Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 9 - Quán Chiếu Khổ Thọ

2026-03-03 00:55:30
Kinh Nikāya Giảng Giải

Làm An Tâm Người Bệnh 9

Quán Chiếu Khổ Thọ

Thích Minh Thành

Ngày 07 tháng 09 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tác ý hỷ lạc – biết ơn PAGEREF _Toc83977152 \h 1

II. Quán chiếu nỗi khổ thế gian PAGEREF _Toc83977153 \h 1

III. Tác ý nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc83977154 \h 5

I. Tác ý hỷ lạc – biết ơn

Kính lễ ân đức Thế Tôn, kính lễ ân đức Chánh Pháp, kính lễ ân đức chúng tăng, kính lễ ân đức đạo sư, kính lễ ân đức Thánh giới.

Kính bạch chư tăng ni và quý Phật tử, buổi sáng thức dậy, mình tác ý cảm ơn sinh mạng này vì còn được thức dậy. Cảm ơn hơi thở này còn tuần hoàn, vào ra; cảm ơn đôi mắt, đôi tai này còn có thể thấy nghe, học pháp, hành pháp. Cảm ơn một ngày mới mình sẽ tích tập được thêm những thiện pháp, thánh pháp. Cảm ơn những pháp lành trong quá khứ mà mình đã tu tập nên ngày này giờ này mình mới có thân thể, nhận thức này, sự tu học Cháp Pháp này. Cảm ơn những thiện pháp trong hiện tại, pháp lành hiện giờ đã giúp mình tăng thượng trong tương lai.

Mình nguyện sống một ngày cho giá trị, xứng đáng, không hoang phí, uổng phí để rồi sau này hối hận. Buổi sáng ngủ thức dậy mình tác ý như vậy, khi nằm trên giường mình rà cảm giác toàn thân rồi tác ý diệt dục, trải tâm từ rồi ngồi dậy, đánh răng, rửa mặt rồi tác ý như vậy. Cảm ơn hơi thở này, sinh mạng này còn, chưa mất để mình tích tụ thêm các thiện pháp, công đức. Khi đi từ tăng đường, ni xá qua, mỗi bước chân mình nên tác ý.

Hạnh phúc quá, phước lành thay, lợi đắc thay cho chúng ta. Mỗi một bước đi mình đều tác ý. Giờ này người ta đang say sưa, mê ngủ, mình thức tỉnh, tỉnh giác trong Chánh Niệm, tu tập. Thức tỉnh giữa vùng mê, tinh cần trong phóng dật. Người trí giống như ngựa phi, bỏ lại sau lưng con ngựa yếu hèn. Tác ý như vậy khiến việc đi tu của mình vui, lên tụng kinh hân hoan, hỷ lạc, ngồi thiền sung sướng, hạnh phúc, có hương vị.

Nếu không biết tác ý, mình làm không có hương vị, hứng thú, vị ngọt. Phải biết tác ý, vui quá, hạnh phúc quá, lợi đắc, lợi ích, phước lành, phước báu, công đức thay cho ta mỗi buổi sáng được lễ Pháp Bảo, được ngồi thiền, được đọc những lời tối thượng, giác ngộ, được nghe những lời vi diệu, cao thượng nhất trong tất cả âm thanh của tam thiên, đại thiên thế giới. Mình tác ý như vậy đó.

II. Quán chiếu nỗi khổ thế gian

Chúng ta tiếp tục làm an tâm người bệnh, quán chiếu về khổ thọ. Hôm trước chúng ta đã quán chiếu về lạc thọ rồi. Người tu sống Chánh Niệm, tỉnh giác, không buông lung, phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, khổ thọ khởi lên, vị ấy biết bằng trí tuệ như sau: “Cảm giác đau khổ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ là có duyên, không phải không có duyên, do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, là thứ làm ra, hữu vi. Do duyên sanh, do duyên thân khởi lên, duyên này là vô thường, hữu vi. Thời khổ thọ khởi lên, làm sao thường trú được”.

Cảm giác khổ này từ nơi thân, mà thân lại là thứ vô thường thì cảm giác khổ này làm sao thường được? “Vị ấy an trú trong sự quán chiếu về tính chất vô thường đối với thân thể này và đối với khổ thọ, đối với cảm giác khổ kia. Vị ấy an trú, quán chiếu tính chất tiêu vong của thân xác này, của cảm giác khổ kia. Vị ấy an trú tính chất không đáng để tham muốn của thân xác này, của cảm giác khổ kia. Vị ấy an trú, quán chiếu tính chất dứt hết, đoạn diệt, tính chất cát bụi, rỗng không của thân xác này và tính chất sương khói của cảm giác đau khổ kia. Vị ấy an trú, quán sự từ bỏ thân xác này và những cảm giác khó chịu, thống khổ kia. Do vị ấy trú vào sự quán chiếu vô thường. Do vị ấy trú vào sự quán chiếu tiêu vong. Do vị ấy an trú vào sự quán chiếu ly tham. Do vị ấy an trú vào sự quán chiếu đoạn diệt. Do vị ấy an trú và sự quán chiếu từ bỏ đối với thân xác này và đối với cảm giác đau khổ kia nên sân tùy miên, những cảm xúc bực bội, sân hận, miên man, tiềm ẩn trong thân tâm vị ấy, đi đến đoạn diệt, vứt hết”.

Do vị ấy an trú, quán chiếu như vậy nên những cảm giác sân hận miên man đối với thân và đối với những cảm giác khổ kia được chấm dứt hoàn toàn, đoạn diệt. Bởi vì phần quán về ba cảm thọ này cực kỳ quan trọng trong sự tu nên chúng ta tìm hiểu kỹ. Tiếp theo đây chúng ta quán chiếu về khổ thọ, cảm giác bực, khó chịu. Cảm giác khó chịu này sở dĩ có từ nơi thân, do nhân duyên sanh chứ không phải tự nhiên sanh. Từ thân này, nên thân này rất mệt, mình cảm ơn có nó để mà tu. Nhưng bây giờ nhìn sâu vào bản chất của nó đặng trừ tham ái chứ không mâu thuẫn gì với nhau.

Đừng nói đâu xa vời, ngay ở trong thất mà đủ thứ chuyện xảy ra. Lâu lâu có con trùn bò vô mình cũng không để ý, hay đi kinh hành nhìn thấy kiến bu làm con trùn quằn quại, giãy giụa, đau đớn, thống khổ, kiến bu, rỉa. Có khi mình cứu được, có khi mình nhìn thấy thì nó đã chết rồi. Những con nhái lâu lâu cũng nhảy vô, rồi trở thành đại tiệc của mấy con kiến, nó rỉa, ăn cho đến khi còn lại bộ xương.

Bữa đó Minh Thành đang đi thiền hành quanh thất, nghe tiếng chim kêu ở trong thất rất lạ, thảm thiết, nghe rất thương. Mình thấy tiếng kêu không lảnh lót như buổi sáng mà tiếng lạ nên đi tìm, một hồi lâu thấy nó nằm dưới góc của chiếc ghế tre. Lúc đầu tưởng nó mệt nên móc ra, ai ngờ đâu kiến lửa bu đầy bên dưới, cắn nó, bấu thiệt cứng mình gỡ không ra. Nó đau đớn kêu những tiếng rất tội nghiệp, mình nghe thấy lạ nên đi tìm, cuối cùng phát hiện nó ở dưới ghế mới nhìn thấy kiến vàng lớn, nó bám dính con chim. Nếu mình nắm gỡ ra mạnh thì sợ con kiến chết, còn con chim thì kêu tiếng thảm thiết, xót xa vì đau đớn.

Gỡ ra rồi một lát mình nghĩ nó mệt nên cho uống nước, nó uống rất nhiều. Minh Thành để nó nằm trong nước một lát cho nó khỏe, ai ngờ đâu nó yếu dần, chịu không nổi. Cuối cùng nó tắt thở, cả ngày hôm đó Minh Thành cảm thấy xót xa, đi ra tới đây giảng mà cảm thọ trong lòng không tan, vì thấy khổ quá. Mình cứu con này nhiều khi làm con kia chết, gỡ mạnh thì kiến chết, không gỡ thì chim chết, đau đớn.

Chỉ mới nói ở trong thất mà thấy trùn, chim, kiến, nhái, ễnh ương, lâu lâu trên la phong không biết rắn hay chuột cắn nhau chạy rầm rầm, lâu lâu nhìn thấy chuột bị mèo hay con gì đó ăn, máu chảy rất nhiều. Nó nằm cách xa thất nên để xem như thế nào, nhưng rồi thấy một đống giòi, chỉ còn xương. Muỗi, gián, chuột, kiến, rắn… Đang nằm trên võng đọc kinh, nhìn thấy bóng trắng dài nên Minh Thành bước lại nhìn thấy con rắn dài một thước mấy bò trên cành trúc.

Như vậy, chúng ta thấy đời sống của súc sanh nó xâu xé nhau. Đó mới chỉ là những con vật nhỏ, còn các con mãnh thú nó xé xác, nhai nuốt nhau. Sự sống của nó ở trên sự chết của những con vật khác, xâu xé, ăn nuốt bằng máu nóng. Tất cả cũng vì thân này. Ngay cả khi mình ở một chỗ, không đi đâu mà còn thấy vậy, cho nên mình quán chiếu trên thân này, rất mệt, phải sử dụng nó một cách thông minh. Mình sử dụng không thông minh sẽ gặp nạn trong thân, tai nạn rất lớn, đại nạn.

Người ta thường nghĩ rằng tai nạn là ở bên ngoài, nhưng không biết rằng đại nạn là thân này. Nỗi khổ lớn nhất trong tất cả nỗi khổ là khổ mà không biết mình khổ. Cho nên chúng ta học “Tương Ưng sự thật” một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt của khổ và con đường để chấm dứt khổ đau. Đó là nỗi khổ lớn nhất, thảm nhất, đau thương nhất, đau lòng nhất cho chúng ta, khổ mà không biết mình khổ.

Vì thân này, chúng ta đi mưu sinh, kiếm ăn ngày mấy bữa mà thấy thật nhọc nhằn. Đâu phải dừng lại ở đó, phải chen đua, hơn thua, thua người mình đâu có chịu, người thua mới vừa, chứ đâu phải kiếm ăn là xong. Mình nói ra điều gì cũng muốn hơn, thấy người ta hơn mình ganh tỵ, mình phải hơn mới được. Mà không hơn được, thua kém thì mình khổ, hơn được thì người ta ghét. Giàu nghèo, bao nhiêu những thứ để mình quán chiếu.

Những cảm giác khổ sanh – khổ của sự sanh, để mình có mặt trên đời này, biết bao người hy sinh, chín tháng mười ngày sinh ra mình, rồi nuôi dạy rồi mình lại làm khổ người sanh mình ra. Cho nên Đức Thế Tôn nói: “người hiếu thảo giống như đất trong móng tay, người bất hiếu nhiều như lừa đảo địa cầu”, “người biết từ bỏ trộm cắp ít như mấy giọt nước, đọng lại trên lá trúc khi nhúng xuống đại dương, người trộm cắp nhiều như nước bốn biển”.

(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -

Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Đầu Biển)

Tự mình làm cho mình khổ, rồi đói khổ. Nói một việc đơn giản như đói bụng, khát nước có khổ không? Mà tất cả những điều đó đặt nền tảng trên thân này. Tại sao có đói, khát? Vì có bụng. Tại sao có bước đi, tới lui? Vì có chân. Vậy tại sao có lời này lời kia? Vì có cái miệng. Thành ra tất cả đều nằm ở chỗ “có thân”, mà sâu sắc hơn nữa là sự chấp thủ, nắm chắc vào thân này. Có thân nên khổ vì thân.

Chúng ta thấy không, trong thời buổi hiện tại này xảy ra nhiều chuyện hết sức đau lòng. Chỉ nhắc đeo khẩu trang thôi mà nhảy xuống xăng tay áo lên, bất kể công an hay cảnh sát, chửi mắng, đánh nhau. Mình thấy khổ không? Đâu phải khổ thân mà còn khổ vì có sân. Khổ cảm giác tức giận, bản ngã, ta đây, vênh váo, hống hách, sao dám kêu tôi, đó là quyền của tôi, nói không có bệnh, không có virus nào, dù đại dịch xảy ra trên toàn cầu mà vẫn vô minh, ngu si, mê muội. Toàn những đau khổ, làm khổ mình, làm khổ cho nhau, khổ cho người.

Chỉ vì một chuyện nhỏ là người ta nhắc mà đánh nhau mẻ đầu chảy máu, rồi vô tù, ngồi trong đó hối tiếc, hối hận, muộn màng, mười tám năm, ba mươi năm, thậm chí chung thân, chỉ vì một tiếng nhắc nhở đó. Cho nên chúng ta thấy sự quan trọng trong sự tu của mình, việc giảm khổ, bớt khổ là sự an tịnh, lắng dịu của những cảm thọ. Điều này rất quang trọng, cứu khổ chúng sanh.

Trong cảm xúc của mình mà an tịnh, lắng dịu thì đâu có những ngôn ngữ, hành vi như vậy, đâu có những sân hận bộc phát, nổi loạn như vậy nếu mình có sự thực tập an tịnh, lắng dịu thường xuyên. Chính vì không an tịnh, lắng dịu, cảm thọ không dễ chịu, không tu tập đó nên mới bộc phát, nổi loạn, bùng phát. Và những khi bùng phát như vậy, hậu quả phải lãnh lấy.

III. Tác ý nhiếp phục cảm thọ

Biết bao nhiêu nỗi khổ ở trên đời, biết bao nhiêu? Mình chiêm nghiệm những điều đó để thấy ngao ngán với cảm thọ sân, bức xúc, bực bội này. Mình thấy ngao ngán, nhàm chán, ghê rợn, rùng rợn, chán ngắt, chán ngán, chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê đối với cảm thọ sân, cảm thọ khó chịu, bức xúc. Mình không ưa thích nó, không muốn nó hiện hữu trong thân tâm mình, đẩy nó, đuổi nó, quăng nó, vứt nó ra khỏi thân tâm mình. Thấy sao mà chán nó, ngao ngán nó, đau khổ với nó quá rồi, mày hành hạ ta như vậy là đủ rồi.

Những cảm thọ bức xúc, bực bội, sân hận, điên cuồng, nổi loạn. Không chỉ là cảm thọ sân mà còn dục ái, nó hành hạ mình khổ không? Bức xúc ở bên trong, đứng ngồi không yên, mình mới nhìn thấy, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Phải nhìn sâu vào bên trong như vậy, phàm hễ có cảm thọ gì đều nằm trong đau khổ hết.

Đối với cảm thọ vui mình còn quán, thấy ngán ngán nên với cảm thọ khổ mình dễ tu. Mỗi lần sanh khởi bản ngã bên trong thấy thật mệt mỏi. Tại sao tối ngày cứ hơn thua, đúng sai, tranh giành hoài? Thật mệt mỏi, chán chường, tối ngày cứ thúc giục, khao khát, thèm thuồng hoài, không ở yên. Ở yên không chịu, đòi cái này, cái kia, hỏi cái nọ, muốn cái khác, thúc giục. Ngươi làm ơn an tịnh, lắng dịu, tan biến hoàn toàn đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai nữa.

Ta mệt với ngươi tới đây là đủ rồi, ta mệt mỏi với ngươi vô lượng vô biên kiếp rồi, ngươi đừng hành hạ, đày đọa ta nữa. Hãy an tịnh, lắng dịu, tan biến hoàn toàn ra khỏi thân tâm ta. Chúng ta hãy quán thử một cảm giác bức xúc lên rồi, ai là người khổ nhất? Mình nổi cơn giận lên ai là người khổ trước, cảm giác đó có dễ chịu không? Nó bức xúc, nóng bức, nhiệt não thiêu đốt.

“Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tim gan trong giận sân”

Hở một chút bực, hở một chút khó chịu, bức xúc, nóng bức, nhiệt não lên, ngày đêm thiêu đốt, hở một chút là bản ngã, muốn hơn thua, hở một chút là sủa, muốn mổ, nhả nọc độc ra. Mình thấy nhàm chán, ngao ngán với những cảm thọ sân hận, bực bội, bức xúc này, nhìn sâu vô bên trong mà thấy ngán tới cổ. Nhìn vào những cảm thọ đó mà nói chuyện với nó, dạy dỗ, huấn luyện nó.

Mình quán những cảm thọ này là vô thường, chỉ là khói thôi, sẽ tan biến, không nắm bắt được, hơi đâu mà mình giữ những khí độc, hơi độc, chất độc đó trong tim gan, thân tâm mình. Cho nên, mình quán tính chất vô thường của những cảm giác khó chịu này. Thậm chí sự đau đớn, mệt mỏi trong cơ thể mình cũng phải quán, thứ này là vô thường, khói sương, rồi cũng tan biến. Sự mỏi mệt, buồn ngủ, hay đau chân khi ngồi thiền, những sự khó chịu trong đời sống, trong tu, trong học, trong tiếp xúc, trong công quả.

Mình nhiếp phục những cảm giác khó chịu đó, những cảm giác ở trong nhà hoài không đi ra đường được hai ba tháng nay. Hóa giải, giải phá nó, những cảm giác này là vô thường, có gì đâu, đừng đi theo sự thúc giục của nó. Quán chiếu tính chất vô thường, tiêu vong, cảm giác khổ, bức xúc khó chịu này sẽ tan biến, cơn giận này sẽ tiêu vong, bản ngã, cảm giác này sẽ hoại diệt. Cảm giác này không đáng để mình cất giữ, chất chứa, nên từ bỏ, chấm dứt một cách hoàn toàn. Phải quăng nó ra, bỏ nó ra, vứt nó ra.

Quán vô thường đối với cảm giác bức xúc này, quán tiêu vong đối với cảm giác khó chịu này, quán rời bỏ sự tham muốn đối với cảm giác khổ thọ này, quán sự đoạn diệt đối với cảm giác bực bội, ta đây, bức xúc, quán từ bỏ nó, buông bỏ nó, xả bỏ nó, quăng bỏ nó, thứ ác độc này. Thấy nói qua nói lại một chút, vậy mà chạy về nhà, cầm vũ khí lại, rồi xảy ra chuyện lớn, chúng ta thấy dễ sợ không, ác độc không? Cảm giác sân hận thúc giục bên trong, nói như vậy mà chưa hả giận, muốn phải làm cho thẳng tay, hả dạ nó. Xong rồi ai lãnh lấy hậu quả, ác nghiệp? Nó ác độc như vậy đó.

Cho nên, nỗi khổ lớn nhất trong tất cả nỗi khổ là khổ mà không biết mình khổ. Mình chất chứa những thứ khổ trong thân tâm mình mà không biết, tưởng đâu khổ ở bên ngoài, tai bay họa gửi, trời ban, thần phạt, người làm. Mình không biết rằng nó nằm trong cảm thọ, gốc rễ của nó. Bị một cảm thọ bực bội khó chịu, ta đây này rồi khi sanh khởi lên sẽ trói buộc trong cảm thọ đó, nên cơn giận không dễ gì tiêu tan. Dù mình đã bỏ qua nhưng nó nằm đó, thùy miên ở đó.

Chính vì vậy, nó nằm đó, lâu lâu bỏ thêm vài khúc củi vô, lâu lâu bỏ thêm vài khúc cây. Bất thình lình bữa nào đó có chất bắt cháy ở gần đó, nó bùng ngọn lửa lên. Chính vì vậy, mình không dễ gì xóa được cơn giận, vì mình không quán vô thường, tiêu vong, ly tham đoạn diệt, từ bỏ. Mà không quán như vậy, nó cứ tích tụ lại. Ở trên nó tích tụ dục tham, dễ chịu, khoan khoái, dưới này tích tụ sân, nhiệt não, bực bội, nóng bức, thù hằn.

Thậm chí thù với nhau năm trăm đời, rồi cứ đi theo nhau như vậy để trả mối thù hận đó, một ngàn kiếp, năm trăm đời, vì chất chứa những cảm thọ sân hận đó. Như vậy không giải thoát được, yêu và hận, bên trên là cảm giác dễ chịu, chất chứa vô, dưới này là cảm giác khó chịu tích lũy. Không thoát ra được hai điều đó, thương và ghét, dễ chịu và khó chịu, yêu và hận.

Cho nên, mình phải ý thức sâu sắc, đừng chất củi vào nữa, không thảy vô ngọn lửa của cảm thọ sân, bức xúc, mình không châm dầu, không bỏ củi vô, không chất chứa nữa mà mình dập tắt nó, rút bớt củi ra. Không chất chứa, nuôi dưỡng, không chấp nhận, tích lũy, tăng trưởng, làm cho nó giảm thiểu, chấm dứt, đoạn diệt, tiêu vong, từ bỏ nó.

Khi rảnh rỗi, mình đừng làm nó sanh khởi, nhất là những cảm thọ đó, con nguyện từ bỏ, đoạn diệt, diệt tận, chấm dứt cảm thọ này một cách hoàn toàn cảm thọ bực bội này. Nhớ nghĩ về cảm thọ này, con nguyện từ bỏ, chấm dứt, triệt tiêu, đoạn diệt, tẩy sạch, dứt trừ vĩnh viễn và mãi mãi, tan biến hoàn toàn. Sử dụng năm pháp quán này, quán vô thường, tiêu vong, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ đối với cảm thọ bức xúc, nhiệt não, những cảm thọ đưa đến khổ đau. Đây là “Khổ tập Thánh đế”.

Những thứ đó là con đường dẫn đến khổ đau. Và chúng ta quán đoạn diệt, từ bỏ, ly tham, chấm dứt, tiêu vong là đang đi trên khổ diệt đạo Thánh đế - con đường diệt khổ. Hôm trước là con đường hạnh phúc, bây giờ là con đường diệt khổ, nó đều liên hệ với nhau hết. Những thứ này làm ra khổ, mình quán để diệt tận những thứ này là mình đang diệt khổ - diệt khổ chi đạo, là khổ diệt đạo Thánh đế, con đường tiêu diệt khổ đau của các bậc Thánh chứng ngộ trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ngày nào còn những cảm thọ này là còn khổ, không thể sai khác được, đây là sự thật thiên thu, vạn đại. Còn chất chứa những cảm thọ khó chịu, bực dọc, bức xúc, ta đây, hơn thua, tranh đấu là còn khổ, vĩnh viễn và mãi mãi, không có ngày thoát khổ. Chúng ta thấy lên tới trên chư thiên, vua Trời rồi là phước đức cỡ nào, tu đúng tâm vô lượng chứng đắc, biết bao nhiêu những phước báu, công đức nhưng cảm giác sân hận, bản ngã chưa diệt thì còn chiến đấu với A-tu-la, còn đánh nhau.

Rồi những vị thần, thiên thần, địa thần, đừng nói chi trong loài ngạ quỷ, ma, yêu, tinh… rất nhiều vạn phước chúng sanh mà còn những cảm xúc này thì còn đau khổ. Còn vừa, đau khổ vừa; còn ít đau khổ ít; hết rồi thì hết đau khổ, mình muốn chất chứa hay từ bỏ, có nguyện từ bỏ mỗi ngày không? Phải phát nguyện, khi sanh khởi lên, tự nói cảm thấy chán mày quá, tiêu vong đi, diệt tận, hoại diệt, tan biến đi. Ta nguyện từ bỏ những thứ ác độc, đau khổ này.

Đó mới là đại phát nguyện, đại thệ nguyện, tối thượng nguyện, vô thượng nguyện, Thánh nguyện – sự mong muốn của bậc Thánh, Thánh cầu – sự mong cầu của bậc Thánh. Đó là tối thượng kinh, khi nó sanh khởi lên, mình thấy nhàm chán, hãy diệt tận, tiêu vong đi, tan biến hoàn toàn, vĩnh viễn khỏi tâm ta đi, thứ ác độc này, ngu si này, những cảm thọ ngu này, diệt tận hoàn toàn đi, tan biến hoàn toàn đi. Ta nguyện từ bỏ một cách hoàn toàn, triệt để, tẩy sạch, không còn sót lại một chút nào, không dư tàn, hãy diệt đi.

“Sân thùy miên đối với cảm giác khó chịu, khổ thọ đã được đoạn diệt”. Như vậy mới đi tới diệt, mình hướng đến sự đoạn diệt, làm mọi thứ cho nó diệt thì nó phải đi đến chỗ diệt, chấm dứt. Còn mình hoàn toàn không thấy, không biết, không để ý gì mà mình chất chứa, tích lũy, yêu thương nó, nâng niu, chìu chuộng, cho nó tăng trưởng, phát triển, làm sao nó diệt. Chúng ta thấy không, không có Chánh Kiến, làm sao tu tới thành tựu, diệt tận tham, sân, si? Rõ ràng như vậy, không thấy nó, không biết nó, nó vận hành như thế nào mà mình nhận tham, sân làm bạn.

Nhận tham, sân làm bạn là mình ưa, khoái, thích, làm thân với nó cho nên khổ đau dài dài. Mà bây giờ mình hướng tới sự đề phòng, tiêu diệt, từ bỏ nó. Mình luôn thực tập điều đó, sẽ đến một lúc nhiếp phục, chế ngự và diệt tận nó. Như vậy, Thánh pháp mới có khả năng diệt tận tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã. Nếu không phải là Thánh pháp, không có khả năng diệt tận, dù cho có làm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là để giảm bớt hay yên lặng, lắng một chút thôi.

Còn nó nằm đó, “do vị ấy an trú, quán chiếu về tính chất vô thường” của cảm giác khó chịu, sân hận, “do vị ấy an trú, quán chiếu về tính chất tiêu vong” của cảm giác sân hận, khó chịu, bức xúc đó, “do vị ấy an trú, quán chiếu vào tính chất không đáng để ham muốn”, để cất giữ cảm giác khó chịu đó, “do vị ấy an trú, quán chiếu tính chất tiêu diệt, dứt hết, đoạn diệt” của cảm giác sân, bản ngã đó, “do vị ấy an trú, quán chiếu tính chất từ bỏ của cảm giác đó” nên sân tùy miên đối với thân, khổ thọ được đoạn diệt.

Sân tùy miên đối với thân, đối với khổ thọ được đoạn diệt, sân tùy miên này rất sâu sắc. Chúng ta thấy không, tuy mình tu rồi, nhưng nhiều khi muỗi chích, mình tức quá, bực lên, chẳng những bực trong cảm thọ mà bực lên trong khẩu hành và thân hành. Nhiều khi mình đập nó hoặc có một cử chỉ nào đó, dù đuổi hay gì đó, nhưng tỏ ra hết sức bực bội. Đó là sân tùy miên, mà cái này là thô rồi, đối với thân, vì nó đụng vô thân, cảm giác mình khó chịu bên trong nên mình sẽ xử nó.

Còn mình tu tập thường xuyên, quán chiếu, rủi như khó chịu mình sẽ nhúc nhích hay đuổi nó, còn không tu tập, hay tu mà không để ý, không có sự nhiếp phục, nhiều khi tập quán hay vô thức, thực ra mình có ý thức nhưng nhanh quá nên không kịp dừng lại mà vỗ liền. Vì sân tùy miên này hành mình miên man, nhiều khi mình không muốn giận nhưng tự nhiên nói một câu, mặt mình đỏ lên, miệng mình không nói gì, thân không làm gì nhưng mặt ửng lên, biến sắc, đổi màu, đó là sân tùy miên.

Có nhiều người không đỏ mà xanh, chúng ta thấy không ạ. Có những người cộc, ít nói chuyện mà có gì là họ chất chứa bên trong, rồi tới lúc nào đó họ mới bung ra. Tất cả những điều đó là tùy miên, miên man bên trong, ngủ ngầm, tích lũy bên trong. Với một người không hướng đến sự từ bỏ và diệt tận, nhiếp phục những cảm thọ đó làm sao nó đi đến hết được? Sự kiện đó không thể xảy ra, cho nên người thường quán tính chất vô thường, tiêu vong, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, người đó mới có khả năng đi đến sự nhiếp phục và diệt tận tham, sân, si trong ba cảm thọ.

Đây là nói có khả năng, chứ không phải ai làm cũng thành công, ít nhiều, và sẽ đi đến chỗ diệt tận. Còn người không biết, không thấy, không học gì, không hướng tâm, không nỗ lực, không nhiệt tâm tinh cần, Chánh Niệm, tỉnh giác, làm sao người đó đoạn diệt được sân tùy miên này. Chúng ta chia sẻ về cảm thọ sân trong người mà mình khổ với nó như thế nào mỗi khi nó sanh khởi lên và những trường hợp nào ấn tượng nhất với mình, nó hành hạ mình khổ như thế nào, bây giờ mình nhắc lại để quán chán nó. Sân này hành hạ mình như thế nào, hãy kể ra, hài tội nó ra.

Quý Phật tử trực tuyến đâu rồi, cái sân này hành hạ mình thế nào, làm cho mình khốn khổ như thế nào, làm mình bức xúc như thế nào, hài tội nó ra xem? Quý thầy, quý sư cô, quý Phật tử? Phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thật nhiều mình mới ngao ngán, muốn từ bỏ. Có ai kể tội cảm thọ sân của mình không? Hồng Hạnh lâu quá không chia sẻ.

(1:00:40 – 1:24:30 trình pháp)

Đức Phật dạy chúng ta “nếu vị ấy có một cảm thọ khổ, vị ấy biết bằng trí tuệ, cảm thọ khổ này, cảm giác bực bội sân hận này, hay cảm giác khó chịu này là vô thường. Vị ấy biết bằng trí tuệ, ta không chấp trước cảm giác này, cảm thọ này. Vị ấy biết bằng trí tuệ ta không hoan hỉ đối với cảm thọ này”. Biết bằng trí tuệ cảm thọ khổ này là vô thường, mình không chấp giữ cảm thọ này, không thích thú với nó. Chúng ta thấy không, Ngài dạy mình rất nhiều, ở trên là năm pháp, dưới này lại dạy thêm nữa.

“Nếu vị ấy có một cảm giác khổ, vị ấy biết bằng trí tuệ cảm giác khổ này là vô thường. Ta không chấp trước cảm thọ, cảm giác này, vị ấy biết bằng trí tuệ, ta không hoan hỉ cảm thọ này. Đối với cảm giác vui cũng vậy, nếu vị ấy cảm thọ một cảm giác vui, lạc thọ, vị ấy biết bằng trí tuệ, thọ này, cảm giác vui này là vô thường. Vị ấy biết bằng trí tuệ ta không chấp nhận cảm giác vui này. Vị ấy biết bằng trí tuệ ta không hoan hỉ cảm giác vui này. Nếu có cảm giác khổ, vị ấy biết bằng trí tuệ cảm giác khổ này là vô thường. Vị ấy biết bằng trí tuệ cảm giác khổ này không chấp trước nó. Vị ấy biết bằng trí tuệ ta không hoan hỉ cảm thọ này”.

Cảm thọ nào cũng vậy, vui hay khổ, không vui không khổ, kỳ sau chúng ta học tới cảm thọ không vui không khổ. Trong ba cảm thọ đó, cảm thọ nào sanh khởi mạnh lên mình đều quán vô thường, không nên giữ gìn, không nên ưa thích. Đọc câu “Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Qúy Phật tử đừng lẫn lộn giữa việc tu, ngồi thiền. Thiền là sự cố gắng để nhiếp phục cảm thọ nhưng ở mức độ nào thôi, khi chịu không nổi nữa mình xả ra. Mình phải có sự trạch pháp, đừng lẫn lộn, lộn xộn.

Đức Phật dạy thêm ba cách nữa, quán cảm thọ đó là vô thường, quán không nắm giữ cảm thọ đó, quán không ưa thích đối với cảm thọ đó, không hoan hỉ, không thích thú, không khoan khoái, không ưa thích đối với cảm thọ đó. Cảm thọ bực bội, bản ngã đó mình có ưa thích không ạ? Có không? Nói nghe có vẻ lạ, nhưng mình có ưa thích cảm giác bản ngã đó. Mình ưa thích nó mới bỏ nó ra không được nên nó mới theo mình vô lượng vô biên kiếp. Còn nếu không ưa thích mình đã bỏ nó lâu rồi, mình đã giải thoát rồi.

Đằng này mình thích thú, nắm giữ, chấp trước, nắm chặt cảm xúc đau khổ của sự thiêu đốt, nó rất khổ nhưng mình vẫn nắm chặt không buông, để nó đốt mình. Mình biết nó đốt mình là khổ nhưng vẫn nắm chặt, đó mới là điều đau đớn. Khổ mà không biết mình khổ mới thật sự là đại khổ. Cho nên, Chánh Kiến, thấy đúng thật sự là thấy nó là khổ. Mình không muốn khổ thì phải buông bỏ, từ bỏ nó, đó gọi là Chánh Kiến.

Còn mình thích nắm giữ, khoan khoái trong nó, cứ nghĩ nó là mình, ngược lại với lời dạy của Đức Phật nên mới đau khổ. Mình nghĩ nó còn hoài, thường mình nắm giữ nó, lại còn khoan khoái với nó. Đối với cảm giác vui, mình thấy nó là thật, thường, nắm giữ, khoan khoái nó. Đức Phật nói không, đây là cảm giác vô thường, tan biến, tiêu vong, bại hoại, đoạn diệt, không đáng để tham, hãy từ bỏ nó đi, chúng ta thấy không?

Rồi cảm giác vui, mình nói cất giữ nó, nắm giữ nó, chấp giữ nó, ôm giữ nó, mà nó là vô thường nên mình khổ, khoan khoái, thích thú nó. Nó hoại diệt, tiêu vong nên mình khổ. Cảm giác sân, bản ngã cũng vậy, nó hết sức bức xúc, nhiệt não, khó chịu, dày vò, đay nghiến mình. Cảm giác dục cũng vậy, nó bức xúc, hành hạ mình, nhưng rồi mình cũng tưởng nó là mình, cũng thấy nó là thật. Rồi mình chấp giữ, nắm giữ, khoan khoái, thích thú nó. Nó làm mình khổ hoài như vậy, vì nó ở bên trong mình, nối giáo cho giặc.

Cho nên mình hài tội những cảm giác sân, những cảm giác bản ngã này ra để thấy được lỗi lầm, cảm giác nguy hiểm, tác hại của nó để có hướng từ bỏ nó, nhiếp phục và đoạn tận nó. Quý vị Phật tử mới có muốn trình pháp không, nãy giờ đâu mất tiêu, bây giờ mới thấy hiện ra. Hai người mới có muốn chia sẻ về nguy hiểm, tác hại của sân hận, bản ngã không. Quý vị nhớ, quý thầy mời mình trình pháp là cơ hội quý báu, tốt lành cho mình. Minh Thành thấy quý vị bị nhốt trong nhà, khổ sở, bức xúc, nên muốn chia sẻ và cũng muốn quý vị nói lên để đỡ bức xúc trong tâm, có cơ hội chia sẻ, học hỏi, giãi bày. Cho nên kêu trình pháp đừng trốn, phải nhiệt tình, có muốn không hai vị mới, nãy giờ đâu mất, giờ mới thấy được mặt.

(1:34:00 – 1:48:45 trình pháp)

Kính thưa tất cả chư tăng ni và quý Phật tử, có mấy điều Minh Thành chia sẻ đến các vị. Trong thời điểm này mà chúng ta không tu là rất khổ, khổ không thể nói nên chúng ta phải dành nhiều thời giờ ngồi thiền, nghe pháp, sám hối. Ngoài giờ chúng ta bận rộn, nên dành nhiều thời giờ nghe pháp, ngồi thiền, lạy sám hối, học kinh. Một điều Minh Thành muốn chia sẻ đến quý vị, về phương diện trình pháp, đây là điều tốt lành, phước lành cho chúng ta, đừng ngại, ngại ngùng chẳng qua cũng là bản ngã vi tế, sợ nói ra dở người ta chê.

Không có gì ngại, mình dở mình mới tu, vì bản chất của mình là dở, tệ, kém. Mình giỏi rồi còn tu làm gì nữa? Sở dĩ chúng ta tu học mà không tiến bộ vì không dám nói, không dám trình bày, chia sẻ, bày tỏ. Sợ bày tỏ người ta chê mình dở, mình nói không hay, đó cũng là bản ngã, nó chướng ngại sự học đạo của chúng ta. Mình không nói ra người ta không biết, vậy ai giúp được mình. Cho nên, mấy điều Minh Thành chia sẻ đến tất cả chư tăng ni, quý Phật tử. Nhất là trong dòng pháp này, không ngại khi trình pháp.

Có những điều có thể mình trình riêng trên điện thoại, có những điều mình nên trình pháp giữa đại chúng. Đó là lợi ích cho mình, lợi ích cho người. Có mấy điều, có thể bằng điện thoại, có thể nếu quý vị nào biết, bằng email, bằng tin nhắn. Tiện nhất là những lời bình luận bên dưới bài pháp. Vì khi vào mỗi buổi chúng ta đều niệm Phật hết nên mình không cần đề câu niệm Phật nữa. Thay vì câu đó, mình trình những gì mình được trong bài học hôm nay.

Mình trình những gì trong tâm trạng, tâm đắc, lợi ích trong sự tu học giống như nãy giờ, nó sẽ lợi cho mình, lợi cho người rất nhiều. Hoặc chúng ta viết vào cuốn tập để tự mình nhắc nhở mình đọc, nhắc để mình tu sửa. Chúng ta viết lên lời bình luận trong buổi pháp đó để lâu lâu mình vào đọc sẽ thấy nó lợi ích để cho những người khác chưa biết cũng vào đọc. Như con chưa biết tu, con biết được lợi ích của pháp, pháp cứu đời con… qua bài pháp này, những lời dạy của Đức Phật con học được… Rất tốt cho chúng ta. Như vậy, trình pháp và sự tu học của mình có nhiều thứ, điện thoại, nhắn tin, viết bình luận, gửi email, viết trong cuốn tập...

Viết ra để đọc tới đọc lui, nhắc nhở mình nhớ, mình còn cái này, chưa được cái kia, hay đã có được những thiện pháp. Minh Thành muốn quý vị nói để giải tỏa bớt những bức xúc, lo lắng, bất an trong thời điểm này. Không ai nói chuyện, không nói chuyện với ai, ở trong nhà, nói qua nói lại một hai người hoài. Bây giờ mình được nói với quý thầy, quý chư tăng ni, được nói với đạo tràng, được chia sẻ ra, giãi bày thì cảm thọ của quý vị sẽ được tháo gỡ, cởi mở, mở rộng ra. Khi quý vị nói như vậy, quý thầy cũng hiểu được để chia sẻ, giúp ích cho quý vị.

Đừng trốn mỗi khi mình được mời trình pháp, mình cử mở lên hết, gương mặt này vô thường, có gì đâu. Ai sợ mặt tôi xấu hay tôi nói ra không hay. Những điều đó là chuyện nhỏ nhưng chướng ngại pháp, mình phải vượt qua được. Mình phải nói lên, nói những gì trong lòng mà quan trọng, cần thiết trong sự tu học. Nói như vậy mình được cởi mở, được tháo gỡ, thoải mái cảm thọ mình. Nói như vậy dù cách xa năm trăm km, cách xa cả ngàn dặm nhưng giống như đang cùng tu học.

Chúng ta thấy không, Minh Thành mở cho quý vị khóa tu hằng ngày, sáng có pháp, chiều có tu, thậm chí sáng chiều có nghe pháp, tu học. Giống như mình đang đi về Linh Quy, đang tham dự trong pháp hội, trong khóa tu, thành ra đừng ngại, vượt qua cái ngại đó. Những người ngại là những người thất bại, vượt qua phần lợi ích, lợi đắc của mình.

Cố gắng lên, hoan hỉ khi được học pháp. Hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc khi được trình pháp. Hoan hỉ, hạnh phúc, lợi đắc, phước lành khi được nói lên những điều tâm đắc tu học, những điều cảm nhận thích thú, những thiện pháp này. Như vậy, quý vị cũng đang hoằng pháp, đang làm cho Chánh Pháp cửu trụ, đang cùng quý thầy, quý cô quay chuyển bánh xe Chánh Pháp trên thế giới này.

Nhiều người hiểu không chính xác, hiểu lầm, cứ lo ngại. Ngay cả tăng ni xuất gia cứ sợ nói pháp, mà nói chuyện bình thường, chuyện đời lại không sợ. Như vậy là chưa nhiệt tâm, nhiệt tình, chưa ý thức sâu sắc giá trị, lợi ích mà những người thân thương, thiện tri thức thương tưởng đến mình, quan tâm đến mình, muốn giúp ích cho mình. Quý vị nhớ điều đó, cứ mở tâm mình ra, trình pháp, nói lên những điều dở, điều ngu, tệ của mình, những điều tốt được pháp thấm nhuần, những lợi ích, lợi đắc, lợi lạc mà mình được tu học, quý vị nhớ điều đó.