Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

7 Cách Trừ Phiền Não - Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc 2

2026-03-03 00:55:30
Kinh Nikāya Giảng Giải

BẢY CÁCH TRỪ PHIỀN NÃO

KINH TẤT CẢ LẬU HOẶC 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Lậu hoặc do phòng hộ được đoạn trừ PAGEREF _Toc83047015 \h 1

II.Lậu hoặc do thọ dụng được đoạn trừ PAGEREF _Toc83047016 \h 7

Lậu hoặc do phòng hộ được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỳ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Như lý giác sát cũng giống Như lý tác ý. “Giác” là tỉnh giác, “sát” là quán sát, nghĩa là tỉnh giác và quán sát đúng như chân lý thì gọi là Như lý giác sát. Chúng ta đã nói về tri kiến, thấy biết, trí tuệ, nhận định, quan điểm, cách nhìn, sự thấy biết ở bên trong, kế tiếp là nói về đức hạnh.

Trong Phật pháp có trí và đức, trí tuệ là chánh tri kiến được thành tựu, đức hạnh là do công phu tu tập giới luật hình thành. Một người có trí tuệ không thể không có đức hạnh, một người có đức hạnh thì chắc chắn sẽ đi đến thành tựu trí tuệ. Nếu chỉ có một cái thì sẽ không viên mãn và người này bị khập khiễng, không có chân đứng trong pháp và luật. Cho nên, trong sự tu không phải chỉ hiểu suông mà còn phải có sự thực hành. Sự thực hành nằm ở việc phòng hộ con mắt, “phòng” là phòng bị, phòng vệ, đề phòng, canh phòng, “hộ” là hộ trì, bảo hộ, như vậy là giữ gìn, phòng hộ, bảo vệ con mắt.

"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Tại sao chúng ta ra đường phải đội nón bảo hiểm? Tại sao chúng ta phải mang giày, mang dép? Tại sao chúng ta phải có thẻ bảo hiểm y tế? Tại sao lên xe, lên máy bay phải thắt dây an toàn? Tất cả điều này nhằm phòng hộ, bảo vệ, bảo hiểm để tránh sự nguy hiểm nhưng mình chỉ lo sự bảo vệ ở bên ngoài, trên sức khỏe chứ không đi sâu vào sự phòng hộ đúng theo Chánh pháp.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo hộ trì các căn". (Tăng Chi Bộ, chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII). Không Thể Rơi Xuống)

Đây chính là lý do tại sao Minh Thành mong muốn mọi người học thuộc lòng Căn bản trí. Khi đi vào pháp học và pháp hành trong tạng kinh Nikāya đều phải nắm vững khái niệm và định nghĩa trong đó. Vì nếu đã thuộc và hiểu thì khi nói đến hộ trì căn là mình sẽ hiểu nó như thế nào, chứ không phải tự ý nói hộ trì chỉ là giữ gìn rồi thôi, học như vậy sẽ không đi đến Thánh đạo của Đức Phật. Cho nên điều đặc biệt khi học ở đây chính là lấy kinh để giải thích kinh chứ không phải lấy luận để giải thích kinh, nghĩa là lấy lời của Đức Phật để giải thích lời của Đức Phật, không sử dụng bất cứ lời của người nào ngoài kinh để giải thích, đây là chỗ khéo học. Nếu lấy kinh giải thích kinh, lấy lời Đức Phật giải thích lời Đức Phật thì chúng ta sẽ thấy một sự xuyên suốt nhất quán trong cả một hệ thống, không có lúc vầy lúc khác, đây là chỗ chúng ta cần để tâm rất kĩ. Khi đã thuộc lòng phần hộ trì căn này thì tất cả những chỗ khác trong kinh Đức Phật nói hộ trì căn là mình sẽ biết ngay.

"Khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng", tại sao chúng ta ngồi thiền không vào định được? Chính vì khi con mắt thấy sắc là mình đều nắm giữ tướng chung, tướng riêng, sắc tưởng đó xâm chiếm tâm, đi vào trong tâm và nó tồn tại, tồn chỉ trong thân tâm chúng ta. Khi đã chất chứa quá nhiều sẽ làm cho mình thường xuyên dao động, có rất nhiều cảm giác, hình bóng, suy nghĩ làm mình không thể tịnh chỉ ý hành được, dừng lặng lại không được do sự thu nhận, nắm giữ tướng chung tướng riêng. Vì thế hộ trì con mắt là mắt thường nhìn về phía trước, mở vừa phải, không chú ý quá nhiều vào một điều gì trừ khi đang làm việc, không thể thấy cái gì đẹp là cứ nhìn chằm chằm vào hoặc thấy tiền là sáng mắt ra, cho nên không được nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng khi con mắt thấy sắc.

"Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự", khiến cho sự ham thích hay bực bội, buồn phiền, các ác bất thiện pháp khởi lên thì vị Tỳ-kheo phải tự chế ngự nguyên nhân ấy, giữ gìn con mắt, thực hành sự giữ gìn con mắt. Nếu đối tượng đó là đối tượng có thể, có khả năng làm cho mình sanh khởi dục, tham, ái thì đừng nhìn họ. Ngài Anan đã hỏi Đức Phật phải làm sao khi tiếp xúc với người nữ thì Đức Phật nói đừng tiếp xúc vì khi tiếp xúc sẽ sanh thọ, thọ sanh ái.

"-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát-Niết-Bàn)

Phải hạn chế tối đa sự tiếp xúc vì cứ hễ tiếp xúc là sanh thọ, mà thọ thì sanh ái, ái thì sanh thủ. Khi đã nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng là trong tâm mình sẽ có hình bóng người đó, lúc này sẽ rất nguy hiểm, trở thành "ý trung nhân" tức là người ở trong tâm, vì khi con mắt nhìn thấy là nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng từ cảnh vật, món đồ cho đến con người. Cho nên, phải giữ gìn con mắt, thực hành sự giữ gìn con mắt. "Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy", thế nên, đối tượng nào làm cho mình có sự ưa thích, luyến ái thì đừng tiếp xúc. Nếu lỡ tiếp xúc thì phải giữ gìn tâm cẩn thận bằng cách thực hành cảm giác toàn thân, hộ trì căn, thực hành sự giữ gìn con mắt. Các vị Tỳ-kheo ngày xưa phải thực hành như vậy mới trở thành Thánh Tăng, mới đạt được các tầng thiền định để thể nhập Thánh trí huệ.

"Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng", những nguyên nhân nào làm cho ưa thích, tham muốn, bực bội, buồn phiền sanh khởi thì phải chế ngự nguyên nhân đó, chặn đứng nó lại không cho nó tiếp tục sanh khởi. Đối với những vị chân tu không ở cố định một chỗ, các ngài gặp những chuyện có thể làm sanh khởi dục ái là các ngài lặng lẽ, âm thầm ra đi. Vì thế cần nhìn thật sâu vào trong tâm xem lại mình đã tu thật hay chưa vì tu thật phải tránh dục, tránh ái, lánh dục, lánh ái, xa dục, xa ái, từ bỏ dục ái, viễn ly dục ái, thoát ra khỏi dục ái mới thật sự là chân tu. Nếu trong lòng còn thích, muốn, tham đối với những thứ dục, tham, ái đó thì vẫn chưa chân tu.

Khi mắt; tai; mũi; lưỡi, thân, ý (sáu căn) tiếp xúc sáu trần (con người, đồ vật hoặc cảnh vật…) sẽ sanh khởi sáu thức, xuất hiện sáu xúc, khởi ra sáu thọ, sanh ra sáu ái thì lập tức chúng ta phải ngăn chặn, chế ngự, bảo hộ, phòng hộ, hộ trì, giữ gìn, nếu không thì "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên". Khi sân hận khởi lên thì nó tàn phá, khởi ra tâm ác hại, hãm hại đối tượng kia. Nếu không phòng hộ thì chỉ cần một lời nói là trong tâm bừng cháy lên, không có sự phòng hộ cảm thọ thì dễ xảy ra đấu khẩu, không phòng hộ cái lưỡi, không phòng hộ cái thân nên muốn gì làm đó mà không hộ trì, không giữ gìn, không quán sát, không Như lý giác sát.

Hãy tỉnh giác và quán sát mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không phải cứ muốn là làm theo ý thích, muốn là làm thì đó là làm theo dục. Trước hết, chúng ta phải xem cái làm đó là thiện hay bất thiện, có tham ái sanh khởi không, có sân si, phiền não, bực bội, buông lung phóng dật không. Cái miệng nhiều lúc muốn là nói không chặn lại kịp, không biết mình là ai, mình đang ở đâu, đối diện mình là ai, mình trong ở trong hoàn cảnh nào. Người nào muốn đi là đi, muốn nói là nói, muốn làm là làm thì đó là đang buông lung phóng dật, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp sáu nội xứ, sáu xúc xứ, như vậy sẽ đem lại đau khổ dài lâu.

"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)

Vì thế hộ trì căn là tuyệt đối quan trọng, mình đi thiền hành nhẹ nhàng tĩnh lặng bên đây mà bên kia con chó ở cách bốn căn nhà vẫn sủa vang trời, đó là nó không phòng hộ mắt, không phòng hộ miệng nên nó đau khổ lâu dài trong thân xúc sanh. Cũng vậy, có khi chuyện không dính dáng gì đến mình mà nghe người ta nói rồi cũng chen vào, vậy là những lậu hoặc tàn hại và nhiệt não khởi lên, sân khởi lên, bực bội khởi lên.

Thời đại 4.0 này rất nguy hiểm, ngồi một mình trong phòng nhưng vẫn tiếp xúc rất nhiều vì có điện thoại thông minh, cho nên đừng tưởng đóng cửa trong phòng là tu giỏi, vào thất đóng cửa nhưng tu cái gì trong đó, cầm điện thoại, laptop, Ipad lên xem những gì trong đó? Ngày xưa độc cư thiền định, nhập thất một mình rất tuyệt vời nhưng thời đại 4.0 này không bảo đảm, nếu cầm theo những thiết bị thông minh để lên mạng Internet mà không bảo vệ, không thâu nhiếp nhãn căn thì ác và bất thiện pháp, tham ái và dục sanh khởi, những lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sanh khởi lên. Bây giờ thế giới thu lại chỉ nằm gọn trong lòng ban tay rồi chúng ra say mê, dính mắc trong đó thì đó là không phòng hộ nhãn căn, không cần đợi đến khi ra ngoài nhìn mới là phóng dật mà chỉ cần lên mạng thôi là đã không phòng hộ. Chỉ trong một màn hình nhỏ mà căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – tưởng – tư – tầm – tứ, tổng cộng sáu mươi pháp vây đánh mình tạo thành ma trận, bạch cốt tinh và yêu ma nhền nhện đang có mặt trong thân tâm chúng ta. Những con yêu tinh đó vẫn tiềm ẩn trong thân tâm, lậu hoặc là yêu quái đang ở trong tâm ta.

Khi đang ngồi thiền mà những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ không xuất hiện thì đừng tưởng rằng mình ngồi thiền giỏi, đừng tưởng ngồi trên bồ đoàn là giỏi. Trường hợp thứ nhất, lên bồ đoàn ngồi mà nhắm mắt lại thở ra thở vào rồi ngủ, đó là không tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm chánh niệm tỉnh giác, mà đó là nuôi dưỡng si và vô minh – trong năm triền cái thì đây thuộc về hôn trầm. Trường hợp thứ hai, ngồi lên bồ đoàn thì bị ngứa, nhức mỏi, tê chân tê tay, trở mình liên tục, đó là trạo cử. Trường hợp thứ ba, ngồi nhưng không biết đang có thọ gì, trong tâm có hình bóng gì cũng không biết. Nó khởi lên là nhập chung làm một, hành sanh khởi lên là đi theo "suy nghĩ đó là tôi, tôi là suy nghĩ đó", "cảm giác đó là tôi, tôi là cảm giác đó", "hình bóng đó là tôi, tôi là hình bóng đó". Tất cả khởi lên đều nhập mình làm một với nó thì không phải là công phu, đó là không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, không hộ trì ý căn. Vì vậy, khi một hình bóng xuất hiện có tham ái trong đó thì phải đánh đuổi hình bóng đó ra, khi suy nghĩ có sân thì phải đoạn tận ngay.

Chúng ta đừng nghĩ rằng lên Bồ-đoàn ngồi tu được là giỏi, thật chất khi ngồi mình tu cái gì, thực hành cái gì trong đó mới quan trọng. Chúng ta đang đi vào những pháp rất thâm sâu trong sự tu, nếu đi không đúng Thánh đạo thì không bao giờ có Thánh quả, phải đi đúng Thánh đạo sẽ sanh ra Thánh trí mới thành tựu được Thánh quả. Sự tu rất tế nhị, vi tế chứ không hề đơn giản như mình thường nghĩ. Nếu tu đúng theo Đức Phật là cả một sự hi sinh, vì phải dồn hết tâm lực, tâm huyết, tu bằng tất cả tấm lòng, trái tim, tu còn hơn cả lúc mới yêu, thậm có thể bỏ cả mạng để thành tựu Chánh pháp. Cho nên phải thường xuyên giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý dù cho ở một mình vì khi chỉ có một mình thọ; tưởng; hành sẽ làm việc bên trong, tức là mình trồng hoa, chăm cây kiểng, bày ra việc này việc nọ để làm thì như vậy là bị hướng ngoại.

Các vị Thánh Tăng ngày xưa gặp nhau sẽ hỏi "Thầy làm xong bổn phận của người tu chưa?", "Việc cần làm thầy làm xong chưa?", đây là những câu hỏi ngày xưa thời Đức Phật khi các bậc tôn giả hiền trí gặp và hỏi nhau, đó gọi là "sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Bây giờ gặp nhau chúng ta cần hỏi "Thưa cô, bổn phận của người xuất gia cô đã làm xong chưa?", "Thưa thầy, bổn phận của người xuất gia thầy đã làm xong chưa?", "Thầy có thấy ngũ uẩn không?", "Thầy có thấy tham sân si trong cảm thọ không?", "Thầy có thấy sự chấp ngã thân kiến đang bám chặt trong năm uẩn này không?", "Thầy có thấy các lậu hoặc đang ngấm ngầm âm thầm hoạt động suốt ngày đêm không?", "Bổn phận của thầy đã làm xong chưa?". Những câu hỏi này rất ít và dường như không có người hỏi, chúng ta là người xuất gia lại lãng quên chúng.

Chính vì vậy, một khi nhìn lại nội tâm thấy đầy rẫy những dục tham ái, sân hận, chấp ngã thì lúc đó mình còn xấu hổ, hổ thẹn, lo lắng, sợ hãi, mình còn bị giày vò, xót xa, bứt rứt, nhức nhối vì bổn phận vẫn chưa làm tròn, điều này cực kì quan trọng. Trước khi đi ngủ ban đêm phải quán diệt dục và trải tâm từ, sáng cũng vậy và tự hỏi mình "Này kẻ tu hành kia, bổn phận của ngươi đã làm xong chưa?", mỗi ngày mình đều hỏi ba lần, sáu lần, mười lần, tác động tâm ý "Nhà ngươi làm xong bổn phận chưa?", "Bổn phận của người xuất gia đã làm tới đâu rồi?". Đây là một chất xúc tác, là một đòn bẩy để đẩy mình tiến lên, hướng thượng, tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ, nếu không đời sống xuất gia của chúng ta sẽ bị lững lờ, không đi đến đâu. Vì suốt ngày chúng ta chỉ hướng ngoại lo bên ngoài còn trong nội tâm thì đầy rẫy rác bẩn, đụng vào là sân si, bản ngã, hơn thua, tham muốn không dừng lại, đó là một điều đau khổ.

Lậu hoặc do thọ dụng được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn".

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.

Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Ăn, mặc, ở, giường chõng và thuốc men, đây là tứ sự, tứ vật dụng. Thọ dụng y phục, thức ăn, nước uống, nhà cửa, giường chõng, phòng ốc, chùa chiền hoặc là dược phẩm, thuốc men trị bệnh không phải vì đam mê, ưa thích, không phải để hưởng thụ, dính mắc mà thọ dụng y phục để ngăn chặn sự nóng lạnh, ruồi muỗi, ngăn chặn sự trần truồng chứ không phải mặc để được đẹp, để ưa thích, hoan hỉ trong cái mặc đó. Mình ở chùa có phòng ốc, có khi có quạt, máy điều hòa, trong khi các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật ở gốc cây, bãi tha ma, bãi đất trống hoặc ở trong thất ven rừng, bờ suối có rất nhiều rắn rết, muỗi mòng, thời tiết lúc nóng thì rất nóng còn khi lạnh lại rất lạnh nên họ phải chịu nhiều khó khăn. Chúng ta phải hiểu được ý nghĩa để khi sử dụng y phục, quần áo để không tham đắm, tham ái, dính mắc trong đó.

Ví dụ mình có đồ dư trong khi huynh đệ không có thì phải đem tặng hoặc cúng dường, lỡ mất cuốn kinh phải mừng vì có người lấy kinh để đọc chứ không được buồn, đó cũng là dịp để mình cúng dường Pháp bảo. Nếu nghĩ "Ai lấy mất cuốn kinh của tôi rồi?", "Cuốn kinh quý của tôi mất rồi" thì đó là phi Như lý tác ý, còn nếu mình nghĩ "Người đó có duyên với pháp, thích pháp, mến pháp thì đây là cơ hội để mình cúng dường pháp", không có gì phải buồn lòng. Hoặc bị mất bộ đồ tu thì phải mừng vì phải thấy đây là cơ hội thí xả để không tham chấp vào những tấm vải này. Còn nếu phi Như lý tác ý, suy nghĩ sai thì tham sân sanh khởi, bản ngã sanh khởi, tôi và của tôi sanh khởi, còn suy nghĩ đúng thì "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa". Vì thế khi mất đồ mà Như lý tác ý sẽ thấy hoan hỉ, còn vừa không biết nhìn vừa nghĩ sai thì sầu, bi, khổ, ưu, não nhưng người tu có gì để mất? Mình không có một cái gì cả, mình là vô sản. Trong kinh Pháp cú Đức Phật đã nói "khổ không theo vô sản".

"Bỏ phẫn nộ, ly mạn,

Vượt qua mọi kiết sử,

Không chấp trước danh sắc.

Khổ không theo vô sản"

(Kinh Pháp cú 17 – phẩm Phẫn Nộ, kệ 221)

Tức là người không có tài sản gì thì cái khổ không đi theo được. Lúc mới cạo đầu đi tu chỉ có vài ba bộ đồ lam, thậm chí còn không có sư phụ phải cho, đến khi chuyển chùa thì thuê xe taxi chở đồ theo không hết. Chúng ta hãy nhìn lại để thấy sự tu của mình như thế nào, đang viễn ly, từ bỏ, buông xả hay là đang gom góp, chất chứa, tích lũy? Phải nhìn sâu sắc vào tất cả những gì đang có trong chỗ mình ở, phải thường tác ý "Không có gì là của mình, đây là của Đàn-na tín thí, của Tam bảo", nếu tác ý được như vậy thì tâm sẽ được nhẹ nhàng. Bị mất chiếc xe cũng không có vấn đề gì to cả, "Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi", phải tu như vậy rồi từ từ mới đi vào xả bỏ cái thân này được, từ từ mới đi sâu vào xả bỏ thọ; tưởng; hành; thức được. Nếu năm thủ uẩn vẫn còn quá cứng chắc thì làm sao mình hết sầu, bi, khổ, ưu, não được?

Vấn đề ở đây là chúng ta thọ dụng y phục để có quần áo mặc che sự trần truồng, nếu không có quần áo thì còn phiền não hơn nữa. Cho nên chúng ta cần thọ dụng nó nhưng phải biết giá trị, công năng, tác dụng của tứ vật dụng. Đừng hiểu sai về tứ vật dụng: ăn, mặc, ở, thuốc men, mà hãy sử dụng đúng mục đích. Đừng để nó che mất trí sáng của mình, làm mất đi lý tưởng, sự nghiệp vĩ đại của người xuất gia gọi là đạo nghiệp – sự nghiệp đạo hạnh tối thượng. Chúng ta không được để cho bốn thứ thấp kém này đạp đổ toàn bộ sự nghiệp tu hành. Bốn thứ này là thấp kém, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu, không xứng đáng cho bậc Đa văn Thánh đệ tử phải sầu, bi, khổ, ưu, não. Nhất là trong xã hội ngày nay không thiếu thốn vật chất, vì vậy, chúng ta phải lo những cái cần phải lo, thành tựu những cái cần phải thành tựu, chứng đắc những cái cần chứng đắc, chứng đạt những cái cần phải chứng đạt, chứng ngộ những cái cần phải chứng ngộ.

./.