Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Ái Dục 1 - Định Nghĩa

2026-03-03 00:55:30
Kinh Nikāya Giảng Giải

ÁI DỤC 1 - ĐỊNH NGHĨA

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kẻ thù tham dục PAGEREF _Toc106891769 \h 1

II.Trí tuệ về dục PAGEREF _Toc106891770 \h 2

1.Năm dục trưởng dưỡng PAGEREF _Toc106891771 \h 3

2.Dục duyên khởi PAGEREF _Toc106891772 \h 6

3.Dục sai biệt PAGEREF _Toc106891773 \h 7

4.Dục dị thục PAGEREF _Toc106891774 \h 9

5.Dục đoạn diệt PAGEREF _Toc106891775 \h 10

6.Dục ách PAGEREF _Toc106891776 \h 12

Kẻ thù tham dục

Minh Thành xin hỏi: nếu chúng ta nhận kẻ thù làm bạn thì có nguy hiểm không? Một người là kẻ thù mà mình không biết, cứ nghĩ là bạn hiền, nên ở chung rất thân quen, thân tình thì sự nguy hiểm này không thể lường được, bất cứ lúc nào cũng có thể bị tai họa, tai nạn, hiểm nạn, tai ương. Kẻ thù của chúng ta là gì? Là ngũ uẩn, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, những cái này có liên hệ với nhau. Nếu không có ngũ uẩn thì không có tham, sân, si, không có vô minh cho nên từ vô minh, tham ái tạo ra ngũ uẩn, trong ngũ uẩn có tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Vì vậy, kẻ thù của tất cả chúng ta chính là tham, sân, si.

Ngài Xá-lợi-phất tóm gọn điều cốt lõi của toàn bộ giáo pháp này là sự nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham, nói gọn lại là nhiếp phục và đoạn tận dục tham. Chúng ta hiện đang ở dục giới và tu học để nhiếp phục dục và đoạn tận dục. Nhưng nếu không biết gì về nó thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận. Chúng ta cứ nghĩ rằng mình đã biết được tham, sân, si nhưng thật sự mình vẫn chưa thành tựu trí tuệ. Về chủ đề dục, trong kinh tạng Nikāya có rất nhiều bài kinh nói về vấn đề này. Chúng ta sẽ tìm hiểu thứ làm cho mình khổ có mặt mũi ra sao; thứ làm mình lo lắng có mặt mũi ra sao; thứ làm mình bất an, khổ sầu có hình dáng, tính cách ra sao; thứ làm mình đam mê, ngu muội vận hành, hoạt động ra sao. Khi chiêm nghiệm chúng ta sẽ thấy ngao ngán, ớn lạnh với cái dục này vì cái dục rất rộng lớn, bao trùm cả thế giới, từ cái dục mà vận hành thế gian. Con người sanh ra từ dục, tồn tại do nơi dục, chết đi cũng do dục, sự sanh ra rồi chết đi cũng từ nơi dục. Nếu không học Chánh Pháp thì chúng ta hoàn toàn không thể biết gì cả, chỉ biết được tên gọi nhưng cũng chưa biết đầy đủ. Vì trí tuệ về dục không thành tựu nên chúng ta hoàn toàn bị mê lầm, mờ tối, không hiểu biết, vô minh, vô trí đối với dục. Chúng ta làm nô lệ cho dục, bị dục sai khiến, điều khiển, trói cột, đó là kiết sử mà chúng ta không hay không biết. Riêng về chủ đề dục trong phần phân loại kinh Nikāya có đến năm, sáu chục bài kinh.

"- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn thể nhập, pháp môn pháp. Hãy nghe và tác ý, Ta sẽ giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Đức Phật nói ngài sẽ giảng cho cách để các thầy Tỳ-kheo thể nhập vào pháp, Ngài sẽ giảng để các vị biết thế nào là pháp môn để thể nhập vào trí tuệ quyết trạch. Trí tuệ quyết trạch là trí tuệ rõ ràng, rạch ròi, rành rẽ, thấu đáo, minh bạch, không có sự nghi ngờ. Khi thành tựu trí tuệ viên mãn, đồng đều, trọn vẹn, đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về dục thì lúc đó mình mới có thể nhiếp phục và có khả năng đi đến chỗ diệt tận. Mặt khác, nếu chỉ hiểu chung chung, hiểu không đầy đủ thì có nhiếp phục cũng chỉ là nhiếp phục ở vẻ bề ngoài, trên hình thức hoặc là một sự đè nén, tránh né chứ không phải cái nhìn thấu đáo, tận tường, triệt để. Nếu nhìn không đầy đủ, thấu đáo, tận tường, minh bạch tất cả mọi góc độ, khía cạnh thì mình sẽ bị bị sự gian xảo, mánh khóe của nó qua mặt, lừa đảo.

Dục luôn ở chung, ăn chung, ngủ chung với chúng ta. Trong vô lượng vô biên kiếp qua, chúng ta đã kết thân với nó mà không hề hay biết nó là kẻ thù. Khi học về ngũ uẩn, thành tựu trí về ngũ uẩn thì mình mới bắt đầu phát giác, phát hiện ra dục là thứ làm mình khổ, từ đây mới bắt đầu phân định ranh giới với dục, khai chiến với nó, thậm chí là quyết tử với nó. Trước đây chưa thành tựu trí tuệ năm uẩn, không biết cái nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức nên không biết dục tham nằm trong thọ, tưởng, hành, đặc biệt là tích tụ trong cảm thọ, cảm xúc. Vì thế, khi không thành tựu trí năm uẩn, không thành tựu trí về lậu hoặc, không thành tựu trí về tham, sân, si thì mình nhận kẻ thù làm bạn thân, ăn chung, ở chung, làm chung, ngủ chung. Còn khi thành tựu là bắt đầu thấy trong cảm thọ có dục, tham, ái. Lúc đó sẽ bắt đầu có sự nhìn ngó, để ý, chiến đấu với nó. Nhưng nếu trí tuệ không đủ trong sáng, thấu đáo, tuy rằng khai chiến với nó nhưng chỉ thấy được những cái thô, còn những cái vi tế, những tập khí, tập nghiệp, tập tánh, thói quen thì mình vẫn chưa đủ sức mạnh để nhiếp phục, diệt tận.

Cho nên, bài kinh “Một pháp môn quyết trạch” Đức Phật dạy bảy trí tuệ về dục để chúng ta hìn ra bảy góc độ về dục, chứ không phải dục đơn giản như mình nghĩ. Học rồi mới thấy tham, sân, si thâm căn cố đế trong máu thịt, xương tủy, ăn sâu trong phèo, phổi, ruột, gan… “Một pháp môn quyết trạch” là Đức Phật chỉ ra một pháp môn để thành tựu trí tuệ thể nhập, thấy một cách thấu đáo, triệt để, tận tường, viên mãn, trọn vẹn tất cả những góc độ, khía cạnh, phương diện những sự sanh khởi, vận hành, đoạn diệt của một vấn đề. Như vậy nên gọi là “một pháp môn quyết trạch”, khi đó không còn sự ngu si, vô trí đối với nó nữa.

Trí tuệ về dục

"Các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp môn thể nhập (quyết trạch), pháp môn pháp?

Này các Tỳ-kheo,

Cần phải biết các dục,

Cần phải biết duyên khởi các dục,

Cần phải biết các dục sai biệt,

Cần phải biết các dục dị thục,

Cần phải biết các dục đoạn diệt,

Cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt. 

Này các Tỳ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết các dục duyên khởi, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt, đã được nói như vậy. Và do duyên gì được nói như vậy?

Năm dục trưởng dưỡng

Này các Tỳ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức... khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Các sắc đẹp như nam châm, còn mình như cục sắt bị thanh nam châm đó hút vào, vì thế khi nhìn thấy sắc đẹp là tự nhiên sẽ có sức hút, người nào thích xe mà thấy xe đẹp là đứng nhìn hoài. Những sắc, thanh, hương, vị, xúc – những sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, những sự tiếp xúc đụng chạm mà dễ thương, dễ mến, đáng yêu, có sức hấp dẫn, làm cho mình sanh khởi sự ham muốn thì cái đó gọi là có sự liên hệ đến dục.

Đức Thế Tôn nói dù chúng không phải là dục vì nó chỉ là món đồ, là âm thanh, là mùi vị, là thân thể thôi nhưng nó có khả năng nuôi lớn lòng ham muốn nên gọi nó là dục trưởng dưỡng. Ngũ dục trước nay chúng ta học là tài, sắc, danh, thực, thùy rất nhỏ hẹp. Còn ngũ dục trong kinh Nikāya nói bao trùm cả thế giới, tất cả những gì mình thấy đều là sắc. Chúng ta thấy là thấy cả thế giới nhưng thông thường mình chỉ nói đến khía cạnh tiền tài, sắc đẹp, trong khi đó còn những thứ khác: âm thanh, mùi, vị, xúc chạm... Chỉ trong một vấn đề nhỏ đã thấy sai lệch rất nhiều, thông thường mọi người chỉ hiểu: tài là tiền; sắc là sắc đẹp; danh là danh lợi, danh vọng; thực, thùy là ăn uống, ngủ nghỉ. Nhưng chúng ta không phải chỉ tham trong năm thứ này mà thực tế là tham rất nhiều thứ. Cho nên trí tuệ thể hiện trong lời Đức Phật dạy có tính phổ quát gọi là Chánh Biến Tri, nghĩa là cái thấy của Phật là một sự thấy biết chân chánh, phổ biến cùng khắp muôn nơi. Những gì người sau này nói chỉ có tính hạn hẹp vì không phải là bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri nói. Chánh là đúng, biến là khắp, tri là cái thấy biết đúng đắn, phổ biến cùng khắp, đó là ý nghĩa của chữ Chánh Biến Tri. Đức Phật đã nói "dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh", tuy nó không phải là dục nhưng nó nuôi lớn lòng dục cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng. Cần phải nói đầy đủ là “năm dục trưởng dưỡng” chứ không phải chỉ nói “năm dục” là đủ, nghĩa là năm thứ này còn nuôi lớn lòng tham muốn của chúng sanh hữu tình.

"Các tư duy tham ái,

Là dục của con người,

Các hoa mỹ ở đời,

Chúng không phải là dục,

Các tư duy tham ái

Là dục của con người,

Các hoa mỹ an trú

Như vậy ở trên đời,

Ở đây những bậc Trí,

Nhiếp phục được lòng dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

"Các tư duy tham ái, là dục của con người", đây chính là định nghĩa về dục. Những suy nghĩ ham muốn, yêu thích, khoan khoái chính là dục, năm thứ bên ngoài là thứ nuôi lớn cái dục đó. Bản thân món đồ ăn ngon không có sự ham muốn, không có dục nhưng suy nghĩ yêu thích món ăn đó là dục, còn món ăn ngon đó chỉ nuôi lớn thêm sự tham muốn thôi. Như vậy, dục nằm trong suy nghĩ, cảm thọ của mình cho nên chữ "tư duy tham ái" ở đây phải hiểu chính là thọ, tưởng, hành. Khi suy nghĩ về món ăn chắc chắn sẽ có hình bóng món ăn đó hiện lên, có cảm thọ cũ đã từng ăn món đó, như vậy cảm thọ cũ sanh khởi trở lại trong tâm, hình bóng và những suy nghĩ mình đã ăn món đó sanh khởi lên. Đối với xe cộ, nhà cửa, quần áo, con người… cũng giống như vậy.

Cho nên cần nhiếp phục và đoạn tận dục trong từng suy nghĩ. Nếu không có thiền tập, thiền tư, thiền quán, không có tác ý, chế ngự, nhiếp phục thì làm sao có thể diệt tận được nó, nếu tu mà cứ ngồi yên không làm gì cả thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận được dục ái. “Tư duy tham ái” là những suy nghĩ thèm muốn, ham muốn, khao khát, đòi hỏi, tìm kiếm, suy nghĩ say mê, đam mê. Nếu chúng ta không nhận diện ngũ uẩn, không biết hành uẩn là gì thì làm sao nhận ra được dục, không biết cảm thọ là gì thì làm sao sự thúc giục bên trong cảm thọ. Bồ-tát Tất-đạt-đa chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc. Nghĩa là sau khi thấy được ngũ uẩn thì mới thấy được lậu hoặc, thấy lậu hoặc rồi mới đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu lậu tận thông. Đó là lý do vào tu lúc nào cũng phải nhận diện ngũ uẩn, vì nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể thấy được thân tâm chính mình. Nếu không thấy thân tâm thì không thấy được tham, sân, si trong đó, không thấy tham, sân, si, dục ái thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận. Qua đây chúng ta thấy giáo pháp rất trình tự và có hệ thống rõ ràng, đó là hệ nhân quả tất yếu.

"Các hoa mỹ ở đời, chúng không phải là dục. Các tư duy tham ái, là dục của con người", những sự đẹp đẽ, lòe loẹt không phải là dục, các suy nghĩ yêu thích, khoan khoái, khao khát, mong muốn mới là dục của con người. Chúng ta tu là phải tác ý "dục vui thì ít mà khổ thì nhiều, tai nạn, hoạn nạn càng nhiều hơn", chính dục là kẻ thù của mình, chính nó áp đảo, sai khiến mình, chính nó lôi mình vào nước mắt, vào vực thẳm, tù ngục. Chính cái suy nghĩ đó làm cho mình bứt rứt, khó chịu, bực bội, bức xúc, đó là những cảm thọ của dục lậu, không muốn tu, không muốn ngồi yên, không muốn ở một mình. Từ sâu thẳm trong nội tâm bốc lên những cảm thọ, những suy nghĩ, hình ảnh hiện ra trong đầu, ba thứ này hòa quyện sai khiến, dẫn dắt rồi chúng ta làm nô lệ, làm đầy tớ cho nó. Thật là đau khổ thay cho ta, đau lòng thay cho ta, chúng ta bị một kẻ thù vô hình, không có hình tướng, màu sắc cứ lầm thầm lừa gạt, lôi kéo mình, lôi kéo vào hầm lửa, lôi kéo vào địa ngục, lôi kéo vào vực sâu, lôi kéo đi vào tội lỗi, khổ đau, sầu não, bất an. Những suy nghĩ vấn vương, ưa thích, lưu luyến chính là dục, ái, tham, phải nhìn ra được những suy nghĩ đó bằng sự thiền tập, bằng sự nhận diện ngũ uẩn, bằng sự nhìn thấy những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, bằng sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác thấy được nó và lập tức nhiếp phục, đánh đuổi, diệt tận, nếu không nó dẫn chúng ta đi lang thang, trôi nổi trong vô lượng vô biên kiếp, nó hành hạ, giày xéo, chà đạp mình làm mình rơi vào tội lỗi, xấu hổ, nhục nhã, đau khổ, sầu đau.

"Các hoa mỹ an trú, như vậy ở trên đời, ở đây những bậc Trí, nhiếp phục được lòng dục", những bậc có trí tuệ, có sự tĩnh tâm thiền định nhìn thấy dục, ái, tham là sẵn sàng đánh đuổi, diệt tận nó thẳng tay, đó là những bậc trí. Ở đây là Đức Phật giải thích về dục nhưng chỉ mới có một góc độ thứ nhất thôi, cho nên trước nay chúng ta có hiểu đúng về dục chưa? Những tư duy tham ái chính là dục, phải thuộc lòng những câu này mới có thể thực hành, Đức Phật nói có năm thứ nuôi dưỡng lòng dục ở bên ngoài và những tư duy tham ái là dục ở bên trong.

Dục duyên khởi

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục duyên khởi? Xúc, này các Tỳ-kheo, là các dục duyên khởi". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Dục duyên khởi là từ đâu mà sanh khởi ra dục, bắt nguồn từ đâu sanh khởi ra cái ham muốn, yêu thương, tơ tưởng. Chính là sự tiếp xúc, do có tiếp xúc nên mới sanh khởi ra sự yêu thích, nhớ nhung, ham muốn, thèm muốn, khao khát. Do nhìn thấy, do đi đến đó, do tiếp xúc với con người đó nên mới sanh khởi ra hình bóng đó, suy tư đó, sanh khởi ra sự ưa thích, say đắm.

Ví dụ, quý vị thèm món bún riêu là do trước đây mình đã từng ăn, đã có sự tiếp xúc với món ăn, đó là thiệt xúc và thọ do thiệt xúc sanh, tức là sự tiếp xúc của lưỡi với món ăn nên sanh ra cảm giác đó. Thế nên sau này mình nhớ lại hình bóng tô bún riêu, nhớ lại cảm giác khi ăn, suy nghĩ lúc mình ăn như thế nào sanh khởi trở lại và tiếp tục nghĩ những cái mới. Vì vậy, có tiếp xúc dục mới sanh khởi, sự tiếp xúc càng nặng chừng nào thì cảm thọ càng đi sâu vào nội tâm chừng đó, các tưởng càng tô đậm trong sự ấn tượng nhiều chừng đó, suy nghĩ cũng ngày càng sâu dày trong tâm. Hoặc mình nhớ đến người đã từng tiếp xúc, chẳng hạn hình bóng cha mẹ, anh em hiện lên hoặc người mình yêu thương là do mình đã từng tiếp xúc với họ, đó là nguyên nhân có dục sanh khởi.

Cho nên, cái xúc này rất khủng khiếp, từ xúc sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp. Do tiếp xúc mà sanh ra cảm giác và khi thu nhận cảm giác đó vào tâm thì gọi là cảm thọ. Cảm giác không khổ không vui mình cũng thọ nhận nhưng nó trơ trơ nên mình thường bỏ qua, nhưng đối với những cảm giác dễ thương với dễ ghét là thọ nhận và cất kĩ trong tâm, vì thế mới có ra thương ghét, yêu hận, thân và sơ. Khi tiếp xúc liên tục sẽ trở thành thói quen, thiếu là không được. Giống như sáng dậy là uống café, uống hoài như vậy sẽ thành thói quen, không có café là không được nên nó trở thành nghiệp; hoặc ăn cơm phải có ớt, không có ớt ăn không ngon, nhạt miệng.

Như vậy, xúc sanh nghiệp, tức là tiếp xúc liên tục sẽ tạo thành thói quen và thói quen đó quay ngược lại chi phối mình, thiếu nó chịu không được. Những thói quen nhẹ nhàng thì không sao nhưng còn nhiều thói quen xấu khác còn nặng nề hơn. Cho nên, các dục thì có trong có đục, có nặng có nhẹ, có thiện pháp và bất thiện pháp. Nếu tiếp xúc đúng ngay oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều kiếp thì nghiệp cũ bắt đầu trổ ra, đó là lí do tại sao có nhiều người mới tiếp xúc lần đầu đã ghét nhau, không ưa nhau hoặc mới gặp lần đầu đã trúng tiếng sét ái tình. Khi đó, do tiếp xúc nên những nghiệp cũ biểu hiện ra.

Như vậy, trường hợp đầu là tiếp xúc từ từ rồi tập tành thành nghiệp mới. Hoặc khi tiếp xúc đúng oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều kiếp thì một là yêu và hai là hận, vì thế khi tiếp xúc phải cực kì chánh niệm tỉnh giác. Chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào mà mình không biết, vì dục sanh ra trong đó mà mình không biết. Vì không thành tựu trí tuệ về năm uẩn, không thành tựu trí tuệ về lậu hoặc nên bị các dục qua mặt, đến khi nhận ra thì chuyện đã rồi, càng tránh được nhiều xúc thì càng tốt. Ví dụ, những người trong bộ tộc Kogi cắt duyên xúc với thế giới bên ngoài, ngồi thiền chín năm quay mặt vào vách, không tích trữ đồ ăn, sống đơn sơ, hồn nhiên, vô tư, tâm hồn người ta nhẹ nhàng, thanh thản nên sống thọ trên cả trăm tuổi.

Dục sai biệt

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục sai biệt? Này các Tỳ-kheo, dục trên các sắc là khác, dục trên các tiếng là khác, dục trên các hương là khác, dục trên các vị là khác, dục trên các xúc là khác. Này các Tỳ-kheo, đây là các dục sai biệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Chúng ta có những ham muốn khác nhau, tuy đều là ham muốn nhưng chúng khác nhau, như ham muốn trên sắc, ham muốn trên tiếng… Có nhiều người thích nghe nhạc, chạy xe ngoài đường, đeo tai nghe nhạc xập xình rồi lắc lư theo điệu nhạc, nên người khác bấm còi không nghe được gì, hoặc vừa chạy vừa nghe điện thoại, không tập trung thế là gây tai nạn chết người. Lúc đó, người này đang ở trong dục thích sử dụng điện thoại, không còn biết gì bên ngoài, không biết mình đang ở đâu, đang làm gì và bị cái dục che mờ thành si ám, vô minh, vô trí, bị tai nạn gần như chết hoặc mất mạng cũng vì dục của âm thanh. Có người vừa chạy xe vừa livestream rồi cười nói, đùa giỡn trong xe, không chú ý gây tai nạn nhưng không lo gọi cấp cứu, mà vẫn livestream cho mọi người thấy mình bị tai nạn máu me đầy người, đó là quá cuồng điện thoại.

Những thứ vô tri, vô giác, những thứ được chế tạo ra làm con người điên cuồng, mê loạn trong đó. Chỉ một chiếc điện thoại nhỏ nhưng trong đó có biết bao thứ làm con người say mê. Nó chứa đựng tất cả những hình sắc, âm thanh, hương tưởng và vị tưởng, khi đó không có hương trần thực sự nhưng lại có hương tưởng, vì khi thấy những món ăn trong điện thoại thì mình tưởng tượng ra mùi vị. Những thanh thiếu niên mê game điên cuồng, để có tiền chơi game thì đi ăn trộm, ăn cướp, thậm chí giết cả người thân để lấy tiền chơi game. Bên Trung Quốc kiểm soát rất gắt gao chuyện chơi game của những đứa trẻ, có quy định thời gian chơi chứ không được chơi thoải mái như trước nữa. Vì không kiểm soát sẽ xảy ra những chuyện như chơi đến kiệt sức chết trên bàn game, dính vào game như lạc vào mê hồn trận không có đường thoát ra.

Chỉ riêng một chữ "sắc" khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn là đã có biết bao đau khổ trên cuộc đời này. Món ăn, căn nhà, tiền bạc, vàng, cảnh đẹp, nữ trang, ruộng vườn… đều là sắc, những thứ này đều có sức thu hút mọi người. Trong từng loại sắc có nhiều loại sai biệt, khác nhau. Thích xe là mua xe về chỉ để ngắm. Thích nhà là mua nhiều nhà để sở hữu, nếu người thuê không có tiền trả là đuổi ra khỏi nhà, không cho ở. Ngẫm nghĩ kỹ sẽ thấy chúng ta đáng thương vô cùng vì phải khổ đau với những thứ rất vô thường, tạm bợ, dễ vỡ như món đồ gốm. Suốt ngày lo ăn, lo mặc, lo nhà cửa, xe cộ, những tiện nghi vật chất và mất rất nhiều thời gian vào những thứ đó. Trong khi người tu ôm bình bát đi khất thực, ai cho gì ăn đó. Nên nhớ khi đi khất thực là đang thực hành pháp chứ không phải chỉ đi với mục đích xin được đồ ăn, không có thời gian rỗi để chạy theo dục. Còn chúng sanh dùng thời gian đổ vào những thứ ham muốn đó. Người tu chúng ta không thể nấu bếp hoài mà phải chia ca ra làm, thời gian còn lại dành để quán chiếu, tu tập, thiền quán, học kinh pháp. Nếu cứ say mê trong việc nấu bếp thì đó chính là dục. Đương nhiên mình không bỏ cho huynh đệ mình cực khổ để bản thân nhàn nhã nhưng cũng không được sa đà vào đó. Có khi mình làm do tâm lừa dối mà mình không biết, cứ nghĩ là vì mọi người nhưng thật ra là mình thích đông vui, xuống bếp để làm này làm kia, nói chuyện này chuyện nọ, mất hết thời gian tu tập. Cái ăn này có thể giết chết đời tu và cũng có thể giết chết đời sống người ngoài đời.

Có người ham thích hương thơm nên sưu tầm rất nhiều loại nước hoa từ nhiều hãng sản xuất khác nhau. Có người ham thích cảnh đẹp nên đi phượt thường xuyên tìm cảnh đẹp để chụp hình, cũng đã có rất nhiều trường hợp đi phượt chẳng may gặp nạn qua đời, hoặc leo lên những tòa nhà cao tầng chụp hình rồi trượt chân té chết. Cha mẹ mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, nuôi nấng vất vả cực khổ thế mà chỉ vì cái ham mê, tham dục một chút thôi mà hủy hoại cả sinh mạng, đó là bất hiếu, làm đau khổ cho biết bao người ở lại. Cũng có người muốn thể hiện bản thân bằng việc đua xe tốc độ cao ngoài đường, dẫn đến đụng xe gây tai nạn, nhẹ thì thương tích đầy mình, còn nặng thì mất mạng, làm hại mình hại người, làm khổ mình khổ người. Tất cả những ham muốn đó là dục sai biệt – những sự ham muốn khác nhau.

Cho nên, chúng ta phải dành nhiều thời gian chiêm nghiệm, quán chiếu, tư duy, kiểm tra bản thân. Thấy mình còn nặng về cái dục nào thì tập trung thời gian vào đó để trừ khử, nhiếp phục, đoạn tận chứ không phải sống nhàn nhã, sống qua ngày đoạn tháng. Cần phải để tâm, đặt hết tâm ý vào trong để xem cái dục nào còn tồn tại thì dốc hết sức lực nhiệt tâm, tinh cần chế ngự, diệt tận, đó chính là tu. Còn cứ thích ra ngoài làm việc này việc nọ để người khác thấy thì đó không phải là tu thật, vì toàn bộ giáo pháp của Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, một khi không còn tham muốn, ưa thích dục nữa thì tâm thoát ly, giải thoát khỏi thế giới này. Muốn tu học, muốn giải thoát, hướng đến giải thoát nhưng không nắm vững được những trí tuệ này thì trong tâm lại ưa thích, mê đắm, ràng buộc, chấp thủ trong năm dục trưởng dưỡng.

Dục dị thục

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục dị thục? Này các Tỳ-kheo, khi muốn một cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức, Này các Tỳ-kheo, đây gọi là các dục dị thục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Khi muốn một cái gì đó thì mình sanh khởi một cái tôi đối với vật mà mình muốn, nghĩa là khi muốn cái gì thì phải có "mình muốn", ví dụ: mình muốn chiếc xe, mình muốn túi xách, mình muốn giày đẹp… Phước đức hay không phước đức chính là dị thục của nghiệp, tức là cái muốn đó sẽ theo chiều thiện hoặc ác mà đi đến chỗ biến đổi và chín muồi của nghiệp, cái muốn đó sẽ đưa đến tốt lành thiện pháp hoặc cái muốn đó sẽ đưa đến các ác, bất thiện pháp. Đối với các ác, bất thiện pháp thì sẽ có quả báo nhưng quả báo này không đến liền mà sẽ đến từ từ cho đến khi nào chín muồi, như vậy gọi là dị thục.

Người khởi ý niệm làm từ thiện thì cái này cũng là dục, dục muốn giúp người khác. Đầu tiên là muốn rồi suy nghĩ mới đưa ra quyết định, sau đó là chuẩn bị lên phương án, kế hoạch, ít nhất phải có tiền rồi thực hiện cái muốn sẽ đưa lại phần phước báo cho người đó. Từ cái muốn ban đầu dẫn đến kết quả sau cùng của sự chín muồi là phước hay tội. Một người khác có suy nghĩ muốn đi trộm cắp, cái muốn đó cũng là dục, muốn làm việc không tốt. Sau đó họ thực hiện hành vi tội lỗi rồi bị người ta bắt vào tù. Như vậy, trong sự ham muốn này có phước và tội, có thiện và ác, có lành và dữ, đem lại kết quả khổ hoặc vui, đó gọi là dục dị thục.

Chúng ta có ước muốn tu tập, hành trì kinh Nikāya, chúng ta có ước muốn tha thiết, nỗ lực, tinh tấn thể nhập vào pháp thì đó là ước muốn đem lại lợi ích, an lạc trong hiện tại và tương lai dài lâu. Đó là dục dị thục của thiện pháp, cái muốn đó sẽ biến đổi theo chiều thiện và cuối cùng chín muồi là chúng ta có chân đứng trong pháp và luật này. Còn cái muốn chạy theo năm dục trưởng dưỡng bên ngoài để thực hiện hành động của tham muốn đó sẽ đưa đến kết quả đau khổ, ác nghiệp.

Như vậy, một cái muốn chạy theo dục, đòi hỏi dục, khao khát, thèm thuồng, đam mê trong dục và một cái muốn là rời dục, xa lìa dục, diệt dục. Cái muốn của người tu là rời xa, viễn ly, đoạn diệt. Còn cái muốn phàm phu là sự truy tầm, đuổi hình bắt bóng với dục, đó là cái muốn khóc than và khổ sầu, trong cái muốn này có cái tôi trong đó nên mới có "tôi muốn". Mặt khác, khi mình tu cũng cần suy nghĩ muỗn nỗ lực, tinh tấn tu học.

Dục đoạn diệt

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo là dục đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi nào, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các dục như vậy, rõ biết các dục sanh khởi như vậy, rõ biết các dục sai biệt như vậy, rõ biết các dục dị thục như vậy, rõ biết các dục đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các dục đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Cuối cùng là dục đoạn diệt, chấm dứt ham muốn. Muốn dục đoạn diệt thì đầu tiên phải thấy đúng về các dục, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Khi đặt Bát Chánh Đạo vào chỗ nào thì tám phương diện chân chánh trong pháp đó hiện ra chứ không phải cái nào cũng giống nhau. Khi nói đến chánh kiến trong dục thì phải thấy các dục là vô thường, khổ đau, chạy theo nó chỉ mang lại kết quả máu và nước mắt, là sự thất vọng ê chề, vui ít khổ nhiều, tai hại càng nhiều hơn, như vậy mới là cái thấy đúng về dục. Còn nếu thấy dục này là sự vui sướng, thích thú thì đó là tà tri kiến đối với dục.

Khi đưa chánh kiến vào một vấn đề nào đó thì nó sẽ soi rọi tận cùng, thấu đáo và triệt để vấn đề đó, chứ không phải chánh kiến chỉ có duy nhất ngũ uẩn. Nhưng phải thấy từ ngũ uẩn mới soi rọi ra thọ, tưởng, hành; từ thọ, tưởng, hành soi rọi vào trong thọ; từ thọ soi rọi vào ba loại cảm thọ; từ ba loại cảm thọ soi rọi vào lạc thọ, từ lạc thọ mới thấy cảm giác dục, tham, ái; từ dục, tham, ái mới soi rọi vào tính chất khao khát, thèm thuồng, khổ sở trong đó; từ tính chất này mới nhìn ra sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng ta cứ tiếp tục nhìn sâu vào trong đó cho đến tận cùng tất cả khía cạnh, phương diện bất an, lo lắng, nghiệt ngã, vô tình, không còn một cái gì đáng để yêu thích, tham đắm thì cái thấy biết xác quyết như vậy gọi là cái thấy quyết trạch, trạch pháp một cách quyết định rõ ràng, thấu đáo, đó là chánh kiến đối với các dục.

Nếu còn bất kì suy nghĩ nào là vui thích, yêu thích thì vẫn chưa thành tựu chánh kiến đối với các dục. Suy nghĩ đó làm chánh kiến không được viên mãn, vì cái thấy không trọn vẹn nên cái nghĩ dù có đúng cũng không trọn vẹn, vẫn còn phần nào đó thấy dục vui sướng. Cho đến khi nào trong cái thấy xác quyết trọn vẹn rằng cái dục chỉ là lo lắng, bất an, sầu não, khổ đau, vô tình, vô nghĩa, là trống không, không có gì đáng để nhớ nhung, yêu thương, đầu tư vào nữa, chỉ là bọt bèo thôi thì chánh kiến đã có, chánh tư duy sẽ sanh khởi. Những suy nghĩ về dục chỉ còn thấy vô thường, khổ, vô ngã, không còn thấy vui sướng, hân hoan trong này thì đó là chánh tư duy đối với dục. Khi nói là nói chân chánh đúng pháp về dục chứ không nói sai nữa, không thấy thích thú với vị ngọt nữa mà chỉ thấy sầu lo, bất an.

"Do ái sinh sầu ưu,

Do ái sinh sợ hãi,

Ai thoát khỏi tham ái,

Không sầu, đâu sợ hãi?"

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 212)

Khi ham thích một cái gì đó thì mình sẽ lo lắng cho cái đó. Chẳng hạn như ham thích bình trà cổ, nếu có ai đến gần là lo lắng sợ làm bể mất cái bình. Món đồ còn vậy thì nói gì đến tấm thân này, suốt đời cứ lo cho ăn, lo cho ngủ, lo cho mặc. Vì thế Bát Chánh Đạo là thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Chánh mạng nghĩa là không vì sự ham muốn của mình mà làm những nghề tội lỗi để nuôi mạng sống hoặc làm những việc không đúng pháp để nuôi mạng.

Dục ách

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là dục ách?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là dục ách". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)

Đức Phật thành tựu trí tuệ về dục nên ngài mới thoát ra khỏi dục, mới có thể nhiếp phục, đoạn tận sạch hết tất cả dục lậu. Còn mình đam mê, khao khát, rầu rĩ trong dục, nắm chặt, yêu thích trong các dục rồi các dục chiếm đóng và tồn tại trong tâm mình, có biết bao thứ trong tâm nhưng mình không thấy nên hỏi ra toàn nói tu thấy an lạc, bình an lắm. Nếu không lo nhìn vào trong nội tâm để nhiếp phục, đoạn tận những cấu nhiễm mà cứ hướng ngoại thì có thật sự là chân tu không trong khi trong tâm còn rất nhiều công việc cần phải làm.

./.