Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Hành Trong Tạng Kinh NIKAYA 2

2026-03-03 00:55:30
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
PHÁP HÀNH TRONG TẠNG KINH NIKĀYA 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm uẩn – cốt lõi kinh tạng Nikāya PAGEREF _Toc66007097 \h 1

1. Sắc uẩn PAGEREF _Toc66007098 \h 2

2. Quán chiếu sự nguy hại hướng đến viễn ly PAGEREF _Toc66007099 \h 4

3. Sự nguy hại của dục PAGEREF _Toc66007100 \h 5

II. Phòng hộ tâm PAGEREF _Toc66007101 \h 6

III. Thân hành niệm PAGEREF _Toc66007102 \h 7

IV. Hai mũi tên PAGEREF _Toc66007103 \h 9

V. Đức Phật dạy về thường trực quán xét cảm thọ PAGEREF _Toc66007104 \h 11

VI. Tổng kết PAGEREF _Toc66007105 \h 13

I. Năm uẩn – cốt lõi kinh tạng Nikāya

Kính bạch chư đại đức Tăng Ni và kính thưa tất cả quý Phật tử có mặt trong Pháp hội hôm nay, theo sự chỉ dạy của Hòa Thượng tôn sư con xin tiếp tục chia sẻ Pháp hành trong tạng kinh Nikāya.

Tạng kinh Nikāya là tạng kinh quý báu, cao cả được các học giả nghiên cứu trên thế giới làm thánh điển của Phật giáo để y cứ, nghiên cứu, học hỏi và hành trì, đặc biệt là các nước Phật giáo nguyên thủy đã truyền thừa hơn hai ngàn năm, cũng như cố Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu đã dày công phiên dịch và tiếp nối, Hòa Thượng tôn sư của chúng ta đã phát dương quang đại Nam Truyền và Bắc Truyền.

Xin thưa với quý thầy, quý cô trong cả năm bộ Nikāya nếu nghiên cứu sâu sắc và rộng rãi thì chúng ta sẽ thấy được phần trọng tâm chính yếu nhất mà Đức Phật trình bày là trí tuệ năm uẩn, toàn bộ năm bộ Nikāya đó nếu có thể gom lại thì Tương Ưng Bộ kinh được Ấn Thuận Đạo Sư là một vị cao Tăng ở Đài Loan gọi nó là vô biên thậm thâm Pháp nghĩa, từ Tương Ưng Bộ kinh chúng ta có thể đi thẳng vào tìm hiểu chương Thiên Uẩn và Uẩn ở đây là năm uẩn.

Rải rác trong năm bộ Nikāya thì bất cứ chỗ nào cũng thấy được Đức Thế Tôn trình bày về trí tuệ của năm uẩn, chính vì ngài đã tuyên bố dõng dạc trước Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Trời và người rằng ngài chưa tuyên bố ngài là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nếu ngài chưa hoàn toàn thắng tri, tuệ tri, liễu tri một cách triệt để, tận cùng về năm uẩn.

Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Như vậy năm uẩn là gì? Năm uẩn đó mình có thể chứng nghiệm, thể nghiệm, thực nghiệm được ngay tại chỗ ngồi hay không? Xin thưa với đại chúng, năm uẩn là tóm thâu cả trời đất và vũ trụ, nó giống như năm ngón tay mới tạo thành một bàn tay, nếu không có năm ngón thì không thành bàn tay. Ví dụ ngón thứ nhất là sắc uẩn, sắc uẩn này không chỉ là người đẹp mà sắc này là từ hạt bụi cho đến cả thế giới, ngàn thái dương hệ, tất cả những gì mà tứ đại chủng và sắc do tứ đại chủng tạo thành đều thuộc sắc Pháp.

1. Sắc uẩn

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Sắc là đất, nước, gió, lửa và sắc do đất, nước, gió, lửa tạo thành và ngay cả thân mình cũng là sắc, học Phật đã nhiều năm nhưng nhiều khi mình không nghĩ nó là tứ đại mà vẫn nghĩ thân này là mình, là tôi và của tôi. Cho nên cửa đầu tiên để thành tựu trí huệ về sắc uẩn thì phải thấy tấm thân mấy chục kí này là sắc uẩn, là tứ đại nhưng phải thấy bằng trí huệ trong tư duy, trong nhận thức chứ không phải học cho có, đó là lời kinh còn mình nhìn tấm thân này vẫn thấy đó là tôi, là của tôi thì đó chưa phải là sự thực tập nhận diện về sắc uẩn.

Từ nhà tranh hay nhà tôn cho đến cung điện nguy nga, công trình Vạn Lý Trường Thành, Kim Tự Tháp cũng chỉ là sắc pháp, không hơn không kém, nhìn bằng trí huệ chỉ thấy nó là tứ đại do đất, nước, gió, lửa kết hợp lại tạo thành. Thấy được như vậy chỉ mới thành tựu trí thứ nhất, như vậy trí huệ về sắc này cho mình một cái nhìn san bằng, không phân biệt đẹp xấu, cao thấp, giàu nghèo, trắng đen, những cái này đều bị trí huệ của sắc uẩn phá tung. Cái này đòi hỏi công phu thiền quán và tập nhận diện liên tục, khi thấy người đẹp, người xấu gì cũng chỉ là tứ đại, là bộ xương. Phải tập nhìn nhận như vậy, từ từ mới thâm nhập vào cái thấy của tuệ tri, tức là cái thấy biết bằng trí huệ.

Như vậy bảy trí huệ về sắc là gì?

Thứ I: Sắc là gì, định nghĩa về sắc.

Thứ II: Thế nào là sắc sanh?

Thứ III: Thế nào sắc đoạn diệt?

Thứ IV: Thế nào là vị ngọt của sắc.

Thứ V: Thế nào là sự nguy hiểm của sắc.

Thứ VI: Thế nào là sự xuất ly khỏi sắc.

Thứ VII: Con đường đưa đến sắc đoạn diệt.

Khi ăn vào thì những thức ăn đó là tứ đại đất, nước, gió, lửa, uống vào là nước, hơi thở là gió. Như vậy mình ăn là ăn bằng trí huệ, ăn bằng sự thấu triệt tứ đại, ăn bằng tuệ giác sâu sắc bản chất của thân thể này. Ăn như vậy mới sanh ra phước đức, ăn như vậy mới sanh ra trí tuệ, ăn như vậy là cái ăn đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ cúng dường, còn ăn mà chỉ thấy ngon rồi gắp lia gắp lịa thì cái ăn đó bị dính mắc vào cảm giác. Trên đây là những loại trí huệ cực kì quan trọng, đó là gia tài của người xuất gia.

Thế nào là sắc tập khởi? Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Thế nào là sắc đoạn diệt? Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Thế nào là vị ngọt của sắc? Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))

Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Ví dụ khi nhìn thấy món đồ gì đó đẹp nên mình thích thú, khoan khoái thì đó là vị ngọt. Nghe tiếng nói êm tai thì vui thích đó là vị ngọt. Kính thưa quý vị, hằng ngày mình chết chìm trong vị ngọt không biết bao nhiêu lần, chỉ mới nhìn thấy người đẹp thôi là mắt không rời được người đó thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này có đầy rẫy trên cuộc đời này, từ những quảng cáo trên tivi, báo chí, bảng quảng cáo…

Thế nào là sự nguy hại của sắc? Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Vị ngọt của có một chút thôi nhưng sự nguy hại của nó là khôn lường. Minh Thành dẫn chứng những ví dụ ở cuộc sống thường ngày để quý thầy, quý cô nhìn thấy. Cậu thanh niên thương người con gái này nhưng gia đình không đồng ý, hai người đã quen nhau thời gian dài nhưng gia đình cô gái thấy người thanh niên không biết tự lập, phấn đấu nên không cho quen nữa.

Cuối cùng người thanh niên này nổi cơn thịnh nộ giết hại mọi người trong gia đình cô gái, đây là vụ án chấn động xảy ra ở Bình Phước. Từ vụ án này cho chúng ta thấy sự nguy hại của sắc, từ chỗ tham muốn vị ngọt của người đẹp, vị ngọt của tài sản, vị ngọt của tiện nghi vật chất, họ muốn tất cả những cái đó nhưng đột nhiên họ bị mất đi, không còn vị ngọt đó nữa nên họ sân lên, phựt cháy và giết hại sáu mạng người trong gia đình cô gái, kết cục phải tử hình.

2. Quán chiếu sự nguy hại hướng đến viễn ly

Quán chiếu vị ngọt và quán chiếu sự nguy hại rất hay, mình là người tu mà thấy người nào dễ thương thì tác ý "Không được rồi, đây là sự nguy hại, phải tránh xa ta ra". Xin thưa với quý thầy, quý cô và đại chúng, trong Pháp hành của tạng kinh Nikāya, Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo tu tập liên hệ đến viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đây là kim chỉ nam của đời sống xuất gia.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Do vị ấy tu tập bảy giác chi này, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), I. Phẩm Núi, V. Vị Tỳ-kheo)

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập tín lực liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tấn lực... niệm lực... định lực... tu tập tuệ lực liên hệ đến viễn ly... hướng đến từ bỏ.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập năm lực, làm cho sung mãn năm lực, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương VI. Tương Ưng Lực, I. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết, I Viễn Ly)

3. Sự nguy hại của dục

Viễn ly là xa lìa nhưng nói xa lìa khó nhớ thì Minh Thành tặng đại chúng, các đồng đạo huynh đệ câu chú thần thánh, tức là gặp cái gì mà mình thấy thích thú, đó là "Án xa ra, xa ra. Đừng có xáp vô", "Dính vào là nó đốt cháy, nhận chìm mình, nó là hố than hừng". Người Phật tử có vợ/chồng mà gặp một ai đó rồi nói chuyện thấy hợp, thấy thích nên cứ muốn gặp gỡ, nói chuyện tâm sự sẽ nảy sinh nhiều chuyện ngoài ý muốn, như vậy là cực kì nguy hiểm. Vì vậy Đức Phật dạy mình phải quán dục như hố than hừng, như mũi tên có độc, là kẻ giết người, giấc mộng, không được gì hết, chỉ vì một chút vị ngọt thôi nhưng sau đó là cực kì nguy hiểm vì "ngọt mật chết ruồi".

Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (VI) (76) Người Chiến Sĩ (2))

Này Gia chủ, ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi tỉnh dậy, người ấy không thấy gì cả. Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Thế Tôn đã nói, dục được ví như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn". Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, ... vị ấy tu tập loại xả như vậy. (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)

Ví dụ mình đã xuất gia mà có cô Phật tử thương quý mình nên thường xuyên cúng dường cho mình, cô điện thoại nói "nếu không có thầy thì con chết, con sống không nổi" thì lúc đó mình ra sao? Điều này cực kì nguy hiểm, làm sụp đổ sự nghiệp tu hành của mình. Vì thế tất cả vị ngọt của sắc đều phải được đề phòng, canh chừng tâm và Thế Tôn đã nói chớ có thả lỏng các căn, điều này rất quan trọng, nếu không hộ trì căn thì mình không thể thành tựu giới. Hộ trì căn là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, thấy người đẹp không được nhìn lâu, Đức Phật đã nói những gì khả lạc, khả ái, khả hỷ hấp dẫn liên hệ đến dục hấp dẫn lôi cuốn thì phải canh chừng.

II. Phòng hộ tâm

Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương MXX. Tương Ưng Sáu Xứ (d), Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, I. Người Được An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách)

Tại sao ra đường phải đội nón bảo hiểm, mang kính mát? Tại sao phải mang giày, mang dép? Điều này nhằm bảo vệ thân thể, như vậy tại sao mình biết bảo vệ cái đầu, con mắt, đôi chân, thân thể mà tâm lại bỏ quên? Vì thế phòng hộ tâm là cực kì quan trọng, phòng hộ tâm là phòng hộ con mắt, phòng hộ tai… Từ chỗ phòng hộ đó làm cho mình không thả lỏng các căn, chánh niệm tỉnh giác không buông lung phóng dật hay thả lỏng các căn, những Pháp này làm nên đức hạnh của người tu, làm nên nét thanh cao của người xuất gia, làm nên phong thái thoát tục, dáng đi nhẹ nhàng, đạo vị, đi lúc nào cũng như đi thiền hành.

Nhiều khi đi ngoài đường thấy quý thầy chạy xe mà tà áo bay vù vù hoặc tấm khăn của sư cô bay phần phật trước gió làm mất hình ảnh đẹp của người xuất gia. Cho nên người tu là Tăng Bảo, muốn đẹp thì phải phòng hộ căn, chánh niệm tỉnh giác, trong lục niệm là sáu phương diện niệm thân thì điều này rất quan trọng: Thứ nhất là niệm hơi thở, thứ hai là niệm oai nghi, thứ ba là niệm tứ đại, thứ tư là niệm ba mươi hai thể trược, thứ năm là niệm chín giai đoạn của một tử thi, thứ sáu là niệm hành động. Đây là những phương pháp nhất định phải niệm và nó là hương vị của bất tử.

III. Thân hành niệm

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.

Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu,.... quả A-la-hán.

Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.

Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.

Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))

Thực tập Thân Hành Niệm thì đầu tiên phải trở về hơi thở, nhưng nếu chỉ dừng lại ở hơi thở thì không đủ vì nó mới chỉ là một Pháp trong sáu Pháp, ngoài ra còn phải niệm oai nghi chánh và phụ, tức là đi đứng ngồi nằm và co duỗi cúi ngước.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, biết rằng: "Tôi đi". Hay đứng, biết rằng: "Tôi đứng". Hay ngồi, biết rằng: "Tôi ngồi". Hay nằm, biết rằng: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. (Trung Bộ Kinh, 119. Kinh Thân hành niệm)

Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa, (Chánh niệm tỉnh giác))

Mỗi động tác của mình đều phải rõ biết, tất cả mọi động tác đều phải chánh niệm tỉnh giác, đó là mình đang niệm thân và cái niệm thân này làm cho đời sống của người xuất gia bước lên một bước thanh tao, thoát tục đẹp vô cùng. Hình ảnh quý thầy, quý cô đội nón lá, cầm bát dùng cơm mà không có người mẫu nào trên thế giới này so sánh được, đó là cái đẹp của thánh thiện, thanh cao, cái đẹp của đời sống thiểu dục tri túc, cái đẹp của các bậc Phạm hạnh, cái đẹp của các bậc A-la-hán ngày xưa và giờ đây mình tiếp bước, vì thế gọi là thẩm mĩ viện tâm linh tối thượng. Mình muốn cái đẹp đó thì mình phải sửa, không phải tự nhiên mà đẹp, cái tự nhiên của mình là tự nhiên của buông lung, tự nhiên của phóng túng, không hộ trì các căn còn giờ muốn đẹp thì Đức Phật dạy mình phải có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt và chấp nhận học Pháp.

Ở đây, này Upàli, vị Tỳ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (II) (32) Người Ðoạn Sự)

Đây là nền tảng cực kì quan trọng, nếu người xuất gia không nắm vững, không thuộc lòng, không để ý thực tập thì dù cho ở lâu trong chùa cũng không có dáng vẻ của người giải thoát. Như vậy trong thẩm mĩ viện tâm linh tối thượng ở đây thì mỗi một người đều là những người hoa hậu, nam vương, quý thầy còn hơn cả nam vương nhưng cái nam vương đó là ý không nghĩ bất thiện, lời không nói bất thiện, hành động không bất thiện và luôn luôn tự nhiếp phục, chế ngự, chuyển hóa.

Đó là phần Thân Hành Niệm trong kinh Niệm Xứ, trong kinh Đại-bát Niết-bàn Đức Phật đã nói sau khi Như Lai nhập diệt, Tỳ-kheo nào thực hành Tứ Niệm Xứ thì Tỳ-kheo đó là Tỳ-kheo tối thượng trong giáo Pháp của ta, Tứ Niệm Xứ là luôn nhìn lại thân tâm của mình nên nó không có gì cao siêu huyền diệu. Nhìn lại thân tâm để kiểm soát lời nói, kiểm soát những hành động, suy nghĩ, không đi theo chiều tham dục, sân hận, si mê và bản ngã, phải nhiếp phục, tẩy trừ và đoạn tận.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

IV. Hai mũi tên

Sau đây là phần cực kì quan trọng, đây là mỏ kim cương, nếu quý thầy, quý cô có được nó thì sau này mọi người thực tập và chia sẻ Phật Pháp sẽ tung hoành trong Tam giới. Chúng ta sẽ nghe bài kinh Với Mũi Tên trong Tương Ưng Bộ kinh. Trong bài kinh đó Đức Phật đã nói thế nào là sự khác biệt giữa một vị tu hành và một vị không tu hành.

Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.

Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)

Đây là kẻ vô văn phàm phu không biết tu. Bây giờ mình liên hệ đến thực tế, người không biết tu khi họ có cảm giác khổ như bị nói lời chỉ trích, chê bai, hủy nhục thì lúc đó họ sẽ đau khổ, bực bội, sân hận, như vậy thân họ khó chịu và tâm cũng khó chịu, gọi là trúng hai mũi tên. Có một người Phật tử lên Linh Quy Pháp Ấn nhưng bị kẹt xe hai tiếng thế là người này bước xuống xe đứng ngắm cảnh về đêm của thành phố Đà Lạt, sau đó lên Linh Quy thì người này chia sẻ với Minh Thành, khi xưa chưa được học Pháp quán chiếu về cảm thọ, quán chiếu cảm giác mà bị kẹt xe thì tức tối, bực dọc, khó chịu, từ khi học rồi thấy cảm giác là vô thường, không có thật, cảm giác chỉ là tạm bợ thì ngay đó thay vì bực mình thì ngắm cảnh thành phố về đêm, đó là sự khác nhau giữa người không biết tu và người biết tu. Người biết tu là bị cảm thọ đáng lẽ phải sân trong lúc kẹt xe nhưng người này không sân, nhiếp phục được cảm thọ nên có tâm bình an, nhẹ nhàng.

Còn cảm thọ vui thích, thích thú mà không quán chiếu thì tham tùy miên trú ẩn trong đó, dục và ái trong đó mà mình không thấy. Cho nên từ năm bộ Nikāya có thể tóm thâu lại năm uẩn, từ năm uẩn có thể tóm lại thành cảm giác, tức là thọ uẩn. Thọ uẩn cực kì quan trọng, sắc uẩn thuộc về vật chất và thứ vô tri vô giác, tưởng là những hình bóng trong nội tâm, hành là những suy nghĩ lời nói trong tâm, thức là sự nhận biết. Một cái sắc uẩn thuộc về vật chất nhưng những phần theo sau nó là tưởng, hành, thức thuộc về tinh thần, còn phần thọ uẩn này là phần gạch nối, liên kết thân và tâm, điều này cực kì quan trọng.

Khi mình nghe một câu nói chỉ trích, la mắng thì cảm giác lúc đó của mình ra sao? Mình có thấy được cảm giác không hay lúc đó mình nhập cuộc làm một với nó rồi cự cãi lại người kia? Nếu thường trực nhìn lại cảm giác sẽ thấy lúc đó trong lồng ngực dâng lên khí nóng, mặt đỏ, tai đỏ, miệng run lên rồi thốt ra những lời nặng nhất, đó là vô văn phàm phu không biết tu, còn người biết tu khi lồng ngực mới nóng lên, cảm giác mới chớm nở thì "Ta đã thấy được ngươi rồi, cảm giác này".

Khi đó phải quán sự nguy hại của cơn sân, còn nếu mình để cảm giác bung ra thì đổ vỡ tình huynh đệ, vợ chồng chia ly, cha con không còn đoàn tụ, cảm giác sân hận này phựt cháy sẽ thiêu rụi tất cả cho nên mình không chấp nhận cảm giác sân hận, bực tức này, mình phải từ bỏ, chấm dứt, làm cho nó tan biến thì đó là người trí huệ, thành tựu trí huệ trong cảm giác.

V. Đức Phật dạy về thường trực quán xét cảm thọ

Như vậy thường xuyên nhìn lại cảm giác sẽ rất tuyệt vời, cảm giác này là hang ổ của tất cả phiền não, là căn cứ địa của tham sân si, là sào huyệt của vô minh, bao nhiêu tật đố, thị phi, hơn thua đều ở trong cảm giác. Nếu mình thường nhìn lại cảm giác thì mình sẽ thành tựu Thánh trí, không phải là trí huệ bình thường, có một bài kinh các ngoại đạo, những người bình thường khen Đức Phật đủ điều nhưng Đức Phật nói còn một điều rất vi diệu, chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử là những bậc đã thành tựu trí huệ mới biết để khen Như Lai, đó là Như Lai đối với cảm giác sanh khởi lên Như Lai thấy biết, cảm giác an trú Như Lai thấy biết, cảm giác chấm dứt Như Lai thấy biết, đối với tưởng khởi lên, an trú và chấm dứt Như Lai thấy biết, đối với tưởng, những suy nghĩ sanh khởi, an trú và chấm dứt Như Lai đều thấy biết, đây là Pháp hy hữu thù thắng đặc biệt cần phải thọ trì.

Này các Tỳ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những chấp pháp ấy, này các Tỳ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đã thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

Này các Tỳ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.

Khi nghe nói vậy, đại đức Ānanda bạch đức Thế Tôn

—Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Pháp môn này gọi là gì, bạch Thế Tôn?

- Này Ānanda, pháp môn này gọi là “Lợi Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Pháp Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Phạm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Kiếm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Vô thượng Chiến thắng”, hãy như vậy mà phụng trì.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động. (Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng)

Như vậy việc luôn nhìn lại cảm giác thì tất cả chúng ta, ai cũng có thể làm được, cả thiên hạ khắp thế giới này đều bị nhấn chìm trong cảm giác, tất cả đều đi tìm cảm giác. Cưới giật, lừa đảo chiếm đọa tài sản có phải muốn có cảm giác giàu có không? Những vụ án hãm hiếp, trộm cắp, thậm chí sử dụng những chất kích thích cũng là đi tìm cảm giác, hậu quả của việc ngáo đá là ôm đứa con mới mười tháng tuổi leo lên nóc nhà rồi quăng xuống hoặc trần truồng ngoài đường phố, tự làm tổn hại bản thân…

Đó là sự nguy hại của cảm giác, nó nhận chìm tất cả chúng sanh, cho nên mình tu không phải là để lạy lục, cầu xin mà quay lại để thành tựu trí tự thân, thấy rõ được căn cứ địa phát sinh ra tham sân si. Một cảm giác vui sướng thích thú là tham ái ở trong đó, nó thúc giục muốn thêm nữa như vậy tham trú ẩn trong lạc thọ, trong cảm giác khoan khoái, thích thú.

Cảm giác bực dọc, tức tối có sân trú ẩn trong đó. Đang ngồi thiền mà nhắm mắt rồi hít vào thở ra thấy thư thái quá là vai xệ, đầu quẹo một bên là ngủ luôn vậy là si xâm chiếm nội tâm mà mình không biết, còn nếu có nhìn lại cảm giác thì khi vai xệ xuống là mình nhận ra ngay, cho nên trong mười sáu hơi thở thì cảm giác toàn thân rất quan trọng, vì cảm giác toàn thân đó là cánh cửa đi vào tất cả Pháp hành của Phật giáo.

Minh Thành đã chia sẻ khi làm bất cứ điều gì đều phải xem lại cảm giác toàn thân và trú trong đó, gọi là định tâm trên thân. Định tâm trên thân thì từ đỉnh đầu đến gót chân đều được kiểm soát thấy biết, do cảm giác biểu hiện trên thân nên khi cảm giác vừa rục rịch mình sẽ phát hiện ra ngay và nhiếp phục nó. Khi dục khởi lên mình sẽ thấy được ngay và nhiếp phục nó, cảm giác sân khởi lên là mình thấy chỗ trú ẩn của nó và nhiếp phục nó, cảm giác si là lờ đờ, uể oải, đang nghe Pháp hoặc ngồi thiền là ngủ gục rồi mớ, đó là đang bị si mê chứ không có tỉnh giác.

Vì thế giờ ngồi thiền là giờ xung trận, lâm trận đối đầu với địch, nếu không ngồi thiền là ngủ luôn vì mình không nhận diện cảm giác nên không thấy trong tâm đang có dục, sân, bản ngã khởi lên. Nhưng nhờ nhận diện năm uẩn sẽ thấy được hình bóng trong nội tâm, ví dụ đêm Noel có biết bao người đi chơi, biết bao món ăn bắp nướng, khoai lang nướng, bánh tráng nướng, cóc me xoài ổi lắc… Khi Minh Thành nói như vậy thì miệng chảy nước bọt thì đó là thọ, có hình bóng đi lòng vòng chơi là tưởng, khi mình nói "phải chi mình được đi chơi, ăn mấy món đó ngon lắm" thì đó là hành, nhận thức của mình biết cảm giác, lời nói, hình bóng thì đó chính là ngũ uẩn.

VI. Tổng kết

Nhiều khi đọc ào ào "Quán tự tại Bồ tát hành thâm bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" mà không biết ngũ uẩn là gì. Khi mình thấy, mình nghe đều có cảm giác, nếu là cảm giác dễ chịu thì có tham trong đó, cảm giác khó chịu có sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là si. Vì không thấy cảm giác, không thấy sự vận hành của cảm giác, không thấy thọ; tưởng; hành; thức ra sao thì lúc đó là đang si, trong tâm đang có hình bóng, suy nghĩ gì cũng không thấy không biết, cho nó qua mặt thì Đức Phật gọi là sống trong si mê, không thấy được năm uẩn.

Chính chỗ không thấy được năm uẩn thì mình sẽ bám chặt vào nó, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, đây là toàn bộ khổ uẩn được thành lập, gọi là ngũ thủ uẩn. Nếu thường nhìn lại sắc thân này là tứ đại, một mớ cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng, đó chỉ là năm thứ, năm thứ kết hợp mới ra ngũ uẩn, năm ngón tay kết hợp mới ra bàn tay chứ nó không phải là mình thì ngay đó thành tựu chánh tri kiến, Nhập Lưu Tu-đà-hoàn.

Bất cứ người nào từ cư sĩ đến xuất gia đều có thể thành tựu trí huệ này vì nó xuất phát từ tự thân mình, do mình thường thấy mình là một cái tôi trọn vẹn chứ không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không thấy được một đống phèo phổi, ruột gan, tim, hoành cách mô, phân, máu mủ, nước tiểu… Một đống bầy nhầy là sắc uẩn rồi những cảm giác, một mớ những suy tưởng, nhận thức nhưng do mình bám chặt, bấu víu vào không buông ra rồi cuối cùng đại họa xảy ra, đó là ngũ thủ uẩn là sự bám chắc không gỡ ra được rồi lo cho ăn mặc, ngủ nghỉ rồi dục tham hành hạ mình vô lượng kiếp, cứ khao khát, thèm muốn, tìm kiếm không dừng nghỉ. Ở một mình không được nên phải tìm thêm một người nữa là bộ xương để ở chung, rồi bộ xương đó hành hạ bộ xương này, có Phật tử thưa chuyện "Đúng ra là con đi tu nhưng má không đồng ý nên giờ con ở tù", ở tù là do có chồng không đi đâu được, như bị nhốt trong ngục tù, khi học được giáo Pháp thấy được năm uẩn nên đã thấy được con đường thoát ra, đây là sự xuất ly, vượt thoát, từ bỏ, không bám vào nữa vì đã nhìn thấy bản chất.

Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV) (34) Các Lòng Tin)

Cho nên tất cả khổ đau trên đời này đều từ tham ái, tham dục. Không phải chỉ là tham món đồ đẹp, chiếc xe, cái nhà… những thứ này rất nhỏ, đó là chưa thành tựu trí của Đa văn Thánh đệ tử. Món đồ đó đẹp nhưng món đồ đó đem lại cảm giác gì cho mình, chỗ này là chỗ sâu xa. Không phải chỉ thương người đó mà người đó đem lại cảm giác thỏa mãn, thích thú cho mình và mình bị buộc vào cảm giác đó cho nên Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu có cảm giác vui sướng giống như người bị trói buộc, gặp cảm giác bực bội cũng giống như người bị trói buộc, có cảm giác không vui không khổ cũng như người bị buộc chặt, không thoát ra được.

Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)

Cảm giác này là vô thường, cảm giác này không đáng để tham đắm, dính mắc vào nó, cảm giác này không phải là đối tượng để hoan hỉ, như thế mình tỉnh giác và có chánh niệm đối với tất cả cảm giác. Khi có cảm giác thích thú mình biết cảm giác này vô thường, cảm giác khổ đến thì mình biết cảm giác này có rồi cũng sẽ tan biến nên mình không dính mắc, chấp trước, như vậy là mình bắt đầu bước vào dòng trí tuệ của hiền Thánh. Kính chúc tất cả thầy cô thành tựu trí tuệ của Thánh hiền.

./.