền yên tịnh được, cảm thọ rất khó chịu trong người cho nên năm triền cái này che mờ tâm, làm thành không mắt, làm yếu ớt trí tuệ, giận lên là không còn thấy pháp gì nữa, không còn thấy sự thật trong hiện tại nữa cho nên chỉ có sự ngọt ngào của tình thương mới bao phủ thân tâm và lan tỏa đến tất cả hữu tình chúng sanh.

./.