Sáu Pháp Vận Hành Đời Sống 1
Tinh Hoa Nikāya
SÁU PHÁP VẬN HÀNH ĐỜI SỐNG 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò học kinh PAGEREF _Toc68192711 \h 1
II. Ý PAGEREF _Toc68192712 \h 2
III. Pháp PAGEREF _Toc68192713 \h 5
IV. Sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu xúc – sáu thọ – sái ái PAGEREF _Toc68192714 \h 8
I. Dặn dò học kinh
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng ta thực hành ba pháp: cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể và cảm giác toàn thân. Trong tâm tỉnh giác, rõ biết những hình bóng, suy nghĩ; những cảm giác gì đang xuất hiện, có mặt trong tâm. Thở vào làm cho tâm an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu.
Kính thưa đại chúng, mỗi người chúng ta đều có bảng tóm tắt ngũ uẩn. Như vậy, thời gian qua nhanh quá, Minh Thành chưa làm kịp nên chúng ta hãy đem ép nhựa lại. Bảng này là chìa khóa để mở tạng kinh Nikāya và mong rằng tất cả đại chúng học thuộc lòng. Đây là những pháp số căn bản, là chìa khóa mở ra cánh cửa để bước vào pháp học và pháp hành của kinh tạng Nikāya. Nếu chúng ta không nắm vững được những pháp số này, những căn bản, nền tảng của pháp này thì khi đi vào tạng kinh chúng ta sẽ không thể nào hiểu được trong kinh nói gì. Và khi thực tập, chúng ta càng không thể thực hành được.
Thành ra thấy nó nhỏ nhưng có võ, thấy một tờ thôi nhưng đừng xem thường – đừng xem thường đốm lửa nhỏ, con rắn nhỏ hay vị hoàng tử, thái tử còn nhỏ; và đừng bao giờ xem thường vị xuất gia còn trẻ. Xem thường đốm lửa nhỏ có thể bị hỏa hoạn, xem thường con rắn nhỏ có thể chết vì nọc độc của nó, xem thường một vị thái tử còn nhỏ bé nhưng sau này tương lai sẽ là quyền uy thiên hạ; xem thường một vị tu sĩ còn trẻ - nếu vị này chân chánh tu tập, gặp đúng Chánh Pháp thì tương lai của vị này là bậc Thánh nhân, Thánh tăng.
Cho nên, bây giờ chúng ta đừng xem thường tờ giấy mỏng này – đây là Thánh pháp ấn của Đức Phật. Tất cả Thánh pháp tạng tóm thâu trong đây. Và xin tất cả đại chúng, chúng ta về học thuộc lòng từng bài thôi, không phải một lần trả bài hết, nhưng mỗi lần học sẽ trả một pháp số trong đây, bất kỳ. Lần trước chưa vào được bài kinh bởi chúng ta chưa học những pháp số căn bản này nên bây giờ phải lùi trở lại để vững nền tảng này, chúng ta mới xây, mới đổ tấm, nâng lầu lên được.
Và đại chúng nhớ rằng khi mình đi học phải có quyển Nghi thức tu học Nikāya và tờ giấy đó, đây là hai bửu bối, pháp bảo không thể thiếu. Cũng như bài kinh chúng ta học, bất cứ lúc nào đi học cũng phải có quyển này, quyển này phát ra là để học chứ không phải để thờ, càng không phải phát ra để cất vô tủ. Quý vị nhớ, bây giờ chúng ta mở ra, trang 107, chúng ta cùng nhau đọc bài.
II. Ý
“Định nghĩa SÁU PHÁP
- 6 CĂN: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
- 6 TRẦN: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- 6 THỨC: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
- 6 XÚC: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
- 6 THỌ: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.
- 6 TƯỞNG: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
- 6 TƯ: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
- 6 ÁI: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái”.
Chúng ta đọc một lần nữa, mạnh mẽ hùng tráng lên, để lát nữa trả bài ngay tại lớp, tập trung tâm ý vô.
Đóng sách lại, cái này là chìa khóa mở tạng kinh Nikāya, nếu mình không thuộc, không nắm vững thì không thể đi sâu vô được. Ai xung phong giải thích ý là gì sẽ có thưởng, không giở sách nữa, bây giờ là làm bài tập. Mình nói tuy đơn giản: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ý là gì? Mình đã được học hồi năm rồi, có ai xung phong không? Mình phải hiểu ý là gì vì ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo mà giờ không biết ý làm sao mình tu, phải không? Ít nhất mình phải biết trên lý thuyết. Mình cứ giảng với Phật tử: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ý là gì? Mời sư cô.
Phật tử: Dạ mô Phật, ý là mình rõ biết thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Có coi sách không? Cho một tràng pháo tay. Giờ mời vị khác, không sao, cứ việc đứng lên nói, sai thì thôi, không vấn đề gì hết. Ý là gì? Giải thích và cho một ví dụ. Hồi nãy cô trình bày là căn, trần chứ không phải ý, ý là biết được thọ, tưởng, hành bên trong, trong tâm, phải chưa, chúng ta thấy rõ không? Mắt mình nhìn thấy đóa hoa, mắt là nhãn căn, hoa là sắc trần, mình khởi lên sự rõ biết sắc đó là nhãn thức, rõ biết được sắc là nhãn thức, nó không liên quan gì tới ý thức. Mình đang nói ý này là ý thức, chúng ta thấy không, nên đây là cái rất quý để học, chứ nếu chúng ta chỉ học trên chữ nghĩa, thì đến khi thực tập lại không biết đường thực tập. Rồi có ai xung phong không?
Phật tử: Dạ mô Phật, kính bạch trên thầy, chư huynh đệ, con cũng lấy ví dụ để nói về thọ, tưởng, hành. Thứ nhất, ví dụ mình thấy một người nào đó đẹp, bắt đầu đập vô mắt mình là thích, cảm giác là thọ, khi về mình nghĩ người đó. Cũng giống như câu nói: “Chỉ cần gặp nửa nụ cười mà mất cả đời để quên”, lúc đó thọ là tới hình bóng, mình nhớ, nghĩ về hình bóng đó lại là tưởng. Khi nhớ, nghĩ xong, bắt đầu nói thầm trong suy nghĩ là mình chắc sẽ gặp lại người đó là hành. Lúc đó mình rõ biết được mình đang mơ tưởng tới người đó là thức.
Sư phụ: gần gần đúng, xin đại chúng chú tâm lắng nghe, để giải tới giải lui hoài. Cái này là pháp hành, là sự thực tập của chúng ta, chúng ta phải nắm thật vững. Sở dĩ Minh Thành đưa ra một, hai chỗ hơi khó một chút, còn phía trước này chúng ta biết rồi. Còn đây là cái mấu chốt, Minh Thành sẽ nói cái đơn giản của chữ ý trước, lấy cùng ví dụ của sư cô mới nói. Chúng ta nhớ rằng nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là biết đối tượng ở bên ngoài. Tiền ngũ thức (năm thức trước) là biết trần cảnh, chúng ta nhớ kỹ điều này. Khi mắt tiếp xúc với sắc sanh khởi lên một sự rõ biết.
Một lát nữa chúng ta sẽ học kỹ là phần Duyên sanh pháp. Nó khởi lên sự rõ biết về các sắc trần đó là nhãn thức, cái rõ biết đó là ở bên ngoài, phải không? Con mắt mình biết hình sắc là hình sắc bên ngoài, tai mình nghe âm thanh cũng bên ngoài, hay mũi ngửi mùi bên ngoài, nếm vị thức ăn cũng vậy, thân mình đụng chạm là đụng chạm với đồ vật hay người bên ngoài. Như vậy, năm thức trước biết đối tượng bên ngoài. Chúng ta ghi chú, nhớ kỹ, riêng ý thức là biết bên trong, không biết bên ngoài. Nên khi ngồi thiền, chúng ta chuyên chú nhìn lại bên trong tâm, mình tập trung tâm ý lắng tâm để nhìn ngược trở vô.
Bây giờ, hình bóng của người mình mến thương hiện ra. Đó là gì? Hình bóng là tưởng, người này là hình bóng của một người yêu thương nên nó có một cảm giác dễ chịu, cảm giác là gì? Rồi xong có suy nghĩ về người đó không? Nó có sự rõ biết được ba cái này đang có mặt trong tâm không? Rõ biết được hình bóng của người mình thương yêu, có cảm giác dễ chịu, có những sự suy nghĩ về người đó, nó rõ biết được ba cái này. Nó chỉ biết được hình bóng, cảm giác suy nghĩ ở trong tâm là sau khi đã tiếp xúc ở ngoài, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đã tiếp xúc ở ngoài rồi nó trở về một mình nó, đối diện trở lại nhìn vô trong một mình nó, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra trong tâm để mình nhận thức được điều đó. Đó là ý thức, sự rõ biết hình bóng, cảm giác, si nghĩ trong tâm. Chúng ta nắm được cái này chưa? Còn nghi ngờ điều gì cứ việc hỏi, không quan trọng, nắm được cái này chúng ta mới ngồi thiền được.
Bây giờ mình đang ở trong chùa, nhớ lại người đó họ kiếm chuyện với mình, nhớ lại hình bóng, câu nói hay hành động của một người huynh đệ hay người Phật tử nào đó mà họ kiếm chuyện, gây sự với mình. Khi mình nhớ lại, hình bóng hiện ra đó là gì? Tưởng. Rồi mình có cảm giác khó chịu hay dễ chịu? Khó chịu là thọ. Có suy nghĩ về người đó không? Mình có rõ biết hình bóng, cảm giác và suy nghĩ đó không? Đó là ý thức, lúc nãy là nhớ người thương, bây giờ nhớ người ghét. Ví dụ trước là của lạc thọ, ví dụ thứ hai này là của khổ thọ. Chúng ta thấy rõ không? Ý thức đó.
Cũng như lúc nãy thầy ví dụ là thấy đồ ăn. Khi mình thấy hay ăn, chuyện đó đã rồi, nhưng mình trở về chùa sau khi ăn, mình nhớ lại hình bóng của món đồ ăn đó hiện ra, đó là tưởng. Mình có cảm giác thích thích, thấy ngon, cảm giác đó là thọ, mình có suy nghĩ mai mốt sẽ nấu lại món này, suy nghĩ đó là hành. Rồi mình rõ biết được ba điều đó có trong tâm không? Đó là ý thức.
Nãy giờ chúng ta đã có ba ví dụ, thầy sẽ cho thêm rất nhiều ví dụ để chúng ta nắm điều này cho rõ luôn. Bây giờ mình ở một mình trong phòng, tăng phòng hay ni xá, tự nhiên mình ngồi lại thấy hình bóng ngôi chùa dưới quê của mình hiện ra, có không? Nhớ ngôi chùa dưới quê, sư phụ hay sư đệ, tỷ muội… hình bóng đó là gì? Là tưởng. Rồi cảm giác dễ chịu, thân thương là thọ. Mình suy nghĩ không biết hổm rày ở dưới không biết sư phụ ra sao, chùa ra sao, là hành. Khi mình rõ biết ba cái này là ý thức.
III. Pháp
Xong chưa, đã bốn ví dụ rồi, để chúng ta qua bài khác, được chưa? Cái này là vô cùng quý báu cho chúng ta sau này tu học. Bây giờ ai giải thích chữ “pháp” – đây là những từ khóa quan trọng để chúng ta nắm vững được thân tâm mình và giáo pháp. Ai xung phong giải thích trơn tru, rõ ràng, rành rẽ sẽ có thưởng. Xin mời đại chúng, pháp trần là gì? Sắc, thanh, hương, vị, xúc mình dễ biết rồi phải không? Nhưng pháp là gì?
Phật tử: Mô Phật, kích bạch thầy giáo thọ và đại chúng. Pháp là đối tượng của căn ý, những sắc, thanh, hương, vị, xúc là đối tượng của các căn. Như sắc là đối tượng của căn mắt, thanh là đối tượng của căn tai, nhĩ căn, hương là đối tượng của mũi, vị là đối tượng của lưỡi, xúc là đối tượng của thân, pháp là đối tượng của ý.
Sư phụ: Những điều này trong bài có hết nhưng do chúng ta không học, mà những cái này hết sức căn bản và quan trọng. Pháp là gì? Sư nói vậy là đúng rồi, nhưng giờ nói rõ ràng ra luôn là cái gì? Ý khác, pháp khác, nói như vậy là lẫn lộn rồi.
Phật tử: Kính bạch thầy, con trả lời lại: pháp là đối tượng của ý, khi ý nhận thức gọi là pháp, mà pháp có thể bàn bạc, rất rộng.
Sư phụ: Câu trước nói đúng, nhưng câu để mà cụ thể, rõ ràng thì chưa được, đối tượng của ý là đúng. Mời sư ngồi xuống, giờ có ai, huynh đệ nào trả lời được pháp là gì?
Phật tử: Dạ, kính bạch trên thầy cùng chư huynh đệ, theo như con suy nghĩ, pháp ở đây là đối tượng mình rõ biết. Năm trần đầu giống như Đức Phật khai thị cho ngài Ca Diếp về cành hoa sen, là đối tượng nhìn vô mình thấy được hương vị của pháp mà Đức Phật muốn truyền tải đó rồi mình chạm vào…
Sư phụ: giải đáp, đáp số Minh Thành đã viết lên bảng rồi, pháp trần chính là thọ, tưởng, hành; là đối tượng rõ biết của ý thức. Ý thức rõ biết là rõ biết thọ, tưởng, hành, đây là đối tượng của nó. Chúng ta thấy rõ ràng, bây giờ mở sách ra học Duyên Sanh Pháp, tiếp tục nâng cấp lên, trang 108, cùng nhau đọc:
“- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư”.
Xin thưa đại chúng, đây là định lý mà Đức Thế Tôn chứng ngộ, không phải tự mình muốn suy nghĩ mà đặt ra được, nên chúng ta học kinh Nikāya này khác với những thứ trước đây chúng ta học ở những chỗ này. Đây là Đức Phật trình bày, sự chứng ngộ của ngài, tâm vận hành thế nào có quy trình, định lý của nó chứ không phải tự mình suy diễn được. Đây chính là chỗ khó mà sau này dễ cho chúng ta, thành ra thưa với đại chúng, lúc trước Minh Thành cũng học giống đại chúng, như các huynh đệ, mà khi mình tu lại không thực tập được vì pháp không rõ.
Khi mình đi vào kinh tạng Nikāya, pháp nào rõ pháp nấy, và tâm hành của mình vận hành như thế nào, từng pháp sẽ rõ ra hết trong tâm mình. Khi thực tập thiền mình sẽ thấy được cái nào là thọ, tưởng, hành, thức, ý, pháp. Rồi những sự vận hành như tham, sân, si, bản ngã, vô minh mình sẽ thấy được, nhận diện thân tâm mình một cách chính xác.
Thành ra, các huynh đệ chịu khó, đây là một cách học mới, có lẽ nào giờ chúng ta chưa học kỹ và nghiêm túc như bây giờ. Và bây giờ chúng ta có một cơ hội để có một cách học mới, cho nên xin mời đại chúng, những công thức này, định lý này, định nghĩa này mình phải về học từ từ. Nếu không học thuộc là bó tay, không thể nào mình nắm vững được, mà phải học thuộc lòng. Sau đó mình mới ngồi thiền, nhận diện, trong những khi mình tiếp xúc sinh hoạt với nhận diện ra được các pháp hiện rõ trong tâm mình.
“- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Chúng ta nhìn phần đơn giản ở dưới: Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư”.
Bây giờ có ai cho ví dụ của Duyên Sanh Pháp của ý này không?
Phật tử: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, cho con xin lấy ví dụ Duyên Sanh Pháp, và pháp là thọ, tưởng, hành. Duyên là vô tình được người nào đấy rủ đi đá bóng, sau khi đá bóng về thì mệt, nhưng vui nên có lạc thọ. Lúc này, suy nghĩ về trận đá bóng hồi chiều, đó là tưởng, những hình ảnh thô tế trong tâm hiện lên, bắt đầu khởi lên hành, sẽ muốn đá tiếp nhiều trận nữa. Pháp, ý rõ biết hết thọ, tưởng, hành đang thị diện. Mô Phật, con xin hết.
Sư phụ: Cho một tràng pháo tay, tạm được. Chữ “Ý”, chúng ta thấy Ý + Thọ, Tưởng, Hành không? Chữ ý này, là ý căn – để ý trở lại bên trong tâm. Chúng ta đã nói rồi, năm thức trước là biết ở bên ngoài, còn ý thức biết bên trong. Giống như hồi nãy thầy ví dụ chuyện đá banh, sau khi đá xong trận đó, chứ lúc đá không tính, mình trở về chùa, ngồi một mình mới để ý lại trong tâm. Nếu như không để ý trong tâm thì mình lo nhìn cây cảnh hay công việc gì đó, còn mình để ý lại trong tâm nên hình bóng đá banh đó hiện ra, suy nghĩ đánh thêm mấy trận nữa, đá thêm tiếp tục trận một, hai, ba nữa, cảm giác tiếp tục khoái khoái.
Nhưng mình để ý vô trong mới thấy được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này nó có. Nếu mình không để ý, năm thức của mình chỉ hướng ra ngoài, gọi là hướng ngoại. Thành ra giờ ngồi thiền chính là giờ đối diện với thọ, tưởng, hành. Lúc này mình để ý lại, ba pháp này hiện rõ ra, mình rõ ra, thấy hình bóng, thấy cảm giác, thấy sự suy nghĩ. Hãy để ý vô trong mới thấy.
Ví dụ mình đang ngồi chú tâm nghe, ngoài kia lâu lâu có một tiếng xe rồ ga, phóng chạy, bóp kèn lớn… Nếu mình chỉ để ý trên giáo thọ và bài pháp thì mình sẽ không để ý được trong tâm mình có một hình bóng của con người chạy chiếc xe, có một cảm giác hơi hơi khó chịu. Và có một suy nghĩ: tại sao chạy nhanh, mau, bóp kèn lớn, ồn ào vậy. Nó phớt qua trong tâm mình hết sức nhẹ mà mình không biết, vì lúc đó mình không để ý, vì lúc đó mình mắc để ý ở ngoài, trên bục giảng này, thành ra trong tâm mình không biết.
Chỗ này là chỗ hướng nội, quay trở lại tâm mình. Tại sao? Vì sự tu của chúng ta là một sự nội soi, nội quán, soi rọi trở lại ở bên trong. Còn người không biết tu là người hướng ngoại, lúc nào cũng nhìn sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài. Người tu là người quay trở lại để thấy được cái gì đang xuất hiện trong tâm, đang có mặt trong tâm. Và sau đó, nếu hình bóng đó là ác bất thiện pháp, nếu như những cảm giác, những suy nghĩ đó là ác bất thiện pháp mình phải có cách xử lý nó. Chúng ta thấy không, đây là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, chúng ta thấy rõ không? Tức quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh Niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Quán tâm là gì? Là nhìn trở vô mấy cái này, những cảm giác nghĩ tưởng này, coi trong này là thiện hay bất thiện, ái hay ly dục, hay đang tham ái. Nếu có sự dính mắc, sân hận, tham dục, bản ngã… lúc đó mình quét nó ra, tẩy sạch, trừ diệt và đoạn tận. Đó chính là quán thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp. Đó chính là tinh cần, tinh tấn, diệt ác, tác thiện, Tứ Chánh Cần. Chỗ này chúng ta thấy rõ chưa? Còn chỗ nào chưa rõ không? Chúng ta đi rất chậm cho chắc.
IV. Sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu xúc – sáu thọ – sái ái
Nãy giờ mới tìm hiểu chữ ý, pháp, Duyên Sanh Pháp của ý, nhưng chúng ta dừng ở đây thôi, không đi nhiều quá, đi nhiều quá hơi căng, đi chậm, chắc. Chúng ta mở ra tiếp tục coi còn chữ gì nữa? Sáu căn + sáu trần + sáu thức => sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Bây giờ chúng ta đi tổng quát vào sáu pháp, còn lúc nãy đi chi tiết.
Con mắt mình (sáu căn) tiếp xúc với sắc đẹp hay người đẹp (sáu trần) sanh ra sự rõ biết với sắc đẹp đó (sáu thức). Khi sanh ra sự rõ biết thì ba pháp này hội tụ với nhau, căn, trần, thức hội tụ, chỗ đó trở thành một sự tiếp xúc của ba pháp, mà tiếp xúc này cực kỳ nhanh. Chúng ta không thiền định thì bắt không kịp, chỉ cần mắt, sắc, sự rõ biết, ba cái này giao thoa, chạm nhau, tiếp xúc, hội tu với nhau lập tức sanh ra cảm giác.
Thọ do nhãn xúc sanh, chúng ta thấy thời điểm mất bao lâu. Khi mình vừa gặp người đó thôi, một người đẹp hay món đồ quý giá mình ưa thích, mình nhìn thấy món đồ đó thôi là lập tức các pháp này vận hành lên tạo thành sự giao thoa, tiếp xúc. Lập tức, thọ do nhãn xúc sanh, sanh ra cảm thọ, cảm giác do con mắt tiếp xúc với.
Chúng ta đi theo trong bài đó, thọ tới đây là tưởng và hành, hoặc là tư cũng vậy thôi. Khi căn, trần, thức; con mắt (mình dịch ra tiếng Việt cho dễ hiểu chứ nói tiếng Hán không hiểu) nhìn thấy một người đẹp, có một sự rõ biết, và ngay lúc đó là sự giao thoa của con mắt, của người đó, của sự rõ biết của mình giao thoa như vậy sanh ra một cảm giác ưa thích. Thọ do nhãn xúc sanh, và lúc này, khi sanh ra cảm giác như vậy, lúc này nó hoạt động. Không phải chỉ ngay chỗ đó mà nó tưởng ra những hình ảnh sắp tới mình sẽ làm gì. Chúng ta thấy nó ghê gớm không? Mai mốt mình sẽ làm gì?
Suy nghĩ, hình bóng, tưởng sanh khởi ra. Chúng ta thấy nó siêu nhanh, cực kỳ nhanh, mau chóng nhanh, tốc độ của nó còn hơn tốc độ của ánh sáng. Tâm mình làm việc khủng khiếp lắm, nhưng tại sao vậy? Vì mình bị vô minh che đậy, tham ái trói cột, bị Năm Triền Cái bao phủ tâm, không có thiền định nên khi tiếp xúc như vậy nó vận hành ra các pháp như vậy nhưng mình hoàn toàn không thấy không biết.
Mình cứ tưởng rằng mình có một cái tâm, nhưng thực sự bao nhiêu pháp sanh khởi: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu ái… khoảng sáu mươi pháp sanh trong tích tắc nhưng mình không thấy. Tại vì thứ nhất Đức Phật nói rằng mình bị vô minh che đậy, thứ hai là bị tham ái trói cột, thứ ba là bị Năm Triền Cái (dục, tham, sân…) Ai nhớ? Tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đều phải diệt tận Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ và tu tập Bảy Giác Chi mới thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác, đó là pháp truyền thống của chư Phật, đó là đạo lộ - con đường Thánh Đạo.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con nhớ là Năm Triền Cái gồm có tham, sân, trạo cử, hối tiếc, hôn trầm, thụy miên và nghi ạ. A Di Đà Phật.
Sư phụ: dục tham đã che đậy tâm, là sự trói buộc của tâm, sân là sự che đậy tâm, sự trói cột của tâm, trạo cử: sự lăng xăng, dao động của thân tâm; hôn trầm, thụy miên, buồn ngủ rã rượi, không tỉnh táo là che đậy tâm, và cuối cùng là hoài nghi. Những điều này trong kinh Đức Phật ví dụ rõ, Minh Thành có giảng rất kỹ, các huynh đệ về nghe trên bài “ Làm sao để trở thành một người xuất gia đúng nghĩa?”.
Trong từng bài kinh, Đức Phật dạy mỗi một triền cái có ví dụ riêng, năm cái này che đậy tâm mình. Hôm trước chúng ta mới học ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng hôm nay chúng ta học sáu thọ:
“Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh”.
Cho một tràng pháo tay – sáu thọ.
Cho nên chúng ta mới thấy một điều, tại sao phải học kỹ như vầy. Đức Phật mở bung hết chiếc xe cho chúng ta thấy từng bộ phận: cái nào là gọng xe, bánh xe, căm xe, niềng xe, trục xe, cổ xe, máy xe, cái nào là vỏ bên ngoài của chiếc xe, mở bung hết từng bộ phận để cho mình thấy rõ: đây là sự lắp ráp, thấy rõ chiếc xe đó là sự nhỏ nhít, nhỏ nhặt, riêng biệt, rời rạc, do lắp ráp, do kết hợp, do liên kết mà thành, không có cái nào gọi là chiếc xe.
Cũng vậy, tại sao chúng ta phải học sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu ái đều mở ra hết để mình phá nguyên khối tưởng. Phá một tư tưởng, một quan điểm, một cách nhìn sai lầm, cho rằng thân tâm này là một nguyên khối, là một nhất thể, là một hợp thể, phá vỡ cái đó ra, chính là lý do tại sao chúng ta phải học cái này. Tại vì sao? Chúng ta cứ nghĩ rằng tôi sướng quá, như vậy là mình chấp ngã rồi.
Làm gì có cái tôi? Vì sao? Con mắt tiếp xúc với sắc đẹp, khởi lên sự rõ biết, ba cái này mới giao thoa lại với nhau, sanh ra cảm giác sướng. Nếu một quy trình này mà mình nhìn thấy được như vậy thì làm gì có tôi trong này mà có một cái tôi sướng. Đây là thiền quán, là trí quán, là tuệ quán, vậy gọi là Thánh trí huệ, Chánh tri kiến, vỡ ra, tung ra, mở ra, lật ra, đổ ra hết để phơi bày ra cái bị che kín bởi vô lượng, vô biên kiếp vừa qua. Tại vì chúng sanh của mình nhìn nguyên khối tưởng, nhìn có một cái tôi, một cái của tôi, một bản ngã, một tự thể thuần túy, độc lập, riêng biệt, trọn vẹn. Và học cái này là mở bung ra hết, tháo ra, làm cho nó rã rời ra hết, đó chính là Thánh trí huệ của Đức Phật.
Nếu như không học cái này thì chúng ta thấy tôi đang sướng, thấy chưa? Tôi đang vui, tôi đang hạnh phúc hay là tôi đang khổ đau thì nó vẫn nằm trong bản ngã, vô minh, trong chấp thủ, si mê, hôn ám, trong thân kiến. Còn bây giờ mình học, nghe tiếng đó thấy dễ thương, bắt đầu mình lục ra, do duyên có lỗ tai, do có tiếng, có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại, tạo thành sự tiếp xúc của tai, là nhĩ xúc. Do tiếp xúc của tai mới có thọ do nhĩ xúc sanh, có một cảm giác do sự tiếp xúc lỗ tai này sanh khởi ra. Thì cảm thọ này nó là duyên sanh, là sự kết hợp, là sự lắp ráp, là thứ được làm ra, hữu vi, vô thường, biến diệt, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Làm gì có cái tôi thích, tôi khoái, tôi hạnh phúc, hân hoan trong đây?
Suy nghĩ đó đánh vỡ vô minh, làm cho minh sanh khởi, cho nên tại sao chúng ta phải học? Tại sao chúng ta phải học từng chút như vậy, còn bây giờ mình ngồi nói tất cả như uyển, rồi xong. Nói cái miệng là uyển, nhưng trong tâm là mê, vô cùng mê, mê hết chỗ nói, mê vô số kể. Như vậy thì làm sao? Cho nên chính cái này đã phá tư tưởng vô minh, chấp ngã, nguyên khối tưởng, tư tưởng thuần nhất, tư tưởng tôi và của tôi sẽ bị nguyên một hệ thống, đây là định lý giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, phá tung, phá vỡ, phá đổ, phá sập hết tất cả, không cái nào có thể đứng vững trong Thánh trí huệ của Đức Phật hết. Không có bất cứ một pháp nào ở trong ánh sáng tuệ giác của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác có thể đứng vững, xác lập được.
Tất cả pháp đều tan vỡ, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt trong Thánh trí huệ đó. Và chúng ta là những người đang đi vào trí huệ đó, chúng ta thấy công năng đánh phá khủng khiếp của Thánh tri kiến không? Đó gọi là Thánh tri kiến – tri kiến của bậc Thánh. Chúng ta cứ nghe, cứ học, cứ thực tập từ từ, không phải một lần hay mười lần mà được. Trăm lần, ngàn lần, cứ từ từ tập tới tập lui, nghe đi nghe lại, nghiền qua ngẫm lại, quán đi chiếu lại, soi qua rọi lại cho đến năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, và cuối cùng, Thánh thể nhập. Tức là, cái thấy biết của mình nó không còn vô minh nữa, mà cái thấy biết của mình nó thể nhập vô cái thấy biết của Thánh trí.
Minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, trí sanh, giác sanh, phá vỡ hết những cái vô minh, tham ái, chấp thủ, tà kiến, những quan điểm sai lầm, lệch lạc, mê muội, ngu si, tham ái, chấp thủ bị cái minh này phá vỡ hết, do sự quân tập tri kiến của bậc Thánh. Cho nên chúng ta thấy tại sao phải học công năng, tác dụng, hiểu chưa? Chúng ta thấy rõ không? Mở ra hết, còn không mình nhìn thấy rõ ràng là một chiếc xe, xe tôi là mấy chục triệu, xe xịn, người kia là người đẹp. Nhưng qua trí huệ này sẽ mở ra, tháo ra hết. Nó làm cho sụp đổ, không còn đứng vững nữa, mà cái này là sự thiền quán, sự tư duy, nhiều lần thiền tập, không phải một ngày một bữa, nên chúng ta phải kiên trì.
SÁU PHÁP VẬN HÀNH ĐỜI SỐNG 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò học kinh PAGEREF _Toc68192711 \h 1
II. Ý PAGEREF _Toc68192712 \h 2
III. Pháp PAGEREF _Toc68192713 \h 5
IV. Sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu xúc – sáu thọ – sái ái PAGEREF _Toc68192714 \h 8
I. Dặn dò học kinh
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng ta thực hành ba pháp: cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể và cảm giác toàn thân. Trong tâm tỉnh giác, rõ biết những hình bóng, suy nghĩ; những cảm giác gì đang xuất hiện, có mặt trong tâm. Thở vào làm cho tâm an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu.
Kính thưa đại chúng, mỗi người chúng ta đều có bảng tóm tắt ngũ uẩn. Như vậy, thời gian qua nhanh quá, Minh Thành chưa làm kịp nên chúng ta hãy đem ép nhựa lại. Bảng này là chìa khóa để mở tạng kinh Nikāya và mong rằng tất cả đại chúng học thuộc lòng. Đây là những pháp số căn bản, là chìa khóa mở ra cánh cửa để bước vào pháp học và pháp hành của kinh tạng Nikāya. Nếu chúng ta không nắm vững được những pháp số này, những căn bản, nền tảng của pháp này thì khi đi vào tạng kinh chúng ta sẽ không thể nào hiểu được trong kinh nói gì. Và khi thực tập, chúng ta càng không thể thực hành được.
Thành ra thấy nó nhỏ nhưng có võ, thấy một tờ thôi nhưng đừng xem thường – đừng xem thường đốm lửa nhỏ, con rắn nhỏ hay vị hoàng tử, thái tử còn nhỏ; và đừng bao giờ xem thường vị xuất gia còn trẻ. Xem thường đốm lửa nhỏ có thể bị hỏa hoạn, xem thường con rắn nhỏ có thể chết vì nọc độc của nó, xem thường một vị thái tử còn nhỏ bé nhưng sau này tương lai sẽ là quyền uy thiên hạ; xem thường một vị tu sĩ còn trẻ - nếu vị này chân chánh tu tập, gặp đúng Chánh Pháp thì tương lai của vị này là bậc Thánh nhân, Thánh tăng.
Cho nên, bây giờ chúng ta đừng xem thường tờ giấy mỏng này – đây là Thánh pháp ấn của Đức Phật. Tất cả Thánh pháp tạng tóm thâu trong đây. Và xin tất cả đại chúng, chúng ta về học thuộc lòng từng bài thôi, không phải một lần trả bài hết, nhưng mỗi lần học sẽ trả một pháp số trong đây, bất kỳ. Lần trước chưa vào được bài kinh bởi chúng ta chưa học những pháp số căn bản này nên bây giờ phải lùi trở lại để vững nền tảng này, chúng ta mới xây, mới đổ tấm, nâng lầu lên được.
Và đại chúng nhớ rằng khi mình đi học phải có quyển Nghi thức tu học Nikāya và tờ giấy đó, đây là hai bửu bối, pháp bảo không thể thiếu. Cũng như bài kinh chúng ta học, bất cứ lúc nào đi học cũng phải có quyển này, quyển này phát ra là để học chứ không phải để thờ, càng không phải phát ra để cất vô tủ. Quý vị nhớ, bây giờ chúng ta mở ra, trang 107, chúng ta cùng nhau đọc bài.
II. Ý
“Định nghĩa SÁU PHÁP
- 6 CĂN: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
- 6 TRẦN: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- 6 THỨC: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
- 6 XÚC: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
- 6 THỌ: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.
- 6 TƯỞNG: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
- 6 TƯ: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
- 6 ÁI: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái”.
Chúng ta đọc một lần nữa, mạnh mẽ hùng tráng lên, để lát nữa trả bài ngay tại lớp, tập trung tâm ý vô.
Đóng sách lại, cái này là chìa khóa mở tạng kinh Nikāya, nếu mình không thuộc, không nắm vững thì không thể đi sâu vô được. Ai xung phong giải thích ý là gì sẽ có thưởng, không giở sách nữa, bây giờ là làm bài tập. Mình nói tuy đơn giản: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ý là gì? Mình đã được học hồi năm rồi, có ai xung phong không? Mình phải hiểu ý là gì vì ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo mà giờ không biết ý làm sao mình tu, phải không? Ít nhất mình phải biết trên lý thuyết. Mình cứ giảng với Phật tử: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ý là gì? Mời sư cô.
Phật tử: Dạ mô Phật, ý là mình rõ biết thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Có coi sách không? Cho một tràng pháo tay. Giờ mời vị khác, không sao, cứ việc đứng lên nói, sai thì thôi, không vấn đề gì hết. Ý là gì? Giải thích và cho một ví dụ. Hồi nãy cô trình bày là căn, trần chứ không phải ý, ý là biết được thọ, tưởng, hành bên trong, trong tâm, phải chưa, chúng ta thấy rõ không? Mắt mình nhìn thấy đóa hoa, mắt là nhãn căn, hoa là sắc trần, mình khởi lên sự rõ biết sắc đó là nhãn thức, rõ biết được sắc là nhãn thức, nó không liên quan gì tới ý thức. Mình đang nói ý này là ý thức, chúng ta thấy không, nên đây là cái rất quý để học, chứ nếu chúng ta chỉ học trên chữ nghĩa, thì đến khi thực tập lại không biết đường thực tập. Rồi có ai xung phong không?
Phật tử: Dạ mô Phật, kính bạch trên thầy, chư huynh đệ, con cũng lấy ví dụ để nói về thọ, tưởng, hành. Thứ nhất, ví dụ mình thấy một người nào đó đẹp, bắt đầu đập vô mắt mình là thích, cảm giác là thọ, khi về mình nghĩ người đó. Cũng giống như câu nói: “Chỉ cần gặp nửa nụ cười mà mất cả đời để quên”, lúc đó thọ là tới hình bóng, mình nhớ, nghĩ về hình bóng đó lại là tưởng. Khi nhớ, nghĩ xong, bắt đầu nói thầm trong suy nghĩ là mình chắc sẽ gặp lại người đó là hành. Lúc đó mình rõ biết được mình đang mơ tưởng tới người đó là thức.
Sư phụ: gần gần đúng, xin đại chúng chú tâm lắng nghe, để giải tới giải lui hoài. Cái này là pháp hành, là sự thực tập của chúng ta, chúng ta phải nắm thật vững. Sở dĩ Minh Thành đưa ra một, hai chỗ hơi khó một chút, còn phía trước này chúng ta biết rồi. Còn đây là cái mấu chốt, Minh Thành sẽ nói cái đơn giản của chữ ý trước, lấy cùng ví dụ của sư cô mới nói. Chúng ta nhớ rằng nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là biết đối tượng ở bên ngoài. Tiền ngũ thức (năm thức trước) là biết trần cảnh, chúng ta nhớ kỹ điều này. Khi mắt tiếp xúc với sắc sanh khởi lên một sự rõ biết.
Một lát nữa chúng ta sẽ học kỹ là phần Duyên sanh pháp. Nó khởi lên sự rõ biết về các sắc trần đó là nhãn thức, cái rõ biết đó là ở bên ngoài, phải không? Con mắt mình biết hình sắc là hình sắc bên ngoài, tai mình nghe âm thanh cũng bên ngoài, hay mũi ngửi mùi bên ngoài, nếm vị thức ăn cũng vậy, thân mình đụng chạm là đụng chạm với đồ vật hay người bên ngoài. Như vậy, năm thức trước biết đối tượng bên ngoài. Chúng ta ghi chú, nhớ kỹ, riêng ý thức là biết bên trong, không biết bên ngoài. Nên khi ngồi thiền, chúng ta chuyên chú nhìn lại bên trong tâm, mình tập trung tâm ý lắng tâm để nhìn ngược trở vô.
Bây giờ, hình bóng của người mình mến thương hiện ra. Đó là gì? Hình bóng là tưởng, người này là hình bóng của một người yêu thương nên nó có một cảm giác dễ chịu, cảm giác là gì? Rồi xong có suy nghĩ về người đó không? Nó có sự rõ biết được ba cái này đang có mặt trong tâm không? Rõ biết được hình bóng của người mình thương yêu, có cảm giác dễ chịu, có những sự suy nghĩ về người đó, nó rõ biết được ba cái này. Nó chỉ biết được hình bóng, cảm giác suy nghĩ ở trong tâm là sau khi đã tiếp xúc ở ngoài, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đã tiếp xúc ở ngoài rồi nó trở về một mình nó, đối diện trở lại nhìn vô trong một mình nó, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra trong tâm để mình nhận thức được điều đó. Đó là ý thức, sự rõ biết hình bóng, cảm giác, si nghĩ trong tâm. Chúng ta nắm được cái này chưa? Còn nghi ngờ điều gì cứ việc hỏi, không quan trọng, nắm được cái này chúng ta mới ngồi thiền được.
Bây giờ mình đang ở trong chùa, nhớ lại người đó họ kiếm chuyện với mình, nhớ lại hình bóng, câu nói hay hành động của một người huynh đệ hay người Phật tử nào đó mà họ kiếm chuyện, gây sự với mình. Khi mình nhớ lại, hình bóng hiện ra đó là gì? Tưởng. Rồi mình có cảm giác khó chịu hay dễ chịu? Khó chịu là thọ. Có suy nghĩ về người đó không? Mình có rõ biết hình bóng, cảm giác và suy nghĩ đó không? Đó là ý thức, lúc nãy là nhớ người thương, bây giờ nhớ người ghét. Ví dụ trước là của lạc thọ, ví dụ thứ hai này là của khổ thọ. Chúng ta thấy rõ không? Ý thức đó.
Cũng như lúc nãy thầy ví dụ là thấy đồ ăn. Khi mình thấy hay ăn, chuyện đó đã rồi, nhưng mình trở về chùa sau khi ăn, mình nhớ lại hình bóng của món đồ ăn đó hiện ra, đó là tưởng. Mình có cảm giác thích thích, thấy ngon, cảm giác đó là thọ, mình có suy nghĩ mai mốt sẽ nấu lại món này, suy nghĩ đó là hành. Rồi mình rõ biết được ba điều đó có trong tâm không? Đó là ý thức.
Nãy giờ chúng ta đã có ba ví dụ, thầy sẽ cho thêm rất nhiều ví dụ để chúng ta nắm điều này cho rõ luôn. Bây giờ mình ở một mình trong phòng, tăng phòng hay ni xá, tự nhiên mình ngồi lại thấy hình bóng ngôi chùa dưới quê của mình hiện ra, có không? Nhớ ngôi chùa dưới quê, sư phụ hay sư đệ, tỷ muội… hình bóng đó là gì? Là tưởng. Rồi cảm giác dễ chịu, thân thương là thọ. Mình suy nghĩ không biết hổm rày ở dưới không biết sư phụ ra sao, chùa ra sao, là hành. Khi mình rõ biết ba cái này là ý thức.
III. Pháp
Xong chưa, đã bốn ví dụ rồi, để chúng ta qua bài khác, được chưa? Cái này là vô cùng quý báu cho chúng ta sau này tu học. Bây giờ ai giải thích chữ “pháp” – đây là những từ khóa quan trọng để chúng ta nắm vững được thân tâm mình và giáo pháp. Ai xung phong giải thích trơn tru, rõ ràng, rành rẽ sẽ có thưởng. Xin mời đại chúng, pháp trần là gì? Sắc, thanh, hương, vị, xúc mình dễ biết rồi phải không? Nhưng pháp là gì?
Phật tử: Mô Phật, kích bạch thầy giáo thọ và đại chúng. Pháp là đối tượng của căn ý, những sắc, thanh, hương, vị, xúc là đối tượng của các căn. Như sắc là đối tượng của căn mắt, thanh là đối tượng của căn tai, nhĩ căn, hương là đối tượng của mũi, vị là đối tượng của lưỡi, xúc là đối tượng của thân, pháp là đối tượng của ý.
Sư phụ: Những điều này trong bài có hết nhưng do chúng ta không học, mà những cái này hết sức căn bản và quan trọng. Pháp là gì? Sư nói vậy là đúng rồi, nhưng giờ nói rõ ràng ra luôn là cái gì? Ý khác, pháp khác, nói như vậy là lẫn lộn rồi.
Phật tử: Kính bạch thầy, con trả lời lại: pháp là đối tượng của ý, khi ý nhận thức gọi là pháp, mà pháp có thể bàn bạc, rất rộng.
Sư phụ: Câu trước nói đúng, nhưng câu để mà cụ thể, rõ ràng thì chưa được, đối tượng của ý là đúng. Mời sư ngồi xuống, giờ có ai, huynh đệ nào trả lời được pháp là gì?
Phật tử: Dạ, kính bạch trên thầy cùng chư huynh đệ, theo như con suy nghĩ, pháp ở đây là đối tượng mình rõ biết. Năm trần đầu giống như Đức Phật khai thị cho ngài Ca Diếp về cành hoa sen, là đối tượng nhìn vô mình thấy được hương vị của pháp mà Đức Phật muốn truyền tải đó rồi mình chạm vào…
Sư phụ: giải đáp, đáp số Minh Thành đã viết lên bảng rồi, pháp trần chính là thọ, tưởng, hành; là đối tượng rõ biết của ý thức. Ý thức rõ biết là rõ biết thọ, tưởng, hành, đây là đối tượng của nó. Chúng ta thấy rõ ràng, bây giờ mở sách ra học Duyên Sanh Pháp, tiếp tục nâng cấp lên, trang 108, cùng nhau đọc:
“- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư”.
Xin thưa đại chúng, đây là định lý mà Đức Thế Tôn chứng ngộ, không phải tự mình muốn suy nghĩ mà đặt ra được, nên chúng ta học kinh Nikāya này khác với những thứ trước đây chúng ta học ở những chỗ này. Đây là Đức Phật trình bày, sự chứng ngộ của ngài, tâm vận hành thế nào có quy trình, định lý của nó chứ không phải tự mình suy diễn được. Đây chính là chỗ khó mà sau này dễ cho chúng ta, thành ra thưa với đại chúng, lúc trước Minh Thành cũng học giống đại chúng, như các huynh đệ, mà khi mình tu lại không thực tập được vì pháp không rõ.
Khi mình đi vào kinh tạng Nikāya, pháp nào rõ pháp nấy, và tâm hành của mình vận hành như thế nào, từng pháp sẽ rõ ra hết trong tâm mình. Khi thực tập thiền mình sẽ thấy được cái nào là thọ, tưởng, hành, thức, ý, pháp. Rồi những sự vận hành như tham, sân, si, bản ngã, vô minh mình sẽ thấy được, nhận diện thân tâm mình một cách chính xác.
Thành ra, các huynh đệ chịu khó, đây là một cách học mới, có lẽ nào giờ chúng ta chưa học kỹ và nghiêm túc như bây giờ. Và bây giờ chúng ta có một cơ hội để có một cách học mới, cho nên xin mời đại chúng, những công thức này, định lý này, định nghĩa này mình phải về học từ từ. Nếu không học thuộc là bó tay, không thể nào mình nắm vững được, mà phải học thuộc lòng. Sau đó mình mới ngồi thiền, nhận diện, trong những khi mình tiếp xúc sinh hoạt với nhận diện ra được các pháp hiện rõ trong tâm mình.
“- Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Chúng ta nhìn phần đơn giản ở dưới: Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư”.
Bây giờ có ai cho ví dụ của Duyên Sanh Pháp của ý này không?
Phật tử: Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng, cho con xin lấy ví dụ Duyên Sanh Pháp, và pháp là thọ, tưởng, hành. Duyên là vô tình được người nào đấy rủ đi đá bóng, sau khi đá bóng về thì mệt, nhưng vui nên có lạc thọ. Lúc này, suy nghĩ về trận đá bóng hồi chiều, đó là tưởng, những hình ảnh thô tế trong tâm hiện lên, bắt đầu khởi lên hành, sẽ muốn đá tiếp nhiều trận nữa. Pháp, ý rõ biết hết thọ, tưởng, hành đang thị diện. Mô Phật, con xin hết.
Sư phụ: Cho một tràng pháo tay, tạm được. Chữ “Ý”, chúng ta thấy Ý + Thọ, Tưởng, Hành không? Chữ ý này, là ý căn – để ý trở lại bên trong tâm. Chúng ta đã nói rồi, năm thức trước là biết ở bên ngoài, còn ý thức biết bên trong. Giống như hồi nãy thầy ví dụ chuyện đá banh, sau khi đá xong trận đó, chứ lúc đá không tính, mình trở về chùa, ngồi một mình mới để ý lại trong tâm. Nếu như không để ý trong tâm thì mình lo nhìn cây cảnh hay công việc gì đó, còn mình để ý lại trong tâm nên hình bóng đá banh đó hiện ra, suy nghĩ đánh thêm mấy trận nữa, đá thêm tiếp tục trận một, hai, ba nữa, cảm giác tiếp tục khoái khoái.
Nhưng mình để ý vô trong mới thấy được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này nó có. Nếu mình không để ý, năm thức của mình chỉ hướng ra ngoài, gọi là hướng ngoại. Thành ra giờ ngồi thiền chính là giờ đối diện với thọ, tưởng, hành. Lúc này mình để ý lại, ba pháp này hiện rõ ra, mình rõ ra, thấy hình bóng, thấy cảm giác, thấy sự suy nghĩ. Hãy để ý vô trong mới thấy.
Ví dụ mình đang ngồi chú tâm nghe, ngoài kia lâu lâu có một tiếng xe rồ ga, phóng chạy, bóp kèn lớn… Nếu mình chỉ để ý trên giáo thọ và bài pháp thì mình sẽ không để ý được trong tâm mình có một hình bóng của con người chạy chiếc xe, có một cảm giác hơi hơi khó chịu. Và có một suy nghĩ: tại sao chạy nhanh, mau, bóp kèn lớn, ồn ào vậy. Nó phớt qua trong tâm mình hết sức nhẹ mà mình không biết, vì lúc đó mình không để ý, vì lúc đó mình mắc để ý ở ngoài, trên bục giảng này, thành ra trong tâm mình không biết.
Chỗ này là chỗ hướng nội, quay trở lại tâm mình. Tại sao? Vì sự tu của chúng ta là một sự nội soi, nội quán, soi rọi trở lại ở bên trong. Còn người không biết tu là người hướng ngoại, lúc nào cũng nhìn sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài. Người tu là người quay trở lại để thấy được cái gì đang xuất hiện trong tâm, đang có mặt trong tâm. Và sau đó, nếu hình bóng đó là ác bất thiện pháp, nếu như những cảm giác, những suy nghĩ đó là ác bất thiện pháp mình phải có cách xử lý nó. Chúng ta thấy không, đây là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, chúng ta thấy rõ không? Tức quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh Niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Quán tâm là gì? Là nhìn trở vô mấy cái này, những cảm giác nghĩ tưởng này, coi trong này là thiện hay bất thiện, ái hay ly dục, hay đang tham ái. Nếu có sự dính mắc, sân hận, tham dục, bản ngã… lúc đó mình quét nó ra, tẩy sạch, trừ diệt và đoạn tận. Đó chính là quán thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp. Đó chính là tinh cần, tinh tấn, diệt ác, tác thiện, Tứ Chánh Cần. Chỗ này chúng ta thấy rõ chưa? Còn chỗ nào chưa rõ không? Chúng ta đi rất chậm cho chắc.
IV. Sáu căn – sáu trần – sáu thức – sáu xúc – sáu thọ – sái ái
Nãy giờ mới tìm hiểu chữ ý, pháp, Duyên Sanh Pháp của ý, nhưng chúng ta dừng ở đây thôi, không đi nhiều quá, đi nhiều quá hơi căng, đi chậm, chắc. Chúng ta mở ra tiếp tục coi còn chữ gì nữa? Sáu căn + sáu trần + sáu thức => sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Bây giờ chúng ta đi tổng quát vào sáu pháp, còn lúc nãy đi chi tiết.
Con mắt mình (sáu căn) tiếp xúc với sắc đẹp hay người đẹp (sáu trần) sanh ra sự rõ biết với sắc đẹp đó (sáu thức). Khi sanh ra sự rõ biết thì ba pháp này hội tụ với nhau, căn, trần, thức hội tụ, chỗ đó trở thành một sự tiếp xúc của ba pháp, mà tiếp xúc này cực kỳ nhanh. Chúng ta không thiền định thì bắt không kịp, chỉ cần mắt, sắc, sự rõ biết, ba cái này giao thoa, chạm nhau, tiếp xúc, hội tu với nhau lập tức sanh ra cảm giác.
Thọ do nhãn xúc sanh, chúng ta thấy thời điểm mất bao lâu. Khi mình vừa gặp người đó thôi, một người đẹp hay món đồ quý giá mình ưa thích, mình nhìn thấy món đồ đó thôi là lập tức các pháp này vận hành lên tạo thành sự giao thoa, tiếp xúc. Lập tức, thọ do nhãn xúc sanh, sanh ra cảm thọ, cảm giác do con mắt tiếp xúc với.
Chúng ta đi theo trong bài đó, thọ tới đây là tưởng và hành, hoặc là tư cũng vậy thôi. Khi căn, trần, thức; con mắt (mình dịch ra tiếng Việt cho dễ hiểu chứ nói tiếng Hán không hiểu) nhìn thấy một người đẹp, có một sự rõ biết, và ngay lúc đó là sự giao thoa của con mắt, của người đó, của sự rõ biết của mình giao thoa như vậy sanh ra một cảm giác ưa thích. Thọ do nhãn xúc sanh, và lúc này, khi sanh ra cảm giác như vậy, lúc này nó hoạt động. Không phải chỉ ngay chỗ đó mà nó tưởng ra những hình ảnh sắp tới mình sẽ làm gì. Chúng ta thấy nó ghê gớm không? Mai mốt mình sẽ làm gì?
Suy nghĩ, hình bóng, tưởng sanh khởi ra. Chúng ta thấy nó siêu nhanh, cực kỳ nhanh, mau chóng nhanh, tốc độ của nó còn hơn tốc độ của ánh sáng. Tâm mình làm việc khủng khiếp lắm, nhưng tại sao vậy? Vì mình bị vô minh che đậy, tham ái trói cột, bị Năm Triền Cái bao phủ tâm, không có thiền định nên khi tiếp xúc như vậy nó vận hành ra các pháp như vậy nhưng mình hoàn toàn không thấy không biết.
Mình cứ tưởng rằng mình có một cái tâm, nhưng thực sự bao nhiêu pháp sanh khởi: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu ái… khoảng sáu mươi pháp sanh trong tích tắc nhưng mình không thấy. Tại vì thứ nhất Đức Phật nói rằng mình bị vô minh che đậy, thứ hai là bị tham ái trói cột, thứ ba là bị Năm Triền Cái (dục, tham, sân…) Ai nhớ? Tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đều phải diệt tận Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ và tu tập Bảy Giác Chi mới thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác, đó là pháp truyền thống của chư Phật, đó là đạo lộ - con đường Thánh Đạo.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con nhớ là Năm Triền Cái gồm có tham, sân, trạo cử, hối tiếc, hôn trầm, thụy miên và nghi ạ. A Di Đà Phật.
Sư phụ: dục tham đã che đậy tâm, là sự trói buộc của tâm, sân là sự che đậy tâm, sự trói cột của tâm, trạo cử: sự lăng xăng, dao động của thân tâm; hôn trầm, thụy miên, buồn ngủ rã rượi, không tỉnh táo là che đậy tâm, và cuối cùng là hoài nghi. Những điều này trong kinh Đức Phật ví dụ rõ, Minh Thành có giảng rất kỹ, các huynh đệ về nghe trên bài “ Làm sao để trở thành một người xuất gia đúng nghĩa?”.
Trong từng bài kinh, Đức Phật dạy mỗi một triền cái có ví dụ riêng, năm cái này che đậy tâm mình. Hôm trước chúng ta mới học ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng hôm nay chúng ta học sáu thọ:
“Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh”.
Cho một tràng pháo tay – sáu thọ.
Cho nên chúng ta mới thấy một điều, tại sao phải học kỹ như vầy. Đức Phật mở bung hết chiếc xe cho chúng ta thấy từng bộ phận: cái nào là gọng xe, bánh xe, căm xe, niềng xe, trục xe, cổ xe, máy xe, cái nào là vỏ bên ngoài của chiếc xe, mở bung hết từng bộ phận để cho mình thấy rõ: đây là sự lắp ráp, thấy rõ chiếc xe đó là sự nhỏ nhít, nhỏ nhặt, riêng biệt, rời rạc, do lắp ráp, do kết hợp, do liên kết mà thành, không có cái nào gọi là chiếc xe.
Cũng vậy, tại sao chúng ta phải học sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu ái đều mở ra hết để mình phá nguyên khối tưởng. Phá một tư tưởng, một quan điểm, một cách nhìn sai lầm, cho rằng thân tâm này là một nguyên khối, là một nhất thể, là một hợp thể, phá vỡ cái đó ra, chính là lý do tại sao chúng ta phải học cái này. Tại vì sao? Chúng ta cứ nghĩ rằng tôi sướng quá, như vậy là mình chấp ngã rồi.
Làm gì có cái tôi? Vì sao? Con mắt tiếp xúc với sắc đẹp, khởi lên sự rõ biết, ba cái này mới giao thoa lại với nhau, sanh ra cảm giác sướng. Nếu một quy trình này mà mình nhìn thấy được như vậy thì làm gì có tôi trong này mà có một cái tôi sướng. Đây là thiền quán, là trí quán, là tuệ quán, vậy gọi là Thánh trí huệ, Chánh tri kiến, vỡ ra, tung ra, mở ra, lật ra, đổ ra hết để phơi bày ra cái bị che kín bởi vô lượng, vô biên kiếp vừa qua. Tại vì chúng sanh của mình nhìn nguyên khối tưởng, nhìn có một cái tôi, một cái của tôi, một bản ngã, một tự thể thuần túy, độc lập, riêng biệt, trọn vẹn. Và học cái này là mở bung ra hết, tháo ra, làm cho nó rã rời ra hết, đó chính là Thánh trí huệ của Đức Phật.
Nếu như không học cái này thì chúng ta thấy tôi đang sướng, thấy chưa? Tôi đang vui, tôi đang hạnh phúc hay là tôi đang khổ đau thì nó vẫn nằm trong bản ngã, vô minh, trong chấp thủ, si mê, hôn ám, trong thân kiến. Còn bây giờ mình học, nghe tiếng đó thấy dễ thương, bắt đầu mình lục ra, do duyên có lỗ tai, do có tiếng, có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại, tạo thành sự tiếp xúc của tai, là nhĩ xúc. Do tiếp xúc của tai mới có thọ do nhĩ xúc sanh, có một cảm giác do sự tiếp xúc lỗ tai này sanh khởi ra. Thì cảm thọ này nó là duyên sanh, là sự kết hợp, là sự lắp ráp, là thứ được làm ra, hữu vi, vô thường, biến diệt, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Làm gì có cái tôi thích, tôi khoái, tôi hạnh phúc, hân hoan trong đây?
Suy nghĩ đó đánh vỡ vô minh, làm cho minh sanh khởi, cho nên tại sao chúng ta phải học? Tại sao chúng ta phải học từng chút như vậy, còn bây giờ mình ngồi nói tất cả như uyển, rồi xong. Nói cái miệng là uyển, nhưng trong tâm là mê, vô cùng mê, mê hết chỗ nói, mê vô số kể. Như vậy thì làm sao? Cho nên chính cái này đã phá tư tưởng vô minh, chấp ngã, nguyên khối tưởng, tư tưởng thuần nhất, tư tưởng tôi và của tôi sẽ bị nguyên một hệ thống, đây là định lý giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, phá tung, phá vỡ, phá đổ, phá sập hết tất cả, không cái nào có thể đứng vững trong Thánh trí huệ của Đức Phật hết. Không có bất cứ một pháp nào ở trong ánh sáng tuệ giác của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác có thể đứng vững, xác lập được.
Tất cả pháp đều tan vỡ, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt trong Thánh trí huệ đó. Và chúng ta là những người đang đi vào trí huệ đó, chúng ta thấy công năng đánh phá khủng khiếp của Thánh tri kiến không? Đó gọi là Thánh tri kiến – tri kiến của bậc Thánh. Chúng ta cứ nghe, cứ học, cứ thực tập từ từ, không phải một lần hay mười lần mà được. Trăm lần, ngàn lần, cứ từ từ tập tới tập lui, nghe đi nghe lại, nghiền qua ngẫm lại, quán đi chiếu lại, soi qua rọi lại cho đến năm năm, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, và cuối cùng, Thánh thể nhập. Tức là, cái thấy biết của mình nó không còn vô minh nữa, mà cái thấy biết của mình nó thể nhập vô cái thấy biết của Thánh trí.
Minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, trí sanh, giác sanh, phá vỡ hết những cái vô minh, tham ái, chấp thủ, tà kiến, những quan điểm sai lầm, lệch lạc, mê muội, ngu si, tham ái, chấp thủ bị cái minh này phá vỡ hết, do sự quân tập tri kiến của bậc Thánh. Cho nên chúng ta thấy tại sao phải học công năng, tác dụng, hiểu chưa? Chúng ta thấy rõ không? Mở ra hết, còn không mình nhìn thấy rõ ràng là một chiếc xe, xe tôi là mấy chục triệu, xe xịn, người kia là người đẹp. Nhưng qua trí huệ này sẽ mở ra, tháo ra hết. Nó làm cho sụp đổ, không còn đứng vững nữa, mà cái này là sự thiền quán, sự tư duy, nhiều lần thiền tập, không phải một ngày một bữa, nên chúng ta phải kiên trì.