2. Nhập Thất Chia Sẻ 4 - SOI THẤU NĂM UẨN-2
NHẬP THẤT CHIA SẺ 4 - SOI THẤU NĂM UẨN 2
- Thích Minh Thành-
Đầu hôm tới giờ, ngũ uẩn vận hành trong các huynh đệ như thế nào rồi?
Thầy Pháp Minh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đệ tử Pháp Minh kính thưa thầy và đại chúng. Từ khi nghe được lời chia sẻ của thầy trong ngày nhập thất, riêng bản thân con thấy sự vận hành ngũ uẩn của thân tâm rõ ràng hơn so với thời kỳ trước, với ba pháp thầy đã truyền trao, con luôn luôn cảm thấy sự tỉnh giác hơn và sự vận hành của ngũ uẩn trong nội tâm, thân thể rõ ràng hơn rất nhiều.
Sư phụ: Nhưng giờ ngồi thiền lúc đêm nay, ngũ uẩn ra sao?
Thầy Pháp Minh: Thưa thầy, trong giờ ngồi thiền lúc sáng nay thời tiết rất lạnh. Đầu tiên thân thể con cảm thấy lạnh.
Sư phụ: Trong ba thọ, nó thuộc về thọ gì, nói rõ từng cái ra.
Thầy Pháp Minh: Thưa thầy, cái sắc thọ, cơ thể con đang ngồi thiền, ngồi xếp bằng, lưng thẳng; cảm thọ khổ vì trời lạnh, cảm giác tay chân tê cóng. Và suy nghĩ, cái tưởng là mình được ngủ thêm tí nữa.
Sư phụ: Cái đó là gì, nói rõ lại.
Thầy Pháp Minh: Dạ, cái tưởng là mình nằm và mình ngủ thêm chút nữa cho khoẻ. Cái hành thì kêu thời tiết như vậy thì nằm thêm chút đi. Cái biết của con là biết cái thân đang ngồi, tay đang lạnh, cảm thọ, tư tưởng vận hành.
Sư phụ: Tốt lắm.
Thầy Pháp Từ:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, cùng toàn thể đại chúng. Tối hôm qua, con có lên trên gác, nhìn thấy bộ xương sư phụ có để trên đó. Trước khi ngủ con có ngồi tĩnh tọa ít phút để quán chiếu về cái thân ngũ uẩn này. Con quán và thấy được cái tưởng của mình là bộ xương, cái hành nói là, sau này mình sẽ đến cái chỗ đó, cái thân này là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tính chất đó.., nó nói thầm ở trong tâm. Quán tưởng một lúc như vậy thì con thấy được an lạc, và có ý thức trong sự tu tập nhiều hơn. Cứ thế, ngồi nhìn bộ xương, nhớ những lời dạy của sư phụ và những lời dạy của Đức Phật. Buổi sáng sau khi thức dậy thì cảm giác khổ xuất hiện, là do thời tiết lạnh. Cái tưởng của con cũng xuất hiện từ đó, mình lạnh như vậy mà mình thiếu áo, không đủ áo mặc, sợ bệnh.
Sư phụ: Đó là cái gì?
Sau đó thì cái hành cũng nói chuyện trong tâm con. Thức con thì rõ biết những ý niệm, những tư tưởng đó là những hành uẩn đang hoạt động. Con có khởi lên tác ý, đó là những ý niệm nhu nhược, không phải là một đệ tử chân chánh của Đức Phật, mình thiếu sự kham nhẫn. Mình còn có tịnh thất để ngồi trú lạnh, trong khi ngày xưa các vị thánh tăng không có nơi trú, chỉ có những gốc cây, mình thì có mền, gối, có tịnh thất, có đầy đủ như vậy mà mình vẫn có lòng tham trong đó, còn mến tiếc cái thân này, sợ nó bệnh, nó khổ.. Nghĩ đến mà thấy tủi hổ, xấu hổ. Những ý niệm tác ý đó trong hành uẩn khởi lên như vậy thì con thấy được khởi sanh ra tâm xấu hổ. Con xin trình bày những cái trong thọ tưởng hành thức của con như thế.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt lắm, đó là có Như lý tác ý. Sau khi nhận diện năm uẩn xong thì có Như lý tác ý.
Sư thầy 3:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, quý thầy và toàn thể đại chúng. Lúc sáng ngồi thiền, con nhận diện năm uẩn như sau: về sắc uẩn của mình, con thấy rõ sắc thân của mình đang ngồi trong tư thế xếp bằng, lưng thẳng; thọ của con thì nó hơi khó chịu một tý, cái đầu hơi nặng và mắt hơi sụp. Cái tưởng của con là sắc thân này nếu nằm ở trên cái mền đầy lông thì rất ấm. Cái hành thì nói “ừ, phải chi cái thân này được nằm trên cái mền ấm đó thì tuyệt vời.” Còn thức là sự rõ biết của cái sắc, thọ, tưởng và hành. Mô phật.
Sư phụ: Tức là mình không có cái mền dày nhưng mình tưởng là sẽ có cái mền dày cho ấm, hay là đang nằm trên cái mền dày rồi?
Sư thầy 3: Thưa thầy, trước đây đã ngủ trên cái mền dày rồi, nhưng khi ngồi thiền thì nó không thoát ra khỏi ra cái mền đó.
Sư phụ: À, đúng rồi. Lúc đang ngồi thiền thì mình muốn trở lại cái mền đó cho ấm.
Sư thầy 4:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy và các sư huynh. Hiện tại con nhận diện được sắc của con là đang ngồi bán già. Thọ của con là cảm giác khổ thọ, khổ thọ của con vì do đau lưng. Cái tưởng của con là tưởng tượng ra có một hình dựa lên một vách tường, cái hành của con nói “nếu có một vách tường chắc là dễ chịu lắm.” Cái thức của con là nhận diện được các sắc, thọ, tưởng, hành đang vận hành.
Sư phụ: Tốt lắm!
***
Trước giờ là mình học trên lý thuyết, trên ngôn từ, nhiều ở trên tưởng, tưởng uẩn. Bây giờ mình vừa học vừa thực hành tại chỗ, lý thuyết và thực hành luôn, ngay trong hiện tại mình có thể thấy rõ được sự vận hành của thân và tâm chính mình. Đây là pháp chỉ thẳng thân tâm của Đức Phật khi Ngài còn tại thế, chứ không phải là nói suông hay tưởng tượng, cho mình bằng con mắt tâm, thấy rõ chính mình. Đây là bước quyết định của sự tu hành. Nếu các huynh đệ siêng năng, nỗ lực, nhận diện liên tục thì sẽ còn phát hiện ra những điều đặc biệt nữa. Điều này rất quan trọng, nếu không thực tập điều này thì những bước sau thì mình không thể nào thành tựu được. Tại vì, mình còn không hiểu rõ chính mình thì làm sao tu tập được; tư tưởng mình ra làm sao, mình không biết; suy nghĩ của mình như thế nào, mình không rõ; cảm giác thế nào, mình không hay.. Sự nhận thức trong nội tâm lờ mờ thì làm sao mình tu được. Cho nên, đây là bước quyết định, nó là bước thứ hai sau bước ba pháp, là bước mình đang ngồi đó. Các huynh đệ cố gắng thực tập, thường thường nhận diện liên tục.
Có thể các huynh đệ sẽ hỏi, “thầy ơi, nhìn lại chi hoài vậy, có gì trong đó mà nhìn?” Có huynh đệ nào cảm thấy giống như vậy không? Bây giờ Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ. Hôm nay, Minh Thành thấy đã tối, các huynh đệ mọi người mệt rồi, và mới bắt đầu thực tập, nên Minh Thành chưa phanh phui ra, bây giờ mình phải học cái pháp vạch mặt thọ tưởng hành thức của mình. Mình phải thấy rõ thọ tưởng hành thức là thọ tưởng hành thức, không phải là mình, thì mình mới có thể mạnh dạn nhìn sâu vô và vạch mặt nó ra, như mấy nhận diện hồi hôm của các huynh đệ. Ví dụ đang ngồi nghe pháp, nhưng tư tưởng, suy nghĩ của mình là về nhà chạy xe đi chơi, thì lúc đó là gì? Các huynh đó biết đó là gì không? Cái gì mà nó có ra cái suy tưởng đó? Suy là suy nghĩ, tưởng là những hình bóng, nói gọn là suy tưởng, tức là tưởng với hành.
Ở đây sẽ phân tích từng cấp độ để các huynh độ thấy rõ từ đâu mà phát sanh ra suy tưởng đó. Từ cảm giác. Cái cảm giác ở phía dưới nung lên, đẩy lên; rồi thọ, tức là cái cảm thọ ở dưới nung, đẩy lên để cho tưởng, hành vận hành. Nó mong muốn một cảm giác sướng vui cho nên nó mới suy tưởng ra. Thấy rõ vấn đề này không? Tức là, sâu thẳm bên trong là cảm giác, nó nung lên, đẩy lên sự nghĩ tưởng. Cảm giác đó, nhìn sâu xuống cảm giác nữa, là dục và tham; là muốn, ham muốn của cảm giác. Thấy chỗ này sâu sắc không? Phía dưới cảm thọ đó là dục và tham. Từ dục, tham nó đẩy cảm giác; từ cảm giác nung lên cái thọ, nung lên cái tưởng, tưởng hành, tức là nung lên sự suy tưởng. Vậy thì, phía dưới cảm giác đó là dục, tham, ham, muốn. Minh Thành chỉ nói tới đây thôi, từ từ mình học và sẽ nhìn thêm nữa.
Đó là mình vạch mặt ra được thọ tưởng hành. Lúc đó mình chỉ nghĩ là phóng tâm thôi, mình không thấy cái tham dục ở trong đó. Đó là trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham ái. Khi thấy chỗ phát xuất rồi thì mình trị nó dễ lắm, vì hồi đó mình không thấy. Bây giờ sẽ phân tích thêm những cái nhận diện ngũ uẩn của huynh đệ hôm qua và hôm nay, tức là đào sâu thêm một lớp nữa, vạch mặt nó ra. Mình phải dùng những từ cho mạnh, chứ yếu yếu là nó quật mình chết. Quý huynh đệ đừng ngại, nói “ủa, sao thầy nói vậy giống như sân, làm gì dữ vậy?” Cái này phải dùng đại hùng, đại lực vì nó đã quậy phá mình bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, mình thống khổ với nó không biết bao nhiêu rồi. Các huynh đệ nhớ trong kinh Di Giáo, Đức Phật nói “cái tâm này nó còn hơn cọp, beo, hơn rắn độc, hơn voi dữ; nó là kẻ cướp, hung tặc.” Đức Phật dùng hết những từ đó. Mà, đó là sự thật. Mình tu rồi mình sẽ thấy. Cho nên, đó không phải là sự sân, mà đó là cái trí, hùng lực; có trí sáng và hùng lực mình mới vạch ra được cái bộ mặt của phiền não. Nếu không, mình sẽ chết với nó. Một ngày mình chết không biết chết bao nhiêu lần, mình không thấy được bản mặt thật sự của tên phiền não đó.
Một nhận diện khác của các huynh đệ, ví dụ như đang nói về cha. Hôm nay, một vị có tình cảm sâu sắc với mẹ, mẹ mất thì lúc đó, tự nhiên cái thọ, tưởng, hành của mình, tức là sẽ suy tưởng về hình ảnh của mẹ, những lời nói xung quanh, những cảm giác lo lắng. Đó là gì, nhìn sâu xuống lớp thọ, tưởng, hành, thức là gì? Đức Phật gọi là thọ ưu, cảm thọ, lo lắng. Nhìn sâu xuống nữa, ra nổi không? Đó là ái, cái tâm luyến ái. Đức Phật nói rất rõ trong kinh Pāli tạng, ví dụ trong tỉnh Lâm Đồng trong huyện Bảo Lâm, Bảo Lộc, nghe tin có người bị tai nạn giao thông chết, khi nghe hoặc đọc tin tức, mình như thế nào, có khổ sở không, có bỏ ăn mất ngủ không? Nhưng nếu người đó là người thân thương nhất của mình thì lúc đó sao? Đó là gì? Ái. Chỗ này mình phải nhìn sâu xuống cái thọ, tưởng, hành, thức. Còn bình thường mình nghĩ là suy tưởng thôi, “tôi suy nghĩ, tôi nhớ mẹ”, chuyện đó bình thường. Nhìn sâu vô đó, cảm giác như thế nào, Pháp Danh? Lúc mình nhớ về mẹ, nghĩ tưởng nhất là tình thương của mình rất nhiều với mẹ, mẹ mất trong sự xót thương, khi đó cảm giác đó như thế nào, con có thể diễn tả được không?
Thầy Pháp Danh: Con kính bạch thầy, khi đó cảm giác của mình là những niềm vui, hân hoan. hay xúc động buồn vui mà trước đây trải qua với mẹ, nó hiện lên và trào dâng rất mãnh liệt
Sư phụ: Khi nó trào dâng mãnh liệt như vậy, Pháp Nhân có nhận diện cảm giác toàn thân, thấy nó nằm chỗ nào không?
Thầy Pháp Nhân: Con kính bạch thầy, đối với bản thân con, cảm giác toàn thân nó nằm chính diện nhất là ở trong lồng ngực của mình.
Sư phụ: Thấy không, thấy rõ không, nó có chỗ ở. Phiền não có chỗ ở, nó biểu hiện ra ở trên thân mình. Cho nên tất cả đều nằm ở trên thân mình, nằm ở trong cảm giác. Nếu mình nói đơn sơ, nhớ về mẹ thì chuyện đó rất bình thường, nhưng mình nhìn sâu xuống trong đó, thì đó là ái. Cái cảm giác này làm cho mình, có khi là rất xót xa, đau xót, khổ sở, nhớ nhung, có khi là tiếc thương, có những khi mình hối hận, những gì chưa làm được cho mẹ mình.. Tất cả những cái đó, các huynh đệ thấy không, từ cái luyến ái phát sanh ra cái cảm giác, từ cảm giác nó đẩy lên cái tưởng, suy tưởng, tưởng hành. Và chính mình khổ trong đó. Nhưng mình không biết tại sao lại có cảm giác này? Minh Tiến nhận thấy được không?
Thầy Minh Tiến: Con có nhận thấy được mấu chốt của vấn đề, vậy muốn dẹp cái tham ái này thì mình sẽ như lý tác ý, phải không thầy?
Sư phụ: Đúng vậy. Như lý tác ý và quán chiếu, giống như sư huynh Pháp Từ, từ từ thầy sẽ chia sẻ với các huynh đệ. Bây giờ Minh Thành sẽ phân tích những cái nhận diện của các huynh đệ, và huynh đệ sẽ vạch ra được những cái rất sâu sắc.
***
Cái nhận diện thứ hai của một huynh đệ khác là buồn ngủ quá lúc hồi đêm, một huynh khác thì đau. Buồn ngủ thì muốn đi ngủ, đau thì muốn nhanh nhanh được bung chân ra, đi kinh hành. Tất cả đó là gì? Là cái dục, và tham. Vì, giờ đó không phải giờ ngủ, giờ đó là giờ tu. Nên, nhìn sâu vô thì mình sẽ thấy, mình thấy cái muốn của mình rất bình thường, nhưng cái cảm giác, suy tưởng, hình bóng, lời nói đó.., cảm giác đó chính là động lực của dục và tham đẩy tới để phát sinh ra sự suy tưởng, mong muốn cảm giác đó. Nếu giờ đó là giờ ngủ, là đúng, nhưng giờ đó là giờ tu, giờ nghe pháp, hành trì. Cái gì nó khác cái đó, tức là không đúng thời. Thấy như vậy thì mình phải dùng như lý tác ý, dẹp phá nó, tẩy sạch, từ bỏ, diệt tận nó, làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Thì lúc đó là tinh tấn. Đức Phật nói trong kinh rất rõ, “Vị Tỳ-kheo khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà lúc đó có dục tầm, suy tư về tham dục khởi lên, suy tư về sân hận khởi lên, suy tư về hại khởi lên thì lập tức tẩy sạch, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, làm cho nó không còn hiện hữu nữa, giống như cây sala” , hay nói theo Việt Nam là cây cau, cây dừa chặt ngang, “thì như vậy, vị Tỳ-kheo nhiệt tâm tinh cần, tinh tấn trong giáo pháp của Như Lai.” Còn nếu mình nuôi dưỡng những cảm giác đó, tiếp tục tư tưởng, suy tưởng đó thì là lười biếng, giãi đãi, là thấp hèn, nhu nhược, yếu đuối, không dũng mãnh trong giáo pháp.
Một huynh đệ khác nhận diện, đang đi thiền hành, nghe ễnh ương, cóc, ếch kêu, không biết hình tướng nó nhỏ hay lớn, màu sắc ra sao.., đó là hướng ngoại, phóng tâm. Cái đó, nói sâu một chút, là hữu lậu. Tức là cái sự nhiễm, tâm mình luôn luôn muốn suy nghĩ, không muốn yên. Mình để ý, nói gần gần cho dễ hiểu, thà là làm cái này, cái kia, cái nọ chứ ngồi yên chịu không được. Các huynh đệ có thấy điều này không? Cho mình ngồi yên 3-4 tiếng đồng hồ, mình thấy dễ chịu hay là cho mình đi tung tăng, làm này làm kia mệt một chút, cái nào dễ chịu hơn? Đó là dục lậu. Tức là tâm mình luôn ở trong trạng thái muốn phải có cái này, cái kia, cái nọ; muốn phải suy nghĩ, suy tưởng, phải suy tư. Đó là một trạng thái nhiễm của tâm. Minh Thành ở trong thất phải chiến đấu với thứ này dữ lắm, nó không cho mình yên. Tới giờ ngồi thiền nó kêu “xuống đi kinh hành đi, nghe pháp đi.” Cái đó là còn tốt. Nó mà kêu xuống nằm ngủ hay gì khác đi thì đó là trạng thái hữu lậu. Nó luôn luôn len lỏi, tiềm phục, ẩn nấp cư trú trong những ngóc ngách, sâu sắc ở trong tâm mình mà mình không thấy. Ghê gớm không? Nó trốn sâu trong những góc sát, trong kẹt, chỗ bụi, đống củi, con rắn nó chui vô đó. Cái này không phải thường, thấy được tham, sân, si một cách rõ ràng, trọn vẹn thì người đó là Tu-đà-hoàn. Dẹp được tham, sân, si ở giai đoạn thứ nhất là quả vị thứ hai, là Nhất lai, chỉ còn trở lại đời có một lần nữa thôi. Dẹp tới giai đoạn hai là gần sạch hết, là Bất lai, giai đoạn thứ ba - Thánh quả. Dẹp sạch hết, không còn gì nữa, hoàn toàn trong sạch là quả thứ tư - A-la-hán.
Nói ví dụ rất rõ, bên thất Minh Thành đang ở, kiến nhiều lắm. Cái thau mình rửa chén, còn dính chút dầu hay mùi thức ăn là kiến bu đầy, hay trong nhà, rớt chút xíu bánh hay đồ ăn là nó bu đầy lại hết. Lúc đó, Minh Thành rửa sạch hết, không để một thứ gì dính dầu, thì lúc đó nó không vô. Ví dụ, có một hôm được cho miếng mít kho, khi múc ra tô, bị rớt một chút xíu mà mình không để ý. Một lát trở lại nhìn thì kiến bu vô, mình nhặt miếng mít kho nhỏ đó bỏ ra ngoài, rồi một lát kiến lại tiếp tục bu lại. Là do còn dính nước, lúc nãy là cái cái thôi, nhưng nước còn. Cho nên, mình phải lấy nước rửa cái dính, rửa cho sạch hết, không còn mùi nữa thì lúc đó kiến không bu vô, nếu không, nếu mình rửa sơ, còn mùi thì một lát kiến cũng bu nữa. Qua điều này cho mình thấy, sự tu tập, tẩy rửa tâm của mình cũng giống như vậy. Phát hiện ra miếng mít rớt, đó là mình thành tựu được cái trí thứ nhất, Thánh quả thứ nhất; mình bỏ miếng mít đó ra ngoài là quả thứ hai. Mình rửa cái đó là quả thứ ba; mình rửa tới lúc sạch hết, không còn gì hết, kiến không còn vô nữa, đó là quả thứ tư. Trước nay mình đâu thấy được tham, sân, si phát xuất chỗ nào đâu, phải không nếu không vạch mặt nó ra nãy giờ. Huynh đệ nhìn sâu vào thọ, tưởng, hành, thức thì mình sẽ thấy được nó cư trú, thấy rõ được nó ở chỗ nào ở trong thân mình. Bây giờ mới thấy được sự tu tập rõ ràng lắm. Những Thánh quả Đức Phật nói là tất cả chúng ta nếu tu đúng Chánh kiến này thì mình có thể thực hiện được, nhất là ở A lan nhã, núi rừng độc cư thiền định, có khả năng rất rõ trong tầm tay, chớ không phải là khó nếu mình tu đúng. Một khi nhiếp phục được dục và tham, giai đoạn thô thôi thì huynh đệ sẽ thấy hạnh phúc lạ kỳ lắm.
Trở lại vấn đề, từ từ mình sẽ học được bốn Thánh quả, trong kinh Đức Phật nói rất rõ. Trong những cái nhận diện, sâu sắc ở bên trong, huynh đệ thấy tiềm phục vấn đề gì? Dục và tham. Ở trong kinh tạng, Đức Phật hay nói rất rõ, nói về sắc và vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Thọ, vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ, và sự xuất ly khỏi thọ. Như thế nào là vị ngọt của sắc? Tất cả những gì phát sinh ra sự ham thích, vui vẻ, sung sướng ở trong sắc thì cái đó là vị ngọt của sắc. Do nó có vị ngọt này cho nên chúng sanh mới ham mê, nếu không có vị ngọt thì ai mà ham mê. Nếu đời chỉ toàn là khổ thì đâu có ai mê đời. Nhưng, trong đời này có vị ngọt, tuy nhiên vị ngọt này là tạm thời, rất ít, rất mong manh, chứ không phải là không có vị ngọt, không có vị ngọt thì làm sao người ta dám bỏ hết tất cả để đi theo tình yêu, tình cảm, tình ái, tình dục. Có, nhưng vị ngọt đó rất ngắn, rất mỏng, rất tạm thời. Mà, sự nguy hiểm có nó là gì? Là vô thường, biến hoại, là tan rã, đi tới chỗ tiêu vong, hoại diệt. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Tuổi trẻ sẽ trở thành già; sức khoẻ sẽ trở thành bệnh; sanh thì sẽ trở thành tử; tươi sẽ trở thành héo tàn. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Có cái gì mà không héo tàn, đây, những cành hoa mình thấy đây, nhìn thấy đẹp, nhưng một thời gian ngắn nữa thôi, nhưng cái lá này, nó hoại. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì? Là sự nhiếp phục được dục và tham ở trong sắc, đó là sự xuất ly khỏi sắc. Nhiếp phục dục tham nãy giờ nói là mình đang vạch mặt dục tham đó, nhiếp phục như thế nào thì một lát chúng ta sẽ quán chiếu. Người thấy rõ được ba cái này là người này dự lưu vào vòng trí huệ của Phật, của thánh nhân, nhập lưu, dự lưu. Thấy rõ. Đức Phật nói trí huệ rất đơn giản, mình phải thực tập bằng cả con tim, khối óc của mình, mình sẽ thấy được sự thật rất rõ. Như vậy sự xuất ly, sự vượt thoát ra khỏi sắc là gì? Là nhiếp phục được dục và tham ở trong sắc, cái ham muốn, cái đòi hỏi, cái khao khát ở trong đó. Bây giờ làm sao nhiếp phục dục và tham?
Phật tử: Kính bạch thầy, muốn nhiếp phục cái tham đó, là khi muốn cái đó, nhưng mình suy nghĩ, "cái đó không phải của mình, cái đó không phải sở hữu của mọi người.” Ví dụ vật đó nằm ngoài công cộng chứ không phải là tài sản của người ta, nhưng mình thấy cái đó đẹp, mình muốn cầm nó lên, mình nói, “nó không phải của mình”, và bỏ xuống. Thì đó là có thể dẹp được tánh tham của mình, là mình còn ham muốn. Như vậy thôi bỏ xuống.
Sư phụ: Cái đó mới nói bên ngoài thôi. Giờ nói sâu vô dục tham ở trong nội tâm của mình. Bây giờ ví dụ, làm sao ông có thể buông bỏ được vợ con, gia đình, nhà cửa để đi xuất gia?
Phật tử: Cái đó là muốn tìm con đường diệt trừ phiền não, đi tìm con đường giải thoát, chứ không ham muốn cái khổ cực trên đời này nữa, thấy cuộc đời này không có gì vui hết, toàn là chuyện buồn, khổ và tức giận thôi.
***
Cho nên, trở lại vấn đề là mình phải quán thân niệm xứ. Đó, huynh đệ thấy cái gốc nằm ngay chỗ Tứ niệm xứ. Ba mươi hai thể trược, lấy gì tham, có gì đáng để tham? Chín giai đoạn của một tử thi, lấy gì tham, có gì đáng để tham? Thường xuyên quán chiếu như vậy, rồi mình niệm tử, nhớ cái chết. Đức Phật dạy ở trong kinh cho các Tỳ-kheo niệm tử, “con rắn có thể làm cho ta chết, cơn gió độc có thể làm cho ta chết, con rít, con bò cạp có thể làm cho ta chết, mất mạng, và gần giống như chết.” Bây giờ, đủ thứ hết, nên mình quán như thế này, ở trong thất, ngày nào Minh Thành cũng điểm lại tai nạn giao thông. Một năm chết gần một chục ngàn người, hơn cả chiến tranh. Có mùng bốn, mùng năm thôi, mấy chục mạng người chết. Chỉ cần sơ sẩy tay lái, là chết. Không phải chết 1 người, 7 người, 10 người, thậm chí 20 mấy người. Có một chuyến xe bị cháy, không thể nhận dạng được ai là ai, người ta chụp hình ảnh để chiếc chiếu một đống, tro đen, nhận diện không được. Đâu chỉ mỗi tai nạn giao thông, chiến tranh, bệnh tật, ung thư, bao tử, như ông Năm, nằm trước mắt mình để cho mình quán chiếu, bệnh gan, như ba của Pháp Bảo.., cho mình quán chiếu. Rồi bất cứ trường hợp gì, như sảy chân cũng té chết. Cầu thang. Vô thang máy, mấy đứa trẻ nhỏ giỡn giỡn với nhau, đưa ra tới sân thượng, đi ra, lọt xuống ban công, rơi xuống mười mấy tầng, chết. Như vậy, mình phải niệm tử, mình phải đặt mình vào tất cả trường hợp, rất nhiều trường hợp mình có thể chết. Cuộc sống này mong manh lắm, tạm bợ và vô thường lắm, bất cứ lúc nào cái chết cũng có thể xảy ra.
Ví dụ, mình giãi đãi, buông lung, nghĩ, nếu mình chết thì sao? Nếu mình đi buổi tối ở đây, có con rắn mổ mình, mình chết, rồi sao? Tự nhiên cái giãi đãi của mình tan liền, sợ. Bất cứ cái gì cũng có thể làm cho mình chết. Bây giờ, cái chết rất dễ, cầm nhầm cái nón bảo hiểm thôi, đi ra là bị đâm chết; đậu xe trước cửa tiệm, ra vô khó, rồi xảy ra án mạng, tù chung thân. Dùng những chất nghiện ngập, nửa đêm về lục nồi, bà mẹ la “đi thì thôi, về nhà phá hoại, không biết làm được cái gì”. Lên cắt cổ mẹ chết, là con ruột đó. Những cái đó nhan nhãn trước mắt để mình làm những đề tài quán chiếu, thống thiết, mãnh liệt, thức tỉnh về vô thường; không thể lơ là, qua ngày hết tháng một cách buông lung. Tinh tấn, nỗ lực, đừng để cho phóng dật. Đó là những điều để mình thức tỉnh. Phân tích ra 32 thể trược, quán chiếu sâu vô 9 giai đoạn của một tử thi.., tự nhiên cái đó phát sanh ra những cảm giác đánh tan cảm giác lười biếng, giải đãi, tham ái, tham dục, phóng túng, phóng dật. Phải lấy cái này trị cái kia mới được, chứ còn mình ngồi trơ trơ ra, không động đậy thì không có gì hết.
Đó là những pháp Phật dạy mình. Các huynh đệ có thấy công năng của thân niệm xứ chưa? Hiểu tại sao phải làm vậy chưa? Đó, chỉ có cái đó mới bớt cái dục tham từ từ, rồi nhiếp phục cái dục tham, tới lúc mình đoạn tận, dứt sạch luôn, thì mình thành công. Thánh quả là gì? Là thành quả của người tu thôi, chứ có gì đâu. Tứ thánh quả là bốn thành quả của người tu. Mình trồng cây thì phải có trái, tu mà nghe tới Thánh quả thì mình sợ. Bốn Thánh quả là bốn thành quả của một người tu chân chính, đúng pháp, chứ đâu có gì. Điều này rất quan trọng.
Các huynh đệ phát biểu cảm nhận của mình qua phương pháp Đức Phật dạy quán chiếu về ngũ uẩn để mình nhiếp phục được dục và tham, sau đó mình sẽ đi kinh hành.
Phật tử:
Kính bạch thầy, bấy lâu nay tu hành để con nhìn thấy được tham dục, ngũ uẩn nhưng không biết phương pháp như thầy đã nói từ hôm qua tới nay, thiền định để nhìn thấy hoạt động của ngũ uẩn. Chỉ biết ngũ uẩn là như vậy, như vậy. Bây giờ con thấy mừng, thấy sáng ra, thấy được nó thì thấy được nguồn gốc của dục mình từ đâu, ham muốn mình từ đâu. Mục đích tu tập lúc trước của con là con tìm cách biết cái cảm thọ để bỏ đi cái phiền não, con chỉ muốn giải trừ cái phiền não thôi, để mình không vương vấn, và tìm con đường giải thoát. Bây giờ mới thấy, chính cái phiền não do cảm xúc tạo ra, sanh ra, nếu chú trọng vào cảm xúc thì có thể thấy được những sự ham muốn trong con người mình nhiều hơn, rõ hơn. Con thấy hôm nay con rất may mắn là được gặp,biết được cái căn cội của phiền não.
Sư phụ: Rất là tốt. Nếu khóa tu này chú tu tinh tấn thì sau khóa tu chú sẽ thực hành được ý nguyện xuất gia của chú. Mấy huynh đệ phát biểu đi.
Sư thầy:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên thầy, quý thầy và toàn thể đại chúng. Trước đây những bài pháp thầy giảng ở trường Trung cấp Phật học, khi con nghe về ngũ uẩn, lúc đó trong tâm con có một ý nghĩ là sự ngũ uẩn, cái bản ngã, cái tôi của mình có liên quan tới cái ngũ uẩn của mình. Lúc đó sự nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức của con chưa được rõ ràng lắm. Đến khi thầy mời cô Chơn Tín Toàn về chia sẻ, cái buổi đầu tiên đó cộng thêm buổi thứ hai, và giờ với khoá tu trên rừng này, thầy chia sẻ rõ ràng hơn cho đại chúng về nhận diện ngũ uẩn, con thấy rõ ràng để mình phá được bản ngã đó, bây giờ con bắt đầu mấp mé thấy được cánh cửa trên con đường để mình đi đến vô ngã. Tại vì con đường tu, một khi bước vào được cánh cửa vô ngã thì con đường an lạc thảnh thơi sẽ tiếp theo đó. Dạ, con chỉ có suy nghĩ như vậy.
Sư phụ: Tốt.
Sư thầy:
Thưa thầy, đối với con, trước đây con tụng kinh Bát Nhã, hôm nào cũng tụng. Đến bây giờ, đi học để thi, chưa được đào sâu về cái pháp quán sát ngũ uẩn này, con cảm thấy mình may mắn là kịp tập theo pháp hành này, giống như Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát ngày xưa, quán chiếu ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Theo con hiểu, cái khổ về tâm quan trong hơn, mục tiêu mình tu tập về tâm linh, cái khổ do vô minh nghiêm trọng hơn cái khổ về thân xác. Thế nhưng, tất nhiên qua hết hạn khổ ách theo con hiểu là giải quyết được cả nỗi khổ vô minh lẫn nỗi khổ của bệnh tật về thân xác. Con thấy mình rất may mắn là đang được thực hành theo pháp hành giống như Ngài Quán Tự Tại ngày xưa. Mô Phật.
Thầy Pháp Bảo:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, các quý thầy và đại chúng. Thực sự cảm xúc của con lúc này rất vui. Trong những năm vừa qua, khoảng năm năm trở lại đây, con hay chạy theo những hình sắc, những đối tượng tham dục, tham ái, những dục tưởng bên ngoài. Đầu năm nay, sư phụ có mời có mời cô Chơn Tín Toàn, và trên sư phụ cũng có chỉ dạy, hướng dẫn cho tụi con về những phương pháp thực hành, thực tập về Tứ niệm xứ, về quán thân bất tịnh, thân vô thường.., lúc đó trong thân tâm con như đã tìm được con đường để chuyển hóa nội tâm, những cái mong mà nhiều năm tháng đã chạy theo. Hôm trước, con cũng có gọi điện về hỏi thăm gia đình, mẹ con hỏi tu học như thế nào, con nói con đã tìm ra được con đường để đi, “Thằng Pháp Bảo năm trước đã chết rồi, thằng Pháp Bảo năm nay mới chính là thằng Pháp Bảo.” Lúc đó con chỉ nói vậy, hôm nay trên sư phụ đã chỉ rõ ra những gì mà con đang ấp ủ. Con cũng xin tri ân trên sư phụ đã không ngại khổ cực để tìmra được cho chúng con con đường đi đến sự an vui trong nội tâm cũng như những đường lối, phá bỏ được những phiền não, tham dục, dục tưởng, cái tham ái, luyến ái... của tình trần.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp Minh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy và toàn thể đại chúng. Đức Phật đã nói ra ba nguyên lý vĩ đại của toàn thể vũ trụ này là vô thường, khổ và vô ngã. Chúng ta ngày xưa cứ nói vô thường, nhưng, đúng là khi thực hành, nhìn nhận quán xét về năm uẩn này thì mình mới thấy rõ sự vô thường. Vô thường mình nhìn thấy trong từng tâm niệm, trong từng suy nghĩ, chính ngay nơi thân thể của mình, sự vận hành của danh và sắc. Khi thực hành nhiều như thầy nói, càng ngày mình càng thấy rõ được tâm vô thường và hoàn cảnh vô thường. Để chứng ngộ được cái vô thường này không có gì nhanh hơn là mình quán chiếu chính cái ngũ uẩn. Sâu sắc hơn nữa là mình cảm thấy sự vô thường đến, đi rất nhanh. Ban đầu chánh niệm của mình chưa được mạnh thì cảm nhận rất từ từ, thế nhưng càng ngày mình càng phát hiện sâu thêm những dòng tư tưởng của mình, nó đến, đi rất nhiều. Như một lúc ngồi thiền, có thể có hàng chục, hàng trăm cái tư tưởng. Rồi cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, không khổ không lạc, rất nhiều, nó đến, đi rất nhanh chóng chứ không phải cùng một lúc đến; Không chỉ cảm thọ lạc không, nó có cảm khổ, và không thấy khổ cũng không thấy lạc. Nên con thấy con đường mình đi này rất khả quan, quan trọng là mình phải tinh tấn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Pháp Thủy, nãy giờ thọ tưởng hành thức ra sao?
Thầy Pháp Thủy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch sư phụ, và các quý thầy và các anh em huynh đệ. Nãy giờ ngồi nghe thầy giảng pháp, cái sắc của con nghe thầy giảng pháp, thọ của con cảm thấy rất hạnh phúc, cái tưởng của con đã tưởng rất nhiều hình bóng.
Sư phụ: Nói rõ hình bóng nào, hình bóng nào hiện rõ nhất, có tưởng chứng quả không?
Thầy Pháp Thủy: Trong tâm con là tưởng ra quả tim của con, chỗ tim đập nhiều lắm. Cái hành nói quả tim đang đập, cái biết đang biết tiếng chim kêu, gió v.v.., biết nhiều thứ lắm thầy.
Sư phụ: Cảm nhận sự tu học thế nào?
Thầy Pháp Thủy:
Mô Phật, kính bạch thầy, từ ngày thầy lên nhập thất, tới hôm nay con học được rất nhiều về thầy. Nhận diện được năm uẩn cũng không chính xác gì lắm, nhưng con cũng đang thực hành trên bước đường đó và đang áp dụng trong việc tu tập của mình. Con cũng biết được nguyên nhân, tại sao cái vô ngã của mình là ảo tưởng mà mình không biết tại sao, và không biết cách phá thế nào. Hôm nay, con cũng đã biết cách nhận diện được nó khi đối duyên xúc cảnh, con áp dụng rất hiệu quả. Con cũng xin tri ân lên thầy, cảm ơn thầy rất nhiều, con cũng cố gắng áp dụng những bài học đã học được, sẽ cố gắng tinh tấn tu hành để không phụ lòng của sư phụ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật./.
- Thích Minh Thành-
Đầu hôm tới giờ, ngũ uẩn vận hành trong các huynh đệ như thế nào rồi?
Thầy Pháp Minh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đệ tử Pháp Minh kính thưa thầy và đại chúng. Từ khi nghe được lời chia sẻ của thầy trong ngày nhập thất, riêng bản thân con thấy sự vận hành ngũ uẩn của thân tâm rõ ràng hơn so với thời kỳ trước, với ba pháp thầy đã truyền trao, con luôn luôn cảm thấy sự tỉnh giác hơn và sự vận hành của ngũ uẩn trong nội tâm, thân thể rõ ràng hơn rất nhiều.
Sư phụ: Nhưng giờ ngồi thiền lúc đêm nay, ngũ uẩn ra sao?
Thầy Pháp Minh: Thưa thầy, trong giờ ngồi thiền lúc sáng nay thời tiết rất lạnh. Đầu tiên thân thể con cảm thấy lạnh.
Sư phụ: Trong ba thọ, nó thuộc về thọ gì, nói rõ từng cái ra.
Thầy Pháp Minh: Thưa thầy, cái sắc thọ, cơ thể con đang ngồi thiền, ngồi xếp bằng, lưng thẳng; cảm thọ khổ vì trời lạnh, cảm giác tay chân tê cóng. Và suy nghĩ, cái tưởng là mình được ngủ thêm tí nữa.
Sư phụ: Cái đó là gì, nói rõ lại.
Thầy Pháp Minh: Dạ, cái tưởng là mình nằm và mình ngủ thêm chút nữa cho khoẻ. Cái hành thì kêu thời tiết như vậy thì nằm thêm chút đi. Cái biết của con là biết cái thân đang ngồi, tay đang lạnh, cảm thọ, tư tưởng vận hành.
Sư phụ: Tốt lắm.
Thầy Pháp Từ:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, cùng toàn thể đại chúng. Tối hôm qua, con có lên trên gác, nhìn thấy bộ xương sư phụ có để trên đó. Trước khi ngủ con có ngồi tĩnh tọa ít phút để quán chiếu về cái thân ngũ uẩn này. Con quán và thấy được cái tưởng của mình là bộ xương, cái hành nói là, sau này mình sẽ đến cái chỗ đó, cái thân này là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tính chất đó.., nó nói thầm ở trong tâm. Quán tưởng một lúc như vậy thì con thấy được an lạc, và có ý thức trong sự tu tập nhiều hơn. Cứ thế, ngồi nhìn bộ xương, nhớ những lời dạy của sư phụ và những lời dạy của Đức Phật. Buổi sáng sau khi thức dậy thì cảm giác khổ xuất hiện, là do thời tiết lạnh. Cái tưởng của con cũng xuất hiện từ đó, mình lạnh như vậy mà mình thiếu áo, không đủ áo mặc, sợ bệnh.
Sư phụ: Đó là cái gì?
Sau đó thì cái hành cũng nói chuyện trong tâm con. Thức con thì rõ biết những ý niệm, những tư tưởng đó là những hành uẩn đang hoạt động. Con có khởi lên tác ý, đó là những ý niệm nhu nhược, không phải là một đệ tử chân chánh của Đức Phật, mình thiếu sự kham nhẫn. Mình còn có tịnh thất để ngồi trú lạnh, trong khi ngày xưa các vị thánh tăng không có nơi trú, chỉ có những gốc cây, mình thì có mền, gối, có tịnh thất, có đầy đủ như vậy mà mình vẫn có lòng tham trong đó, còn mến tiếc cái thân này, sợ nó bệnh, nó khổ.. Nghĩ đến mà thấy tủi hổ, xấu hổ. Những ý niệm tác ý đó trong hành uẩn khởi lên như vậy thì con thấy được khởi sanh ra tâm xấu hổ. Con xin trình bày những cái trong thọ tưởng hành thức của con như thế.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Tốt lắm, đó là có Như lý tác ý. Sau khi nhận diện năm uẩn xong thì có Như lý tác ý.
Sư thầy 3:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, quý thầy và toàn thể đại chúng. Lúc sáng ngồi thiền, con nhận diện năm uẩn như sau: về sắc uẩn của mình, con thấy rõ sắc thân của mình đang ngồi trong tư thế xếp bằng, lưng thẳng; thọ của con thì nó hơi khó chịu một tý, cái đầu hơi nặng và mắt hơi sụp. Cái tưởng của con là sắc thân này nếu nằm ở trên cái mền đầy lông thì rất ấm. Cái hành thì nói “ừ, phải chi cái thân này được nằm trên cái mền ấm đó thì tuyệt vời.” Còn thức là sự rõ biết của cái sắc, thọ, tưởng và hành. Mô phật.
Sư phụ: Tức là mình không có cái mền dày nhưng mình tưởng là sẽ có cái mền dày cho ấm, hay là đang nằm trên cái mền dày rồi?
Sư thầy 3: Thưa thầy, trước đây đã ngủ trên cái mền dày rồi, nhưng khi ngồi thiền thì nó không thoát ra khỏi ra cái mền đó.
Sư phụ: À, đúng rồi. Lúc đang ngồi thiền thì mình muốn trở lại cái mền đó cho ấm.
Sư thầy 4:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy và các sư huynh. Hiện tại con nhận diện được sắc của con là đang ngồi bán già. Thọ của con là cảm giác khổ thọ, khổ thọ của con vì do đau lưng. Cái tưởng của con là tưởng tượng ra có một hình dựa lên một vách tường, cái hành của con nói “nếu có một vách tường chắc là dễ chịu lắm.” Cái thức của con là nhận diện được các sắc, thọ, tưởng, hành đang vận hành.
Sư phụ: Tốt lắm!
***
Trước giờ là mình học trên lý thuyết, trên ngôn từ, nhiều ở trên tưởng, tưởng uẩn. Bây giờ mình vừa học vừa thực hành tại chỗ, lý thuyết và thực hành luôn, ngay trong hiện tại mình có thể thấy rõ được sự vận hành của thân và tâm chính mình. Đây là pháp chỉ thẳng thân tâm của Đức Phật khi Ngài còn tại thế, chứ không phải là nói suông hay tưởng tượng, cho mình bằng con mắt tâm, thấy rõ chính mình. Đây là bước quyết định của sự tu hành. Nếu các huynh đệ siêng năng, nỗ lực, nhận diện liên tục thì sẽ còn phát hiện ra những điều đặc biệt nữa. Điều này rất quan trọng, nếu không thực tập điều này thì những bước sau thì mình không thể nào thành tựu được. Tại vì, mình còn không hiểu rõ chính mình thì làm sao tu tập được; tư tưởng mình ra làm sao, mình không biết; suy nghĩ của mình như thế nào, mình không rõ; cảm giác thế nào, mình không hay.. Sự nhận thức trong nội tâm lờ mờ thì làm sao mình tu được. Cho nên, đây là bước quyết định, nó là bước thứ hai sau bước ba pháp, là bước mình đang ngồi đó. Các huynh đệ cố gắng thực tập, thường thường nhận diện liên tục.
Có thể các huynh đệ sẽ hỏi, “thầy ơi, nhìn lại chi hoài vậy, có gì trong đó mà nhìn?” Có huynh đệ nào cảm thấy giống như vậy không? Bây giờ Minh Thành chia sẻ với các huynh đệ. Hôm nay, Minh Thành thấy đã tối, các huynh đệ mọi người mệt rồi, và mới bắt đầu thực tập, nên Minh Thành chưa phanh phui ra, bây giờ mình phải học cái pháp vạch mặt thọ tưởng hành thức của mình. Mình phải thấy rõ thọ tưởng hành thức là thọ tưởng hành thức, không phải là mình, thì mình mới có thể mạnh dạn nhìn sâu vô và vạch mặt nó ra, như mấy nhận diện hồi hôm của các huynh đệ. Ví dụ đang ngồi nghe pháp, nhưng tư tưởng, suy nghĩ của mình là về nhà chạy xe đi chơi, thì lúc đó là gì? Các huynh đó biết đó là gì không? Cái gì mà nó có ra cái suy tưởng đó? Suy là suy nghĩ, tưởng là những hình bóng, nói gọn là suy tưởng, tức là tưởng với hành.
Ở đây sẽ phân tích từng cấp độ để các huynh độ thấy rõ từ đâu mà phát sanh ra suy tưởng đó. Từ cảm giác. Cái cảm giác ở phía dưới nung lên, đẩy lên; rồi thọ, tức là cái cảm thọ ở dưới nung, đẩy lên để cho tưởng, hành vận hành. Nó mong muốn một cảm giác sướng vui cho nên nó mới suy tưởng ra. Thấy rõ vấn đề này không? Tức là, sâu thẳm bên trong là cảm giác, nó nung lên, đẩy lên sự nghĩ tưởng. Cảm giác đó, nhìn sâu xuống cảm giác nữa, là dục và tham; là muốn, ham muốn của cảm giác. Thấy chỗ này sâu sắc không? Phía dưới cảm thọ đó là dục và tham. Từ dục, tham nó đẩy cảm giác; từ cảm giác nung lên cái thọ, nung lên cái tưởng, tưởng hành, tức là nung lên sự suy tưởng. Vậy thì, phía dưới cảm giác đó là dục, tham, ham, muốn. Minh Thành chỉ nói tới đây thôi, từ từ mình học và sẽ nhìn thêm nữa.
Đó là mình vạch mặt ra được thọ tưởng hành. Lúc đó mình chỉ nghĩ là phóng tâm thôi, mình không thấy cái tham dục ở trong đó. Đó là trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham ái. Khi thấy chỗ phát xuất rồi thì mình trị nó dễ lắm, vì hồi đó mình không thấy. Bây giờ sẽ phân tích thêm những cái nhận diện ngũ uẩn của huynh đệ hôm qua và hôm nay, tức là đào sâu thêm một lớp nữa, vạch mặt nó ra. Mình phải dùng những từ cho mạnh, chứ yếu yếu là nó quật mình chết. Quý huynh đệ đừng ngại, nói “ủa, sao thầy nói vậy giống như sân, làm gì dữ vậy?” Cái này phải dùng đại hùng, đại lực vì nó đã quậy phá mình bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, mình thống khổ với nó không biết bao nhiêu rồi. Các huynh đệ nhớ trong kinh Di Giáo, Đức Phật nói “cái tâm này nó còn hơn cọp, beo, hơn rắn độc, hơn voi dữ; nó là kẻ cướp, hung tặc.” Đức Phật dùng hết những từ đó. Mà, đó là sự thật. Mình tu rồi mình sẽ thấy. Cho nên, đó không phải là sự sân, mà đó là cái trí, hùng lực; có trí sáng và hùng lực mình mới vạch ra được cái bộ mặt của phiền não. Nếu không, mình sẽ chết với nó. Một ngày mình chết không biết chết bao nhiêu lần, mình không thấy được bản mặt thật sự của tên phiền não đó.
Một nhận diện khác của các huynh đệ, ví dụ như đang nói về cha. Hôm nay, một vị có tình cảm sâu sắc với mẹ, mẹ mất thì lúc đó, tự nhiên cái thọ, tưởng, hành của mình, tức là sẽ suy tưởng về hình ảnh của mẹ, những lời nói xung quanh, những cảm giác lo lắng. Đó là gì, nhìn sâu xuống lớp thọ, tưởng, hành, thức là gì? Đức Phật gọi là thọ ưu, cảm thọ, lo lắng. Nhìn sâu xuống nữa, ra nổi không? Đó là ái, cái tâm luyến ái. Đức Phật nói rất rõ trong kinh Pāli tạng, ví dụ trong tỉnh Lâm Đồng trong huyện Bảo Lâm, Bảo Lộc, nghe tin có người bị tai nạn giao thông chết, khi nghe hoặc đọc tin tức, mình như thế nào, có khổ sở không, có bỏ ăn mất ngủ không? Nhưng nếu người đó là người thân thương nhất của mình thì lúc đó sao? Đó là gì? Ái. Chỗ này mình phải nhìn sâu xuống cái thọ, tưởng, hành, thức. Còn bình thường mình nghĩ là suy tưởng thôi, “tôi suy nghĩ, tôi nhớ mẹ”, chuyện đó bình thường. Nhìn sâu vô đó, cảm giác như thế nào, Pháp Danh? Lúc mình nhớ về mẹ, nghĩ tưởng nhất là tình thương của mình rất nhiều với mẹ, mẹ mất trong sự xót thương, khi đó cảm giác đó như thế nào, con có thể diễn tả được không?
Thầy Pháp Danh: Con kính bạch thầy, khi đó cảm giác của mình là những niềm vui, hân hoan. hay xúc động buồn vui mà trước đây trải qua với mẹ, nó hiện lên và trào dâng rất mãnh liệt
Sư phụ: Khi nó trào dâng mãnh liệt như vậy, Pháp Nhân có nhận diện cảm giác toàn thân, thấy nó nằm chỗ nào không?
Thầy Pháp Nhân: Con kính bạch thầy, đối với bản thân con, cảm giác toàn thân nó nằm chính diện nhất là ở trong lồng ngực của mình.
Sư phụ: Thấy không, thấy rõ không, nó có chỗ ở. Phiền não có chỗ ở, nó biểu hiện ra ở trên thân mình. Cho nên tất cả đều nằm ở trên thân mình, nằm ở trong cảm giác. Nếu mình nói đơn sơ, nhớ về mẹ thì chuyện đó rất bình thường, nhưng mình nhìn sâu xuống trong đó, thì đó là ái. Cái cảm giác này làm cho mình, có khi là rất xót xa, đau xót, khổ sở, nhớ nhung, có khi là tiếc thương, có những khi mình hối hận, những gì chưa làm được cho mẹ mình.. Tất cả những cái đó, các huynh đệ thấy không, từ cái luyến ái phát sanh ra cái cảm giác, từ cảm giác nó đẩy lên cái tưởng, suy tưởng, tưởng hành. Và chính mình khổ trong đó. Nhưng mình không biết tại sao lại có cảm giác này? Minh Tiến nhận thấy được không?
Thầy Minh Tiến: Con có nhận thấy được mấu chốt của vấn đề, vậy muốn dẹp cái tham ái này thì mình sẽ như lý tác ý, phải không thầy?
Sư phụ: Đúng vậy. Như lý tác ý và quán chiếu, giống như sư huynh Pháp Từ, từ từ thầy sẽ chia sẻ với các huynh đệ. Bây giờ Minh Thành sẽ phân tích những cái nhận diện của các huynh đệ, và huynh đệ sẽ vạch ra được những cái rất sâu sắc.
***
Cái nhận diện thứ hai của một huynh đệ khác là buồn ngủ quá lúc hồi đêm, một huynh khác thì đau. Buồn ngủ thì muốn đi ngủ, đau thì muốn nhanh nhanh được bung chân ra, đi kinh hành. Tất cả đó là gì? Là cái dục, và tham. Vì, giờ đó không phải giờ ngủ, giờ đó là giờ tu. Nên, nhìn sâu vô thì mình sẽ thấy, mình thấy cái muốn của mình rất bình thường, nhưng cái cảm giác, suy tưởng, hình bóng, lời nói đó.., cảm giác đó chính là động lực của dục và tham đẩy tới để phát sinh ra sự suy tưởng, mong muốn cảm giác đó. Nếu giờ đó là giờ ngủ, là đúng, nhưng giờ đó là giờ tu, giờ nghe pháp, hành trì. Cái gì nó khác cái đó, tức là không đúng thời. Thấy như vậy thì mình phải dùng như lý tác ý, dẹp phá nó, tẩy sạch, từ bỏ, diệt tận nó, làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Thì lúc đó là tinh tấn. Đức Phật nói trong kinh rất rõ, “Vị Tỳ-kheo khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà lúc đó có dục tầm, suy tư về tham dục khởi lên, suy tư về sân hận khởi lên, suy tư về hại khởi lên thì lập tức tẩy sạch, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, làm cho nó không còn hiện hữu nữa, giống như cây sala” , hay nói theo Việt Nam là cây cau, cây dừa chặt ngang, “thì như vậy, vị Tỳ-kheo nhiệt tâm tinh cần, tinh tấn trong giáo pháp của Như Lai.” Còn nếu mình nuôi dưỡng những cảm giác đó, tiếp tục tư tưởng, suy tưởng đó thì là lười biếng, giãi đãi, là thấp hèn, nhu nhược, yếu đuối, không dũng mãnh trong giáo pháp.
Một huynh đệ khác nhận diện, đang đi thiền hành, nghe ễnh ương, cóc, ếch kêu, không biết hình tướng nó nhỏ hay lớn, màu sắc ra sao.., đó là hướng ngoại, phóng tâm. Cái đó, nói sâu một chút, là hữu lậu. Tức là cái sự nhiễm, tâm mình luôn luôn muốn suy nghĩ, không muốn yên. Mình để ý, nói gần gần cho dễ hiểu, thà là làm cái này, cái kia, cái nọ chứ ngồi yên chịu không được. Các huynh đệ có thấy điều này không? Cho mình ngồi yên 3-4 tiếng đồng hồ, mình thấy dễ chịu hay là cho mình đi tung tăng, làm này làm kia mệt một chút, cái nào dễ chịu hơn? Đó là dục lậu. Tức là tâm mình luôn ở trong trạng thái muốn phải có cái này, cái kia, cái nọ; muốn phải suy nghĩ, suy tưởng, phải suy tư. Đó là một trạng thái nhiễm của tâm. Minh Thành ở trong thất phải chiến đấu với thứ này dữ lắm, nó không cho mình yên. Tới giờ ngồi thiền nó kêu “xuống đi kinh hành đi, nghe pháp đi.” Cái đó là còn tốt. Nó mà kêu xuống nằm ngủ hay gì khác đi thì đó là trạng thái hữu lậu. Nó luôn luôn len lỏi, tiềm phục, ẩn nấp cư trú trong những ngóc ngách, sâu sắc ở trong tâm mình mà mình không thấy. Ghê gớm không? Nó trốn sâu trong những góc sát, trong kẹt, chỗ bụi, đống củi, con rắn nó chui vô đó. Cái này không phải thường, thấy được tham, sân, si một cách rõ ràng, trọn vẹn thì người đó là Tu-đà-hoàn. Dẹp được tham, sân, si ở giai đoạn thứ nhất là quả vị thứ hai, là Nhất lai, chỉ còn trở lại đời có một lần nữa thôi. Dẹp tới giai đoạn hai là gần sạch hết, là Bất lai, giai đoạn thứ ba - Thánh quả. Dẹp sạch hết, không còn gì nữa, hoàn toàn trong sạch là quả thứ tư - A-la-hán.
Nói ví dụ rất rõ, bên thất Minh Thành đang ở, kiến nhiều lắm. Cái thau mình rửa chén, còn dính chút dầu hay mùi thức ăn là kiến bu đầy, hay trong nhà, rớt chút xíu bánh hay đồ ăn là nó bu đầy lại hết. Lúc đó, Minh Thành rửa sạch hết, không để một thứ gì dính dầu, thì lúc đó nó không vô. Ví dụ, có một hôm được cho miếng mít kho, khi múc ra tô, bị rớt một chút xíu mà mình không để ý. Một lát trở lại nhìn thì kiến bu vô, mình nhặt miếng mít kho nhỏ đó bỏ ra ngoài, rồi một lát kiến lại tiếp tục bu lại. Là do còn dính nước, lúc nãy là cái cái thôi, nhưng nước còn. Cho nên, mình phải lấy nước rửa cái dính, rửa cho sạch hết, không còn mùi nữa thì lúc đó kiến không bu vô, nếu không, nếu mình rửa sơ, còn mùi thì một lát kiến cũng bu nữa. Qua điều này cho mình thấy, sự tu tập, tẩy rửa tâm của mình cũng giống như vậy. Phát hiện ra miếng mít rớt, đó là mình thành tựu được cái trí thứ nhất, Thánh quả thứ nhất; mình bỏ miếng mít đó ra ngoài là quả thứ hai. Mình rửa cái đó là quả thứ ba; mình rửa tới lúc sạch hết, không còn gì hết, kiến không còn vô nữa, đó là quả thứ tư. Trước nay mình đâu thấy được tham, sân, si phát xuất chỗ nào đâu, phải không nếu không vạch mặt nó ra nãy giờ. Huynh đệ nhìn sâu vào thọ, tưởng, hành, thức thì mình sẽ thấy được nó cư trú, thấy rõ được nó ở chỗ nào ở trong thân mình. Bây giờ mới thấy được sự tu tập rõ ràng lắm. Những Thánh quả Đức Phật nói là tất cả chúng ta nếu tu đúng Chánh kiến này thì mình có thể thực hiện được, nhất là ở A lan nhã, núi rừng độc cư thiền định, có khả năng rất rõ trong tầm tay, chớ không phải là khó nếu mình tu đúng. Một khi nhiếp phục được dục và tham, giai đoạn thô thôi thì huynh đệ sẽ thấy hạnh phúc lạ kỳ lắm.
Trở lại vấn đề, từ từ mình sẽ học được bốn Thánh quả, trong kinh Đức Phật nói rất rõ. Trong những cái nhận diện, sâu sắc ở bên trong, huynh đệ thấy tiềm phục vấn đề gì? Dục và tham. Ở trong kinh tạng, Đức Phật hay nói rất rõ, nói về sắc và vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Thọ, vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ, và sự xuất ly khỏi thọ. Như thế nào là vị ngọt của sắc? Tất cả những gì phát sinh ra sự ham thích, vui vẻ, sung sướng ở trong sắc thì cái đó là vị ngọt của sắc. Do nó có vị ngọt này cho nên chúng sanh mới ham mê, nếu không có vị ngọt thì ai mà ham mê. Nếu đời chỉ toàn là khổ thì đâu có ai mê đời. Nhưng, trong đời này có vị ngọt, tuy nhiên vị ngọt này là tạm thời, rất ít, rất mong manh, chứ không phải là không có vị ngọt, không có vị ngọt thì làm sao người ta dám bỏ hết tất cả để đi theo tình yêu, tình cảm, tình ái, tình dục. Có, nhưng vị ngọt đó rất ngắn, rất mỏng, rất tạm thời. Mà, sự nguy hiểm có nó là gì? Là vô thường, biến hoại, là tan rã, đi tới chỗ tiêu vong, hoại diệt. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Tuổi trẻ sẽ trở thành già; sức khoẻ sẽ trở thành bệnh; sanh thì sẽ trở thành tử; tươi sẽ trở thành héo tàn. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Có cái gì mà không héo tàn, đây, những cành hoa mình thấy đây, nhìn thấy đẹp, nhưng một thời gian ngắn nữa thôi, nhưng cái lá này, nó hoại. Đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì? Là sự nhiếp phục được dục và tham ở trong sắc, đó là sự xuất ly khỏi sắc. Nhiếp phục dục tham nãy giờ nói là mình đang vạch mặt dục tham đó, nhiếp phục như thế nào thì một lát chúng ta sẽ quán chiếu. Người thấy rõ được ba cái này là người này dự lưu vào vòng trí huệ của Phật, của thánh nhân, nhập lưu, dự lưu. Thấy rõ. Đức Phật nói trí huệ rất đơn giản, mình phải thực tập bằng cả con tim, khối óc của mình, mình sẽ thấy được sự thật rất rõ. Như vậy sự xuất ly, sự vượt thoát ra khỏi sắc là gì? Là nhiếp phục được dục và tham ở trong sắc, cái ham muốn, cái đòi hỏi, cái khao khát ở trong đó. Bây giờ làm sao nhiếp phục dục và tham?
Phật tử: Kính bạch thầy, muốn nhiếp phục cái tham đó, là khi muốn cái đó, nhưng mình suy nghĩ, "cái đó không phải của mình, cái đó không phải sở hữu của mọi người.” Ví dụ vật đó nằm ngoài công cộng chứ không phải là tài sản của người ta, nhưng mình thấy cái đó đẹp, mình muốn cầm nó lên, mình nói, “nó không phải của mình”, và bỏ xuống. Thì đó là có thể dẹp được tánh tham của mình, là mình còn ham muốn. Như vậy thôi bỏ xuống.
Sư phụ: Cái đó mới nói bên ngoài thôi. Giờ nói sâu vô dục tham ở trong nội tâm của mình. Bây giờ ví dụ, làm sao ông có thể buông bỏ được vợ con, gia đình, nhà cửa để đi xuất gia?
Phật tử: Cái đó là muốn tìm con đường diệt trừ phiền não, đi tìm con đường giải thoát, chứ không ham muốn cái khổ cực trên đời này nữa, thấy cuộc đời này không có gì vui hết, toàn là chuyện buồn, khổ và tức giận thôi.
***
Cho nên, trở lại vấn đề là mình phải quán thân niệm xứ. Đó, huynh đệ thấy cái gốc nằm ngay chỗ Tứ niệm xứ. Ba mươi hai thể trược, lấy gì tham, có gì đáng để tham? Chín giai đoạn của một tử thi, lấy gì tham, có gì đáng để tham? Thường xuyên quán chiếu như vậy, rồi mình niệm tử, nhớ cái chết. Đức Phật dạy ở trong kinh cho các Tỳ-kheo niệm tử, “con rắn có thể làm cho ta chết, cơn gió độc có thể làm cho ta chết, con rít, con bò cạp có thể làm cho ta chết, mất mạng, và gần giống như chết.” Bây giờ, đủ thứ hết, nên mình quán như thế này, ở trong thất, ngày nào Minh Thành cũng điểm lại tai nạn giao thông. Một năm chết gần một chục ngàn người, hơn cả chiến tranh. Có mùng bốn, mùng năm thôi, mấy chục mạng người chết. Chỉ cần sơ sẩy tay lái, là chết. Không phải chết 1 người, 7 người, 10 người, thậm chí 20 mấy người. Có một chuyến xe bị cháy, không thể nhận dạng được ai là ai, người ta chụp hình ảnh để chiếc chiếu một đống, tro đen, nhận diện không được. Đâu chỉ mỗi tai nạn giao thông, chiến tranh, bệnh tật, ung thư, bao tử, như ông Năm, nằm trước mắt mình để cho mình quán chiếu, bệnh gan, như ba của Pháp Bảo.., cho mình quán chiếu. Rồi bất cứ trường hợp gì, như sảy chân cũng té chết. Cầu thang. Vô thang máy, mấy đứa trẻ nhỏ giỡn giỡn với nhau, đưa ra tới sân thượng, đi ra, lọt xuống ban công, rơi xuống mười mấy tầng, chết. Như vậy, mình phải niệm tử, mình phải đặt mình vào tất cả trường hợp, rất nhiều trường hợp mình có thể chết. Cuộc sống này mong manh lắm, tạm bợ và vô thường lắm, bất cứ lúc nào cái chết cũng có thể xảy ra.
Ví dụ, mình giãi đãi, buông lung, nghĩ, nếu mình chết thì sao? Nếu mình đi buổi tối ở đây, có con rắn mổ mình, mình chết, rồi sao? Tự nhiên cái giãi đãi của mình tan liền, sợ. Bất cứ cái gì cũng có thể làm cho mình chết. Bây giờ, cái chết rất dễ, cầm nhầm cái nón bảo hiểm thôi, đi ra là bị đâm chết; đậu xe trước cửa tiệm, ra vô khó, rồi xảy ra án mạng, tù chung thân. Dùng những chất nghiện ngập, nửa đêm về lục nồi, bà mẹ la “đi thì thôi, về nhà phá hoại, không biết làm được cái gì”. Lên cắt cổ mẹ chết, là con ruột đó. Những cái đó nhan nhãn trước mắt để mình làm những đề tài quán chiếu, thống thiết, mãnh liệt, thức tỉnh về vô thường; không thể lơ là, qua ngày hết tháng một cách buông lung. Tinh tấn, nỗ lực, đừng để cho phóng dật. Đó là những điều để mình thức tỉnh. Phân tích ra 32 thể trược, quán chiếu sâu vô 9 giai đoạn của một tử thi.., tự nhiên cái đó phát sanh ra những cảm giác đánh tan cảm giác lười biếng, giải đãi, tham ái, tham dục, phóng túng, phóng dật. Phải lấy cái này trị cái kia mới được, chứ còn mình ngồi trơ trơ ra, không động đậy thì không có gì hết.
Đó là những pháp Phật dạy mình. Các huynh đệ có thấy công năng của thân niệm xứ chưa? Hiểu tại sao phải làm vậy chưa? Đó, chỉ có cái đó mới bớt cái dục tham từ từ, rồi nhiếp phục cái dục tham, tới lúc mình đoạn tận, dứt sạch luôn, thì mình thành công. Thánh quả là gì? Là thành quả của người tu thôi, chứ có gì đâu. Tứ thánh quả là bốn thành quả của người tu. Mình trồng cây thì phải có trái, tu mà nghe tới Thánh quả thì mình sợ. Bốn Thánh quả là bốn thành quả của một người tu chân chính, đúng pháp, chứ đâu có gì. Điều này rất quan trọng.
Các huynh đệ phát biểu cảm nhận của mình qua phương pháp Đức Phật dạy quán chiếu về ngũ uẩn để mình nhiếp phục được dục và tham, sau đó mình sẽ đi kinh hành.
Phật tử:
Kính bạch thầy, bấy lâu nay tu hành để con nhìn thấy được tham dục, ngũ uẩn nhưng không biết phương pháp như thầy đã nói từ hôm qua tới nay, thiền định để nhìn thấy hoạt động của ngũ uẩn. Chỉ biết ngũ uẩn là như vậy, như vậy. Bây giờ con thấy mừng, thấy sáng ra, thấy được nó thì thấy được nguồn gốc của dục mình từ đâu, ham muốn mình từ đâu. Mục đích tu tập lúc trước của con là con tìm cách biết cái cảm thọ để bỏ đi cái phiền não, con chỉ muốn giải trừ cái phiền não thôi, để mình không vương vấn, và tìm con đường giải thoát. Bây giờ mới thấy, chính cái phiền não do cảm xúc tạo ra, sanh ra, nếu chú trọng vào cảm xúc thì có thể thấy được những sự ham muốn trong con người mình nhiều hơn, rõ hơn. Con thấy hôm nay con rất may mắn là được gặp,biết được cái căn cội của phiền não.
Sư phụ: Rất là tốt. Nếu khóa tu này chú tu tinh tấn thì sau khóa tu chú sẽ thực hành được ý nguyện xuất gia của chú. Mấy huynh đệ phát biểu đi.
Sư thầy:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên thầy, quý thầy và toàn thể đại chúng. Trước đây những bài pháp thầy giảng ở trường Trung cấp Phật học, khi con nghe về ngũ uẩn, lúc đó trong tâm con có một ý nghĩ là sự ngũ uẩn, cái bản ngã, cái tôi của mình có liên quan tới cái ngũ uẩn của mình. Lúc đó sự nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức của con chưa được rõ ràng lắm. Đến khi thầy mời cô Chơn Tín Toàn về chia sẻ, cái buổi đầu tiên đó cộng thêm buổi thứ hai, và giờ với khoá tu trên rừng này, thầy chia sẻ rõ ràng hơn cho đại chúng về nhận diện ngũ uẩn, con thấy rõ ràng để mình phá được bản ngã đó, bây giờ con bắt đầu mấp mé thấy được cánh cửa trên con đường để mình đi đến vô ngã. Tại vì con đường tu, một khi bước vào được cánh cửa vô ngã thì con đường an lạc thảnh thơi sẽ tiếp theo đó. Dạ, con chỉ có suy nghĩ như vậy.
Sư phụ: Tốt.
Sư thầy:
Thưa thầy, đối với con, trước đây con tụng kinh Bát Nhã, hôm nào cũng tụng. Đến bây giờ, đi học để thi, chưa được đào sâu về cái pháp quán sát ngũ uẩn này, con cảm thấy mình may mắn là kịp tập theo pháp hành này, giống như Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát ngày xưa, quán chiếu ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Theo con hiểu, cái khổ về tâm quan trong hơn, mục tiêu mình tu tập về tâm linh, cái khổ do vô minh nghiêm trọng hơn cái khổ về thân xác. Thế nhưng, tất nhiên qua hết hạn khổ ách theo con hiểu là giải quyết được cả nỗi khổ vô minh lẫn nỗi khổ của bệnh tật về thân xác. Con thấy mình rất may mắn là đang được thực hành theo pháp hành giống như Ngài Quán Tự Tại ngày xưa. Mô Phật.
Thầy Pháp Bảo:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, các quý thầy và đại chúng. Thực sự cảm xúc của con lúc này rất vui. Trong những năm vừa qua, khoảng năm năm trở lại đây, con hay chạy theo những hình sắc, những đối tượng tham dục, tham ái, những dục tưởng bên ngoài. Đầu năm nay, sư phụ có mời có mời cô Chơn Tín Toàn, và trên sư phụ cũng có chỉ dạy, hướng dẫn cho tụi con về những phương pháp thực hành, thực tập về Tứ niệm xứ, về quán thân bất tịnh, thân vô thường.., lúc đó trong thân tâm con như đã tìm được con đường để chuyển hóa nội tâm, những cái mong mà nhiều năm tháng đã chạy theo. Hôm trước, con cũng có gọi điện về hỏi thăm gia đình, mẹ con hỏi tu học như thế nào, con nói con đã tìm ra được con đường để đi, “Thằng Pháp Bảo năm trước đã chết rồi, thằng Pháp Bảo năm nay mới chính là thằng Pháp Bảo.” Lúc đó con chỉ nói vậy, hôm nay trên sư phụ đã chỉ rõ ra những gì mà con đang ấp ủ. Con cũng xin tri ân trên sư phụ đã không ngại khổ cực để tìmra được cho chúng con con đường đi đến sự an vui trong nội tâm cũng như những đường lối, phá bỏ được những phiền não, tham dục, dục tưởng, cái tham ái, luyến ái... của tình trần.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp Minh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy và toàn thể đại chúng. Đức Phật đã nói ra ba nguyên lý vĩ đại của toàn thể vũ trụ này là vô thường, khổ và vô ngã. Chúng ta ngày xưa cứ nói vô thường, nhưng, đúng là khi thực hành, nhìn nhận quán xét về năm uẩn này thì mình mới thấy rõ sự vô thường. Vô thường mình nhìn thấy trong từng tâm niệm, trong từng suy nghĩ, chính ngay nơi thân thể của mình, sự vận hành của danh và sắc. Khi thực hành nhiều như thầy nói, càng ngày mình càng thấy rõ được tâm vô thường và hoàn cảnh vô thường. Để chứng ngộ được cái vô thường này không có gì nhanh hơn là mình quán chiếu chính cái ngũ uẩn. Sâu sắc hơn nữa là mình cảm thấy sự vô thường đến, đi rất nhanh. Ban đầu chánh niệm của mình chưa được mạnh thì cảm nhận rất từ từ, thế nhưng càng ngày mình càng phát hiện sâu thêm những dòng tư tưởng của mình, nó đến, đi rất nhiều. Như một lúc ngồi thiền, có thể có hàng chục, hàng trăm cái tư tưởng. Rồi cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, không khổ không lạc, rất nhiều, nó đến, đi rất nhanh chóng chứ không phải cùng một lúc đến; Không chỉ cảm thọ lạc không, nó có cảm khổ, và không thấy khổ cũng không thấy lạc. Nên con thấy con đường mình đi này rất khả quan, quan trọng là mình phải tinh tấn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Pháp Thủy, nãy giờ thọ tưởng hành thức ra sao?
Thầy Pháp Thủy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch sư phụ, và các quý thầy và các anh em huynh đệ. Nãy giờ ngồi nghe thầy giảng pháp, cái sắc của con nghe thầy giảng pháp, thọ của con cảm thấy rất hạnh phúc, cái tưởng của con đã tưởng rất nhiều hình bóng.
Sư phụ: Nói rõ hình bóng nào, hình bóng nào hiện rõ nhất, có tưởng chứng quả không?
Thầy Pháp Thủy: Trong tâm con là tưởng ra quả tim của con, chỗ tim đập nhiều lắm. Cái hành nói quả tim đang đập, cái biết đang biết tiếng chim kêu, gió v.v.., biết nhiều thứ lắm thầy.
Sư phụ: Cảm nhận sự tu học thế nào?
Thầy Pháp Thủy:
Mô Phật, kính bạch thầy, từ ngày thầy lên nhập thất, tới hôm nay con học được rất nhiều về thầy. Nhận diện được năm uẩn cũng không chính xác gì lắm, nhưng con cũng đang thực hành trên bước đường đó và đang áp dụng trong việc tu tập của mình. Con cũng biết được nguyên nhân, tại sao cái vô ngã của mình là ảo tưởng mà mình không biết tại sao, và không biết cách phá thế nào. Hôm nay, con cũng đã biết cách nhận diện được nó khi đối duyên xúc cảnh, con áp dụng rất hiệu quả. Con cũng xin tri ân lên thầy, cảm ơn thầy rất nhiều, con cũng cố gắng áp dụng những bài học đã học được, sẽ cố gắng tinh tấn tu hành để không phụ lòng của sư phụ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật./.