Lịch Sử Linh Quy Pháp Ấn 2
LỊCH SỬ LINH QUY PHÁP ẤN 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Con đường học Pháp PAGEREF _Toc73090657 \h 1
II. Khai sơn Linh Quy Pháp Ấn PAGEREF _Toc73090658 \h 3
I. Con đường học Pháp
Khi trở về Bửu Liên thì bắt đầu con đi giảng pháp. Giảng pháp hồi xưa vất vả lắm. Con thấy người tu có ba việc thôi là học pháp, thực hành pháp và truyền pháp. Chính vì vậy ngoài việc tu và học con thực tập giảng pháp. Khi con lên Sài Gòn một năm sau thôi là con đã thi diễn giảng rồi lên tới chùa Ấn Quang giảng rồi. Tức là xuất gia khoảng một năm thôi, thì trong trường hạ thổ chức cho thực tập diễn giảng.
Thì con thi đậu ở trường, đi lên giảng đường lớn của thành phố giảng. Bài giảng đó con giảng vẫn còn đó, hình ảnh vẫn còn đó, tức là từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ thì tất cả những gì con ghi chép thì không mất chữ nào hết. Nó được đúc kết thành bộ pháp ấn bảo tạng. Hiện tại biên tập ra đó là ba chục quyển, một quyển một ngàn trang. Hiện tại ở Bửu Liên là 7 quyển, một quyển một ngàn trang. Tại vì khi mình đi ra nước ngoài rồi mình mới thấy Phật giáo trong nước rất ít về tác phẩm, tác phẩm của Phật giáo nước mình ít lắm, đại đa số là dịch chứ còn trước tác là không bao nhiêu. Có hoà thượng Trúc Lâm thì nhiều, mà đó là ghi lại các bài giảng, còn sách thật sự của người Việt trước tác không bao nhiêu. Mà có trước tác thì không có giá trị nhiều.
Ở Trung Quốc, ở Đài Loan những tác phẩm của Phật Giáo là những bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư, đó là những lời ghi của các vị cao tăng, những vị danh tăng ghi lại là thành bộ, bộ là mấy chục cuốn. Thì mình mới đi học được điều đó. Lúc trước con chưa được đi thì con học từ Hoà Thượng Thanh Từ, hoà tượng thì học ở Phật giáo Trung Quốc, tức là ghi chép lại hết. Thì hiện tại bộ Pháp Ấn bảo tạng nếu mà in ra thì một quyển một ngàn trang mà ba chục quyển, nhưng khi con vô dòng pháp này là con bỏ hết.
Thì trở lại việc thực tập diễn giảng, thì thực tập diễn giảng ở Bửu Liên lúc đầu cực lắm, con phải đi quét nhà, lau nhà cho mấy người tụng kinh xuống người ta ngồi nghe, mà lúc đó khoảng mười người thôi. Mà con học ở ngoài đời không tới đâu, vô trong Phật học con chỉ có bằng cao đẳng thôi. Nhưng mà con dành thời gian tự học rất là nhiều và ý chí tiến thủ trong cái pháp là rất mạnh vì đi xa thầy Bổn Sư rồi, còn thầy Thiện Bình thì ngày chuyên về cúng kiến, thầy giỏi chữ nho. Thì tất cả là tự mình thôi. Và con xin thưa là tất cả sách nào về cao tăng là con đều có hết, không chỉ tiếng việt mà tiếng hoa, mà có mấy quyển con đọc sình luôn. Con đọc để biết mấy vị cao tăng, mấy vị thánh tăng làm và học như thế nào. Tại sao mà thành thánh tăng, tại sao mà thành cao tăng. Và những lời cảnh sách đanh thép mạnh mẽ là ngày nào cũng đem cái đó đọc. Những lúc tâm mình lười biếng là con đọc nhiều nữa, tại vì mấy cái đó là chất xúc tác để con giữ lửa đó.
Thành ra nói thì nhớ lại em của Pháp Sơn, tức là chú Tuệ Tịnh. Chú này là phụ con lên mạng sưu tầm tất cả các vị cao tăng trên toàn thế giới. Chú làm cho hai cuốn gần một ngàn trang và rất là xót xa, vô thường, mới hai mươi mấy tuổi chú đã mất rồi, không ai ngờ, không ai tưởng tượng được. Tướng cao to, vạm vỡ, hai mươi mấy tuổi đã mất. Đó cũng là cú sốc lớn, cũng là động lực cho thầy Pháp Sơn nhập thất tĩnh tu. Cho nên con nhắc lại là mình làm cái gì là mình phải để tâm vô cái đó. Hôm trước con có nói rồi đó là xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu và nỗ lực để đạt đến mục tiêu. Xác định mục tiêu xuất gia để làm gì? Khi mình thấy được mục tiêu lên núi để làm gì? Khi mình thấy được mục tiêu rồi thì kiên trì mục tiêu là giữ cái đó thật chặt.
Cho nên hồi nãy mấy chú nói trên đây bị cạy cửa vậy đó, con nói bỏ đó lên nghe pháp. Thấy nó đơn giản như vậy nhưng nó là một sức mạnh. Nếu người bình thường, người không quý trọng pháp thì không làm được điều đó, tuy nó đơn giản. Người ta thấy cạy cửa là sợ chứ, lên đặng coi chứ. Bỏ những cái nhỏ đó nhưng trong đó mình phải hiểu được cái thâm ý trong đó, nó không có nhỏ, mình phải suy xét sâu sắc.Xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu và nỗ lực đạt đến mục tiêu thì mình sẽ thành công. Cho nên giờ mình vô dòng pháp này mình phải đọc trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ. Phải đọc, nhất là những lúc mình yếu đuối, giãi đãi, lười biếng, đó là những tấm gương cho mình soi.
Và mình cái pháp lên tối thượng, không có cái gì so sánh được với cái pháp, mạng mình có thể mất nhưng pháp phải học. Mình dám như vậy không? Thấy mấy đồng bạc là bắt đầu quýnh quáng rồi. Mình đi lên quán chiếu đường rắn cắn mình chết, điện giật mình chết, nằm điện giật mình chết đó, mình phải quán chiếu như vậy, tác ý như vậy. Đây không phải nói suông là phải thấy như vậy. Đó là sức mạnh của chánh pháp, sức mạnh của trí huệ.
Thì con bắt ghế quét nhà, lau nhà rồi giảng cho Phật tử trong những ngày đầu thực tập. Lúc đầu mười người rồi sau đó tăng đần lên mười mấy người. Khi mà đông lên rồi, Phật tử người ta chịu rồi thì thầy mới cho giảng mấy bữa thọ bát. Chứ đâu phải tự động nhảy lên làm giảng sư, làm giáo thọ sư, rồi giảng cho tăng ni đâu. Đâu phải tự đông lên chùa Hoằng Pháp giảng cho năm ngàn người, bảy ngàn người đâu. Cái gì cũng phải làm từng bước rất nhỏ đi lên.
Rồi bao nhiêu cạm bẫy trong tài sắc khi mình xuất gia, nếu không cẩn thận, mình không xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu mình sẽ sập bẩy. Đừng nghĩ trong chùa không có bẫy. Những người đi đến cúng dường, tôn trọng, cung kính, đảnh lể đó. Phải đọc kĩ chương lợi đắc cung kính. Này các Tỷ-kheo, lợi đắc cung kính là đắng cay, là ác độc, là mũi tên, là kẻ giết người, là miếng mồi của ác ma.
Cho nên sau khi xuất gia rồi, phải con xuất gia. Lần nhập thất vừa rồi của con là con cho rằng là lần xuất gia thứ tư. Tức là khi xuất gia rồi thì con không nghĩ xuất gia rồi là con đã xuất gia rồi. Một thời gian sau con đưa ra một kế hoạch con phải thành tựu là lần xuất gia thứ hai. Một thời gian mà thầy bão hoà là vạch ra một kế hoạch rồi thành tựu là lần xuất gia thứ ba. Thành ra suy nghĩ của con không giống ai hết, thật sự mình đưa mình vô chỗ khó, đưa mình vào chỗ khó. Tới ngày hôm nay con thưa thiệt với đại chúng, con chỉ có khó một cái là diệt cái cấu nhiễm bên trong thôi, còn bên ngoài không có gì khó đối với con nữa hết, cả thế giới hành tinh này không có gì khó hết. Chỉ có cái khó là diệt được dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, cái đó khó. Còn đối với việc bên ngoài không có cái gì khó, không có là cái gì hết.
Thành ra mấy thầy mấy chú mà con nhờ việc này mà nói khó làm không được, thế này, thế kia thì thật sự con thấy con không có vui, vì mấy chú không nỗ lực, không cố gắng, không có dùng sức. Thì người này làm sao mà gánh vác cái gì được. Tại vì một người sợ khó thì gặp cái gì cũng khó hết, một người đã gặp cái khó mà giải quyết cái khó thì cuối cùng không còn cái gì khó với người này nữa hết. Đối với con trên cuộc đời này không có cái gì khó hết. Thánh đạo, thánh quả mới khó thôi. Tìm ra được thánh đạo, thực hành thánh đạo đến thánh quả cái đó mới khó, ngoài ra chuyện thế gian không có gì khó hết. Cho nên nói khó với con là con không vui, mà nhất là những người con đào tạo.
II. Khai sơn Linh Quy Pháp Ấn
Giờ mới đến bắt đầu khai sơn Linh Quy Pháp Ấn.
Lần đầu tiên con lên giảng là giảng bài ý nghĩa niệm Phật. Khi giảng bài đó xong rồi thì trong nước ngoài nước người ta biết. Rồi những nước ngoài mời, trong đó Úc mời, Đài Loan mời, Mỹ mời và các nước khác. Rồi con đi dạy học sơ cấp Phật học, nhưng mà trong lòng luôn luôn thao thức không có bằng lòng, lại tự đặt mình vô chỗ khó nữa đó. Tức là con không thoả mãn với cái mình đang học, đang có được. Bây giờ ra học, ra giảng pháp rồi, nổi tiếng rồi đi ra nước ngoài nữa. Nếu mà thông thường như người ta là như vậy được rồi. Học được vậy rồi, dạy được vậy rồi, giảng nhiều nước rồi nhưng mà thấy trong lòng vẫn bất an.
Con gặp cái duyên rồi cái tham ái xuất hiện. Lúc đó những cái mình đã học, đã tu không giải quyết được. Từ năm 1990 tới năm 2005 là 15 năm. Sau mười lăm năm tu học mà mình bị cái duyên tham ái thì những cái mình đã tu đã học không sử dụng được. Thì lúc đó con muốn tự vẫn chết luôn. Tại sao mình tu học tới mức độ như vậy rồi mà tâm mình lại như vậy. Coi như là mình móc hết thần công, bao nhiêu công lực mà sử dụng không được. Thì sự tha thiết tìm cầu chỗ ẩn tu thì càng mạnh mẽ hơn nữa. Tức là những cái duyên đến với mình là không phải người bình thường. Người ta hỗ trợ mình, người ta giúp đỡ mình, người ta bảo vệ cho mình, đặng cho mình thăng tiến trên thánh đạo. Thì con mới càng có tâm muốn đi ẩn tu, muốn đi nhập thất.
Thì trong lúc đó một thầy, thầy đó là tổng thư kí của thiền viện trúc lâm, thầy nhập thất ở bên này. Thầy gọi cho con ba lần, kêu con đi lên trên đây. Thầy đang ẩn tu trên này, thì con mới nói bận vì con đang dạy học. Cho tới lần thứ ba thì con mới lên. Lên thì con thấy sao ông này ông ở cái chỗ gì vậy, lên lần này là lần cuối không lên nữa đâu, con nói như vậy. Vì xìn bùn, trơn trợt, té lên té xuống, mà mình thì như công tử vậy, không chịu cực, chịu khổ được, từ nhỏ không làm cái gì nặng được. Hồi đó lên Trúc Lâm cầm cuốc là bật ngửa lên ai cũng cười hết.
Rồi con đụng vô bất cứ cái gì là cái đó hư hết, mà đụng vô pháp là vượt bậc. Ở trên con đường cầu pháp học pháp thì siêu việt, vượt bậc còn những cái khác đụng gì bể nấy, đụng đâu hư đó. Lúc trước mình không biết, còn con biết rồi thì biết đây là con đường của mình rồi, không đi con đường khác. Cho đến hộp đồ ăn mà con khui tấm kiếng ra là chảy máu tay, đụng vô cái gì cũng không được, chỉ kinh sách thôi. Không phải con làm biếng không muốn làm, mà con biết con ra đó là hư chuyện, không thôi là rầy, không thôi ra là chạy máu, thôi thì ở trong đó ngồi thiền nghe pháp đi, tốt hơn. Đây là chỗ không đánh mà khai, vạch lưng chỉ thẹo. Từ khi mà sanh ra là ở trong gia đình là bị đánh tơi bời rồi, đi vô tu là làm cái gì cũng hư cái nấy hết, không làm cái gì được, mà chỉ có pháp là siêu việt, gấp năm bảy lần người học bình thường. Con nghe qua là thuộc giống như người học rồi vậy.
Khi con đi lần thứ nhất thì qua chỗ Phật Đài Giáo Dục Thư Kim Hội, chỗ đó là chỗ in kinh sách cho toàn thế giới. Mình lại chỗ đó nói muốn mua sách gì là họ chở xe tải đến cho mình luôn, miễn phí không có tốn đồng nào hết. Họ gởi về cho con là 182 thùng. Con qua con thấy trường Phật học, thấy Phật Quang Sơn, thấy Pháp Cổ Sơn, thầy Trung Đài Thiền Tự. Con qua là thực sự muốn ở lại, con thấy đây mới là chỗ thực sự để mình phát huy. Bên đây người ta học kinh học pháp giống như mình học sinh ngữ vậy đó. Hai tư sáu là học Phật, còn đài truyền hình là mấy chục đài học Phật giáo. Tổ chức thọ bát quan trai là ở sân vận động, bảy chục ngàn người thọ bát quan trai, làm lễ là mấy trăm ngàn người. Thì con nghĩ thôi đi về, mình ở đây dù mình học giỏi thì mình chỉ là người nước ngoài thôi, sao nói tiếng hoa lại người ta. Trong khi nước nhà mình thiếu thốn, không có người đóng góp phục vụ, thôi quyết định bỏ cái dục, cái ái đó đi về. Quyết định đó là đúng đắn, một quyết định sáng suốt.
Khi trở lại Đài Loan có một đặc biệt nữa là con được rất nhiều người Trung Hoa trợ giúp, yểm trợ. Nhiều người cho kinh sách, cho vé máy bay đi qua. Có người cúng vé máy đi đi qua Indonesia để gặp Tinh Vân Đại Sư. Thì đặc biệt đi tới Trung Đài Thiền Tự, chỗ đó kiến trúc giống như cung điện, nó là một trong tứ đại thiên vương của Phật Giáo Đài Loan. Trong khi Phật giáo Đài Loan có bốn nhánh lớn, một là Phật Quang Sơn có Tinh Vân Đại Sư. Hai là Pháp Cổ Sơn là Thánh Nghiêm Pháp Sư. Ba là Trung Đài Thiện Tự là lão hoà thượng Duy Giác. Bốn là Từ Tế Hội là Ni Trưởng Chứng Nghiêm. Thì mỗi chi nhánh này là ảnh hưởng toàn thế giới. Tín đồ là lên hàng triệu.
Thì một trong tứ đại thiên vương đó, có Trung Đài Thiền Tự là hoà thượng này tu thiền. Mà xây lên khủng khiếp lắm, không thể tưởng tượng được ngôi chùa như vậy. Mà khi con lại chùa không gặp ngài, mà con đi trên đường ké chỗ phát hành tượng Phật thì Hoà Thượng ngồi ở trong đó. Mà Hoà Thượng này đặc biệt là nhập nhất là râu tóc dài ra như vậy nhưng mà người ta rất là cung kính. Và người ta đồn Hoà Thượng biết được tâm người khác, là tâm thông, người ta đồn có thần thông. Khi hoà thượng gặp con lần đầu tiên, hoà thượng nói về Việt Nam cất chi nhánh Trung Đài Thiện Tự giao cho con làm trụ trì.
Mà nói người ta nói hoà thượng là siêu nhìn về nhân tướng học. Con cũng không biết tướng con lúc đó là tướng gì mà thầy bảo giao cho chi nhánh làm trụ trì. Mà đại chúng biết rằng năm đó con còn trẻ, năm đó mới năm 2000 chỉ mới 26 tuổi. Thì lúc đó mà được làm trụ trì mà bên đó mà đầu tư thì cất cái chùa cỡ nào. Gặp như người khác thì sao? Mới hai mươi mấy tuổi thôi biết tiếng hoa, đọc tạng kinh chữ hán, thích Đài Loan, mà bây giờ được trụ trì một chùa, nằm trong tứ đại tông phái lớn nhất Đài Loan, như vậy có thích không? Nhưng về con hỏi kĩ lại, thì hoà thượng này có dính dáng đến phần chính trị, thì con quyết định là không làm, dứt khoát một cái một.
Lúc đó ngộ 25 tuổi, hai mươi lăm tuổi mà dám từ bỏ cái mà trăm năm một thuở. Khi con đến Phật Quang Sơn, chỗ Phật Quang Sơn Hoà Thượng đổi vụ xin xăm thành cái thăm của những Pháp Ngữ. Thay vì mấy chùa rút thăm, trong đó đoán vận hạn, may rủi, nhưng chùa của Hoà Thượng là để một thùng là pháp ngữ của đại phần. Tức là những câu thơ, câu kệ của thiền sư, những vị cao tăng để mình rút ra để mình về mình học, mình tu. Thì con lại con rút hai lần, lần thứ nhất là trúng bài là:
Vô biên phong nguyệt
Mắt trong mắt, càng khôn bất tận
Đèn ngoài đèn, tự có một tay vô sự
Làm người từ bi giữa thế nhân.
Vô biên trăng gió mắt ở trong con mắt, đất trời phải vô lượng đèn ở ngoài đèn. Tự có một đôi tay vô sự, làm người từ bi giữa thế nhân.
Ở đây con muốn nhấn mạnh chỗ “đôi tay vố sự”. Vì bàn tay mình không đụng được cái gì hết.
Còn hai câu ở trên là thiền ngự. Mắt trong mắt, đèn ngoài đèn là chỉ cho cái thấy siêu việt, cái thấy không phải cái thấy bình thường. Mắt là để nhìn thấy mà mắt ở trong con mắt, tức là cái thấy thâm sâu, hơn con mắt bình thường gọi là mắt ở trong mắt. Có bài kệ người ta gọi Đức Phật trời ở trong trời.
Bài kệ đó là:
Khể thủ thiên trung thiên
Hoà quang chiếu đại thiên
Bát phong suy bất động
Đoan toạ tử kim liên.
Đức Phật người ta tôn xưng là trời ở trong trời. Bình thường người ta quan niệm trời là to nhất mà, cái gì cũng trời sắp đặt, ở đây trời ở trong trời. Hoà quang chiếu đại thiên, tức là ánh sáng hoà quang của Phật soi khắp tam thiên, đại thiên thế giới. Bát phong suy bất động, tức là tám ngọn gió của thế gian. Tám ngọn gió đó thổi ngài không có độc. Đoan Toạ tử kim liên, tức là ngài ngồi bình thản trên đoá sen vàng.
Trở lại vấn đề ở đây là nói gì? Là vô biên trăng gió, mắt trong mắt. Càng khôn bất tận đèn ở ngoài đèn. Con mắt và cái đèn là chỉ cho sáng suốt là cái nhìn thấy. Cái sáng suốt và nhìn thấy này ở tầm mức thâm sâu. Đèn ở ngoài đèn tức là cái đèn này không phải bình thường. Trong kinh Nikāya thì có ba loại ánh sáng là ánh sáng của đèn, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của trí tuệ. Thì ở đây đèn ngoài đèn là đèn của trí tuệ.
Tự có đôi tay vô sự, làm người từ bi giữa thế nhân. Câu này để mình có niềm tin lần sau mình lại mình rút nữa. Đôi tay vô sự là làm gì hư đó mà. Mà tình thương thì dào dạt, từ lúc nhỏ thôi, đi chơi mà nhìn thấy bà cụ bán bánh tiêu, bánh giò, tuy không đói bụng nhưng cũng móc tiền ra mua cho bà cụ. Và thấy ai khổ là nước mắt tuông ra mà trong lòng xót ra, nhói tim gan lắm. Thì tâm từ nó có như được tích luỹ ở quá khứ.
Bài thứ hai nhớ câu sau là:
Liễu biết hoa tươi muôn ngàn hộ
Đến đâu gõ cửa cũng có ơi.
Bài này là lần thứ hai qua Đài Loan rút nữa. Tức là sau này khi mình làm Phật sự thì sẽ có nhiều người ủng hộ, hay trong sự học của mình sẽ có quý nhân hỗ trợ. Gõ cửa là ơi, tức là hô ứng. Chữ nho người ta kêu là hô ứng. Hô là kêu, ứng là dạ. Còn gõ hoài không có ai ơi hết, đi hết nhà này đến nhà kia không có ai mở hết thì thôi rồi.
Chỗ nào cũng hoa tươi liễu thắm, gõ cửa ở đâu cũng có người hưởng ứng. Tức là pháp duyên rộng lớn. Thật ra cái đó từ ngày xuất gia là con cảm nhận được rồi, thành ra con không quan trọng vấn đề kiếm người này, người kia giúp. Tự là cái duyên người ta tới thôi, không có đi tìm người giúp, không có kêu gọi, không có rủ rê ai hết. Không phải mình ỉ lại, mình nói mình giỏi mà mình luôn luôn sống có tình có nghĩa, có trước, có sau, biết mình biết người, có thuỷ có chung. Thì cái đó là cái con lấy làm phương châm làm người, thà người ta phụ mình, mình không có phụ người ta. Thà người ta chịu thiệt thòi, mình không để người ta thiệt thòi.
Ở đây mà con không dùng đức, không dùng từ bi, không dùng tâm bao dung độ lượng thì đâu ở đây được. Đất trả tiền mấy liền, xong rồi mà còn đòi chặt đầu thầy, đốt chùa thầy. Nữa đêm bốn giờ khuya gõ cửa vợ chồng ốm đau gì đó, nói phải mua đất liền, mình phải đưa tiền. Cọc mấy chục triệu rồi xong là lấy luôn. Mà mình luôn dùng tâm từ, tình thương để mình đối đãi. Đất chùa như vậy, muốn đem máy lên múc là múc như vậy, mình lên còn muốn đánh mình nữa. Nếu mình dùng tâm thông thường của thế gian thì làm sao ở được đây.
Cho nên chính lời Phật dạy mới cứu mình, cứu giúp người, mới dựng lập Linh Quy Pháp Ấn. Cho nên quý vị thấy không? Có cái chùa nào giống như ở đây, không có hàng rào, không có cửa. Từ trên xuống dưới không có chỗ nào lấy tiền hết. Biết bao nhiêu người kêu lấy tiền bãi đậu xe, con nói không. Lúc nào cũng xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu.
Cho nên có những vị đại gia, có những vị doanh nhân, có những giới trí thức thượng đẳng, thượng lưu họ lên, họ ngồi. Họ nói: con đến đây con thấy tinh cần của con nhẹ nhàng, thoải mái, con không thấy bất cứ màu sắc kinh doanh nào trong chùa. Con chưa từng đến chùa nào mà con cảm nhận được như vậy.
Cho nên không phải tự nhiên là giới trẻ thích ở đây đâu, không phải tự nhiên. Không có của tôi, không phải là tôi, không phải là của tôi. Mình dùng tinh thần đó, cho nên không có bảng hiệu, không có nhà nào ra nhà nào hết trơn. Mà tiếng tăm là vang dội toàn quốc. Là vì tính chất của đạo pháp, mà được mọi người chấp nhận ở trong lòng. Chứ nó không xây dựng bằng tiền bạc, nó không xây dựng bằng bê tông, cốt sắt, không xây dựng bằng chức quyền, địa vị, tài sản. Mà Linh Quy Pháp Ấn là xây dựng bằng một trái tim để cho mọi người cộng hưởng từ thánh phàm mê ngộ, từ người không biết tu cho đến người biết tu. Mỗi người sẽ hưởng theo cái tâm thú hướng của mình.
Trở lại vấn đề
Liễu biết hoa tươi muôn ngàn hộ
Đến đâu gõ cửa cũng có ơi.
Khi mà cái duyên về cái dục, ái, tham đến với mình, mình nhìn thấy công phu tu không giải quyết được. Thì lúc đó thầy rủ ba lần, thì con mới lên. Thì lên vị sình bùn, lầy lội như vậy. Tới chừng vô là bắt đầu điềm lành xuất hiện liên tục và khủng khiếp, chưa từng có như vậy. Điềm lành xuất hiện mà con còn sợ vì nó quá sức đi, quá sức tưởng tượng của mình. Cũng giống như là mình dân thường hay là quan nhỏ mà ngai vàng ngay trước mặt sao mình dám lên ngồi, thì con cũng giống như vậy. Cho nên từ đầu là con không có tâm nguyện là mình làm chủ ở đây, hoàn toàn không có. Chỗ này là chỗ của tăng, cho tất cả những người chân tu. Ở đây có nhiều điềm dự báo trước rồi, là thánh nhân sẽ về đây. Vậy nó như thế nào?
Là khi con lên thăm trên này thì mấy thầy mới rủ lên trên núi chơi. Thì mấy thầy dẫn lên tới đầu dốc, chỗ quán nước cô Thảo, tới đó mấy thầy nói tới đây được rồi. Khi ở dưới mình nhìn thì không gian nó nhỏ, ở trên đây nhìn thì ở trên đây đẹp quá, nhìn giống tivi 300 inch, còn dưới kia là ba chục inch thôi. Thì lên tới đầu dốc đó nhìn cảnh mênh mông thì mấy thầy nói giờ về, con thì nói không, lên núi là phải lên tới đỉnh chứ không lên nữa chừng rồi về. Khi mà con nói mấy thầy phải lên tới đỉnh thì lúc đó đi lên. Một năm trước khi đi lên là Minh Phú nằm một giấc chiêm bao rất nhiều lần. Minh Phú thấy hình ảnh là trên một cái núi, chư tăng áo vàng rạp hết trơn, người nào người nấy sáng rực hết trơn, rất là đặc biệt chứ không phải chư tăng bình thường. Mà ở phía trên ở bầu trời thì có một tăng chống một cây sào trên một chiếc thuyền mà lướt trên mây. Thì Minh Phú nằm giấc chiêm bao này rất nhiều lần. Tại sao lại chèo thuyền ở trên mây? Tại sao lại ở trên núi mà có rất nhiều chư tăng. Mà người nào người nấy quang minh tướng hảo, sáng rực lên. Minh Phú cứ nói con giấc chiêm bao đó hoài. Thì khi lên ngọn núi này, có cô này nói đừng đi xuống thầy ơi: Bên đây có thuyền đá. Thì lúc đó con mới nhớ tới giấc chiêm bao của Minh Phú nói, con mới đi xuống thì thấy một tảng đá như chiếc thuyền mà mười người ngồi được.
Cô vợ của ông Hải Thuỷ, cô chạy xuống nói là trong vòng mấy tháng nay con nằm chiêm bao hoài thấy ở đây có một cái chùa vĩ đại ở trên ngọn núi này. Giờ mấy thầy về chắc là đúng rồi đó. Mà mấy người này có biết gì đâu, có tu gì đâu. Rồi xong khi đi xuống con nhìn ra được con Linh Quy. Thì hồi đó có chụp hình trong máy ảnh. Thấy một con rùa khổng lồ, cái đầu và hai hai bơi trong biển mây.
Thì khi đi xuống thầy nói với con kêu con ở lại thì con mới nói: con đi dạy học, mà nếu thầy cho con coi thất thì con về. Thì thầy nói chịu. Như vậy thì lần sau trở lên để đi hỏi đất này kia. Cái tolet bên thất thầy Thiện bị hư, hư rồi là đi vệ sinh bằng cuốc. Thì bữa đó ba giờ mấy sáng thì con thức dây là con đi tolet, mà đi thì chạy ra tìm cây cuốc không thấy, mà mắc quá rồi thì cầm cây búa. Trong cuộc đời duy nhất một lần là đi cầu bằng búa. Nhưng mà chưa dừng lại ở đó, mà khi đi xong rồi, bước lên mà nhìn sáng hửng lên thì hết hồn. Bắt đầu là điềm lành xuất hiện liên tục. Là từ trên đỉnh linh quy có một luồng mây trắng giữa đỉnh núi uốn lượng như con rồng suốt ba tiếng mới tan.
Rồi con nằm một giấc chiêm bao nữa là núi cao tự nhiên nứt ra, lở ra và bên trong tuông ra cái chùa cổ ngàn năm trong lòng đất. Sau này khi con lên ở còn có một giấc chiêm bao nữa là con thấy con đừng trên ngôi chùa cổ xưa, con đánh chuông. Lúc đó trên mây đáp xuống những vị tăng, cao khoảng hai mét rưỡi đến ba mét, có tất cả màu da, có da đen, có da trắng, có da ngà. Mà vạm vỡ, oai nghi, bước vô chánh điện mới có một vị mới hỏi ai vậy? Thì có vị kia bảo là mới đến.
Thì nó liên tục những điềm lành như vậy thì sao mình không về mình ở. Nó liên tục, liên tục như vậy, mà bây giờ con nhớ ít đó, chứ còn nhiều lắm. Điềm lành liên tục, nhiều đến mức con nổi da gà luôn, mà làm sai điều gì là con ớn lắm. Vì đây là thánh địa. Sau đó con mới động thổ cất thất khai sơn. Bây giờ con mới nói trong vấn đề mua đất.
Khi ngày lên coi đất, Minh Phú vác máy quay phim lên thì con không chọn miếng đất bên này mà chọn miếng đất bên chánh điện, đúng ra là chọn miếng đó trước. Nhưng mà khi lên chọn miếng đó là mây phủ hết nguyên miếng đất đó, giống như có cái lộng trên trời che vậy. Tức là ở trên là nguyên một vầng mây che ngay mảnh đất đó, mình nhìn xuống mình sẽ thấy màu của mảnh đấy này, khác với màu mảnh đất khác. Mảnh đất khác thì nắng chiếu thì màu vàng, còn mảnh đất kia mây phủ hết thì màu xanh.
Khi mình chỉ mới biết chứ coi thì không biết đâu. Miếng đất mình chọn là mây phủ hết che thành cái lộng, gọi là bóng mây. Kẹt một cái là không mua được, vì trì trệ rồi trục trặc hoài. Rồi tới bữa đó con mặc áo hậu rồi thắm nhang rồi con nguyện: Nếu long thiên hộ pháp ở đây thực sự ủng hộ ngọn núi này là núi pháp thì cho nó xong chứ nó trục trặc hoài sáu tháng rồi. Con mới vừa cắm cây nhang xuống thôi là người chủ mảnh đất đó chạy qua nói bán. Mà không phải một lần, về sau miếng đất ở quán chiếu đường trục trặc nữa thì con nói: Con mệt quá rồi, nếu mà đúng núi pháp thì cho nó xong cho rồi đi, chứ giờ con mệt quá, tối ngày đi mua đất hoài, đi mua đất 15 năm rồi, tới giờ còn đi mua đất. Con nguyện xong thì không lâu sau thì mảnh đất ở quán chiếu đường bây giờ người ta bán cho.
Còn ở đây ai làm cái gì, con đi xa con biết hết trơn, con nằm chiêm bao con thấy hết. Thành ra con đi về nói là mấy ổng mặt xanh lè hết. Lên đây mà không tu, quậy phá là đang ngủ trưa bị quăng xuống đất. Cho nên con mới đặt là Linh Quy. Chú Đức là ông can cường, cũng không thua gì chú Dũng. Chú nói: ma gì chú chưa thấy, có giỏi thì tối nay cho thấy. Thì tối đó rần rần hết. Coi như từ đó về sau là chú Đức sợ luôn.
Có một lần khoá tu của cô Toàn ở đây. Là chị của cô So, xin thầy phải cho con vô, chứ long thiên hộ pháp không cho con vô. Lạy 100 lạy mà không vô được, nói thầy xin cho con vô. Thì con mới nói một tiếng thì sau đó mới vô được. Mà cô đó đã quy y rồi đó, có pháp danh rồi đó. Ở đây không phải chuyện đùa, con mà con sợ mà. Làm chuyện bất chánh là không ở được, thậm chí là gặp tai nạn luôn.
Cho nên đây là núi pháp. Cô cúng dường đất ở đây, khi đó cô ấy cúng dường một phần ba đất ở đây. Con với cô ấy đi bộ một con dốc đứng mà mặc áo là sệ cái vai ra, nói con nóng quá thầy ơi. Rồi lên tới nơi là con ong chích xưng vù lên. Lên mà tâm bất chánh là không trụ sơn được đâu.
Còn Diệu Tín là mộng chủ đại sư đó. Là ở đây thổ địa ở chỗ nào, thần núi ở chỗ nào, thần rừng ở chỗ nào là cô ấy biết hết, cho cô ấy biết hết ở trên này. Minh Phú và Diệu Tín là giữ cửa núi đó.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Con đường học Pháp PAGEREF _Toc73090657 \h 1
II. Khai sơn Linh Quy Pháp Ấn PAGEREF _Toc73090658 \h 3
I. Con đường học Pháp
Khi trở về Bửu Liên thì bắt đầu con đi giảng pháp. Giảng pháp hồi xưa vất vả lắm. Con thấy người tu có ba việc thôi là học pháp, thực hành pháp và truyền pháp. Chính vì vậy ngoài việc tu và học con thực tập giảng pháp. Khi con lên Sài Gòn một năm sau thôi là con đã thi diễn giảng rồi lên tới chùa Ấn Quang giảng rồi. Tức là xuất gia khoảng một năm thôi, thì trong trường hạ thổ chức cho thực tập diễn giảng.
Thì con thi đậu ở trường, đi lên giảng đường lớn của thành phố giảng. Bài giảng đó con giảng vẫn còn đó, hình ảnh vẫn còn đó, tức là từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ thì tất cả những gì con ghi chép thì không mất chữ nào hết. Nó được đúc kết thành bộ pháp ấn bảo tạng. Hiện tại biên tập ra đó là ba chục quyển, một quyển một ngàn trang. Hiện tại ở Bửu Liên là 7 quyển, một quyển một ngàn trang. Tại vì khi mình đi ra nước ngoài rồi mình mới thấy Phật giáo trong nước rất ít về tác phẩm, tác phẩm của Phật giáo nước mình ít lắm, đại đa số là dịch chứ còn trước tác là không bao nhiêu. Có hoà thượng Trúc Lâm thì nhiều, mà đó là ghi lại các bài giảng, còn sách thật sự của người Việt trước tác không bao nhiêu. Mà có trước tác thì không có giá trị nhiều.
Ở Trung Quốc, ở Đài Loan những tác phẩm của Phật Giáo là những bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư, đó là những lời ghi của các vị cao tăng, những vị danh tăng ghi lại là thành bộ, bộ là mấy chục cuốn. Thì mình mới đi học được điều đó. Lúc trước con chưa được đi thì con học từ Hoà Thượng Thanh Từ, hoà tượng thì học ở Phật giáo Trung Quốc, tức là ghi chép lại hết. Thì hiện tại bộ Pháp Ấn bảo tạng nếu mà in ra thì một quyển một ngàn trang mà ba chục quyển, nhưng khi con vô dòng pháp này là con bỏ hết.
Thì trở lại việc thực tập diễn giảng, thì thực tập diễn giảng ở Bửu Liên lúc đầu cực lắm, con phải đi quét nhà, lau nhà cho mấy người tụng kinh xuống người ta ngồi nghe, mà lúc đó khoảng mười người thôi. Mà con học ở ngoài đời không tới đâu, vô trong Phật học con chỉ có bằng cao đẳng thôi. Nhưng mà con dành thời gian tự học rất là nhiều và ý chí tiến thủ trong cái pháp là rất mạnh vì đi xa thầy Bổn Sư rồi, còn thầy Thiện Bình thì ngày chuyên về cúng kiến, thầy giỏi chữ nho. Thì tất cả là tự mình thôi. Và con xin thưa là tất cả sách nào về cao tăng là con đều có hết, không chỉ tiếng việt mà tiếng hoa, mà có mấy quyển con đọc sình luôn. Con đọc để biết mấy vị cao tăng, mấy vị thánh tăng làm và học như thế nào. Tại sao mà thành thánh tăng, tại sao mà thành cao tăng. Và những lời cảnh sách đanh thép mạnh mẽ là ngày nào cũng đem cái đó đọc. Những lúc tâm mình lười biếng là con đọc nhiều nữa, tại vì mấy cái đó là chất xúc tác để con giữ lửa đó.
Thành ra nói thì nhớ lại em của Pháp Sơn, tức là chú Tuệ Tịnh. Chú này là phụ con lên mạng sưu tầm tất cả các vị cao tăng trên toàn thế giới. Chú làm cho hai cuốn gần một ngàn trang và rất là xót xa, vô thường, mới hai mươi mấy tuổi chú đã mất rồi, không ai ngờ, không ai tưởng tượng được. Tướng cao to, vạm vỡ, hai mươi mấy tuổi đã mất. Đó cũng là cú sốc lớn, cũng là động lực cho thầy Pháp Sơn nhập thất tĩnh tu. Cho nên con nhắc lại là mình làm cái gì là mình phải để tâm vô cái đó. Hôm trước con có nói rồi đó là xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu và nỗ lực để đạt đến mục tiêu. Xác định mục tiêu xuất gia để làm gì? Khi mình thấy được mục tiêu lên núi để làm gì? Khi mình thấy được mục tiêu rồi thì kiên trì mục tiêu là giữ cái đó thật chặt.
Cho nên hồi nãy mấy chú nói trên đây bị cạy cửa vậy đó, con nói bỏ đó lên nghe pháp. Thấy nó đơn giản như vậy nhưng nó là một sức mạnh. Nếu người bình thường, người không quý trọng pháp thì không làm được điều đó, tuy nó đơn giản. Người ta thấy cạy cửa là sợ chứ, lên đặng coi chứ. Bỏ những cái nhỏ đó nhưng trong đó mình phải hiểu được cái thâm ý trong đó, nó không có nhỏ, mình phải suy xét sâu sắc.Xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu và nỗ lực đạt đến mục tiêu thì mình sẽ thành công. Cho nên giờ mình vô dòng pháp này mình phải đọc trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ. Phải đọc, nhất là những lúc mình yếu đuối, giãi đãi, lười biếng, đó là những tấm gương cho mình soi.
Và mình cái pháp lên tối thượng, không có cái gì so sánh được với cái pháp, mạng mình có thể mất nhưng pháp phải học. Mình dám như vậy không? Thấy mấy đồng bạc là bắt đầu quýnh quáng rồi. Mình đi lên quán chiếu đường rắn cắn mình chết, điện giật mình chết, nằm điện giật mình chết đó, mình phải quán chiếu như vậy, tác ý như vậy. Đây không phải nói suông là phải thấy như vậy. Đó là sức mạnh của chánh pháp, sức mạnh của trí huệ.
Thì con bắt ghế quét nhà, lau nhà rồi giảng cho Phật tử trong những ngày đầu thực tập. Lúc đầu mười người rồi sau đó tăng đần lên mười mấy người. Khi mà đông lên rồi, Phật tử người ta chịu rồi thì thầy mới cho giảng mấy bữa thọ bát. Chứ đâu phải tự động nhảy lên làm giảng sư, làm giáo thọ sư, rồi giảng cho tăng ni đâu. Đâu phải tự đông lên chùa Hoằng Pháp giảng cho năm ngàn người, bảy ngàn người đâu. Cái gì cũng phải làm từng bước rất nhỏ đi lên.
Rồi bao nhiêu cạm bẫy trong tài sắc khi mình xuất gia, nếu không cẩn thận, mình không xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu mình sẽ sập bẩy. Đừng nghĩ trong chùa không có bẫy. Những người đi đến cúng dường, tôn trọng, cung kính, đảnh lể đó. Phải đọc kĩ chương lợi đắc cung kính. Này các Tỷ-kheo, lợi đắc cung kính là đắng cay, là ác độc, là mũi tên, là kẻ giết người, là miếng mồi của ác ma.
Cho nên sau khi xuất gia rồi, phải con xuất gia. Lần nhập thất vừa rồi của con là con cho rằng là lần xuất gia thứ tư. Tức là khi xuất gia rồi thì con không nghĩ xuất gia rồi là con đã xuất gia rồi. Một thời gian sau con đưa ra một kế hoạch con phải thành tựu là lần xuất gia thứ hai. Một thời gian mà thầy bão hoà là vạch ra một kế hoạch rồi thành tựu là lần xuất gia thứ ba. Thành ra suy nghĩ của con không giống ai hết, thật sự mình đưa mình vô chỗ khó, đưa mình vào chỗ khó. Tới ngày hôm nay con thưa thiệt với đại chúng, con chỉ có khó một cái là diệt cái cấu nhiễm bên trong thôi, còn bên ngoài không có gì khó đối với con nữa hết, cả thế giới hành tinh này không có gì khó hết. Chỉ có cái khó là diệt được dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, cái đó khó. Còn đối với việc bên ngoài không có cái gì khó, không có là cái gì hết.
Thành ra mấy thầy mấy chú mà con nhờ việc này mà nói khó làm không được, thế này, thế kia thì thật sự con thấy con không có vui, vì mấy chú không nỗ lực, không cố gắng, không có dùng sức. Thì người này làm sao mà gánh vác cái gì được. Tại vì một người sợ khó thì gặp cái gì cũng khó hết, một người đã gặp cái khó mà giải quyết cái khó thì cuối cùng không còn cái gì khó với người này nữa hết. Đối với con trên cuộc đời này không có cái gì khó hết. Thánh đạo, thánh quả mới khó thôi. Tìm ra được thánh đạo, thực hành thánh đạo đến thánh quả cái đó mới khó, ngoài ra chuyện thế gian không có gì khó hết. Cho nên nói khó với con là con không vui, mà nhất là những người con đào tạo.
II. Khai sơn Linh Quy Pháp Ấn
Giờ mới đến bắt đầu khai sơn Linh Quy Pháp Ấn.
Lần đầu tiên con lên giảng là giảng bài ý nghĩa niệm Phật. Khi giảng bài đó xong rồi thì trong nước ngoài nước người ta biết. Rồi những nước ngoài mời, trong đó Úc mời, Đài Loan mời, Mỹ mời và các nước khác. Rồi con đi dạy học sơ cấp Phật học, nhưng mà trong lòng luôn luôn thao thức không có bằng lòng, lại tự đặt mình vô chỗ khó nữa đó. Tức là con không thoả mãn với cái mình đang học, đang có được. Bây giờ ra học, ra giảng pháp rồi, nổi tiếng rồi đi ra nước ngoài nữa. Nếu mà thông thường như người ta là như vậy được rồi. Học được vậy rồi, dạy được vậy rồi, giảng nhiều nước rồi nhưng mà thấy trong lòng vẫn bất an.
Con gặp cái duyên rồi cái tham ái xuất hiện. Lúc đó những cái mình đã học, đã tu không giải quyết được. Từ năm 1990 tới năm 2005 là 15 năm. Sau mười lăm năm tu học mà mình bị cái duyên tham ái thì những cái mình đã tu đã học không sử dụng được. Thì lúc đó con muốn tự vẫn chết luôn. Tại sao mình tu học tới mức độ như vậy rồi mà tâm mình lại như vậy. Coi như là mình móc hết thần công, bao nhiêu công lực mà sử dụng không được. Thì sự tha thiết tìm cầu chỗ ẩn tu thì càng mạnh mẽ hơn nữa. Tức là những cái duyên đến với mình là không phải người bình thường. Người ta hỗ trợ mình, người ta giúp đỡ mình, người ta bảo vệ cho mình, đặng cho mình thăng tiến trên thánh đạo. Thì con mới càng có tâm muốn đi ẩn tu, muốn đi nhập thất.
Thì trong lúc đó một thầy, thầy đó là tổng thư kí của thiền viện trúc lâm, thầy nhập thất ở bên này. Thầy gọi cho con ba lần, kêu con đi lên trên đây. Thầy đang ẩn tu trên này, thì con mới nói bận vì con đang dạy học. Cho tới lần thứ ba thì con mới lên. Lên thì con thấy sao ông này ông ở cái chỗ gì vậy, lên lần này là lần cuối không lên nữa đâu, con nói như vậy. Vì xìn bùn, trơn trợt, té lên té xuống, mà mình thì như công tử vậy, không chịu cực, chịu khổ được, từ nhỏ không làm cái gì nặng được. Hồi đó lên Trúc Lâm cầm cuốc là bật ngửa lên ai cũng cười hết.
Rồi con đụng vô bất cứ cái gì là cái đó hư hết, mà đụng vô pháp là vượt bậc. Ở trên con đường cầu pháp học pháp thì siêu việt, vượt bậc còn những cái khác đụng gì bể nấy, đụng đâu hư đó. Lúc trước mình không biết, còn con biết rồi thì biết đây là con đường của mình rồi, không đi con đường khác. Cho đến hộp đồ ăn mà con khui tấm kiếng ra là chảy máu tay, đụng vô cái gì cũng không được, chỉ kinh sách thôi. Không phải con làm biếng không muốn làm, mà con biết con ra đó là hư chuyện, không thôi là rầy, không thôi ra là chạy máu, thôi thì ở trong đó ngồi thiền nghe pháp đi, tốt hơn. Đây là chỗ không đánh mà khai, vạch lưng chỉ thẹo. Từ khi mà sanh ra là ở trong gia đình là bị đánh tơi bời rồi, đi vô tu là làm cái gì cũng hư cái nấy hết, không làm cái gì được, mà chỉ có pháp là siêu việt, gấp năm bảy lần người học bình thường. Con nghe qua là thuộc giống như người học rồi vậy.
Khi con đi lần thứ nhất thì qua chỗ Phật Đài Giáo Dục Thư Kim Hội, chỗ đó là chỗ in kinh sách cho toàn thế giới. Mình lại chỗ đó nói muốn mua sách gì là họ chở xe tải đến cho mình luôn, miễn phí không có tốn đồng nào hết. Họ gởi về cho con là 182 thùng. Con qua con thấy trường Phật học, thấy Phật Quang Sơn, thấy Pháp Cổ Sơn, thầy Trung Đài Thiền Tự. Con qua là thực sự muốn ở lại, con thấy đây mới là chỗ thực sự để mình phát huy. Bên đây người ta học kinh học pháp giống như mình học sinh ngữ vậy đó. Hai tư sáu là học Phật, còn đài truyền hình là mấy chục đài học Phật giáo. Tổ chức thọ bát quan trai là ở sân vận động, bảy chục ngàn người thọ bát quan trai, làm lễ là mấy trăm ngàn người. Thì con nghĩ thôi đi về, mình ở đây dù mình học giỏi thì mình chỉ là người nước ngoài thôi, sao nói tiếng hoa lại người ta. Trong khi nước nhà mình thiếu thốn, không có người đóng góp phục vụ, thôi quyết định bỏ cái dục, cái ái đó đi về. Quyết định đó là đúng đắn, một quyết định sáng suốt.
Khi trở lại Đài Loan có một đặc biệt nữa là con được rất nhiều người Trung Hoa trợ giúp, yểm trợ. Nhiều người cho kinh sách, cho vé máy bay đi qua. Có người cúng vé máy đi đi qua Indonesia để gặp Tinh Vân Đại Sư. Thì đặc biệt đi tới Trung Đài Thiền Tự, chỗ đó kiến trúc giống như cung điện, nó là một trong tứ đại thiên vương của Phật Giáo Đài Loan. Trong khi Phật giáo Đài Loan có bốn nhánh lớn, một là Phật Quang Sơn có Tinh Vân Đại Sư. Hai là Pháp Cổ Sơn là Thánh Nghiêm Pháp Sư. Ba là Trung Đài Thiện Tự là lão hoà thượng Duy Giác. Bốn là Từ Tế Hội là Ni Trưởng Chứng Nghiêm. Thì mỗi chi nhánh này là ảnh hưởng toàn thế giới. Tín đồ là lên hàng triệu.
Thì một trong tứ đại thiên vương đó, có Trung Đài Thiền Tự là hoà thượng này tu thiền. Mà xây lên khủng khiếp lắm, không thể tưởng tượng được ngôi chùa như vậy. Mà khi con lại chùa không gặp ngài, mà con đi trên đường ké chỗ phát hành tượng Phật thì Hoà Thượng ngồi ở trong đó. Mà Hoà Thượng này đặc biệt là nhập nhất là râu tóc dài ra như vậy nhưng mà người ta rất là cung kính. Và người ta đồn Hoà Thượng biết được tâm người khác, là tâm thông, người ta đồn có thần thông. Khi hoà thượng gặp con lần đầu tiên, hoà thượng nói về Việt Nam cất chi nhánh Trung Đài Thiện Tự giao cho con làm trụ trì.
Mà nói người ta nói hoà thượng là siêu nhìn về nhân tướng học. Con cũng không biết tướng con lúc đó là tướng gì mà thầy bảo giao cho chi nhánh làm trụ trì. Mà đại chúng biết rằng năm đó con còn trẻ, năm đó mới năm 2000 chỉ mới 26 tuổi. Thì lúc đó mà được làm trụ trì mà bên đó mà đầu tư thì cất cái chùa cỡ nào. Gặp như người khác thì sao? Mới hai mươi mấy tuổi thôi biết tiếng hoa, đọc tạng kinh chữ hán, thích Đài Loan, mà bây giờ được trụ trì một chùa, nằm trong tứ đại tông phái lớn nhất Đài Loan, như vậy có thích không? Nhưng về con hỏi kĩ lại, thì hoà thượng này có dính dáng đến phần chính trị, thì con quyết định là không làm, dứt khoát một cái một.
Lúc đó ngộ 25 tuổi, hai mươi lăm tuổi mà dám từ bỏ cái mà trăm năm một thuở. Khi con đến Phật Quang Sơn, chỗ Phật Quang Sơn Hoà Thượng đổi vụ xin xăm thành cái thăm của những Pháp Ngữ. Thay vì mấy chùa rút thăm, trong đó đoán vận hạn, may rủi, nhưng chùa của Hoà Thượng là để một thùng là pháp ngữ của đại phần. Tức là những câu thơ, câu kệ của thiền sư, những vị cao tăng để mình rút ra để mình về mình học, mình tu. Thì con lại con rút hai lần, lần thứ nhất là trúng bài là:
Vô biên phong nguyệt
Mắt trong mắt, càng khôn bất tận
Đèn ngoài đèn, tự có một tay vô sự
Làm người từ bi giữa thế nhân.
Vô biên trăng gió mắt ở trong con mắt, đất trời phải vô lượng đèn ở ngoài đèn. Tự có một đôi tay vô sự, làm người từ bi giữa thế nhân.
Ở đây con muốn nhấn mạnh chỗ “đôi tay vố sự”. Vì bàn tay mình không đụng được cái gì hết.
Còn hai câu ở trên là thiền ngự. Mắt trong mắt, đèn ngoài đèn là chỉ cho cái thấy siêu việt, cái thấy không phải cái thấy bình thường. Mắt là để nhìn thấy mà mắt ở trong con mắt, tức là cái thấy thâm sâu, hơn con mắt bình thường gọi là mắt ở trong mắt. Có bài kệ người ta gọi Đức Phật trời ở trong trời.
Bài kệ đó là:
Khể thủ thiên trung thiên
Hoà quang chiếu đại thiên
Bát phong suy bất động
Đoan toạ tử kim liên.
Đức Phật người ta tôn xưng là trời ở trong trời. Bình thường người ta quan niệm trời là to nhất mà, cái gì cũng trời sắp đặt, ở đây trời ở trong trời. Hoà quang chiếu đại thiên, tức là ánh sáng hoà quang của Phật soi khắp tam thiên, đại thiên thế giới. Bát phong suy bất động, tức là tám ngọn gió của thế gian. Tám ngọn gió đó thổi ngài không có độc. Đoan Toạ tử kim liên, tức là ngài ngồi bình thản trên đoá sen vàng.
Trở lại vấn đề ở đây là nói gì? Là vô biên trăng gió, mắt trong mắt. Càng khôn bất tận đèn ở ngoài đèn. Con mắt và cái đèn là chỉ cho sáng suốt là cái nhìn thấy. Cái sáng suốt và nhìn thấy này ở tầm mức thâm sâu. Đèn ở ngoài đèn tức là cái đèn này không phải bình thường. Trong kinh Nikāya thì có ba loại ánh sáng là ánh sáng của đèn, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của trí tuệ. Thì ở đây đèn ngoài đèn là đèn của trí tuệ.
Tự có đôi tay vô sự, làm người từ bi giữa thế nhân. Câu này để mình có niềm tin lần sau mình lại mình rút nữa. Đôi tay vô sự là làm gì hư đó mà. Mà tình thương thì dào dạt, từ lúc nhỏ thôi, đi chơi mà nhìn thấy bà cụ bán bánh tiêu, bánh giò, tuy không đói bụng nhưng cũng móc tiền ra mua cho bà cụ. Và thấy ai khổ là nước mắt tuông ra mà trong lòng xót ra, nhói tim gan lắm. Thì tâm từ nó có như được tích luỹ ở quá khứ.
Bài thứ hai nhớ câu sau là:
Liễu biết hoa tươi muôn ngàn hộ
Đến đâu gõ cửa cũng có ơi.
Bài này là lần thứ hai qua Đài Loan rút nữa. Tức là sau này khi mình làm Phật sự thì sẽ có nhiều người ủng hộ, hay trong sự học của mình sẽ có quý nhân hỗ trợ. Gõ cửa là ơi, tức là hô ứng. Chữ nho người ta kêu là hô ứng. Hô là kêu, ứng là dạ. Còn gõ hoài không có ai ơi hết, đi hết nhà này đến nhà kia không có ai mở hết thì thôi rồi.
Chỗ nào cũng hoa tươi liễu thắm, gõ cửa ở đâu cũng có người hưởng ứng. Tức là pháp duyên rộng lớn. Thật ra cái đó từ ngày xuất gia là con cảm nhận được rồi, thành ra con không quan trọng vấn đề kiếm người này, người kia giúp. Tự là cái duyên người ta tới thôi, không có đi tìm người giúp, không có kêu gọi, không có rủ rê ai hết. Không phải mình ỉ lại, mình nói mình giỏi mà mình luôn luôn sống có tình có nghĩa, có trước, có sau, biết mình biết người, có thuỷ có chung. Thì cái đó là cái con lấy làm phương châm làm người, thà người ta phụ mình, mình không có phụ người ta. Thà người ta chịu thiệt thòi, mình không để người ta thiệt thòi.
Ở đây mà con không dùng đức, không dùng từ bi, không dùng tâm bao dung độ lượng thì đâu ở đây được. Đất trả tiền mấy liền, xong rồi mà còn đòi chặt đầu thầy, đốt chùa thầy. Nữa đêm bốn giờ khuya gõ cửa vợ chồng ốm đau gì đó, nói phải mua đất liền, mình phải đưa tiền. Cọc mấy chục triệu rồi xong là lấy luôn. Mà mình luôn dùng tâm từ, tình thương để mình đối đãi. Đất chùa như vậy, muốn đem máy lên múc là múc như vậy, mình lên còn muốn đánh mình nữa. Nếu mình dùng tâm thông thường của thế gian thì làm sao ở được đây.
Cho nên chính lời Phật dạy mới cứu mình, cứu giúp người, mới dựng lập Linh Quy Pháp Ấn. Cho nên quý vị thấy không? Có cái chùa nào giống như ở đây, không có hàng rào, không có cửa. Từ trên xuống dưới không có chỗ nào lấy tiền hết. Biết bao nhiêu người kêu lấy tiền bãi đậu xe, con nói không. Lúc nào cũng xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu.
Cho nên có những vị đại gia, có những vị doanh nhân, có những giới trí thức thượng đẳng, thượng lưu họ lên, họ ngồi. Họ nói: con đến đây con thấy tinh cần của con nhẹ nhàng, thoải mái, con không thấy bất cứ màu sắc kinh doanh nào trong chùa. Con chưa từng đến chùa nào mà con cảm nhận được như vậy.
Cho nên không phải tự nhiên là giới trẻ thích ở đây đâu, không phải tự nhiên. Không có của tôi, không phải là tôi, không phải là của tôi. Mình dùng tinh thần đó, cho nên không có bảng hiệu, không có nhà nào ra nhà nào hết trơn. Mà tiếng tăm là vang dội toàn quốc. Là vì tính chất của đạo pháp, mà được mọi người chấp nhận ở trong lòng. Chứ nó không xây dựng bằng tiền bạc, nó không xây dựng bằng bê tông, cốt sắt, không xây dựng bằng chức quyền, địa vị, tài sản. Mà Linh Quy Pháp Ấn là xây dựng bằng một trái tim để cho mọi người cộng hưởng từ thánh phàm mê ngộ, từ người không biết tu cho đến người biết tu. Mỗi người sẽ hưởng theo cái tâm thú hướng của mình.
Trở lại vấn đề
Liễu biết hoa tươi muôn ngàn hộ
Đến đâu gõ cửa cũng có ơi.
Khi mà cái duyên về cái dục, ái, tham đến với mình, mình nhìn thấy công phu tu không giải quyết được. Thì lúc đó thầy rủ ba lần, thì con mới lên. Thì lên vị sình bùn, lầy lội như vậy. Tới chừng vô là bắt đầu điềm lành xuất hiện liên tục và khủng khiếp, chưa từng có như vậy. Điềm lành xuất hiện mà con còn sợ vì nó quá sức đi, quá sức tưởng tượng của mình. Cũng giống như là mình dân thường hay là quan nhỏ mà ngai vàng ngay trước mặt sao mình dám lên ngồi, thì con cũng giống như vậy. Cho nên từ đầu là con không có tâm nguyện là mình làm chủ ở đây, hoàn toàn không có. Chỗ này là chỗ của tăng, cho tất cả những người chân tu. Ở đây có nhiều điềm dự báo trước rồi, là thánh nhân sẽ về đây. Vậy nó như thế nào?
Là khi con lên thăm trên này thì mấy thầy mới rủ lên trên núi chơi. Thì mấy thầy dẫn lên tới đầu dốc, chỗ quán nước cô Thảo, tới đó mấy thầy nói tới đây được rồi. Khi ở dưới mình nhìn thì không gian nó nhỏ, ở trên đây nhìn thì ở trên đây đẹp quá, nhìn giống tivi 300 inch, còn dưới kia là ba chục inch thôi. Thì lên tới đầu dốc đó nhìn cảnh mênh mông thì mấy thầy nói giờ về, con thì nói không, lên núi là phải lên tới đỉnh chứ không lên nữa chừng rồi về. Khi mà con nói mấy thầy phải lên tới đỉnh thì lúc đó đi lên. Một năm trước khi đi lên là Minh Phú nằm một giấc chiêm bao rất nhiều lần. Minh Phú thấy hình ảnh là trên một cái núi, chư tăng áo vàng rạp hết trơn, người nào người nấy sáng rực hết trơn, rất là đặc biệt chứ không phải chư tăng bình thường. Mà ở phía trên ở bầu trời thì có một tăng chống một cây sào trên một chiếc thuyền mà lướt trên mây. Thì Minh Phú nằm giấc chiêm bao này rất nhiều lần. Tại sao lại chèo thuyền ở trên mây? Tại sao lại ở trên núi mà có rất nhiều chư tăng. Mà người nào người nấy quang minh tướng hảo, sáng rực lên. Minh Phú cứ nói con giấc chiêm bao đó hoài. Thì khi lên ngọn núi này, có cô này nói đừng đi xuống thầy ơi: Bên đây có thuyền đá. Thì lúc đó con mới nhớ tới giấc chiêm bao của Minh Phú nói, con mới đi xuống thì thấy một tảng đá như chiếc thuyền mà mười người ngồi được.
Cô vợ của ông Hải Thuỷ, cô chạy xuống nói là trong vòng mấy tháng nay con nằm chiêm bao hoài thấy ở đây có một cái chùa vĩ đại ở trên ngọn núi này. Giờ mấy thầy về chắc là đúng rồi đó. Mà mấy người này có biết gì đâu, có tu gì đâu. Rồi xong khi đi xuống con nhìn ra được con Linh Quy. Thì hồi đó có chụp hình trong máy ảnh. Thấy một con rùa khổng lồ, cái đầu và hai hai bơi trong biển mây.
Thì khi đi xuống thầy nói với con kêu con ở lại thì con mới nói: con đi dạy học, mà nếu thầy cho con coi thất thì con về. Thì thầy nói chịu. Như vậy thì lần sau trở lên để đi hỏi đất này kia. Cái tolet bên thất thầy Thiện bị hư, hư rồi là đi vệ sinh bằng cuốc. Thì bữa đó ba giờ mấy sáng thì con thức dây là con đi tolet, mà đi thì chạy ra tìm cây cuốc không thấy, mà mắc quá rồi thì cầm cây búa. Trong cuộc đời duy nhất một lần là đi cầu bằng búa. Nhưng mà chưa dừng lại ở đó, mà khi đi xong rồi, bước lên mà nhìn sáng hửng lên thì hết hồn. Bắt đầu là điềm lành xuất hiện liên tục. Là từ trên đỉnh linh quy có một luồng mây trắng giữa đỉnh núi uốn lượng như con rồng suốt ba tiếng mới tan.
Rồi con nằm một giấc chiêm bao nữa là núi cao tự nhiên nứt ra, lở ra và bên trong tuông ra cái chùa cổ ngàn năm trong lòng đất. Sau này khi con lên ở còn có một giấc chiêm bao nữa là con thấy con đừng trên ngôi chùa cổ xưa, con đánh chuông. Lúc đó trên mây đáp xuống những vị tăng, cao khoảng hai mét rưỡi đến ba mét, có tất cả màu da, có da đen, có da trắng, có da ngà. Mà vạm vỡ, oai nghi, bước vô chánh điện mới có một vị mới hỏi ai vậy? Thì có vị kia bảo là mới đến.
Thì nó liên tục những điềm lành như vậy thì sao mình không về mình ở. Nó liên tục, liên tục như vậy, mà bây giờ con nhớ ít đó, chứ còn nhiều lắm. Điềm lành liên tục, nhiều đến mức con nổi da gà luôn, mà làm sai điều gì là con ớn lắm. Vì đây là thánh địa. Sau đó con mới động thổ cất thất khai sơn. Bây giờ con mới nói trong vấn đề mua đất.
Khi ngày lên coi đất, Minh Phú vác máy quay phim lên thì con không chọn miếng đất bên này mà chọn miếng đất bên chánh điện, đúng ra là chọn miếng đó trước. Nhưng mà khi lên chọn miếng đó là mây phủ hết nguyên miếng đất đó, giống như có cái lộng trên trời che vậy. Tức là ở trên là nguyên một vầng mây che ngay mảnh đất đó, mình nhìn xuống mình sẽ thấy màu của mảnh đấy này, khác với màu mảnh đất khác. Mảnh đất khác thì nắng chiếu thì màu vàng, còn mảnh đất kia mây phủ hết thì màu xanh.
Khi mình chỉ mới biết chứ coi thì không biết đâu. Miếng đất mình chọn là mây phủ hết che thành cái lộng, gọi là bóng mây. Kẹt một cái là không mua được, vì trì trệ rồi trục trặc hoài. Rồi tới bữa đó con mặc áo hậu rồi thắm nhang rồi con nguyện: Nếu long thiên hộ pháp ở đây thực sự ủng hộ ngọn núi này là núi pháp thì cho nó xong chứ nó trục trặc hoài sáu tháng rồi. Con mới vừa cắm cây nhang xuống thôi là người chủ mảnh đất đó chạy qua nói bán. Mà không phải một lần, về sau miếng đất ở quán chiếu đường trục trặc nữa thì con nói: Con mệt quá rồi, nếu mà đúng núi pháp thì cho nó xong cho rồi đi, chứ giờ con mệt quá, tối ngày đi mua đất hoài, đi mua đất 15 năm rồi, tới giờ còn đi mua đất. Con nguyện xong thì không lâu sau thì mảnh đất ở quán chiếu đường bây giờ người ta bán cho.
Còn ở đây ai làm cái gì, con đi xa con biết hết trơn, con nằm chiêm bao con thấy hết. Thành ra con đi về nói là mấy ổng mặt xanh lè hết. Lên đây mà không tu, quậy phá là đang ngủ trưa bị quăng xuống đất. Cho nên con mới đặt là Linh Quy. Chú Đức là ông can cường, cũng không thua gì chú Dũng. Chú nói: ma gì chú chưa thấy, có giỏi thì tối nay cho thấy. Thì tối đó rần rần hết. Coi như từ đó về sau là chú Đức sợ luôn.
Có một lần khoá tu của cô Toàn ở đây. Là chị của cô So, xin thầy phải cho con vô, chứ long thiên hộ pháp không cho con vô. Lạy 100 lạy mà không vô được, nói thầy xin cho con vô. Thì con mới nói một tiếng thì sau đó mới vô được. Mà cô đó đã quy y rồi đó, có pháp danh rồi đó. Ở đây không phải chuyện đùa, con mà con sợ mà. Làm chuyện bất chánh là không ở được, thậm chí là gặp tai nạn luôn.
Cho nên đây là núi pháp. Cô cúng dường đất ở đây, khi đó cô ấy cúng dường một phần ba đất ở đây. Con với cô ấy đi bộ một con dốc đứng mà mặc áo là sệ cái vai ra, nói con nóng quá thầy ơi. Rồi lên tới nơi là con ong chích xưng vù lên. Lên mà tâm bất chánh là không trụ sơn được đâu.
Còn Diệu Tín là mộng chủ đại sư đó. Là ở đây thổ địa ở chỗ nào, thần núi ở chỗ nào, thần rừng ở chỗ nào là cô ấy biết hết, cho cô ấy biết hết ở trên này. Minh Phú và Diệu Tín là giữ cửa núi đó.