Cùng Nhau Nhắc Nhở Xuất Gia 5 - Chân Tình
CÙNG NHAU NHẮC NHỞ XUẤT GIA 5 - CHÂN TÌNH
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, vào ngày trăng rằm thì Đức Phật ngồi xung quanh với rất nhiều các vị Tỳ-kheo, lúc đó đại chúng yên tịnh, cực kì yên tịnh. Trải qua một khoảng thời gian dài trong sự tĩnh lặng thì Đức Phật mới nói:
Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn sau ngày Tự tứ, đang ngồi giữa trời với chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỳ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng, rồi bảo các Tỳ-kheo:
-- Ta được thỏa mãn, này các Tỳ-kheo, với đạo lộ này. Tâm ta được thỏa mãn, này các Tỳ-kheo, với đạo lộ này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn hơn nữa, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ta sẽ ở đây, tại Savatthi cho đến tháng tư, lễ Komudi.
Lúc bấy giờ Thế Tôn vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn, ngày lễ Komudi vào tháng tư, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, chung quanh có chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau khi nhìn xung quanh chúng Tỳ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng liền bảo các Tỳ-kheo:
-- Hội chúng này, này các Tỳ-kheo, không có lời thừa thãi. Hội chúng này, này các Tỳ-kheo, không có lời dư thừa, đã được an trú trong lõi cây thanh tịnh. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng bố thí ít, được phước báo nhiều; bố thí nhiều, càng được phước báo nhiều hơn nữa. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng khó thấy ở đời. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng xứng đáng đi nhiều do tuần (yojana) với một bao lương thực trên vai để đến yết kiến. Chúng Tỳ-kheo này là như vậy, này các Tỳ-kheo; hội chúng này là như vậy, này các Tỳ-kheo.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỳ-kheo, có những bậc Tỳ-kheo như vậy trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, này có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo, có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm. (Trung Bộ Kinh, 118. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở))
Khi đọc tới đây thì Minh Thành có một niềm xúc cảm rất tuyệt vời đối với Đức Thế Tôn cũng như thánh chúng trong thời kì của Đức Phật, mình chưa thực hiện những điều này một cách trọn vẹn nhưng có thể thực hiện được phần nào. Trong Tam Bảo, hội chúng Tỳ-kheo chúng ta là một tập thể cao thượng, đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng chắp tay, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường nếu mình làm đúng theo lời Đức Phật là tăng thượng định học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học. Trong tình cảm sâu sắc, Minh Thành muốn chia sẻ với các huynh đệ là chúng ta bỏ đi một tình thân rất thiêng liêng của cha mẹ, chúng ta bỏ đi tình thân rất thiêng liêng của quyến thuộc mà chúng ta xuất gia lại có một tình thân trên cả những tình thân đó là tình thân của Tăng đoàn, của Tăng Bảo. Nếu chúng ta có thân nghiệp từ hòa đối với các bậc đồng Phạm hạnh, khẩu nghiệp từ hòa đối với những người cùng tu, ý nghiệp từ hòa đối với đại chúng thì chúng ta thành tựu tình đạo cao thượng của người xuất gia. Minh Thành cảm nhận được đạo tình đó trong Tăng đoàn, trong đạo tràng và ở trong ngôi trường này. Nếu Minh Thành yêu cầu các huynh đệ mua quyển Đại Trí Độ Luận, ai cũng có một quyển cầm trên tay rồi Minh Thành đọc trong đó giải thích ra thì rất dễ, đơn giản vô cùng, nếu một thầy mới tốt nghiệp Cao Đẳng hoặc Học Viện mà chịu khó nghiên cứu cũng làm được vì cái này đơn giản. Trong lớp này Minh Thành ưu ái và muốn trao gửi cho các huynh đệ tinh hoa của Tam Tạng, nói gọn lại là cái lõi pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành muốn chúng ta lên lớp không đơn giản chỉ là nghe kiến thức của một quyển kinh, một quyển luận để chúng ta hiểu rồi làm bài cho có điểm và ra trường với bằng cấp, Minh Thành muốn hơn thế nữa, Minh Thành muốn các huynh đệ đến trường thì ngoài kiến thức còn có sự đào tạo, rèn luyện và nhất là pháp hành. Chủ Nhật tuần tới, theo sự chỉ dạy của Hòa Thượng viện trưởng Phật giáo, Hòa Thượng Thượng Trí Hạ Quảng thì Minh Thành qua bên học viện trong giờ của Hòa Thượng để trình bày pháp hành cho hơn 500 Tăng Ni của học viện. Thật sự nói về pháp học, về sự nghiên cứu thì sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, cao cấp giảng sư, trung cấp giảng sư, đại học rồi giờ lên tới cao học, tiến sĩ sẽ được đào tạo, có rất nhiều lớp để mình học nhưng pháp hành là gì? Minh Thành trình bày với Hòa Thượng viện trưởng cũng là Hòa Thượng trưởng ban trị sự cũng là Hòa Thượng phó pháp chủ của chúng ta, đó là niềm khắc khoải chung của các bậc có trách nhiệm và đó cũng là tình thương huynh đệ với nhau. Minh Thành không bao giờ nghĩ mình là thầy khi ra chia sẻ Phật pháp 10 năm nay, chưa từng nghĩ mình là thầy đối với Phật tử, còn với các huynh đệ thì nghĩ là anh em. Niềm khắc khoải chung của bản thân Minh Thành khi ngồi trường Phật học cho đến ngày hôm nay chính là pháp hành, một phương pháp, một đường lối, một cách thức thực tập để mình trở thành đúng theo lời Đức Phật dạy, nếm được những hoa trái người xuất gia hái như trong Kinh Sa-môn quả của Trường Bộ Kinh đã từng nói.
Và này các Tỳ kheo, là hoa trái của đời sống thánh thiện? Thánh quả Dự lưu, Thánh quả Nhất lai, Thánh quả Bất lai, và Thánh quả A La Hán. Chúng được gọi là cuộc sống thánh thiện.
Và Hòa Thượng đồng ý với điều này, nếu như bên học viện mà Tăng Ni hoan hỉ thì sẽ có môn học về pháp hành, nếu có duyên thì sẽ thấy các rừng thiền, các trường thiền ở Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan hoặc các nước Phật giáo bắt đầu phát triển có những trung tâm để vào đó thực hành chứ không phải chỉ ngồi bàn luận hoài, đó là điều rất cần thiết và cấp thiết, khẩn thiết. Mình có thể dùng từ là cấp cứu, chính vì vậy mà mỗi lần lên lớp với các huynh đệ là Minh Thành muốn đem những pháp hành rất thiết yếu và thực dụng trong cuộc sống người tu để các huynh đệ nắm được bài kinh đó, những phương pháp và cách thức đó để khi thực tập thì mình biết cách thực tập và khi có cơ hội thì chia sẻ với các Phật tử, sau này có duyên đứng trên bục giảng chỉ dẫn cho đàn em của mình thì quý huynh đệ sẽ nắm được pháp hành cụ thể, rõ ràng, minh bạch từ lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành nghĩ đây là điều rất thiết yếu, rất quan trọng nên Minh Thành muốn các huynh đệ nắm được cốt lõi trong vòng một năm, trong khi Minh Thành đi tìm trong 30 năm mà các huynh đệ chỉ có một năm, như vậy là quá ngắn rồi. Đó là món quà tinh thần tâm quyết, món quà tình thương tình đạo mà Minh Thành muốn gửi đến cho các huynh đệ, thực ra đưa cho các huynh đệ xấp tài liệu rồi Minh Thành đọc lên giảng thì dễ dàng. Các huynh đệ có cảm nhận được điều này không? Vì quá thương và rất thương nên mới làm điều này, chính bản thân Minh Thành rất khó khăn, gian khổ trong con đường tìm pháp hành vì chỉ riêng một tạng Nikāya là mấy chục quyển kinh đồ sộ, dày cộm, là một rừng kinh biển pháp mà Minh Thành đi cầu học trong nước ngoài nước khắp thế giới Phật giáo trong 30 năm, thật sự trong 3 tháng nay, sau chuyến đi 8 rừng thiền nổi tiếng nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy là Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan thì Minh Thành mới nắm được toàn bộ phần lõi của tạng kinh và pháp hành nên Minh Thành quá mừng, quá hoan hỉ và muốn đem món quà này trao gửi cho các huynh đệ, những lời nói này bằng cả sự chân thật. Các huynh đệ sẽ không cực khổ như Minh Thành, 6 tháng sau khi thầy Bổn sư cạo tóc là Minh Thành xông pha trận mạc, lang thang phiêu bạt trong thế gian tầm sư học đạo trong nước ngoài nước, đi mấy chục nước để tìm pháp hành. Khi Minh Thành tốt nghiệp 4 năm cơ bản, sau đó thêm 4 năm chuyên khoa về nội minh ở tại Nguyễn Kim thì ngày thi tốt nghiệp, các huynh đệ hỏi Minh Thành một câu làm hết sức bất ngờ "Minh Thành ơi, bây giờ mình học xong 8 năm Cao đẳng Phật học rồi bây giờ tu làm sao?". Một câu hỏi này là mình ăn không ngon ngủ không yên. Tại sao các bạn cùng học với mình 8 năm rồi mà giờ hỏi tu như thế nào thì có đau lòng, cay đắng không? Minh Thành không muốn các huynh đệ bây giờ giống như vậy mà Minh Thành muốn các huynh đệ thi tốt nghiệp, ít nhất là xong Cao đẳng này nắm pháp hành trong lòng bàn tay, dù cho mình chưa thực tập nhiều nhưng nắm được pháp hành, khi mình đi ra thì trong tay mình có ngọc và viên ngọc đó tùy nghi sử dụng, để lúc nào bị đau khổ quằn quại, bị lâm vào đường cùng bế tắt thì lấy ra dùng, lúc đó mới biết giá trị siêu việt tuyệt vời của chánh pháp. Mọi người hãy cố gắng vì chưa biết Minh Thành còn sống hết năm nay không, đây là chia sẻ thật lòng vì tai nạn giao thông đầy rẫy ngoài kia. Minh Thành nghe điện thoại của thầy chánh văn phòng là từ trên trường Minh Thành chạy về đây vì sợ các huynh đệ đến đây gần 300-400 người mà không ai dạy rồi về không, Minh Thành chạy về cho kịp cho nên các huynh đệ hãy hiểu, thương và cảm thông.
Xin thưa là các huynh đệ nắm được pháp hành rồi sẽ thấy rất hay, rất kì diệu. Có khi nào đang bệnh mà mình biết loại thuốc đó chữa được bệnh mà mình chịu đau không uống thuốc không? Ít nhất mình muốn uống là có thuốc để sẵn còn đỡ hơn là mình không có thuốc và không biết thuốc đó. Minh Thành xin thành tâm sám hối nếu trong thời gian chia sẻ mà Minh Thành có cái gì không tránh né thì xin các huynh đệ tha thứ, tất cả đều vì lợi ích dài lâu cho các huynh đệ, đó là sự thật và cũng là tấm lòng chân thành. Tại sao người ta phải qua Miến Điện ngồi thiền? Tại sao không ở Việt Nam ngồi thiền? Ở Đài Loan, Thái Lan hoặc Miến Điện khi đến kì nghỉ hè phải đi về bản sơn đạo tràng của Phật Quang Sơn để thực tập ngồi thiền ít nhất 10 ngày để có tín chỉ xếp hạng, sau đó mới có tín chỉ của học kì năm đó, phải có thực hành mới được chứ không phải chỉ học lý thuyết suông. Còn ở Miến Điện thì vào cuối tuần người ta sẽ đưa mình đi trường thiền này, trường thiền kia để mình tham quan cho biết, sau đó mình chọn trường thiền theo ý muốn mình, đến kì nghỉ hè thì người ta khuyến khích mình vào các trường thiền để thực hành, điều này rất tuyệt vời, học thì phải hành chứ bây giờ học mà cứ ngồi đây nói hoài, viết hoài mà không làm thì làm sao thành tựu? Cho nên môn của Minh Thành là tinh hoa pháp hành của đại tạng kinh Nikāya, nghĩa là tất cả những pháp hành quan trọng trong đó Minh Thành sẽ lấy ra những gì tinh túy nhất, cốt lõi nhất để giới thiệu đến các huynh đệ, các huynh đệ không cần ngồi nghe 6-7 tiếng đồng hồ rồi tìm tòi, đi cầu học gian khó như Minh Thành. Minh Thành đã đi chợ, chọn những món ngon, những món dinh dưỡng dọn ra sẵn thì mọi người chỉ cần ăn thôi, còn gì hạnh phúc bằng nhưng quan trọng mình có thấy mình được hạnh phúc hay không? Có những lời Minh Thành nói để mọi người phấn khởi lên, nhìn ra vấn đề để cùng nhau tiến lên, Đức Thế Tôn đã từng nói trong kinh:
Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III) (53) Ðứng Một Chỗ)
Mọi người đang ngồi đây là đang đứng trong thiện pháp nhưng có khi đứng lại hoặc thối lui mà mình không biết, vậy thì mình cần phải khuyến khích, chia sẻ, nhắc nhở, đi học để mình có động lực, có sự khích lệ, sách tấn cùng nhau tiến lên thánh đạo để đi tới thánh quả, còn không là mình sẽ đứng lại trong thiện pháp, thậm chí mình có cảm giác xem thường. Mọi người nhớ lại ngày đầu tiên mình bước vào trường thì lúc đó thái độ mình nghe, mình học như thế nào? Nó khác so với bây giờ, một là tiến lên, hai là đứng lại, ba là thụt lùi.
Với căn không phòng hộ, này các Tỳ-kheo, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn, giới đi đến hủy hoại;
Với giới không có, có ai khiếm khuyết về giới, chánh định đi đến hủy hoại.
Với chánh định không có, với ai khiếm khuyết chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy hoại.
Với tri kiến như thật không có, với ai khiếm khuyết tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến hủy hoại.
Với nhàm chán, ly tham không có, với ai khiếm khuyết nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây, với cành và lá khiếm khuyết, thời các chồi non không đi đến viên mãn, vỏ cây không đi đến viên mãn, giác cây không đi đến viên mãn, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với căn không phòng hộ, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn... giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika (VIII) (50) Các Căn)
Các căn không phòng hộ thì làm sao mình có thể giữ giới được? Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình không đề phòng, không bảo hộ, không giữ gìn. Khi vừa nhìn thấy một cái sắc khả ái, khả hỷ, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn thì ái khởi, dục khởi, tham khởi, sự dính mắc, bám víu khởi rồi bị dẫn dắt theo nó, nhưng khi có hộ trì căn thì vừa thấy là nhìn xuống liền, Đức Phật dạy:
Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. (Trung Bộ Kinh, 53. Kinh Hữu học)
Vì khi mình phân biệt tướng riêng thì mình sẽ xem con mắt như thế nào, lỗ mũi ra sao, cái má, cái vai, bàn tay, cánh tay như thế nào thì mình chết ngay chỗ đó. Còn tướng chung là nguyên một cái dáng yêu kiều diễm lệ. Một khi mình phân biệt tướng chung, tướng riêng và mình đi vào chi tiết từng bộ phận thì thọ sanh, cảm giác sanh, tưởng sanh, các suy nghĩ sanh khởi, nhận thức sanh thì ngũ uẩn vận hành và mình sẽ thọ cái pháp đó rồi mình nhận, mình để nó đi vào trong nội tâm, có cảm giác thích thú vì đẹp, một khi đã thọ nhận thì khi trở về ngồi thiền hay sinh hoạt trong chùa thì hình bóng đó hiện lên, lời nói lầm thầm hiện lên thì làm sao mình có thể ngồi thiền yên định được? Lúc đó không phòng hộ các căn nên mình để ý từng chút một trong thân thể người đó. Khi ngài Anan hỏi Đức Phật khi tiếp xúc với Tỳ-kheo Ni, tiếp xúc với những người nữ thì lúc đó phải hộ trì căn như thế nào? Đức Thế Tôn nói đừng nói chuyện cũng đừng nhìn họ mà hãy nhìn xuống, lỡ có nói chuyện thì phải phòng hộ các căn.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi đó mình phải thấy cảm giác trong cơ thể mình phát sanh như thế nào, vận hành, an trú, chấm dứt như thế nào đều phải thấy được dòng cảm thọ trong cơ thể, nếu không mình mở bung hết các căn giống như căn nhà có bao nhiêu cửa đều mở ra hết, không gài khóa, không chốt lại thì những thứ ác độc sẽ luồn vào. Cách tu của mình bây giờ không có hộ trì căn cho nên làm sao thành tựu được giới, làm sao thành tựu được định? Khi mình nói chuyện với đối tượng đẹp đẽ, hấp dẫn thì mình có hộ trì căn hay không hay gặp những người già xấu thì mới hộ trì căn? Không phải đợi nhắm mắt mới gọi là chết mà mình chết ngay chỗ không hộ trì và một ngày như vậy không biết mình chết bao nhiêu lần với nó, không hộ trì cảm giác, không hộ trì trong các cái tưởng, không hộ trì trong suy nghĩ, không hộ trì trong nhận thức, như vậy mình cứ thọ nhận rồi khi ngồi lại thì không chịu nổi vì thọ; tưởng; hành; thức vận hành ồ ạt như sóng thần. Khi 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tưởng, 6 tư đồng loạt 36 pháp dập mình thì làm sao chịu nổi? Trong hằng ngày, hằng phút, hằng giây khi tiếp xúc, khi đối diện mình không có chánh niệm không hộ trì, không thấy các pháp vận hành trong nội tâm thì mình bị nó đánh tan nát, giới đi đến hủy hoại. Một khi thọ nhận thì trong thân tâm dục ái tham khởi, bên ngoài thì tịnh tướng hấp dẫn, đáng yêu, đáng thích, vậy là dục trong dục ngoài dập một cái là mình thất bại toàn tập, thời gian sau có thêm hai đứa nhỏ theo sau "chào sư ông đi con, hồi xưa sư ông là sư phụ của ba". Giới không giữ được thì làm sao tâm mình yên định một cách chân chánh được? Không bao giờ có được khi vừa ngồi lại là dục ái, sân khởi, vô minh hoành hành, năm triền cái đồng loạt tấn công thì làm sao nhập thất hay ngồi thiền yên được? Vừa ngồi là cục cựa, ngứa ngáy, phải đi ra chứ ngồi yên không được, đó là trạo cử, là sự dao động của thân tâm kết hợp với các dục, cảm thọ nội công ngoại kích dập mình tan nát, cho nên không ngồi thiền được, mà không ngồi thiền được thì chạy ra ngoài đi làm những chuyện bên ngoài, đi đây đi đó suốt ngày làm mất sự an tịnh độc cư. Thực trạng hiện tại của người tu bây giờ là có ngôi chùa lớn, tổ chức được nhiều lễ hội lớn, vận động đóng góp nhiều tiền thì thích thú, vỗ tay hoan nghênh nhưng những cái này không liên quan gì một chút gì đến mục đích cứu cánh của người xuất gia. Mục đích của đạo Phật là đoạn tận tham sân si, phá tan bản ngã, thành tựu chánh kiến, chấm dứt năm uẩn, không còn tiếp diễn sanh già bệnh chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Này các Tỳ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỳ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Đó là sự thành tựu mà giờ này mình tu mà không biết gì hết, bị tham dục, sân hận, bản ngã chi phối rồi mình hòa làm một với nó luôn vì mình không thấy pháp vận hành. Nếu phanh phui ra thì nhìn lại mới thấy đau lòng cho mình và đau lòng cho những bạn cùng tu với mình.
Như vậy một khi chánh định đi đến hủy hoại thì tri kiến như thật đi đến hủy hoại. Tri kiến như thật là năm uẩn này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, tứ đại này không phải là tôi, không phải là của tôi. Mà bây giờ tâm mình bị dục tham, bản ngã ngự trị nên tri kiến như thật này bị hủy hoại thì nhàm chán, ly tham bị hủy hoại. Mình không còn nhàm chán, không còn không tham nữa mà mình yêu thích, mình muốn có những dự định, kết hoạch, chương trình vĩ đại, mình vẽ ra cho mình một tương lai và mình sẽ đau khổ với tương lai này vô cùng. Mình muốn mình tu là phải có học vị này, phải được cái này cái kia thì tất cả những cái này là dục tham, nếu mình bị dục tham dẫn đi như vậy thì cái mình được là dục tham chứ không phải đi đến chỗ ly tham, nhàm chán, từ bỏ, không đi đến chỗ chấm dứt tham sân si đối với năm uẩn, đối với tứ đại. Một khi tri kiến như thật đi đến hủy hoại, nhàm chán, ly tham hủy hoại thì giải thoát tri kiến bị hủy hoại, làm sao có được sự giải thoát. Giải thoát ở đây là giải thoát lòng ham muốn đối với sắc pháp này, tháo gỡ tâm ham muốn đối với cảm giác này, tháo gỡ lòng tham muốn, chấp thủ vào tư tưởng, nhận thức của tôi, cái này là tôi, cái này là của tôi mà ai chạm vào tôi, chạm vào cái của tôi thì sầu bi khổ ưu não sanh khởi, tiếp diễn. Trong khi tri kiến như thật là luôn thấy, luôn biết sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi, cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi, đây là cảm giác duyên sanh, tư tưởng này không phải là tôi và đây là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới có tư tưởng, do tiếp xúc mới có suy nghĩ, xúc mới sanh ra thọ; tưởng; hành. Bây giờ mình có thể suy nghĩ về một người mà trước giờ mình chưa từng tiếp xúc, chưa từng thấy qua hình ảnh không? Không thể có được, từ xúc mới sanh ra thọ; tưởng; hành.
Với các căn được phòng hộ, này các Tỳ-kheo, với người đầy đủ các căn được phòng hộ, giới đi đến đầy đủ. Với giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Với chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Với tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Với nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika (VIII) (50) Các Căn)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, vào ngày trăng rằm thì Đức Phật ngồi xung quanh với rất nhiều các vị Tỳ-kheo, lúc đó đại chúng yên tịnh, cực kì yên tịnh. Trải qua một khoảng thời gian dài trong sự tĩnh lặng thì Đức Phật mới nói:
Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn sau ngày Tự tứ, đang ngồi giữa trời với chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỳ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng, rồi bảo các Tỳ-kheo:
-- Ta được thỏa mãn, này các Tỳ-kheo, với đạo lộ này. Tâm ta được thỏa mãn, này các Tỳ-kheo, với đạo lộ này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn hơn nữa, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ta sẽ ở đây, tại Savatthi cho đến tháng tư, lễ Komudi.
Lúc bấy giờ Thế Tôn vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn, ngày lễ Komudi vào tháng tư, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, chung quanh có chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau khi nhìn xung quanh chúng Tỳ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng liền bảo các Tỳ-kheo:
-- Hội chúng này, này các Tỳ-kheo, không có lời thừa thãi. Hội chúng này, này các Tỳ-kheo, không có lời dư thừa, đã được an trú trong lõi cây thanh tịnh. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng bố thí ít, được phước báo nhiều; bố thí nhiều, càng được phước báo nhiều hơn nữa. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng khó thấy ở đời. Chúng Tỳ-kheo như thế này, này các Tỳ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỳ-kheo, là một hội chúng xứng đáng đi nhiều do tuần (yojana) với một bao lương thực trên vai để đến yết kiến. Chúng Tỳ-kheo này là như vậy, này các Tỳ-kheo; hội chúng này là như vậy, này các Tỳ-kheo.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỳ-kheo, có những bậc Tỳ-kheo như vậy trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, này có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo, có những Tỳ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này.
Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả tâm. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỳ-kheo như vậy, này các Tỳ-kheo, có mặt trong chúng Tỳ-kheo này. Này các Tỳ-kheo, trong chúng Tỳ-kheo này, có những Tỳ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm. (Trung Bộ Kinh, 118. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở))
Khi đọc tới đây thì Minh Thành có một niềm xúc cảm rất tuyệt vời đối với Đức Thế Tôn cũng như thánh chúng trong thời kì của Đức Phật, mình chưa thực hiện những điều này một cách trọn vẹn nhưng có thể thực hiện được phần nào. Trong Tam Bảo, hội chúng Tỳ-kheo chúng ta là một tập thể cao thượng, đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng chắp tay, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường nếu mình làm đúng theo lời Đức Phật là tăng thượng định học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học. Trong tình cảm sâu sắc, Minh Thành muốn chia sẻ với các huynh đệ là chúng ta bỏ đi một tình thân rất thiêng liêng của cha mẹ, chúng ta bỏ đi tình thân rất thiêng liêng của quyến thuộc mà chúng ta xuất gia lại có một tình thân trên cả những tình thân đó là tình thân của Tăng đoàn, của Tăng Bảo. Nếu chúng ta có thân nghiệp từ hòa đối với các bậc đồng Phạm hạnh, khẩu nghiệp từ hòa đối với những người cùng tu, ý nghiệp từ hòa đối với đại chúng thì chúng ta thành tựu tình đạo cao thượng của người xuất gia. Minh Thành cảm nhận được đạo tình đó trong Tăng đoàn, trong đạo tràng và ở trong ngôi trường này. Nếu Minh Thành yêu cầu các huynh đệ mua quyển Đại Trí Độ Luận, ai cũng có một quyển cầm trên tay rồi Minh Thành đọc trong đó giải thích ra thì rất dễ, đơn giản vô cùng, nếu một thầy mới tốt nghiệp Cao Đẳng hoặc Học Viện mà chịu khó nghiên cứu cũng làm được vì cái này đơn giản. Trong lớp này Minh Thành ưu ái và muốn trao gửi cho các huynh đệ tinh hoa của Tam Tạng, nói gọn lại là cái lõi pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành muốn chúng ta lên lớp không đơn giản chỉ là nghe kiến thức của một quyển kinh, một quyển luận để chúng ta hiểu rồi làm bài cho có điểm và ra trường với bằng cấp, Minh Thành muốn hơn thế nữa, Minh Thành muốn các huynh đệ đến trường thì ngoài kiến thức còn có sự đào tạo, rèn luyện và nhất là pháp hành. Chủ Nhật tuần tới, theo sự chỉ dạy của Hòa Thượng viện trưởng Phật giáo, Hòa Thượng Thượng Trí Hạ Quảng thì Minh Thành qua bên học viện trong giờ của Hòa Thượng để trình bày pháp hành cho hơn 500 Tăng Ni của học viện. Thật sự nói về pháp học, về sự nghiên cứu thì sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, cao cấp giảng sư, trung cấp giảng sư, đại học rồi giờ lên tới cao học, tiến sĩ sẽ được đào tạo, có rất nhiều lớp để mình học nhưng pháp hành là gì? Minh Thành trình bày với Hòa Thượng viện trưởng cũng là Hòa Thượng trưởng ban trị sự cũng là Hòa Thượng phó pháp chủ của chúng ta, đó là niềm khắc khoải chung của các bậc có trách nhiệm và đó cũng là tình thương huynh đệ với nhau. Minh Thành không bao giờ nghĩ mình là thầy khi ra chia sẻ Phật pháp 10 năm nay, chưa từng nghĩ mình là thầy đối với Phật tử, còn với các huynh đệ thì nghĩ là anh em. Niềm khắc khoải chung của bản thân Minh Thành khi ngồi trường Phật học cho đến ngày hôm nay chính là pháp hành, một phương pháp, một đường lối, một cách thức thực tập để mình trở thành đúng theo lời Đức Phật dạy, nếm được những hoa trái người xuất gia hái như trong Kinh Sa-môn quả của Trường Bộ Kinh đã từng nói.
Và này các Tỳ kheo, là hoa trái của đời sống thánh thiện? Thánh quả Dự lưu, Thánh quả Nhất lai, Thánh quả Bất lai, và Thánh quả A La Hán. Chúng được gọi là cuộc sống thánh thiện.
Và Hòa Thượng đồng ý với điều này, nếu như bên học viện mà Tăng Ni hoan hỉ thì sẽ có môn học về pháp hành, nếu có duyên thì sẽ thấy các rừng thiền, các trường thiền ở Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan hoặc các nước Phật giáo bắt đầu phát triển có những trung tâm để vào đó thực hành chứ không phải chỉ ngồi bàn luận hoài, đó là điều rất cần thiết và cấp thiết, khẩn thiết. Mình có thể dùng từ là cấp cứu, chính vì vậy mà mỗi lần lên lớp với các huynh đệ là Minh Thành muốn đem những pháp hành rất thiết yếu và thực dụng trong cuộc sống người tu để các huynh đệ nắm được bài kinh đó, những phương pháp và cách thức đó để khi thực tập thì mình biết cách thực tập và khi có cơ hội thì chia sẻ với các Phật tử, sau này có duyên đứng trên bục giảng chỉ dẫn cho đàn em của mình thì quý huynh đệ sẽ nắm được pháp hành cụ thể, rõ ràng, minh bạch từ lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành nghĩ đây là điều rất thiết yếu, rất quan trọng nên Minh Thành muốn các huynh đệ nắm được cốt lõi trong vòng một năm, trong khi Minh Thành đi tìm trong 30 năm mà các huynh đệ chỉ có một năm, như vậy là quá ngắn rồi. Đó là món quà tinh thần tâm quyết, món quà tình thương tình đạo mà Minh Thành muốn gửi đến cho các huynh đệ, thực ra đưa cho các huynh đệ xấp tài liệu rồi Minh Thành đọc lên giảng thì dễ dàng. Các huynh đệ có cảm nhận được điều này không? Vì quá thương và rất thương nên mới làm điều này, chính bản thân Minh Thành rất khó khăn, gian khổ trong con đường tìm pháp hành vì chỉ riêng một tạng Nikāya là mấy chục quyển kinh đồ sộ, dày cộm, là một rừng kinh biển pháp mà Minh Thành đi cầu học trong nước ngoài nước khắp thế giới Phật giáo trong 30 năm, thật sự trong 3 tháng nay, sau chuyến đi 8 rừng thiền nổi tiếng nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy là Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan thì Minh Thành mới nắm được toàn bộ phần lõi của tạng kinh và pháp hành nên Minh Thành quá mừng, quá hoan hỉ và muốn đem món quà này trao gửi cho các huynh đệ, những lời nói này bằng cả sự chân thật. Các huynh đệ sẽ không cực khổ như Minh Thành, 6 tháng sau khi thầy Bổn sư cạo tóc là Minh Thành xông pha trận mạc, lang thang phiêu bạt trong thế gian tầm sư học đạo trong nước ngoài nước, đi mấy chục nước để tìm pháp hành. Khi Minh Thành tốt nghiệp 4 năm cơ bản, sau đó thêm 4 năm chuyên khoa về nội minh ở tại Nguyễn Kim thì ngày thi tốt nghiệp, các huynh đệ hỏi Minh Thành một câu làm hết sức bất ngờ "Minh Thành ơi, bây giờ mình học xong 8 năm Cao đẳng Phật học rồi bây giờ tu làm sao?". Một câu hỏi này là mình ăn không ngon ngủ không yên. Tại sao các bạn cùng học với mình 8 năm rồi mà giờ hỏi tu như thế nào thì có đau lòng, cay đắng không? Minh Thành không muốn các huynh đệ bây giờ giống như vậy mà Minh Thành muốn các huynh đệ thi tốt nghiệp, ít nhất là xong Cao đẳng này nắm pháp hành trong lòng bàn tay, dù cho mình chưa thực tập nhiều nhưng nắm được pháp hành, khi mình đi ra thì trong tay mình có ngọc và viên ngọc đó tùy nghi sử dụng, để lúc nào bị đau khổ quằn quại, bị lâm vào đường cùng bế tắt thì lấy ra dùng, lúc đó mới biết giá trị siêu việt tuyệt vời của chánh pháp. Mọi người hãy cố gắng vì chưa biết Minh Thành còn sống hết năm nay không, đây là chia sẻ thật lòng vì tai nạn giao thông đầy rẫy ngoài kia. Minh Thành nghe điện thoại của thầy chánh văn phòng là từ trên trường Minh Thành chạy về đây vì sợ các huynh đệ đến đây gần 300-400 người mà không ai dạy rồi về không, Minh Thành chạy về cho kịp cho nên các huynh đệ hãy hiểu, thương và cảm thông.
Xin thưa là các huynh đệ nắm được pháp hành rồi sẽ thấy rất hay, rất kì diệu. Có khi nào đang bệnh mà mình biết loại thuốc đó chữa được bệnh mà mình chịu đau không uống thuốc không? Ít nhất mình muốn uống là có thuốc để sẵn còn đỡ hơn là mình không có thuốc và không biết thuốc đó. Minh Thành xin thành tâm sám hối nếu trong thời gian chia sẻ mà Minh Thành có cái gì không tránh né thì xin các huynh đệ tha thứ, tất cả đều vì lợi ích dài lâu cho các huynh đệ, đó là sự thật và cũng là tấm lòng chân thành. Tại sao người ta phải qua Miến Điện ngồi thiền? Tại sao không ở Việt Nam ngồi thiền? Ở Đài Loan, Thái Lan hoặc Miến Điện khi đến kì nghỉ hè phải đi về bản sơn đạo tràng của Phật Quang Sơn để thực tập ngồi thiền ít nhất 10 ngày để có tín chỉ xếp hạng, sau đó mới có tín chỉ của học kì năm đó, phải có thực hành mới được chứ không phải chỉ học lý thuyết suông. Còn ở Miến Điện thì vào cuối tuần người ta sẽ đưa mình đi trường thiền này, trường thiền kia để mình tham quan cho biết, sau đó mình chọn trường thiền theo ý muốn mình, đến kì nghỉ hè thì người ta khuyến khích mình vào các trường thiền để thực hành, điều này rất tuyệt vời, học thì phải hành chứ bây giờ học mà cứ ngồi đây nói hoài, viết hoài mà không làm thì làm sao thành tựu? Cho nên môn của Minh Thành là tinh hoa pháp hành của đại tạng kinh Nikāya, nghĩa là tất cả những pháp hành quan trọng trong đó Minh Thành sẽ lấy ra những gì tinh túy nhất, cốt lõi nhất để giới thiệu đến các huynh đệ, các huynh đệ không cần ngồi nghe 6-7 tiếng đồng hồ rồi tìm tòi, đi cầu học gian khó như Minh Thành. Minh Thành đã đi chợ, chọn những món ngon, những món dinh dưỡng dọn ra sẵn thì mọi người chỉ cần ăn thôi, còn gì hạnh phúc bằng nhưng quan trọng mình có thấy mình được hạnh phúc hay không? Có những lời Minh Thành nói để mọi người phấn khởi lên, nhìn ra vấn đề để cùng nhau tiến lên, Đức Thế Tôn đã từng nói trong kinh:
Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III) (53) Ðứng Một Chỗ)
Mọi người đang ngồi đây là đang đứng trong thiện pháp nhưng có khi đứng lại hoặc thối lui mà mình không biết, vậy thì mình cần phải khuyến khích, chia sẻ, nhắc nhở, đi học để mình có động lực, có sự khích lệ, sách tấn cùng nhau tiến lên thánh đạo để đi tới thánh quả, còn không là mình sẽ đứng lại trong thiện pháp, thậm chí mình có cảm giác xem thường. Mọi người nhớ lại ngày đầu tiên mình bước vào trường thì lúc đó thái độ mình nghe, mình học như thế nào? Nó khác so với bây giờ, một là tiến lên, hai là đứng lại, ba là thụt lùi.
Với căn không phòng hộ, này các Tỳ-kheo, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn, giới đi đến hủy hoại;
Với giới không có, có ai khiếm khuyết về giới, chánh định đi đến hủy hoại.
Với chánh định không có, với ai khiếm khuyết chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy hoại.
Với tri kiến như thật không có, với ai khiếm khuyết tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến hủy hoại.
Với nhàm chán, ly tham không có, với ai khiếm khuyết nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây, với cành và lá khiếm khuyết, thời các chồi non không đi đến viên mãn, vỏ cây không đi đến viên mãn, giác cây không đi đến viên mãn, lõi cây không đi đến viên mãn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với căn không phòng hộ, với người khiếm khuyết phòng hộ các căn... giải thoát tri kiến đi đến hủy hoại. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika (VIII) (50) Các Căn)
Các căn không phòng hộ thì làm sao mình có thể giữ giới được? Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình không đề phòng, không bảo hộ, không giữ gìn. Khi vừa nhìn thấy một cái sắc khả ái, khả hỷ, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn thì ái khởi, dục khởi, tham khởi, sự dính mắc, bám víu khởi rồi bị dẫn dắt theo nó, nhưng khi có hộ trì căn thì vừa thấy là nhìn xuống liền, Đức Phật dạy:
Và này Mahanama, thế nào là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn? Ở đây, này Mahanama, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. (Trung Bộ Kinh, 53. Kinh Hữu học)
Vì khi mình phân biệt tướng riêng thì mình sẽ xem con mắt như thế nào, lỗ mũi ra sao, cái má, cái vai, bàn tay, cánh tay như thế nào thì mình chết ngay chỗ đó. Còn tướng chung là nguyên một cái dáng yêu kiều diễm lệ. Một khi mình phân biệt tướng chung, tướng riêng và mình đi vào chi tiết từng bộ phận thì thọ sanh, cảm giác sanh, tưởng sanh, các suy nghĩ sanh khởi, nhận thức sanh thì ngũ uẩn vận hành và mình sẽ thọ cái pháp đó rồi mình nhận, mình để nó đi vào trong nội tâm, có cảm giác thích thú vì đẹp, một khi đã thọ nhận thì khi trở về ngồi thiền hay sinh hoạt trong chùa thì hình bóng đó hiện lên, lời nói lầm thầm hiện lên thì làm sao mình có thể ngồi thiền yên định được? Lúc đó không phòng hộ các căn nên mình để ý từng chút một trong thân thể người đó. Khi ngài Anan hỏi Đức Phật khi tiếp xúc với Tỳ-kheo Ni, tiếp xúc với những người nữ thì lúc đó phải hộ trì căn như thế nào? Đức Thế Tôn nói đừng nói chuyện cũng đừng nhìn họ mà hãy nhìn xuống, lỡ có nói chuyện thì phải phòng hộ các căn.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi đó mình phải thấy cảm giác trong cơ thể mình phát sanh như thế nào, vận hành, an trú, chấm dứt như thế nào đều phải thấy được dòng cảm thọ trong cơ thể, nếu không mình mở bung hết các căn giống như căn nhà có bao nhiêu cửa đều mở ra hết, không gài khóa, không chốt lại thì những thứ ác độc sẽ luồn vào. Cách tu của mình bây giờ không có hộ trì căn cho nên làm sao thành tựu được giới, làm sao thành tựu được định? Khi mình nói chuyện với đối tượng đẹp đẽ, hấp dẫn thì mình có hộ trì căn hay không hay gặp những người già xấu thì mới hộ trì căn? Không phải đợi nhắm mắt mới gọi là chết mà mình chết ngay chỗ không hộ trì và một ngày như vậy không biết mình chết bao nhiêu lần với nó, không hộ trì cảm giác, không hộ trì trong các cái tưởng, không hộ trì trong suy nghĩ, không hộ trì trong nhận thức, như vậy mình cứ thọ nhận rồi khi ngồi lại thì không chịu nổi vì thọ; tưởng; hành; thức vận hành ồ ạt như sóng thần. Khi 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tưởng, 6 tư đồng loạt 36 pháp dập mình thì làm sao chịu nổi? Trong hằng ngày, hằng phút, hằng giây khi tiếp xúc, khi đối diện mình không có chánh niệm không hộ trì, không thấy các pháp vận hành trong nội tâm thì mình bị nó đánh tan nát, giới đi đến hủy hoại. Một khi thọ nhận thì trong thân tâm dục ái tham khởi, bên ngoài thì tịnh tướng hấp dẫn, đáng yêu, đáng thích, vậy là dục trong dục ngoài dập một cái là mình thất bại toàn tập, thời gian sau có thêm hai đứa nhỏ theo sau "chào sư ông đi con, hồi xưa sư ông là sư phụ của ba". Giới không giữ được thì làm sao tâm mình yên định một cách chân chánh được? Không bao giờ có được khi vừa ngồi lại là dục ái, sân khởi, vô minh hoành hành, năm triền cái đồng loạt tấn công thì làm sao nhập thất hay ngồi thiền yên được? Vừa ngồi là cục cựa, ngứa ngáy, phải đi ra chứ ngồi yên không được, đó là trạo cử, là sự dao động của thân tâm kết hợp với các dục, cảm thọ nội công ngoại kích dập mình tan nát, cho nên không ngồi thiền được, mà không ngồi thiền được thì chạy ra ngoài đi làm những chuyện bên ngoài, đi đây đi đó suốt ngày làm mất sự an tịnh độc cư. Thực trạng hiện tại của người tu bây giờ là có ngôi chùa lớn, tổ chức được nhiều lễ hội lớn, vận động đóng góp nhiều tiền thì thích thú, vỗ tay hoan nghênh nhưng những cái này không liên quan gì một chút gì đến mục đích cứu cánh của người xuất gia. Mục đích của đạo Phật là đoạn tận tham sân si, phá tan bản ngã, thành tựu chánh kiến, chấm dứt năm uẩn, không còn tiếp diễn sanh già bệnh chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Này các Tỳ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỳ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỳ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Đó là sự thành tựu mà giờ này mình tu mà không biết gì hết, bị tham dục, sân hận, bản ngã chi phối rồi mình hòa làm một với nó luôn vì mình không thấy pháp vận hành. Nếu phanh phui ra thì nhìn lại mới thấy đau lòng cho mình và đau lòng cho những bạn cùng tu với mình.
Như vậy một khi chánh định đi đến hủy hoại thì tri kiến như thật đi đến hủy hoại. Tri kiến như thật là năm uẩn này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, tứ đại này không phải là tôi, không phải là của tôi. Mà bây giờ tâm mình bị dục tham, bản ngã ngự trị nên tri kiến như thật này bị hủy hoại thì nhàm chán, ly tham bị hủy hoại. Mình không còn nhàm chán, không còn không tham nữa mà mình yêu thích, mình muốn có những dự định, kết hoạch, chương trình vĩ đại, mình vẽ ra cho mình một tương lai và mình sẽ đau khổ với tương lai này vô cùng. Mình muốn mình tu là phải có học vị này, phải được cái này cái kia thì tất cả những cái này là dục tham, nếu mình bị dục tham dẫn đi như vậy thì cái mình được là dục tham chứ không phải đi đến chỗ ly tham, nhàm chán, từ bỏ, không đi đến chỗ chấm dứt tham sân si đối với năm uẩn, đối với tứ đại. Một khi tri kiến như thật đi đến hủy hoại, nhàm chán, ly tham hủy hoại thì giải thoát tri kiến bị hủy hoại, làm sao có được sự giải thoát. Giải thoát ở đây là giải thoát lòng ham muốn đối với sắc pháp này, tháo gỡ tâm ham muốn đối với cảm giác này, tháo gỡ lòng tham muốn, chấp thủ vào tư tưởng, nhận thức của tôi, cái này là tôi, cái này là của tôi mà ai chạm vào tôi, chạm vào cái của tôi thì sầu bi khổ ưu não sanh khởi, tiếp diễn. Trong khi tri kiến như thật là luôn thấy, luôn biết sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi, cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi, đây là cảm giác duyên sanh, tư tưởng này không phải là tôi và đây là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới có tư tưởng, do tiếp xúc mới có suy nghĩ, xúc mới sanh ra thọ; tưởng; hành. Bây giờ mình có thể suy nghĩ về một người mà trước giờ mình chưa từng tiếp xúc, chưa từng thấy qua hình ảnh không? Không thể có được, từ xúc mới sanh ra thọ; tưởng; hành.
Với các căn được phòng hộ, này các Tỳ-kheo, với người đầy đủ các căn được phòng hộ, giới đi đến đầy đủ. Với giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ. Với chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ. Với tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Với nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika (VIII) (50) Các Căn)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.