Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vạn Sự Cát Tường- Kinh Điềm Lành

2026-03-03 00:55:30
Kinh Nikāya Giảng Giải

VẠN SỰ CÁT TƯỜNG – KINH ĐIỀM LÀNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đạo lộ cát tường PAGEREF _Toc75966834 \h 1

II.Những điềm lành tối thượng PAGEREF _Toc75966835 \h 2

Đạo lộ cát tường

Khi đầu xuân đến, người người gặp nhau, hay chúc nhau câu “vạn sự cát tường”, nghĩa là muôn việc tốt lành, cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng được an lành. Tuy nhiên, lời chúc đó chỉ là lời chúc suông, không có phương pháp để đạt được cái mình muốn.

Trong bài kinh “Điềm Lành”, Đức Phật chỉ cho chúng ta con đường thực hiện, đi đến sự cát tường, vạn sự như ý, tốt lành, đẹp đẽ, vui vẻ, hạnh phúc, bình an. Cho nên Minh Thành lấy đây làm món quà cho quý Phật tử. Đây là lá bùa hộ mạng, lá bùa bình an. Đây là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, không có bài chú nào bằng bài này hết. Chúng ta không phải chạy đi đầu này đầu kia để lạy lục, không phải đứng trước bàn Phật lạy lục, van xin. Mà quý Phật tử làm theo đúng lời Phật dạy, thực tập theo những điều này là mình sẽ được vạn sự cát tường, muôn điều như ý, muôn điều tốt lành, tâm tưởng sự thành, trăm năm hạnh phúc, đầu bạc răng long, bách niên giai lão, giàu sang phú quý, sanh ý hưng long. Tất cả những lời chúc trên thế gian này cũng không bằng câu ở trong bài kinh này. Đây là đạo lộ, là phương pháp, là con đường để chúng ta đi đến sự tốt lành, bình an, may mắn nhất trong cuộc đời này.

Vấn đề trong bài kinh không phải do con người hỏi Phật, mà là Trời hỏi, Phật trả lời là trả lời cho chư Thiên, Thiên tử. Chúng ta ở đây cứ tưởng tượng trên trời là sướng nhất nhưng thực sự chưa sướng hết, vẫn còn cảnh đánh lộn với chư Thiên, cũng còn có những cảnh, yêu ghét, giận hờn, khổ đau, sanh, lão, bệnh, tử và còn đoạ lạc. Trong bài kinh, chư Thiên này đến hỏi Phật:

Nhiều Thiên tử và người,

Suy nghĩ đến điềm lành,

Mong ước và đợi chờ,

Một nếp sống an toàn,

Xin Ngài hãy nói lên,

Về điềm lành tối thượng.

Những điềm lành tối thượng

Đầu tiên, Đức Phật nói về điềm lành thứ nhất:

Không gần gũi kẻ ngu,

Nhưng gần gũi bậc Trí,

Đãnh lễ, người đáng lễ,

Là điềm lành tối thượng.

Ca dao Việt Nam có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, đó là kinh nghiệm, túi khôn của ông cha ta hơn ngàn năm, trăm ngàn năm. Ở đây, Đức Phật dạy rằng, khi chúng ta thân cận, gần gũi thì phải lựa bậc trí. Bài kinh “Trên Tất Cả” trong Tăng Chi Bộ kinh, “trên tất cả” ở đây nghĩa là tối thượng. Đức Phật nói rằng dù cho có đi gặp bất cứ ai ở trên cuộc đời này, thì cái gặp đó là cái gặp của bình thường, thấp kém, phàm phu. Nếu gặp được Như Lai hay đệ tử của Như Lai thì đó là sự gặp trên tất cả. Tức là, trong tất cả sự gặp gỡ, sự viện kiến, sự tham kiến, sự yết kiến thì sự gặp gỡ Như Lai hay đệ tử Như Lai được gọi là sự gặp trên tất cả sự gặp gỡ, sự gặp gỡ tối thượng, gọi là sự yết kiến tối thượng. Hôn nay quý vị đang đọc cuốn sách này là quý vị đang yết kiến tối thượng. Tại sao phải gặp gỡ Như Lai và gặp gỡ đệ tử của Như Lai? Tại vì những sự gặp gỡ khác đưa đến tham, sân, si, đưa đến sầu bi, khổ, ưu, não. Còn sự gặp gỡ Như Lai hay đệ tử Như Lai thì đưa đến chỗ ly tham, bớt khổ, giảm khổ, dứt khổ và đưa đến sự cứu cánh an lạc. Như vậy nên mới gọi là sự gặp trên tất cả sự gặp, yết kiến tối thượng.

Nghe cũng vậy, học tập cũng vậy, phụng sự lợi đắc cũng vậy. Đức Phật nói chỉ gặp Như Lai hay đệ tử Như Lai nghe pháp thì cái đó mới trên tất cả. Đó là sự nghe trên tất cả sự nghe; sự học tập trên tất cả sự học tập; sự phụng sự Như Lai hay đệ tử Như Lai cũng trên tất cả mọi sự phụng sự. Cho nên, điềm lành đầu tiên là gần gũi những bậc trí huệ, những bậc sáng mắt, những bậc chân nhân, hiền nhân, thánh nhân. Như vậy thì còn sự gặp gỡ nào bằng sự gặp gỡ đó nữa. Sự gặp gỡ này giúp cho mình mở con mắt, giúp cho mình thấy được mục đích thực sự của đời sống là gì, còn bằng không là chúng ta cứ lẩn quẩn, cứ ăn mặc, vui đùa, rong chơi, rồi xong bệnh và tắt thở.

Xin hỏi quý vị, có ai chắc chắn ba chục năm nữa hay năm chục năm nữa mình còn sống hay không? Chúng ta không biết gì hết! Vậy mục đích đời sống này là gì mình cần phải chiêm nghiệm, phải suy nghĩ và mình tìm ra được mục đích sống? Chúng ta phải tìm trong Thánh giáo của Đức Phật, ngoài đây ra không còn chỗ nào khác chỉ cho mình chính xác nhất, viên mãn nhất, trọn vẹn nhất, rốt ráo nhất. Giáo pháp Đức Phật được đệ tử Như Lai – chư Tăng truyền đạt lại, mà chư Tăng phải tu đúng theo Chánh Pháp mới được. Còn chư Tăng tu không đúng Chánh Pháp, chỉ coi bói, đi xem sao, giải hạn, cầu xin… thì đó không phải Phật Pháp, mà đó là mê tín.

Đức Phật chỉ cho chúng ta gần gũi những bậc trí huệ, đảnh lễ những bậc đáng lễ, không gần gũi kẻ ngu. Người giống như mình thì gần gũi cũng không được lợi ích gì nhiều, phải tìm bậc cao hơn, hiểu biết hơn, trí huệ hơn, mình gần những người đó để học. Kiếp người ngắn ngủi, mong manh, tạm bợ, vô thường, không biết trước được điều gì, tại sao chúng ta không trân trọng, trân quý quỹ thời gian của mình. Thời gian dần cạn kiệt, thế nên, chúng ta gần được bậc trí huệ, đảnh lễ được người đáng kính lễ thì đó là điềm lành tối thượng, là phúc lành, phước lành, thiện lành của mình.

Điềm lành thứ hai:

Ở trú xứ thích hợp,

Công đức trước đã làm,

Chân chánh hướng tự tâm,

Là điềm lành tối thượng.

Ở trú xứ thích hợp là không ở chỗ đâm heo, thuốc chó, không ở chỗ rượu chè, bài bạc, say xỉn, xì ke, ma tuý. Chỗ mình ở phải là khu phố văn hoá, đàng hoàng, ở chỗ thích hợp, những người xung quanh hiền lành, có an ninh. Quý Phật tử đang ở đây là đang ở chỗ thích hợp để tăng trưởng sự phúc lành của mình lên.

“Công đức trước đã làm – Chân chánh hướng tự tâm”. “Hướng tự tâm” là quay lại nhìn nội tâm của mình, tự là tự mình, tâm là nội tâm. Nhưng chúng ta quay trở lại nhìn nội tâm một cách chân chánh thì khác với sự quay nhìn nội tâm mà không có người hướng dẫn. Khi đó, mình quay trật lất, quay lại nhìn rồi nghĩ buồn người này, giận người kia, bực người nọ. Nhìn vào nội tâm toàn là giận, rồi buồn, trách, thương, ghét, nói người này sai, người kia đúng… như vậy không phải là chân chánh hướng tự tâm. Chân chánh hướng tự tâm là quý vị quay nhìn lại, thấy mình cũng lớn tuổi mà chưa tập ăn chay nhiều, cho nên bây giờ cố gắng tập, bớt từ từ ăn mặn. Hoặc mình còn giận ba, bốn người, cái giận này đưa mình xuống chỗ thấp, mà mình muốn lên cao, muốn đi chỗ tốt đẹp thì không nên nuôi dưỡng cơn giận. Cái tham mình cũng bớt từ từ, mấy cái tham gì đó mình giao phó lại, di chúc để lại sổ đỏ, sổ hồng, két này, két kia… Mình lớn tuổi rồi nên lo tu, không đặt nặng vào mấy cái đó nữa để tâm được nhẹ ra, tâm tháo gỡ từ từ, lòng mình được thanh tịnh, nhẹ nhàng, sáng suốt. Như vậy mới là chân thành hướng tự tâm.

Chúng ta phải tu tập ly tham, ly sân, ly si, bớt tham, bớt nóng giận, bớt si mê. Càng ngày càng thấy rõ những sự thật về thân thể này, về những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình. Nhìn thấy được thân này mong manh, tạm bợ, không chắn chắn. Nhìn thấy cảm giác thay đổi liên tục, liên miên. Những nghĩ, tưởng hết nghĩ cái này đến cái kia, nghĩ lung tung, nghĩ lang tang, nghĩ chuyện vớ vẫn. Rồi tự nó nghĩ cho nó bực, tự nó nghĩ cho nó buồn, tự nó nghĩ cho nó phiền. Như vậy là tự tìm phiền não, không biết tu tập cái tâm, giống như thanh sắt bị rỉ sét, rồi rỉ sét đó huỷ hoại thanh sắt. Đó là người không biết tu tập tâm, không đặt tâm đúng hướng, không biết làm cho tâm mình thăng hoa, cao thượng lên. Người đó không có điềm lành, người đó không có cát tường, không có tốt lành mà người đó đang bị giận, bị xấu. Cho nên, chúng ta biết chân chánh hướng tự tâm là điềm lành tối thượng.

Mỗi một ngày như vậy hãy để dành nửa tiếng, hoặc một tiếng nhìn lại nội tâm của mình, xem ngày hôm nay mình đã nghĩ những gì, đã làm những gì, đã nói những gì để điều chỉnh nó lại, làm cho càng ngày càng hoàn thiện, càng tốt lành. Đó là điềm lành tối thượng, là may mắn đó, là tuyệt vời. Còn đằng này mình chỉ hướng ra ngoài, không biết gì về thân tâm của mình, đến khi ra đi là mình khổ lắm, vì mù mịt, mù tối, mù mờ, mù loà. Cho nên mình biết hướng nội là điều rất tốt, đó là điềm lành thứ hai.

Điềm lành thứ ba:

Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,

Khéo huấn luyện học tập,

Nói những lời khéo nói,

Là điềm lành tối thượng.

Tuổi trẻ ở đây phải học cho nhiều, học lý thuyết không chưa đủ mà nghề nghiệp cũng phải giỏi. Chúng ta phải có sự thực hành thực tập, phải va chạm thực tế, phải kinh nghiệm lâm sàng. Chứ không phải nói ro ro, mở sách ra đọc rồi tới chừng ra thực tế thì bốc đâu hư đó, đụng gì bể nấy, trị bệnh nhưng người ta không hết bệnh mà còn bệnh nặng thêm là chết. Cho nên nghề nghiệp phải giỏi, lý thuyết và thực hành phải lưỡng toàn. Vừa có bằng cấp, vừa có học vị, vừa có sự thực nghiệm lâm sàng, vừa có kinh nghiệm làm việc. Như vậy là điềm lành, là tốt lành.

Quý vị đã lớn, tự đứng bằng đôi chân của mình, không dựa dẫm vào cha mẹ. Mai mốt mình có vợ, có con thì vợ con dựa vào mình. Còn cha mẹ đã già rồi, nếu mình dựa vào là ba mẹ sẽ bật vì già yếu. Cho nên, mình phải đứng bằng đôi chân của mình, để làm chỗ dựa cho vợ, cho con và cho anh em nữa. Người đi tu cũng vậy, không dựa hoàn toàn vào thầy, cái gì cũng thầy hết là không phải. Tự mình phải đứng bằng đôi chân của mình, lý thuyết và thức hành, thực tế và kinh nghiệm, trải nghiệm. Đó là điềm lành, còn không thôi là bất tường.

Hai mươi mấy tuổi rồi mà lúc nào cũng xin tiền như vậy không có tốt lành. Cho nên, phải có bằng cấp, phải có học vị, phải có tri thức, phải có trình độ đối với xã hội hiện đại. Mình không biết gì hết thì xin việc sao mà người ta nhận. Không biết gì hết thì mình đi làm mướn, làm công nhân, làm lao động, làm ruộng suốt đời, như vậy sáu bảy chục năm, không đi ra khỏi được, gọi là bần cố nông. Phải phấn đấu học tập, làm việc, lao động, không được lười biếng, lười nhát, yếu hèn. Mà phải mạnh mẽ, phải là một nam tử hán, đầu đội trời chân đạp đất. Mạnh mẽ như vậy, sống có ý nghĩa, có lợi ích, có giá trị cho tự thân và mọi người. Phải đỉnh thiên lập địa, đứng sừng sững giữa trời đất này, nam nhi tự hữu.

Có bài thơ nói về chí nam nhi, “đã sanh ra trong trời đất này phải có công gì với núi sông”, không sống chơi chơi qua ngày hết tháng, lơ lơ lửng lửng như lục bình trôi sông. Phải có định hướng, có mục tiêu, có lý tưởng. Xuất gia là phải chứng quả, ở trên đời là phải làm nên sự nghiệp, hiếu thảo công danh, lợi ích cho mình, cho người, cho xã hội. Đó là điềm lành, đó là phước báu, đó là cát tường. Đức Phật dạy rất hay, mình biết ứng dụng là tuyệt diệu lắm. Đâu phải Đức Phật kêu mình cạo đầu hết rồi vào chùa đi, Phật không có kêu như vậy.

Kế đến, Đức Phật dạy phải nói những lời khéo nói. Lời nói phải hết sức là cẩn thận, thật là khéo léo, nói làm sao cho vợ chồng êm ái, hoà thuận, cha mẹ mát ruột. Đến mức cha mẹ nói: “Sanh nó ra giờ nó nói câu nào tôi cũng thấy mát ruột mát gan hết”. Cho nên lời nói của mình phải khéo. Đó là điềm lành, là phước báu, là cát tường. Chứ quý vị nghĩ điềm lành ở đâu? Điềm lành là mây ngũ sắc; hay điềm lành là trên trời rớt hoa xuống. Cái đó không có, chỉ trên sách vở thôi. Điềm lành là chính bản thân mình, điềm lành là mình có hiếu hạnh, hiếu thảo. Không những vậy mình còn có nghề nghiệp, có việc làm, có tri thức, có đạo đức, có lời nói từ ái chánh ngữ. Lời nói của mình sao cho người ta đang bực bội mà nói ra là người ta dễ chịu; đang nóng bức mà nói ra là mát mẻ; đang gây sự nói ra là hoà giải hết. Đó là điềm lành, là người báu, là phúc lành đến cho mọi người. Cho nên, phước ngay miệng thì hoạ cũng ở ngay miệng, phúc hoạ là ở một chỗ. Thành ra, chúng ta biết ứng dụng là thấy tuyệt diệu lắm.

Điềm lành thứ tư:

Hiếu dưỡng mẹ và cha,

Nuôi nấng vợ và con,

Làm nghề không rắc rối,

Là điềm lành tối thượng.

Mới nói tức thì đó, hiếu dưỡng mẹ và cha, nuôi nấng vợ và con, làm nghề không rắc rối. Vậy nghề rắc rối là nghề gì? Chữ này là nhiều nghĩa lắm. Nghề rắc rối như cắt cổ gà, cổ vịt, đâm heo, thuốc chó. Thành ra mình phải chọn nghề không có rơi vào những ác nghiệp, xấu ác. Chọn công việc lành mạnh, lương thiện, không làm nghề đưa đến chỗ gây ra những nghiệp đen, dẫn đến quả báu đen. Đức Phật dạy có bốn hạng người: người từ tối đi ra sáng, người từ tối đi vào trong tối, người từ sáng mà lại đi vào trong tối, người từ sáng lại đi vào chỗ sáng. Đức Phật phân biệt có bốn hạng người như vậy và tương ứng có bốn cái nghiệp.

Vậy thế nào là người từ tối mà đi ra sáng? Đó là người gia đình nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền. Mà người này biết nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, biết hiếu thảo với cha mẹ, biết bố thí cúng dường, biết cung kính người đáng kính, biết gieo trồng những việc phước, giúp đỡ người nghèo khổ, biết tu tập các pháp thiện lành. Người như vậy là từ tối đi ra sáng.

Còn người từ tối đi vào tối là người khốn khổ, tật nguyền, bệnh hoạn. Mà lại làm những việc ác, nghĩ ác, nói ác, làm ác, hại người ta, những suy tư về sân hận, những suy tư về hại người, gây những sự tổn não, đau khổ cho người khác. Người này là từ tối vào tối.

Người từ sáng đi vào tối là người này sanh ra đẹp trai, đẹp gái, nhà giàu, học giỏi, có địa vị mà người này nghĩ ác, nói ác, làm ác, gây ra những sự đau khổ, khổ sở cho người khác. Người này là từ sáng mà đi vào tối.

Cuối cùng là người vừa đẹp, vừa giàu có, có mọi thứ mà người này còn nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, chuyên làm những điều thiện, điều lành giúp đỡ mọi người. Đó là người từ sáng đi vào sáng.

Vậy trong bốn hạng mình thuộc dạng nào? Mình muốn từ tối đi vào sáng là phải quyết tâm.

Điềm lành thứ năm:

Bố thí, hành, đúng pháp,

Săn sóc các bà con,

Làm nghiệp không lỗi lầm,

Là điềm lành tối thượng.

Cũng một con người được sanh ra, mình phấn đấu, nỗ lực, học tập, làm việc. Từ đó, mình có kinh tế tài chính và giúp được anh chị em bà con, hướng thiện cho mọi người, đưa mọi người vào Chánh Pháp, đặt mình vào bốn Dự Lưu phần: niềm tin bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đối với Thánh Giới. Đó là phước báu, đó là điềm lành. Mình là chỗ dựa, mình là cát tường, phải làm cho mình trở thành như vậy. Chứ giờ nhiều đưa con phá gia chi tử, làm cha mẹ khổ sở, thiếu nợ bắt cha mẹ phải trả, có những lời nói, hành động làm cho cha mẹ bệnh, thậm chí là sát hại đấng sanh thành. Như vậy sẽ bị đọa vào địa ngục Vô Gián, một trong ngũ nghịch tội, là tội nặng nhất trong tất cả tội ác.

Bây giờ chúng ta đọc báo thấy sợ không? Nó ràng ràng trước mắt như vậy, rất là đáng sợ. Cho nên giới thứ năm rất là quan trọng. Tuổi trẻ, tuổi già gì cũng vậy, tuyệt đối không sử dụng những chất say sưa, những chất nghiện ngập. Dùng những chất đó là không còn biết cái gì nữa, không còn biết luân thường đạo lí, cha con, anh chị em gì nữa. Bây giờ, chúng ta đang tỉnh táo như vậy mà Đức Phật nói mình vô minh, không thấy được năm uẩn, không thấy được tứ đại vô thường. Mà khi mê như vậy là mình chồng lên một lớp mê thì sẽ chìm xuống, đi xuống vực sâu , đi xuống không có ngày lên. Cho nên chúng ta phải cố gắng, làm những nghiệp lành, không có lỗi lầm.

Đó cũng là điềm lành kế thứ sáu:

Chấm dứt, từ bỏ ác,

Chế ngự đam mê rượu,

Trong pháp không phóng dật,

Là điềm lành tối thượng.

Ngày xưa chỉ có rượu thôi mà bây giờ ra trăm ngàn thứ, cho nên mình nói chung từng thứ. Đức Phật cũng vậy, Ngài chế ra giới là không được sử dụng những chất say sưa nghiện ngập nói chung. Ngày xưa chưa có mấy việc này, còn bây giờ đủ thứ loại chất kích thích hết, nhiều loại mình còn không biết tên. Nào là bóng cười, thổi bong bóng là cười hoài, rồi ảnh hưởng thần kinh luôn. Rồi cả nam, nữ, giới trẻ, không phải mười người, hằng trăm người, mà hằng nhiều trăm sử dụng chất kích thích làm điên loại, huỷ hoại tự thân, huỷ hoại đời sống, huỷ hoại gia đình mình chỉ vì một chút xíu cảm giác như ảo vậy. Cho nên, một việc quan trọng là chế ngự đam mê rượu.

Kế tiếp, pháp không phóng dật là pháp hết sức quan trọng trong sự tu học. Ba chữ không phóng dật là không có buông lung. Ở trong Chánh thì chúng ta không cho phép mình buông lung. Ví dụ, mỗi ngày, mỗi thời khoá tu mình không được bỏ, trừ bệnh nặng lên không nổi, thì lúc đó tu tập ngay trên giường bệnh. Mỗi một ngày, phải có thời khoá tu, quyết định phải tu. Một ngày mình có ba cử ăn, đó là lo cho cái thân, lo về vật chất, vậy tại sao tâm linh mình không lo? Mà trong khi tâm là chủ của thân mà mình không lo, mình lo cái thứ yếu. Như vậy là cán cân của mình không quân bình, không cân bằng. Suốt ngày cứ hỏi, “sáng ăn gì, trưa ăn gì, tối ăn gì, chiều ăn gì”, còn cái tâm mình để cho nó suy nhược, yếu đuối, bệnh hoạn, bệnh trầm kha luôn, gọi là tâm bệnh. Tâm bệnh không lo trị, không lo chăm sóc cái tâm, không lo nuôi dưỡng cái tâm, không lo bồi bổ cái tâm, không lo tu tập huấn luyện cái tâm, một đời sống không có quân bình.

Cho nên, đối với Chánh Pháp, đối với sự thực hành pháp, chúng ta phải thực tập mỗi ngày, quán chiếu nghiền ngẫm mỗi ngày để diệt tận, giảm bớt và chấm dứt tham, sân, si. Đó là nguyên nhân làm cho mình khổ, cho nên không được thả lỏng, không được dễ vui, không được siêng năng, tinh tấn đối với sự thực hành pháp, đối với sự nghe pháp, đối với sự truyền bá Chánh Pháp, đối với mọi người, đó là điềm lành. Người như vậy là quốc bảo, báu vật của quốc gia, là báu vật của thế giới. Người đó là người xác lập kỷ luật của nhân loại, người đó là kì quan của tâm linh.

Chính vì vậy, không phóng dật hết sức quan trọng, đặc biệt đối với người xuất gia là tuyệt đối cần thiết. Đọc trong kinh Đức Phật nói, pháp không phóng dật này là vua của tất cả các pháp, là pháp dẫn tới sự đại giác ngộ. Nếu bỏ pháp không phóng dật này thì tất cả pháp sụp đổ. Cho nên, luôn luôn lúc nào cũng phải nhiếp tâm, chế ngự, phòng hộ, hộ trì, gìn giữ. Không có để buông thả, thả lỏng, thả lòng là xong xuôi hết rồi. Leo lên núi đỉnh Everest khó, bây giờ cả trăm người chinh phục nóc nhà thế giới, mà chết thì cũng rất nhiều người. Đỉnh núi cao bảy tám ngàn mét cách mặt nước biển, chỉ cần sơ sảy một chút là lọt xuống chết. Trong sự tu cũng vậy, sơ hở một chút xíu là sụp đổ hết. Leo lên núi thì khó mà muốn xuống thì nhanh, buông tay là xuống liền, xuống nằm một đống luôn. Cho nên đối với thiện pháp mình phải giữ gìn. Những gì tốt phải gìn giữ và phát huy trong thân tâm của mình.

Điềm lành thứ bảy:

Kính lễ và hạ mình,

Biết lễ và biết ơn,

Đúng thời nghe Chánh Pháp,

Là điềm lành tối thượng.

“Kính lễ và hạ mình”, câu này nói lên một trí huệ hiểu biết về vô ngã mới có thể thực tập điều này một cách triệt để. Kính lễ đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đối với Thánh Giới. Kính lễ đối với ông bà, cô bác, cha mẹ, anh chị em. Kính lễ người ngang bằng mình, thấp hơn mình. Thậm chí mình kính lễ với người khèo khổ, thấp hèn nhất. Thương người ta, quý người ta, tội nghiệp cho người ta cũng là thân ngũ uẩn vô thường, cũng vì ác nghiệp mà sanh ra cái thân như vậy. Trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mình đã từng trong cái thân đó, mình đừng có khinh khi người ta. Đừng có thấy người đi lượm rác, lượm bọc, đi thu phế liệu mà khinh thường người ta, vì “cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Khi thấy người ta phạm lỗi, có lỗi thì đừng vội khinh thường, chê bai, phỉ báng người ta. Hãy cẩn thận quay lại nhìn chính mình, điều chỉnh sửa đổi, như vậy mình thấy thương mình, thương người. Mà thương như vậy là đức của mình sanh, trí của mình sanh, tuệ của mình sanh, phước của mình sanh.

Hạ mình hay lắm, đừng nghĩ rằng cha mẹ phán sao là con cái phải nghe vậy. Mà quý vị càng nhún nhường thì tình thương của mình bao trùm lên con cái, nhờ đó nó càng nể, càng phục, càng kính, càng hiếu thảo thì mình có phúc, tuổi già sẽ tuyệt vời. Như vậy là quý vị có “cái hậu” lớn, nghĩa là có những điều tốt đẹp ở cuối đời. Có hiều người lúc trẻ giàu có, thành đạt mà lúc chết ở tù, trước khi chết ở tù, hoặc khùng điên, vô gia cư, không có nhà đi lang thang… họ không có cái hậu, cho nên cái hậu hết sức quan trọng. Cái hậu ở đây là sự hạ thấp mình đối với tất cả mọi người bằng sự cung kính, khiêm hạ, nhún nhường thì người đó phước đức vô cùng, lợi lạc vô cùng. Đi đến đâu người ta cũng quý, cũng kính, cũng mến, người luôn luôn khiêm hạ người đó công đức vĩ đại. Trong tất cả mọi hoàn cảnh, chúng ta tập hạ mình xuống, dù cho con cháu của mình nhưng mình có những hành động mình biết tôn trọng nó. Như vậy, phước mình thu hoạch được là tuyệt diệu. Dù cho đó là em, là con, là cháu của mình thì cũng đừng xem thường, đừng lấy quyền ra cử xử, thay vào đó hãy lấy đức, lấy sự hạ mình để cư xử. Việc này khó làm mà làm được thì tuyệt vời, đây là cát tường, là tốt lành.

Quan trọng hơn hết là “biết đủ” và “biết ơn”, bốn chữ này phải khắc trong não. Tại sao mình khổ? Vì không lúc nào mình biết đủ. Có năm đồng cũng thấy không đủ, năm chục cũng thấy không đủ, mà năm trăm cũng thấy không đủ, năm tỉ cũng thấy chưa đủ, năm chục tỉ cũng không đủ, năm trăm tỉ cũng không đủ… thì như vậy khổ hoài thôi. Chúng ta cứ cố gắng làm việc, nỗ lực làm việc, có bao nhiêu hưởng bấy nhiêu. Chúng ta vẫn cố gắng chứ không phải làm biếng và hưởng bằng khả năng làm việc của chính mình. Còn cứ nhìn mấy người khác, tháng lương một trăm triệu, mà không chịu phấn đấu thì sao có được. Cho nên phải phát triển năng lực, khả năng của mình thì bản thân sẽ được tăng trưởng lên. Còn mình cứ sống trong mong đợi, hi vọng, ước mơ, ảo tưởng, tưởng tượng, như vậy rất khổ. Vì mình không bằng lòng với cái gì hết, rồi cứ đi tìm hoài như vậy thì suốt cuộc đời mình là đi tìm, đi kiếm. Cho nên, sự biết đủ giúp cho tâm mình bình an, an tịnh, hưởng được những cái đang có.

Và sự biết ơn này cũng rất tuyệt vời. Phải luôn luôn biết ơn những người có ơn và biết ơn những người làm khổ mình. Tại vì người làm khổ mình cũng có giá trị. Nhờ người đó mình mới có sức chịu đựng, kiên trì, nhẫn nại, vượt khó. Thử kiểm tra lại trong cuộc đời mình, đối với những người làm khó mình, nhờ những người đó mà mình được rèn luyện, phải rất cảm ơn những người đó. Quan trọng hớn là ơn cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, xóm làng, ơn Tam bảo, ơn tất cả mọi người, ơn cuộc đời, ơn mảnh đất này, ơn dòng nước này, ơn không khí này, ơn ngọn gió này… Tất cả mọi thứ đều tràn ngập sự ơn đức. Sống trong sự biết ơn, thì sẽ thấy vui lắm. Mình không khó chịu, không bực bội, không bực tức ai, thấy chỗ nào cũng tràn ngập ơn đức, như vậy tâm mình sẽ nhẹ nhàng và hoan hỉ, phước báu từ đó sanh ra. Còn người cái gì cũng bực bội, khó chịu, bất mãn hết thì người đó thiếu phước, khổ.

“Đúng thời nghe Chánh Pháp – Là điềm thành tối thượng”. Quý vị lên chùa nghe Chánh Pháp là đúng thời, còn đến chùa mà không được nghe Chánh Pháp, cứ vào cúng, ăn xong rồi về thì đi chùa ba chục năm rồi cũng vậy, như thế rất là uổng, cho nên phải tìm nói có Chánh Pháp để mình tu học.

Điềm lành thứ tám:

Nhẫn nhục lời hoà nhã,

Yết kiến các Sa-môn,

Đúng thời đàm luận pháp,

Là điềm lành tối thượng.

Chữ nhẫn nhục ở đây mình phải hiểu nghĩa sâu sắc, tức là chịu khó. Tất cả mọi sự thành công trong cuộc đời này, không có cái gì mà không chịu khó hết. Để có được mình phải chịu khó. Đọc cuốn sách là quý vị đã chịu khó. Phải kiên nhẫn, chịu khó, nhẫn nhục, chinh phục các cảm giác. Việc đàm luận pháp đúng thời là điềm lành tối thượng. Tốt lành cho mình.

Điềm lành thứ chín:

Khắc khổ và phạm hạnh,

Thấy được lý Thánh đế,

Giác ngộ quả Niết-bàn,

Là điềm lành tối thượng.

Một người nước ngoài, tuổi trẻ, đẹp đẽ, gia đình đâu phải nghèo khó nhưng mà xem thường ăn, mặc, ở rồi tìm đi tới núi rừng học pháp, cầu pháp, hành pháp. Lên núi bị rầy, bị la chứ không phải theo Minh Thành mà sướng đâu. Như vậy gọi là khắc khổ, chịu khó, chịu đựng, chịu khổ để cầu giáo pháp, cầu đạo lộ giải thoát. Đó là điềm lành, đó là phúc lành, đó là thiện lành, đó là công đức, đó là cát tường của người này. Còn người bị la một chút, nhắc một chút là bản ngã chình ình lên, cái mặt chầm dầm một đống thì người đó không có phước lành, người này bất thường, người này không chịu nghe, không chịu được dạy, không chịu ai bảo, không chịu gì hết, thích làm theo kiểu bản ngã, như vậy tu không đi tới đâu hết. Cho nên, người tu cần được nhắc nhở, được chỉ bảo, được đẽo gọt, giống như một khúc gỗ được đẽo gọt mới thành tượng Phật.

Có câu chuyện thế này, ngày hôm đó ông Phật gỗ tâm sự với cái chuông đồng. Chuông đồng mới nói: “Anh sướng ghê, anh ngồi ở trên người ta lạy anh. Còn người ta gõ trên đầu tôi bon bon bon. Mỗi lần người ta lạy anh là tôi bị gõ lên đầu. Anh thấy anh sướng không?”. Ông Phật gỗ nói: “Cậu này chưa biết. Cậu không biết từ một khúc gỗ mà tôi bị bào, bị nẻo, bị đục, bị khắc, bị chẻ đau đớn cỡ nào. Mà tôi leo lên ngồi đây được, gian khổ cỡ nào anh có biết không? Như vậy tôi mới được leo lên đây ngồi chứ, đâu phải muốn là leo lên đây ngồi. Tôi bị ông thầy Minh Thành ổng chặt, ổng móc, ổng chà, ổng khỉa”. Chúng ta thấy rằng, khúc gỗ mà thành tượng Phật là phải rèn luyện, phải đẽo đục, phải chà giấy nhám. Càng đường nét chừng nào, càng sắc sảo chừng nào thì càng bị đẽo đục, khắc chạm tinh vi, công phu. Cho nên khắc khổ và phàm hạnh là đời sống thanh tịnh. Thực hành những hạnh thanh tịnh, tịnh hoá được thân, miệng, ý của mình. Từ từ tịnh hoá, gọi là phạm hạnh.

Người tu phải thấy được lý Thánh đế, tức là chân đế của bậc thánh. Chân lý giác ngộ của Đức Phật chỉ cho mình thấy được bản chất của cuộc đời này, để mình vượt thoát ra. Đó là điềm lành tối thượng. Tức là trong đời sống mình nhìn thấy được, nghe được, hiểu biết được, hành trì được, thấy được Khổ Thánh đế, thấy được nguyên nhân sanh ra khổ, thấy được con đường vượt thoát khổ đau… là việc tối thượng thừa, là bậc nhất trong đời sống này.

Điềm lành thứ mười:

Khi xúc chạm việc đời,

Tâm không động, không sầu,

Không uế nhiễm, an ổn,

Là điềm lành tối thượng.

Nhờ thấy, biết vấn đề khổ đau, vấn đề vô ngã, vô thường, phiền não của cuộc đời này nên khi xúc chạm mọi chuyện, hiểu được cái lẽ của nó rồi thì tâm mình không động, không có sầu, không có bị uế nhiễm. Tâm mình được an ổn, đó là bất động tâm giải thoát, là điềm lành tối cao của bậc Hiền Thánh. Mà tất cả chúng ta tu là hướng về chỗ đó, đó là mục đích cứu cánh của người tu học, từ cư sĩ cho đến xuất gia.

Điềm lành thứ mười một:

Làm sự việc như vầy,

Không chỗ nào thất bại,

Khắp nơi được an toàn,

Là điềm lành tối thượng.

Làm những điều như đã nói được thành công, đại thành công thì khắp nơi chỗ nào cũng được an toàn. Làm được những việc như trên thì bất cứ chỗ nào mình ở, bất cứ người nào mình gặp, bất cứ trường hợp nào mình cũng an toàn, bảo toàn, vẹn toàn… đó chính là điềm lành tối thượng.

./.