Thánh Trí Năm Uẩn 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 1
XÁC QUYẾT SỰ CHỨNG NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự chứng ngộ của Đức Phật PAGEREF _Toc114232453 \h 1
II. Thoát ly năm uẩn PAGEREF _Toc114232454 \h 3
III. Sắc uẩn PAGEREF _Toc114232455 \h 7
IV. Thọ uẩn PAGEREF _Toc114232456 \h 14
V. Tưởng uẩn PAGEREF _Toc114232457 \h 20
Sự chứng ngộ của Đức Phật
Chủ đề này có thể nói là tóm thâu hết tất cả những đường lối, hành trì trong lời dạy của đức Phật. Đầu tiên là tổng quát về năm uẩn, đây là lời xác quyết về con đường giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác trong kinh “Thủ Chuyển” Tương Ương Bộ tập III. Lúc đó Đức Phật ở Savathi:
Nhân duyên ở Sàvatthi...
Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-lamôn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Đức Phật tuyên bố khi nào Ngài chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển thì cho đến khi ấy đối với thế giới Chư thiên, Ma, Phạm thiên cùng với quần chúng Sa môn, Bà La môn, Chư thiên và loài người… Ngài không xác chứng rằng Ngài đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chỉ khi nào Ngài như thật thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển thì khi ấy Ngài mới xác chứng rằng Ngài đã chứng được vô Chánh Đẳng, Chánh Giác.
Thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển tức là: thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức tập khởi; thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức đoạn diệt; thắng tri con đường đưa đến sắc, thọ, tưởng, hành, thức đoạn diệt. Chữ “thắng tri” phải hiểu như thế nào? Thắng tri: “tri” là biết, “thắng” là thù thắng; ngoài ra, liễu tri: “tri” là biết, “liễu” là thấu đáo, triệt để, trọn vẹn. Như vậy, cái biết bằng trí tuệ một cách thấu đáo, triệt để, trọn vẹn, viên mãn về tất cả mọi góc độ, khía cạnh của năm uẩn được gọi là thắng tri.
Như vậy nội dung sự giác ngộ của Đức Phật là sự thấu suốt trọn vẹn về năm thủ uẩn, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Thứ nhất phải biết thế nào là sắc, thế nào là thọ, thế nào là tưởng, thế nào là hành, thế nào là thức. Thứ hai là phải biết sự tập khởi – tập hợp và sanh khởi; đoạn diệt và sự chấm dứt của năm thủ uẩn, nói đơn giản là sự sanh diệt của năm uẩn.
Tập khởi là như thế nào? Tại sao lại dùng chữ “tập”. Vì năm uẩn này là pháp duyên sanh, cho nên nó phải tập hợp lại để sanh khởi. Nếu không tập hợp lại được thì không sanh khởi được. Chữ tập khởi là tập hợp các thứ lại, khi tập hợp đủ các nhân duyên thì mới khởi ra. Cho nên gọi là thắng tri, biết một cách triệt để thấu đáo về sự tập hợp và sanh khởi của năm uẩn.
Sắc tập hợp như thế nào thì khởi ra? Chẳng hạn, chậu hoa trên bàn là sự “khởi”, để có chậu hoa như thế này thì trước đó rất nhiều yếu tố phải “tập” lại: phải có hạt giống, cây con, có nước, có phân, có ánh sáng mặt trời, có không khí, có nhiệt độ, có người chăm sóc… có đầy đủ các thứ. Sau khi có sự “tập” thì mới có sự “khởi” ra thành chậu hoa như thế này. Đó là Minh Thành chỉ nói đến sự khởi ra trong giai đoạn hiện tai. Thật ra sự sanh khởi có mặt trong rất nhiều giai đoạn. Khi hạt giống bắt đầu nhú mầm, đâm chồi lên thì đó cũng là khởi, nhưng là khởi trong giai đoạn bông hoa này lớn lên từ từ, giai đoạn bông hoa này còn là búp. Giai đoạn chúng ta đang nhìn thấy chậu hoa trước mặt là giai đoạn hoa đã nở.
Thoát ly năm uẩn
Như vậy, Đức Phật biết một cách thấu đáo về thân thể, thế giới này, nói gọn là các sắc chất, sắc uẩn. “Uẩn” nghĩa là nhóm sắc, đống sắc, cả cái thế giới này Đức Phật gói gọn trong một từ “Sắc”, tức là sự tập hợp của các sắc chất. Thân thể này cũng vậy, chỉ là nhóm sắc chất tập hợp lại và sanh khởi ra tấm thân này. Chính vì các sắc do duyên tập khởi nên nó cũng sẽ hoại diệt.
Cho nên không có pháp nào mà có khởi mà không diệt. Tất cả pháp được sanh khởi ra phải chấm dứt. Đó là lời tuyên bố của Đức Thế Tôn. Năm uẩn cũng như vậy. Điều đau lòng nhất của chúng sanh là không thắng tri về sự tập khởi và hoại diệt của ngũ uẩn, mà lại say mê khi ngũ uẩn này sanh khởi, nhất là vào đỉnh điểm cho rằng nó đẹp nhất thì mình sẽ chết ngay chỗ đó. Chúng ta cứ tìm vị ngọt ngay trên ngũ uẩn này mà không biết rằng sự sanh khởi đó rồi sẽ hoại diệt. Không có pháp nào khởi lên mà không diệt. Và Đức Phật đã thắng tri con đường đưa đến sự chấm dứt sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Có nhiều người sẽ thắc mắc “sao phải chấm dứt hết tất cả”? Bởi vì, chấm dứt hoàn toàn năm uẩn mới có thể đoạn tận luân hồi sinh tử, giải thoát khỏi năm uẩn, đi ra khỏi năm uẩn, xuất ly khỏi năm uẩn. Lúc đó là chúng ta thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Đức Thế Tôn là bậc giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử. Vậy, giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử là thoát khỏi cái gì? Cái gì thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử? Cái gì sanh diệt? Đó chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên, giải thoát là đi ra khỏi năm uẩn. Đức Phật biết rõ con đường đưa đến sự chấm dứt năm uẩn. Chấm dứt năm uẩn là sự viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ năm uẩn… lúc đó mới thoát khỏi luân hồi sanh tử. Ngày nào còn ưa đắm, ưa mến, thích thú, khoan khoái vào năm uẩn thì vẫn còn tiếp tục những thân thể ngũ uẩn giống như thế này, tức là sẽ chìm nổi trong luân hồi vĩnh viễn, không đi ra được.
Nếu tu tập mà mong đời sau hưởng được cái này cái kia thì đó không phải là Chánh pháp của Đức Phật. Chánh pháp của Đức Phật là chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này. Bởi lẽ, một khi còn thân năm uẩn, dù thân đó có tốt đẹp như thế nào đi nữa thì cũng sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên, chỉ có sự xuất ly khỏi năm thủ uẩn mới là con đường giải thoát, chúng ta phải biết được ý nghĩa căn bản nhất, phải nắm thật vững điều này. Một trong những điều Đức Phật quở trách, Ngài gọi là kiết sử tức là chúng sanh tu để cầu xin đời sau sẽ sanh vào chỗ tốt đẹp.
Đức Phật quở trách điều này tại vì khi cầu xin như vậy là mình còn yêu thích khổ, yêu thích luân hồi, yêu thích tái sanh. Trong khi câu nói được xem là lời tuyên bố dõng dạc, toàn thắng, đại thắng, chiến thắng của bậc A-la-hán trong tạng kinh Nikāya là: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”. “Trạng thái này” tức là trạng thái của sanh, lão, bệnh, tử, trạng thái của ung thư, trạng thái của tai nạn giao thông, trạng thái của những suy tư, lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, nghĩ ngợi. Trạng thái của sự lẩn quẩn đi tìm dục, tìm tham, tìm ái.
Khi “không trở lui trạng thái này nữa” tức là vượt ra khỏi năm uẩn, vượt ra khỏi các bậc Thánh tăng, bậc chứng ngộ, trở thành các bậc Bất lai cho đến các bậc A-la-hán. Những vị đó khi nhắm mắt là đi chỉ xem thân này như là thùng rác hôi thối, lâu ngày phải đem vứt bỏ. Thân này chẳng khác gì cái thùng rác, chứa đầy những đồ ăn, trái cây hư hỏng, giòi bò lút nhút, bỏ đi không tiếc nuối gì. Các bậc Thánh nhân khi chết cũng giống như vậy.
Còn chúng ta, tại sao khi chết lại thấy sợ hãi? Tại vì mình thấy đây là tôi, đây là của tôi; nghĩ rằng “tôi bị mất cái của tôi rồi, tôi phải đi kiếm cái tôi mới”. Từ đó khiến chúng ta đi theo nghiệp lực, sau đó nhào vô cái thân mới, may mắn, phước báu thì được làm người, còn không thì vào thân súc sanh, kêu be be, meo meo, gâu gâu... Dù là chó Việt Nam hay chó Mỹ cũng là chó. Có người nói chó Mỹ được ở khách sạn, được cắt móng chân móng tay này nọ kia… nhưng cuối cùng cũng là vẫn là thân chó. Chó khổ hay chó sướng thì cũng là chó. Cũng vậy, con người xấu hay đẹp cũng là con người. Đã mang thân ngũ uẩn thì đầy rẫy trong đó dục, ái, tham, sân, si, bản ngã. Ai ai cũng khổ như nhau, đây là Khổ Thánh đế. Hoặc người bị ở tù, dù ở trong mấy tấm tôn nóng bức; hay ở trong lồng bằng vàng, bằng ngọc, bằng kim cương thì cũng là kẻ ở tù, chỉ khác cái ở cái nhà giam, họ đều khổ như nhau.
Cho nên, tu mà ở mức độ thâm sâu thì Đức Phật dạy phải xuất ly năm uẩn. Chúng ta có nhận thức đúng như vậy mới gọi là chân chánh, là Phật tử đúng nghĩa. Phải chân chánh mới có thể dựa vào bốn đôi tám chúng là chúng đệ tử của Đức Phật. Tối thiểu đạt Hướng dự lưu, tức là mình hướng đi ra khỏi ngũ uẩn, chứ không còn hướng đi vào nữa. Ngược lại, mặc dù tuyên bố là “con là Tỳ-kheo, là đệ tử của Phật, là Sa-môn” nhưng tâm lại đi vào dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, không phải hướng đi ra thì không phải là Sa-môn, chưa phải là Tỳ-kheo đúng nghĩa. Một khi còn đam mê với sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chưa nhàm chán, chưa ly tham, chưa muốn chấm dứt, chưa muốn từ bỏ; còn yêu thích lắm, còn tham lắm thì đó chưa phải là Tỳ-kheo của Thế Tôn.
Đây là chỗ quan trọng, học những điều này dù chúng ta chưa phải là thánh nhưng cũng là bậc hiền nhân, gọi là hiền thánh tăng là đi vào con đường này. Bất cứ một người nào giảng pháp mà giảng về nhàm chán, nói đến năm uẩn, giảng về ly tham năm uẩn, từ bỏ năm uẩn, xuất ly thoát khỏi năm uẩn thì đó là Chánh Pháp. Dù cho dán bảng hiệu gì, giảng pháp gì mà khiến mình tham thêm, muốn thêm, thích thú, khoan khoái thêm thì đó không phải là Chánh pháp của Như Lai. Người tu chúng ta phải nhớ cho kỹ đó là thước đo, là món quà tâm linh sau cùng. Quý huynh đệ cần phải nắm kỹ thước đo Chánh Pháp này để biết rõ con đường mình đi, sau này sẽ có nhiều lợi ích lớn.
Chỉ khi thực tập, quán chiếu đúng lời Đức Phật dạy mình mới biết rõ được pháp. Tu học phải y cứ đúng theo kinh tạng, nếu chỉ nói chung chung là thành tam sao thất bản. Do không nắm vững kinh tạng, nói một hồi là mình quên, mình nói trật, tự nghĩ ra rồi nói, những điều đó không còn là Chánh Pháp nữa. Bây giờ đang là thời kỳ tượng pháp, nghĩa là mường tượng, giống giống, chứ nó không phải lời Phật dạy. Chính vì vậy, chúng ta tu không có chứng kết quả. Bây giờ có rất nhiều người chia sẻ theo suy nghĩ của mình rồi tự nói rằng “cổ nhân có câu” “trong kinh Đức Phật có dạy”… điều này cực kỳ nguy hiểm. Trong khi các nhà nghiên cứu rất nghiêm túc, họ dẫn chứng là trích dẫn trong kinh gì, chương nào, thậm chí là trang nào luôn đó.
Trí tuệ về sắc uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc?
– Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc.
– Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
– Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
– Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Bốn đại chủng do sắc và bốn đại chủng tạo thành cái đó gọi là sắc, gồm đất, nước, gió, lửa. Bất cứ lúc nào nhìn cái gì về vật chất cũng phải thấy bốn tính chất đất, nước, gió, lửa của nó. Chúng ta không nên nhìn dáng vẻ biểu hiện ở bên ngoài, nhìn như vậy là chết ngay. Đối với mọi vật, chúng ta phải thấy được tính chất, thành phần, yếu tố cấu tạo của nó, đó là bậc trí quán.
Minh Thành hay nhắc câu chuyện khi qua bên Mỹ, một cô Phật tử dẫn Minh Thành đi siêu thị, khi tới chỗ người ta bán bông, đứng xa xa thấy bông rất đẹp, cô mới la lên “đẹp quá, bông nhiều quá thầy ơi”. Nhưng lúc đi tới gần, cô dòm kỹ, cầm hoa lên, cô la lên “ôi trời ơi, thôi thầy ơi, chỉ là đồ nhựa, bông giả thầy ơi”. Ngay khi đó, Minh Thành “quát nhiên đại ngộ”. Lúc đầu cô tưởng hoa đó là thật, n nhưng khi cầm lên, biết được chất liệu của bông hoa đó là cái gì thì cô ngộ ra đó chỉ là đồ giả. Sự giác ngộ trong khi tu học cũng y như vậy, chúng ta phải biết thân này không khác gì đồ nhựa, đồ gốm, đồ đất sét, chứ không có gì gì mình hết. Tập nhìn như vậy là nhìn bằng trí huệ.
Còn chỉ nhìn trên màu sắc, dáng vẻ là cái nhìn của vô văn phàm phu, không biết tu. Ví dụ, khi nhìn thấy món ăn ngon, mình muốn được ăn, nhưng nhìn kỹ để quán chiếu thì chúng ta thấy rằng, đồ ăn có ngon cỡ nào thì qua khỏi cổ họng, vào bụng để tiêu hóa, cuối cùng nó thải ra ngoài dưới hình thức nào. Ngay khi quán như vậy thì tâm tham với thức ăn được lắng dịu, đó là bí kíp tu học.
Đức Phật có dạy năm pháp quán giúp thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát quả. Năm pháp này đưa đến chứng quả A-la-hán chứ không bình thường.
Thứ nhất là: Quán bất tịnh;
Thứ hai là: Nhờm tởm đối với tất cả các thức ăn;
Thứ ba là: Không hoan hỷ đối với tất cả các thế giới;
Thứ tư là: Quán vô thường trong tất cả các hành;
Thứ năm là: Khéo an trú vào tưởng chết.
Năm pháp quán này đưa tới tâm giải thoát quả, huệ giải thoát quả, chứng A-la-hán. Những người nào thường trực quán năm pháp này thì sớm muộn tối thiểu cũng đạt Dự lưu Thánh quả. Năm pháp này đưa mình đến ly tham, không pháp quán nào khiến cho mình tham thêm. Quán bất tịnh giúp nhàm chán đối với thân xác, nhàm chán sắc dục. Quán nhờm gớm đối với thức ăn là không còn đam mê vào thức ăn, vì khi còn đam mê thức ăn là không giải thoát được, cứ trở lại thân ngũ uẩn để kiếm ăn nữa. Cho nên có các vị nhập định sâu là nhập định suốt 12 tiếng, hoặ có khi một tuần lễ, hai tuần liền không ăn ở trong thiền định. Những điều này rất là sâu sắc. Chúng ta khoan nói đến sự tu cao thâm gì. Đơn giản khi có thức ăn ngon dọn lên trước mặt, tất cả đều là món ưa thích thì lúc đó phải xem dục, tham, ái trong tâm hoạt động thế nào. Có khi thèm đến nỗi nước miếng trào ra, tại vì còn tham như vậy nên còn luân hồi để thọ hưởng những thứ đó.
Cho nên, Đức Phật dạy phải quán chiếu tứ thực. Có bốn loại thức ăn cần phải nhàm chán. Bốn loại thức ăn đó là gì?
Thứ nhất là “Đoàn thực”, đây là thức ăn chúng ta bóc, gấp, cầm nắm để ăn hàng ngày.
Thứ hai là “Xúc thực”, là sự thích tiếp xúc. Ở một mình là chịu không được, muốn gặp người này người kia; bắt ngồi thiền là chịu không nổi, muốn lấy điện thoại quẹt quẹt, muốn lên facebook, muốn có tờ báo để đọc… những thứ đó là xúc thực.
Thứ ba là “Tư niệm thực”, đó là những suy nghĩ, nhớ nghĩ, hết nhớ nghĩ cái này thì tiếp tục nhớ đến cái kia, yên lặng không được.
Thứ tư là “Thức thực”, muốn biết cái này muốn biết cái kia, thích tìm hiểu. Tất cả những thứ này làm tâm mình nhiễu loạn, dẫn đến chiều của tham ái, không ly tham được.
Cho nên, chúng ta phải khéo thấy được cấu tạo của sắc uẩn này, đó là thành tựu trí huệ thứ nhất – trí huệ về sắc uẩn. Phải biết sắc là gì, những gì cấu tạo nó. Tất cả những thứ trên đời này, khi gặp và tiếp xúc phải biết đó là tứ đại, không có gì khác hơn. Điều này nói dễ nhưng làm không phải chuyện dễ. Chúng ta phải thực tập thiền quán, nghe pháp mỗi ngày và thực tập hoài thì từ từ mới chuyển đổi nhận thức được. Bằng không, chúng ta không thấy được tứ đại, nhìn cái gì là ra cái đó, đen ra đen, trắng ra trắng, mập ra mập, ốm ra ốm, đẹp ra đẹp, xấu ra xấu, thấy mọi thứ chỉ lẩn quẩn trong đẹp xấu, giàu nghèo. Vì vậy, cần thực tập, tập riết rồi quen. Cũng như đi xe du lịch, không thể leo lên là chạy được liền mà cần phải tập.
Sự tu tập cũng vậy, luôn luôn tập nhìn mọi thứ bằng thánh trí để chuyển hướng phàm tình, thường tình. Thánh trí là cái biết của bậc Thánh, nếu không đem Thánh trí này vào những suy nghĩ, quán chiếu, thực tập thì cái phàm tình mãi mãi vẫn y như cũ, không được thay đổi bao nhiêu, vì vậy phải vận dụng trí tuệ đã được học.
Một định nghĩa khác về sắc uẩn, Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc?
Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ III, Chương Tương Ưng Uẩn, phần 22b, Phẩm Những gì được ăn, bài kinh Đáng được ăn)
Trời lạnh một chút là chúng ta bị đổi liền. Đổi làm sao? Trong phim ngày xưa, lính Nga khi trực ca khi trời lạnh, lỗ tai bị đông cứng, người ta búng là rớt xuống, lạnh tới mức độ khủng khiếp như vậy. Sắc uẩn này nhìn thấy bình thường như vậy nhưng nó bị tác động rất nhiều. Vừa rồi, báo chí đưa tin một người đàn ông bị bệnh ung thư phải xạ trị. Xạ trị là hóa chất truyền vào cơ thể. Sau hai ngày, người này chết, xác được đem đi thiêu, khi đó chất phóng xạ trong người này lan tỏa ra, nhiễm hết chỗ lò thiêu, kể cả những người công nhân làm việc trong đó cũng bị ảnh hưởng, tuy không nghiêm trọng nhưng cũng nguy hiểm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, sự nguy hiểm tiềm tàng ở mọi nơi, mọi chốn, còn mình cứ tưởng thân này còn sống mấy chục năm nữa, đó là tưởng của phàm phu, không có thật. Thứ vô thường nhất là sắc pháp này, nó tan hoại một cách dễ dàng. Vừa rồi, thầy chánh văn phòngcó đưa hình tănTg sinh mới có 29 tuổi bị ung thư phổi chết. Mặt mày rất sáng sủa, còn rất trẻ nhưng mắc bệnh mà chết, ai cũng thấy tội nghiệp, xót thương. Huynh này rất siêng năng, thường nấu cơm cho quý thầy, quý cô giám hiệu dùng. Chùa nào có công việc là huynh này đến phụ lễ lộc. Vậy mà chỉ mới 29 tuổi đã phải chết.
Còn chúng ta, ngồi đây là cả trăm người nhưng trong một ngày có suy nghĩ rằng mình sẽ chết không, nếu thường niệm tử như vậy là chúng ta khéo an trú trong tưởng chết, đây là việc rất cần thiết, rất quan trọng. Vì nhờ có ý niệm đó và thường xuyên quán tưởng thì chúng ta mới có thể buông xả bớt sự ái thủ, chấp thủ đối với sắc uẩn. Bằng không, cứ tưởng chúng ta sống bình thường như này hoài là mình chết bởi tư tưởng “hữu ngã”, nghĩ rằng sắc uẩn này là thường, cái tôi này thường còn, trong khi sắc uẩn này chỉ là đất, nước, gió, lửa tạo thành, sanh rồi sẽ diệt.
Đói khát cũng vậy, đói một chút là sắc bị thay đổi, mặt mày xanh xao, nói chuyện không nổi, ngồi dậy không được. Chúng ta phải nhìn được tất cả những điều này, khi nhìn thấy được hết là thành tựu trí huệ, còn cho rằng sắc uẩn như cũ hoài là không có trí huệ, vẫn ở trong phàm tình. Nhìn theo trí tuệ mới là thánh trí, là thấy biết đúng sự thật. Còn nhìn theo phàm tình là không thấy biết đúng sự thật.
Không nói gì cao siêu, ngồi thiền mà bị muỗi đốt sưng lên là không ngồi nổi. Ngày xưa có mấy vị thiền sư khi ngồi là ở trần cho muỗi đốt. Nghe đơn giản vậy chứ khó tu, không phải dễ. Gần đây có hai cha con ở miền Trung sống trong rừng bốn chục năm, trước khi giải phóng đến nay. Vì trong khi chiến tranh, hai cha con này hoảng sợ, tai nạn trong gia đình cứ ám ảnh, khiến ông bồng đứa con một tuổi chạy vô rừng sống bốn chục năm. Sau đó, người ta mới đi vô trong rừng tìm, ông cứ thấy ai vào tìm thì ông dời vô sâu, tít trong rừng. Ông che cái chòi nhỏ, hai cha con sống ở trong đó. Sau này ông bệnh, người ta rước ông ra chữa bệnh là ông hơn tám mươi tuổi, đứa con bốn chục tuổi, bốn mốt tuổi. Người ta kêu bằng người rừng, họ ăn, uống, ở rất là đạm bạc, đơn sơ mà vẫn sống được. Họ ở bốn chục năm trong rừng, còn mình rủ nhau lên ở bốn năm, có làm được không? Cậu con trai lớn lên không biết xài tiền, tivi, điện thoại cũng không biết gì hết.
Chỗ này nói rộng một chút, chúng ta là người xuất gia đừng quá lệ thuộc vào vật chất. Nhiều người không tắm một bữa là khó chịu, ngủ chỗ đơn giản quá là cũng ngủ không được; ăn mà thấy không có gì ăn là cũng phiền não, như vậy là dở lắm. Tu là phải tập, tập biết đủ, tập đời sống đơn giản, ọi là dễ nuôi ở trong kinh Nikāya dùng từ gọi là dễ nuôi. Dễ nuôi chứ không phải dễ vui. Dễ vui là buông lung phóng dật. Còn dễ nuôi là sao cũng được, có gì ăn nấy, ở đâu ngủ cũng được, chỗ ở đơn sơ. Đầu tiên là dễ nuôi, sau đó là dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo. Đó là những từ rất hay trong kinh Nikāya. Nghe đơn giản nhưng không phải dễ học, không phải dễ làm, không phải dễ tu ạ.
Như vậy, chúng ta phải thấy được bản chất của sắc uẩn để có sự tu tập cho tự thân mình.
Trí tuệ về thọ uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?
– Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
– Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi.
– Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.
– Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Đức Phật nói có sáu thọ thân: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ
Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Ngoài ra, nếu nói có ba loại thọ, bao gồm: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ – cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không vui không khổ.
Cảm thọ là uẩn quan trọng cực kỳ, là mấu chốt của năm uẩn. Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật”, Đức Phật dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”. Chúng ta phải thường trực, luôn luôn lúc nào cũng để ý vào cảm thọ, cảm giác của mình tại vì đây là chỗ hội tụ của tất cả pháp. Khi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được trong cảm giác vui có tham; trong cảm giác khổ có sân; trong cảm giác không vui không khổ có si. Sau khi nhìn thấy được, chúng ta sẽ có phương pháp hóa giải những tham, sân, si đó.
Mặt khác, sáu thọ là cảm giác sanh ra khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Khi mắt tiếp xúc với các sắc sẽ sanh ra cảm giác, gọi là thọ do nhãn xúc sanh, chúng ta phải thấy được chỗ nhãn xúc đó. Do duyên có mắt (căn) và các sắc (trần), sanh khởi sự rõ biết các sắc tức là nhãn thức. Ba pháp căn, trần, thức này hội tụ với nhau là nhãn xúc.
Đây là duyên sanh pháp, cần phải học thuộc lòng để tu tập, quán chiếu và hướng dẫn người khác. Khi ba pháp này hội tụ nhau, tạo thành nhãn xúc (sự tiếp xúc của con mắt), mà xúc sẽ sanh thọ, vừa tiếp xúc là sanh ra cảm giác. Sau đó, thọ sanh ái, ái sanh thủ, cho nên Mươi Hai Nhân Duyên giờ nào, ngày nào cũng có mặt nếu thường quán chiếu, chứ không phải đợi lúc học mới mở sách ra mới có.
Chẳng hạn nhìn thấy một người đẹp là sanh khởi nhãn xúc. Xúc sanh cảm cảm thọ dễ chịu, trong thọ đó có sự thích thích, dù không làm gì nhưng chỉ cần nói chuyện được vui, nhìn thôi cũng đã mắt… Sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh khởi sáu thọ như vậy khiến tất cả chúng sanh chết với cái thọ này. Hơn nữa, không phải một thọ, mà tận sáu thọ. Con mắt thấy thích thích. Lỗ tai thấy khoái khoái. Hai lỗ mũi thấy thích mùi thơm đặc biệt. Cái lưỡi được nói chuyện với người đẹp, người nổi tiếng, người thành đạt. Khi đứng với người xấu, người ăn mày không ai chụp hình đăng lên facebook hết cả, chỉ trừ những người làm từ thiện, những thầy tu.
Còn lại, mọi người khi được đứng chung với người nổi tiếng, hoa hậu quốc tế, diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá là chụp ảnh đăng khoe liền. Đó chính do thọ của mắt, tai, mũi, lưỡi… Đến sự tiếp xúc của thân cũng vậy, bắt tay người nổi tiếng thấy vui, lập tức chụp hình rồi đăng lên mạng, có khi còn rửa ra, lộng khung treo ngay trước cửa. Còn người bình thường thì không cần chụp, gặp người nổi tiếng là chụp liền. Những hành động đó xuất phát từ cảm thọ, trong thọ có ái, trong ái có thủ, trong thủ có danh lợi, khoe khoan “tôi như vậy đây này”, những người khác nhìn vào thì suýt xoa, khi được khen nhiều khi khoái chí còn nổ, khoe là thân quen với người nổi tiếng nữa. Các pháp sanh khởi dài một dọc như vậy. Chuỗi duyên sanh pháp dài như vậy nhưng mình không thấy, chỉ thấy mọi người bình thường nhưng thực ra trong đó là cả một bộ máy vận hành. Như khi lên máy bay, không phải chỉ leo lên ngồi là nó bay đi, không đơn giản như vậy. Chỉ một sơ sẩy nhỏ là rất nhiều người phải chết. Chẳng may những con chip, những công tắc bị bấm nhầm một chút là đảo lộn tất cả, mọi người có thể bị nổ banh xác, cả chiếc máy bay bị lao xuống biển.
Nhìn lại chính bản thân mình, một khi bị dính mắc vào cảm thọ là nguy hiểm vô cùng. Ngoài đời, người ta lừa gạt, giết người, cướp của…. đa phần cũng vì thọ do thân xúc sanh mà chết. Chư Thiên không có thân thể vật chất giống như mình nên cõi đó gọi là sắc giới, chứ không phải dục giới như chúng ta. Thân thể chư Thiên giống như khi mình nằm chiêm bao, cũng như một bóng sáng, cho nên dục của họ không nặng nề giống mình. Chính vì cái khổ của họ ít, cho nên cái thọ, cái tâm, cái thân của người ta nhẹ hơn, tuổi của người ta dài hơn, phước cũng lớn hơn. Còn chúng ta rất thô thiển, thân tâm bất tịnh và ưa thích những thứ bất tịnh. Các cõi trời được diễn tả rằng, chỉ một cái nắm tay, hoặc chỉ bốn con mắt nhìn nhau là đã tự thỏa mãn. Trong khi chúng ta còn nặng nề về dục, nên gọi là dục giới.
Chính vì vậy, cùng một lúc sáu thọ nhất tề tấn công là mình chết liền trong cảm thọ đó. Chỉ cần mở mạng lên coi là đã sanh khởi nhãn xúc, nhĩ xúc. Mặc dù không có tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc nhưng lại có ý xúc. Từ mắt, tai cộng với ý chúng ta cũng phải bó tay đầu hàng trước những cảm thọ sanh khởi. Nhiều huynh đệ nói với Minh Thành là rất khó vượt qua được dục ái, khốn khổ hơn là không biết cách vượt qua. Thật sự đây là một vấn đề nan giải, không phải chuyện giỡn. Nếu không tu quán bất tịnh, không quán chiếu, không có phương pháp, không chánh niệm định giác, không có rào chắn thì dính vào vấn đề này là chuyện bình thường. Nhất là khi thân xúc sanh, dù biết là hang hùm miệng cọp nhưng cũng nhào vô, mặc kệ tất cả, chết cũng tính sau. Cũng vì cái xúc này mà thân bại danh liệt, tan nát hết sự nghiệp tu hành.
Tuy nhiên, dù yêu thương như vậy nhưng khi chết rồi thì không ai dám rờ đến. Dù hai vợ chồng thương yêu nhau vô cùng nhưng người này chết rồi là người kia sợ. Khi còn sống thì yêu thương, thích thú nhưng bị tai nạn, bị ung thư, xạ trị rồi nằm chết là xong. Cho nên, cái thọ này là vô thường. Lúc thuận lợi với nhau thì nói gì cũng chịu; còn lúc nghịch nhau là cảm thọ lập tức đổi khác, cho gì cũng không thèm, đụng mặt không muốn nhìn.
Cho nên, chúng ta phải thường trực quán chiếu các cảm thọ. Mỗi khi tiếp xúc phải nhìn thấy thọ sanh khởi, an trú rồi chấm dứt như thế nào. Sự thấy biết này là thánh trí, người bình thường không biết được. Ngoài Đức Thế Tôn, tất cả chúng sanh ở trong tam giới đều không biết trí huệ này và chỉ có Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu trí này. Khi thành tựu trí tuệ này thì mới kiểm soát được cảm xúc, làm chủ được cảm giác, sự quán chiếu phải xuyên suốt, không phải chuyện đơn giản. Chúng ta phải thường trực nhìn lại cảm giác, không để nó lừa gạt, lừa dối mình, không để cho nó nhận diện, làm chủ mình. Người làm được điều này là bậc trí vì luôn luôn thấy được cảm giác trong tự thân như thế nào. Vì vậy, Minh Thành thường nhắc huynh đệ phải an trú cảm giác toàn thân. Luôn thực tập ba pháp: chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Bất cứ lúc nào cũng phải thực tập được, pháp này sẽ đánh vào thọ do thân xúc sanh.
Có anh chàng về quê, dự lễ thanh minh, ở đó anh chàng xin nước uống và gặp một cô gái đẹp nhưng hai người này không kịp nói chuyện gì với nhau. Dù chỉ nhìn qua nhưng khi về anh cứ nhớ. Năm sau anh về lại chỗ đó, nhưng không gặp cô gái, nên anh đề lên cửa một bài thơ. Không lâu sau, trở lại đó, anh nghe tin cô này chết vì nhớ thương sau khi đọc bài thơ. Đây là một bài thơ rất nổi tiếng:
Khứ niên kim nhật hữu môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
(Đề Đô thành Nam trang – Thôi Hộ)
Dịch nghĩa:
Ngày này năm ngoái tại của đây,
Hoa đào và mặt người cùng ánh lên sắc hồng.
Gương mặt người xưa giờ không biết chốn nào
Chỉ thấy hoa đào vẫn như cũ cười với gió đông.
Qua đó, chúng ta thấy, có khi chỉ vì thọ do nhãn xúc sanh, chỉ vì thọ do con mắt tiếp xúc mà nhớ thương cả đời. Khi học Thánh trí này, chúng ta sẽ thấy năm uẩn chồng chất lên nhau, không gì có thể ra khỏi năm uẩn. Khi học trí tuệ này rồi, chúng ta sẽ thấy tất cả sự kiện, sự việc, con người diễn ra xung quanh là chúng ta nắm bắt được hết, vì chúng chỉ ở trong năm uẩn, không đi ra khỏi đó. Trong câu chuyện trên cũng vậy, chàng trai và cô gái này mặc dù chưa kịp nói chuyện, chưa kịp lại gần, chưa có gì với nhau, chỉ tiếp xúc con mắt thôi nhưng vẫn còn nhớ và tìm gặp lại nhau. Cái thọ ghê gớm như vậy, chỉ tiếp xúc bằng mắt thôi nhưng thời gian lâu sau cảm giác đó vẫn chưa có tan, vẫn còn lưu luyến, muốn tìm kiếm.
Người tu chúng ta, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh khởi sáu thọ thì lập tức phải quán chiếu để hóa giải cảm thọ đó, không được để cảm thọ đó gắn kết sâu sắc ở trong tâm, bằng không, nó sẽ trói cột tâm mình, trở thành kiết sử là nguy hiểm vô cùng. Vì khi chúng ta trở thành kiết sử là nó sẽ trói buộc, sai khiến mình. Càng thọ, càng ái, càng thủ nhiều chừng nào thì người đó càng khổ đau chứ không sung sướng gì hết, vì khi đó phải làm nô lệ cho cảm giác, tôi đòi cho cảm thọ, như vậy là càng khổ. Dính mắc một người đã là khổ vô cùng, người tu chúng ta may mắn vì thoát được 50% sanh tử, tức là không có sanh con là thoát được nửa phần sinh tử.
Vì vậy, quán chiếu cảm thọ rất sâu sắc là tuyệt vời trong sự tu này. Chúng ta không chỉ học lý thuyết suông là xong, mà trong sinh hoạt thường nhật, lúc nào cũng phải để ý cảm giác trong tâm mình.
V. Tưởng uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng?
– Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng.
– Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi.
– Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt.
– Đây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định... thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Trong tâm có hình bóng gì đó thì nhận rõ hình bóng đó, ví dụ khi suy nghĩ về mẹ thì trong tâm có hình bóng mẹ hiện ra mình nhận rõ hình bóng đó là hình bóng của mẹ mình. Hoặc khi nghĩ về đứa em, đứa cháu, người bạn mình thì hình bóng về những người đó hiện lên trong nội tâm mình, mình nhận rõ hình bóng đó, hình bóng đó gọi là tưởng.
Tưởng uẩn được phân làm sáu loại. Sắc tưởng là hình bóng về sắc ở trong nội tâm. Đào sâu ví dụ về chàng trai gặp cô gái phía trên thì hình bóng của cô gái đó tồn tại một năm trời ở trong tâm của anh chàng đó. Sắc tưởng đó tồn tại trong thời gian dài, không quên được, dù tiếp xúc chỉ một lần. Cho nên, sắc uẩn ở bên ngoài làm khổ mình ít hơn là sắc tưởng bên trong nội tâm. Khi không được gặp, một mình ngồi nhớ nhung, tưởng tượng thì khổ hơn rất nhiều. Vì vậy, chúng ta càng phải cẩn thận với sắc tưởng.
Ví dụ, đang ngồi yên tĩnh tự nhiên trong tâm mình có hình bóng một người hiện ra, dù người này là người thương hay người ghét thì phải biết đây chỉ là sắc tưởng, không có thật. Khi đó, chúng ta trở về với cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tĩnh giác, không đi theo cái sắc tưởng đó. Thực hành như vậy rất quan trọng, đây là công phu tu tập của mình. Nếu không, mình nhập cuộc vào sắc tưởng đó, khi sắc tưởng đó hiện lên thì mình mới nói chuyện với nó, rồi mình hành động, tưởng tượng sẽ làm gì, suy tính đủ chuyện giống như một bộ phim nhiều tập và mình cứ đi theo nó, không biết mấy đó là sắc tưởng, để cho nó an trú vào tâm mình.
Huynh đệ cần nắm vững, sắc tưởng là những hình bóng về sắc ở trong tâm. Khi chiêm nghiệm sẽ thấy sắc tưởng đầy rẫy trong tâm mình, hơn nữa trong sắc tưởng còn có dục, có ái, có tham, có sân, có si trong đó. Chỉ cần một hình bóng ưa thích hiện lên là dục khởi, tham khởi. Ngược lại, nếu có hình bóng người làm mình bực bội, khó chịu, ghen ghét thì sân hận sanh khởi theo những hình bóng đó.
Khi được học Thánh trí ngũ uẩn, trong tâm có cái gì là mình thấy biết cái đó, không có cái nào mình không thấy, không có cái nào mình không biết. Như vậy mới gọi là Thánh trí – trí huệ của bậc thánh. Tận tường tất cả pháp bên trong lẫn bên ngoài, không có cái nào qua mặt được trí tuệ này. Tuy chúng ta chưa đủ sức nhiếp phục hết nhưng khi thấy biết được chúng là trí huệ được sanh khởi, bắt đầu nhãn sanh, minh sanh, trí sanh.
Kế đến là thanh tưởng, tức là những hình bóng của âm thanh đã tiếp xúc. Có những tiếng văng vẳng đã nghe ở đâu đó hiện khởi lên trong cái nội tâm của mình, đó được gọi là thanh tưởng. Ví dụ, Minh Thành nhớ ông anh của mình từng nói: “Mày mà đi tu được tao cùi hết mười ngón tay”. Khi Minh Thành nhớ câu nói thì đó là thanh tưởng; nhớ hình ảnh của ông anh và cách ông đưa mười ngón tay lên, đó là sắc tưởng. Lúc nhớ lại thì trong tâm cũng có cảm thọ và Minh Thành thấy biết được nó. Bây giờ, người anh đó nhờ Minh Thành quy y Tam bảo, những người cô Minh Thành cũng vậy, cũng quy y và thường lên núi tu tập cùng Minh Thành. Như vậy, những lúc trong tâm nhớ lại những lời nói, âm thanh đã nghe, mình phải biết đó là thanh tưởng. Khi thấy được nó, chúng ta phải đọc tên nó lên, không đi theo nó, trở về cái cảm giác toàn thân.
Kế tiếp, hương tưởng là như thế nào? Mùi dầu thơm, mùi của ai đó, hay mùi của món đồ, mùi của thức ăn mình ngửi và nhớ lại mùi hương đó, đó gọi là hương tưởng. Khi hình bóng của mùi thơm hiện trở lại, mình phải biết đó là hương tưởng, không được đi theo nó.
Sau hương tưởng thì đến vị tưởng. Nhớ lại mùi vị của những món ăn đã ăn thì đó gọi là vị tưởng. Ví dụ, ngày hôm qua mình ăn me, me này đặc biệt lắm, chua chua, ngọt ngọt, bùi bùi. Khi nghe Minh Thành nói vậy, trong tâm huynh đệ nghĩ đến hình ảnh quả me thì đó là sắc tưởng; hương tưởng về mùi thơm thơm của me sanh khởi; vị chua chua ngọt ngọt hiện ra, tức là vị tưởng cũng có mặt; có người còn nhớ lại lúc mình để me vào lưỡi nhai, đó là xúc tưởng và tươm tươm nước bọt ra.
Xúc tưởng những hình bóng mình đã tiếp xúc, xúc chạm. Ví dụ, người ta mới mua chiếc xe 3 tỷ, mời mình lên ngồi cho họ có phước. Sau khi leo lên ngồi, trở về chùa nhớ lại lúc leo lên xe thân người nhúng nhúng, cảm giác êm êm. Đó là xúc tưởng. Xúc tưởng này ghê lắm, có khi chỉ đưa người kia món đồ nhưng lỡ chạm trúng ngón tay, không đến năm giây nhưng ba ngày chưa quên, bảy ngày chưa quên được cái xúc đó. Những cảm giác về sự xúc chạm tại chỗ đó vẫn còn trong tâm, cứ nghĩ đến là xúc tưởng.
Sau đó những thọ, tưởng, hành quá khứ sanh khởi trong tâm, đó là pháp tưởng. Ví dụ, mình nhớ lại gì đó, chẳng hạn ngày hôm qua làm gì đó ở bếp hay tiếp xúc với ai đó thì tự nhiên hiện ra cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về việc đó. nNớ lại hình bóng hôm qua đã tiếp xúc thì đó là pháp tưởng.
Trí về ngũ uẩn rất sâu sắc, cần này phải thiền định, thực tập thiền để nhận diện từ từ. Sau đó chúng ta mới có thể thấy rõ được sáu tưởng trong tâm vận hành như thế nào. Nếu không học pháp này, không có sự nhận diện quán chiếu về ngũ uẩn thì trong tâm như một đống tơ vò.
./.
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 1
XÁC QUYẾT SỰ CHỨNG NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự chứng ngộ của Đức Phật PAGEREF _Toc114232453 \h 1
II. Thoát ly năm uẩn PAGEREF _Toc114232454 \h 3
III. Sắc uẩn PAGEREF _Toc114232455 \h 7
IV. Thọ uẩn PAGEREF _Toc114232456 \h 14
V. Tưởng uẩn PAGEREF _Toc114232457 \h 20
Sự chứng ngộ của Đức Phật
Chủ đề này có thể nói là tóm thâu hết tất cả những đường lối, hành trì trong lời dạy của đức Phật. Đầu tiên là tổng quát về năm uẩn, đây là lời xác quyết về con đường giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác trong kinh “Thủ Chuyển” Tương Ương Bộ tập III. Lúc đó Đức Phật ở Savathi:
Nhân duyên ở Sàvatthi...
Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-lamôn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Đức Phật tuyên bố khi nào Ngài chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển thì cho đến khi ấy đối với thế giới Chư thiên, Ma, Phạm thiên cùng với quần chúng Sa môn, Bà La môn, Chư thiên và loài người… Ngài không xác chứng rằng Ngài đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chỉ khi nào Ngài như thật thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển thì khi ấy Ngài mới xác chứng rằng Ngài đã chứng được vô Chánh Đẳng, Chánh Giác.
Thắng tri năm thủ uẩn theo bốn chuyển tức là: thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức tập khởi; thắng tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức đoạn diệt; thắng tri con đường đưa đến sắc, thọ, tưởng, hành, thức đoạn diệt. Chữ “thắng tri” phải hiểu như thế nào? Thắng tri: “tri” là biết, “thắng” là thù thắng; ngoài ra, liễu tri: “tri” là biết, “liễu” là thấu đáo, triệt để, trọn vẹn. Như vậy, cái biết bằng trí tuệ một cách thấu đáo, triệt để, trọn vẹn, viên mãn về tất cả mọi góc độ, khía cạnh của năm uẩn được gọi là thắng tri.
Như vậy nội dung sự giác ngộ của Đức Phật là sự thấu suốt trọn vẹn về năm thủ uẩn, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Thứ nhất phải biết thế nào là sắc, thế nào là thọ, thế nào là tưởng, thế nào là hành, thế nào là thức. Thứ hai là phải biết sự tập khởi – tập hợp và sanh khởi; đoạn diệt và sự chấm dứt của năm thủ uẩn, nói đơn giản là sự sanh diệt của năm uẩn.
Tập khởi là như thế nào? Tại sao lại dùng chữ “tập”. Vì năm uẩn này là pháp duyên sanh, cho nên nó phải tập hợp lại để sanh khởi. Nếu không tập hợp lại được thì không sanh khởi được. Chữ tập khởi là tập hợp các thứ lại, khi tập hợp đủ các nhân duyên thì mới khởi ra. Cho nên gọi là thắng tri, biết một cách triệt để thấu đáo về sự tập hợp và sanh khởi của năm uẩn.
Sắc tập hợp như thế nào thì khởi ra? Chẳng hạn, chậu hoa trên bàn là sự “khởi”, để có chậu hoa như thế này thì trước đó rất nhiều yếu tố phải “tập” lại: phải có hạt giống, cây con, có nước, có phân, có ánh sáng mặt trời, có không khí, có nhiệt độ, có người chăm sóc… có đầy đủ các thứ. Sau khi có sự “tập” thì mới có sự “khởi” ra thành chậu hoa như thế này. Đó là Minh Thành chỉ nói đến sự khởi ra trong giai đoạn hiện tai. Thật ra sự sanh khởi có mặt trong rất nhiều giai đoạn. Khi hạt giống bắt đầu nhú mầm, đâm chồi lên thì đó cũng là khởi, nhưng là khởi trong giai đoạn bông hoa này lớn lên từ từ, giai đoạn bông hoa này còn là búp. Giai đoạn chúng ta đang nhìn thấy chậu hoa trước mặt là giai đoạn hoa đã nở.
Thoát ly năm uẩn
Như vậy, Đức Phật biết một cách thấu đáo về thân thể, thế giới này, nói gọn là các sắc chất, sắc uẩn. “Uẩn” nghĩa là nhóm sắc, đống sắc, cả cái thế giới này Đức Phật gói gọn trong một từ “Sắc”, tức là sự tập hợp của các sắc chất. Thân thể này cũng vậy, chỉ là nhóm sắc chất tập hợp lại và sanh khởi ra tấm thân này. Chính vì các sắc do duyên tập khởi nên nó cũng sẽ hoại diệt.
Cho nên không có pháp nào mà có khởi mà không diệt. Tất cả pháp được sanh khởi ra phải chấm dứt. Đó là lời tuyên bố của Đức Thế Tôn. Năm uẩn cũng như vậy. Điều đau lòng nhất của chúng sanh là không thắng tri về sự tập khởi và hoại diệt của ngũ uẩn, mà lại say mê khi ngũ uẩn này sanh khởi, nhất là vào đỉnh điểm cho rằng nó đẹp nhất thì mình sẽ chết ngay chỗ đó. Chúng ta cứ tìm vị ngọt ngay trên ngũ uẩn này mà không biết rằng sự sanh khởi đó rồi sẽ hoại diệt. Không có pháp nào khởi lên mà không diệt. Và Đức Phật đã thắng tri con đường đưa đến sự chấm dứt sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Có nhiều người sẽ thắc mắc “sao phải chấm dứt hết tất cả”? Bởi vì, chấm dứt hoàn toàn năm uẩn mới có thể đoạn tận luân hồi sinh tử, giải thoát khỏi năm uẩn, đi ra khỏi năm uẩn, xuất ly khỏi năm uẩn. Lúc đó là chúng ta thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Đức Thế Tôn là bậc giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử. Vậy, giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử là thoát khỏi cái gì? Cái gì thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử? Cái gì sanh diệt? Đó chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên, giải thoát là đi ra khỏi năm uẩn. Đức Phật biết rõ con đường đưa đến sự chấm dứt năm uẩn. Chấm dứt năm uẩn là sự viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ năm uẩn… lúc đó mới thoát khỏi luân hồi sanh tử. Ngày nào còn ưa đắm, ưa mến, thích thú, khoan khoái vào năm uẩn thì vẫn còn tiếp tục những thân thể ngũ uẩn giống như thế này, tức là sẽ chìm nổi trong luân hồi vĩnh viễn, không đi ra được.
Nếu tu tập mà mong đời sau hưởng được cái này cái kia thì đó không phải là Chánh pháp của Đức Phật. Chánh pháp của Đức Phật là chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này. Bởi lẽ, một khi còn thân năm uẩn, dù thân đó có tốt đẹp như thế nào đi nữa thì cũng sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên, chỉ có sự xuất ly khỏi năm thủ uẩn mới là con đường giải thoát, chúng ta phải biết được ý nghĩa căn bản nhất, phải nắm thật vững điều này. Một trong những điều Đức Phật quở trách, Ngài gọi là kiết sử tức là chúng sanh tu để cầu xin đời sau sẽ sanh vào chỗ tốt đẹp.
Đức Phật quở trách điều này tại vì khi cầu xin như vậy là mình còn yêu thích khổ, yêu thích luân hồi, yêu thích tái sanh. Trong khi câu nói được xem là lời tuyên bố dõng dạc, toàn thắng, đại thắng, chiến thắng của bậc A-la-hán trong tạng kinh Nikāya là: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”. “Trạng thái này” tức là trạng thái của sanh, lão, bệnh, tử, trạng thái của ung thư, trạng thái của tai nạn giao thông, trạng thái của những suy tư, lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, nghĩ ngợi. Trạng thái của sự lẩn quẩn đi tìm dục, tìm tham, tìm ái.
Khi “không trở lui trạng thái này nữa” tức là vượt ra khỏi năm uẩn, vượt ra khỏi các bậc Thánh tăng, bậc chứng ngộ, trở thành các bậc Bất lai cho đến các bậc A-la-hán. Những vị đó khi nhắm mắt là đi chỉ xem thân này như là thùng rác hôi thối, lâu ngày phải đem vứt bỏ. Thân này chẳng khác gì cái thùng rác, chứa đầy những đồ ăn, trái cây hư hỏng, giòi bò lút nhút, bỏ đi không tiếc nuối gì. Các bậc Thánh nhân khi chết cũng giống như vậy.
Còn chúng ta, tại sao khi chết lại thấy sợ hãi? Tại vì mình thấy đây là tôi, đây là của tôi; nghĩ rằng “tôi bị mất cái của tôi rồi, tôi phải đi kiếm cái tôi mới”. Từ đó khiến chúng ta đi theo nghiệp lực, sau đó nhào vô cái thân mới, may mắn, phước báu thì được làm người, còn không thì vào thân súc sanh, kêu be be, meo meo, gâu gâu... Dù là chó Việt Nam hay chó Mỹ cũng là chó. Có người nói chó Mỹ được ở khách sạn, được cắt móng chân móng tay này nọ kia… nhưng cuối cùng cũng là vẫn là thân chó. Chó khổ hay chó sướng thì cũng là chó. Cũng vậy, con người xấu hay đẹp cũng là con người. Đã mang thân ngũ uẩn thì đầy rẫy trong đó dục, ái, tham, sân, si, bản ngã. Ai ai cũng khổ như nhau, đây là Khổ Thánh đế. Hoặc người bị ở tù, dù ở trong mấy tấm tôn nóng bức; hay ở trong lồng bằng vàng, bằng ngọc, bằng kim cương thì cũng là kẻ ở tù, chỉ khác cái ở cái nhà giam, họ đều khổ như nhau.
Cho nên, tu mà ở mức độ thâm sâu thì Đức Phật dạy phải xuất ly năm uẩn. Chúng ta có nhận thức đúng như vậy mới gọi là chân chánh, là Phật tử đúng nghĩa. Phải chân chánh mới có thể dựa vào bốn đôi tám chúng là chúng đệ tử của Đức Phật. Tối thiểu đạt Hướng dự lưu, tức là mình hướng đi ra khỏi ngũ uẩn, chứ không còn hướng đi vào nữa. Ngược lại, mặc dù tuyên bố là “con là Tỳ-kheo, là đệ tử của Phật, là Sa-môn” nhưng tâm lại đi vào dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, không phải hướng đi ra thì không phải là Sa-môn, chưa phải là Tỳ-kheo đúng nghĩa. Một khi còn đam mê với sắc, thọ, tưởng, hành, thức; chưa nhàm chán, chưa ly tham, chưa muốn chấm dứt, chưa muốn từ bỏ; còn yêu thích lắm, còn tham lắm thì đó chưa phải là Tỳ-kheo của Thế Tôn.
Đây là chỗ quan trọng, học những điều này dù chúng ta chưa phải là thánh nhưng cũng là bậc hiền nhân, gọi là hiền thánh tăng là đi vào con đường này. Bất cứ một người nào giảng pháp mà giảng về nhàm chán, nói đến năm uẩn, giảng về ly tham năm uẩn, từ bỏ năm uẩn, xuất ly thoát khỏi năm uẩn thì đó là Chánh Pháp. Dù cho dán bảng hiệu gì, giảng pháp gì mà khiến mình tham thêm, muốn thêm, thích thú, khoan khoái thêm thì đó không phải là Chánh pháp của Như Lai. Người tu chúng ta phải nhớ cho kỹ đó là thước đo, là món quà tâm linh sau cùng. Quý huynh đệ cần phải nắm kỹ thước đo Chánh Pháp này để biết rõ con đường mình đi, sau này sẽ có nhiều lợi ích lớn.
Chỉ khi thực tập, quán chiếu đúng lời Đức Phật dạy mình mới biết rõ được pháp. Tu học phải y cứ đúng theo kinh tạng, nếu chỉ nói chung chung là thành tam sao thất bản. Do không nắm vững kinh tạng, nói một hồi là mình quên, mình nói trật, tự nghĩ ra rồi nói, những điều đó không còn là Chánh Pháp nữa. Bây giờ đang là thời kỳ tượng pháp, nghĩa là mường tượng, giống giống, chứ nó không phải lời Phật dạy. Chính vì vậy, chúng ta tu không có chứng kết quả. Bây giờ có rất nhiều người chia sẻ theo suy nghĩ của mình rồi tự nói rằng “cổ nhân có câu” “trong kinh Đức Phật có dạy”… điều này cực kỳ nguy hiểm. Trong khi các nhà nghiên cứu rất nghiêm túc, họ dẫn chứng là trích dẫn trong kinh gì, chương nào, thậm chí là trang nào luôn đó.
Trí tuệ về sắc uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc?
– Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc.
– Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
– Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
– Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Bốn đại chủng do sắc và bốn đại chủng tạo thành cái đó gọi là sắc, gồm đất, nước, gió, lửa. Bất cứ lúc nào nhìn cái gì về vật chất cũng phải thấy bốn tính chất đất, nước, gió, lửa của nó. Chúng ta không nên nhìn dáng vẻ biểu hiện ở bên ngoài, nhìn như vậy là chết ngay. Đối với mọi vật, chúng ta phải thấy được tính chất, thành phần, yếu tố cấu tạo của nó, đó là bậc trí quán.
Minh Thành hay nhắc câu chuyện khi qua bên Mỹ, một cô Phật tử dẫn Minh Thành đi siêu thị, khi tới chỗ người ta bán bông, đứng xa xa thấy bông rất đẹp, cô mới la lên “đẹp quá, bông nhiều quá thầy ơi”. Nhưng lúc đi tới gần, cô dòm kỹ, cầm hoa lên, cô la lên “ôi trời ơi, thôi thầy ơi, chỉ là đồ nhựa, bông giả thầy ơi”. Ngay khi đó, Minh Thành “quát nhiên đại ngộ”. Lúc đầu cô tưởng hoa đó là thật, n nhưng khi cầm lên, biết được chất liệu của bông hoa đó là cái gì thì cô ngộ ra đó chỉ là đồ giả. Sự giác ngộ trong khi tu học cũng y như vậy, chúng ta phải biết thân này không khác gì đồ nhựa, đồ gốm, đồ đất sét, chứ không có gì gì mình hết. Tập nhìn như vậy là nhìn bằng trí huệ.
Còn chỉ nhìn trên màu sắc, dáng vẻ là cái nhìn của vô văn phàm phu, không biết tu. Ví dụ, khi nhìn thấy món ăn ngon, mình muốn được ăn, nhưng nhìn kỹ để quán chiếu thì chúng ta thấy rằng, đồ ăn có ngon cỡ nào thì qua khỏi cổ họng, vào bụng để tiêu hóa, cuối cùng nó thải ra ngoài dưới hình thức nào. Ngay khi quán như vậy thì tâm tham với thức ăn được lắng dịu, đó là bí kíp tu học.
Đức Phật có dạy năm pháp quán giúp thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát quả. Năm pháp này đưa đến chứng quả A-la-hán chứ không bình thường.
Thứ nhất là: Quán bất tịnh;
Thứ hai là: Nhờm tởm đối với tất cả các thức ăn;
Thứ ba là: Không hoan hỷ đối với tất cả các thế giới;
Thứ tư là: Quán vô thường trong tất cả các hành;
Thứ năm là: Khéo an trú vào tưởng chết.
Năm pháp quán này đưa tới tâm giải thoát quả, huệ giải thoát quả, chứng A-la-hán. Những người nào thường trực quán năm pháp này thì sớm muộn tối thiểu cũng đạt Dự lưu Thánh quả. Năm pháp này đưa mình đến ly tham, không pháp quán nào khiến cho mình tham thêm. Quán bất tịnh giúp nhàm chán đối với thân xác, nhàm chán sắc dục. Quán nhờm gớm đối với thức ăn là không còn đam mê vào thức ăn, vì khi còn đam mê thức ăn là không giải thoát được, cứ trở lại thân ngũ uẩn để kiếm ăn nữa. Cho nên có các vị nhập định sâu là nhập định suốt 12 tiếng, hoặ có khi một tuần lễ, hai tuần liền không ăn ở trong thiền định. Những điều này rất là sâu sắc. Chúng ta khoan nói đến sự tu cao thâm gì. Đơn giản khi có thức ăn ngon dọn lên trước mặt, tất cả đều là món ưa thích thì lúc đó phải xem dục, tham, ái trong tâm hoạt động thế nào. Có khi thèm đến nỗi nước miếng trào ra, tại vì còn tham như vậy nên còn luân hồi để thọ hưởng những thứ đó.
Cho nên, Đức Phật dạy phải quán chiếu tứ thực. Có bốn loại thức ăn cần phải nhàm chán. Bốn loại thức ăn đó là gì?
Thứ nhất là “Đoàn thực”, đây là thức ăn chúng ta bóc, gấp, cầm nắm để ăn hàng ngày.
Thứ hai là “Xúc thực”, là sự thích tiếp xúc. Ở một mình là chịu không được, muốn gặp người này người kia; bắt ngồi thiền là chịu không nổi, muốn lấy điện thoại quẹt quẹt, muốn lên facebook, muốn có tờ báo để đọc… những thứ đó là xúc thực.
Thứ ba là “Tư niệm thực”, đó là những suy nghĩ, nhớ nghĩ, hết nhớ nghĩ cái này thì tiếp tục nhớ đến cái kia, yên lặng không được.
Thứ tư là “Thức thực”, muốn biết cái này muốn biết cái kia, thích tìm hiểu. Tất cả những thứ này làm tâm mình nhiễu loạn, dẫn đến chiều của tham ái, không ly tham được.
Cho nên, chúng ta phải khéo thấy được cấu tạo của sắc uẩn này, đó là thành tựu trí huệ thứ nhất – trí huệ về sắc uẩn. Phải biết sắc là gì, những gì cấu tạo nó. Tất cả những thứ trên đời này, khi gặp và tiếp xúc phải biết đó là tứ đại, không có gì khác hơn. Điều này nói dễ nhưng làm không phải chuyện dễ. Chúng ta phải thực tập thiền quán, nghe pháp mỗi ngày và thực tập hoài thì từ từ mới chuyển đổi nhận thức được. Bằng không, chúng ta không thấy được tứ đại, nhìn cái gì là ra cái đó, đen ra đen, trắng ra trắng, mập ra mập, ốm ra ốm, đẹp ra đẹp, xấu ra xấu, thấy mọi thứ chỉ lẩn quẩn trong đẹp xấu, giàu nghèo. Vì vậy, cần thực tập, tập riết rồi quen. Cũng như đi xe du lịch, không thể leo lên là chạy được liền mà cần phải tập.
Sự tu tập cũng vậy, luôn luôn tập nhìn mọi thứ bằng thánh trí để chuyển hướng phàm tình, thường tình. Thánh trí là cái biết của bậc Thánh, nếu không đem Thánh trí này vào những suy nghĩ, quán chiếu, thực tập thì cái phàm tình mãi mãi vẫn y như cũ, không được thay đổi bao nhiêu, vì vậy phải vận dụng trí tuệ đã được học.
Một định nghĩa khác về sắc uẩn, Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc?
Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ III, Chương Tương Ưng Uẩn, phần 22b, Phẩm Những gì được ăn, bài kinh Đáng được ăn)
Trời lạnh một chút là chúng ta bị đổi liền. Đổi làm sao? Trong phim ngày xưa, lính Nga khi trực ca khi trời lạnh, lỗ tai bị đông cứng, người ta búng là rớt xuống, lạnh tới mức độ khủng khiếp như vậy. Sắc uẩn này nhìn thấy bình thường như vậy nhưng nó bị tác động rất nhiều. Vừa rồi, báo chí đưa tin một người đàn ông bị bệnh ung thư phải xạ trị. Xạ trị là hóa chất truyền vào cơ thể. Sau hai ngày, người này chết, xác được đem đi thiêu, khi đó chất phóng xạ trong người này lan tỏa ra, nhiễm hết chỗ lò thiêu, kể cả những người công nhân làm việc trong đó cũng bị ảnh hưởng, tuy không nghiêm trọng nhưng cũng nguy hiểm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, sự nguy hiểm tiềm tàng ở mọi nơi, mọi chốn, còn mình cứ tưởng thân này còn sống mấy chục năm nữa, đó là tưởng của phàm phu, không có thật. Thứ vô thường nhất là sắc pháp này, nó tan hoại một cách dễ dàng. Vừa rồi, thầy chánh văn phòngcó đưa hình tănTg sinh mới có 29 tuổi bị ung thư phổi chết. Mặt mày rất sáng sủa, còn rất trẻ nhưng mắc bệnh mà chết, ai cũng thấy tội nghiệp, xót thương. Huynh này rất siêng năng, thường nấu cơm cho quý thầy, quý cô giám hiệu dùng. Chùa nào có công việc là huynh này đến phụ lễ lộc. Vậy mà chỉ mới 29 tuổi đã phải chết.
Còn chúng ta, ngồi đây là cả trăm người nhưng trong một ngày có suy nghĩ rằng mình sẽ chết không, nếu thường niệm tử như vậy là chúng ta khéo an trú trong tưởng chết, đây là việc rất cần thiết, rất quan trọng. Vì nhờ có ý niệm đó và thường xuyên quán tưởng thì chúng ta mới có thể buông xả bớt sự ái thủ, chấp thủ đối với sắc uẩn. Bằng không, cứ tưởng chúng ta sống bình thường như này hoài là mình chết bởi tư tưởng “hữu ngã”, nghĩ rằng sắc uẩn này là thường, cái tôi này thường còn, trong khi sắc uẩn này chỉ là đất, nước, gió, lửa tạo thành, sanh rồi sẽ diệt.
Đói khát cũng vậy, đói một chút là sắc bị thay đổi, mặt mày xanh xao, nói chuyện không nổi, ngồi dậy không được. Chúng ta phải nhìn được tất cả những điều này, khi nhìn thấy được hết là thành tựu trí huệ, còn cho rằng sắc uẩn như cũ hoài là không có trí huệ, vẫn ở trong phàm tình. Nhìn theo trí tuệ mới là thánh trí, là thấy biết đúng sự thật. Còn nhìn theo phàm tình là không thấy biết đúng sự thật.
Không nói gì cao siêu, ngồi thiền mà bị muỗi đốt sưng lên là không ngồi nổi. Ngày xưa có mấy vị thiền sư khi ngồi là ở trần cho muỗi đốt. Nghe đơn giản vậy chứ khó tu, không phải dễ. Gần đây có hai cha con ở miền Trung sống trong rừng bốn chục năm, trước khi giải phóng đến nay. Vì trong khi chiến tranh, hai cha con này hoảng sợ, tai nạn trong gia đình cứ ám ảnh, khiến ông bồng đứa con một tuổi chạy vô rừng sống bốn chục năm. Sau đó, người ta mới đi vô trong rừng tìm, ông cứ thấy ai vào tìm thì ông dời vô sâu, tít trong rừng. Ông che cái chòi nhỏ, hai cha con sống ở trong đó. Sau này ông bệnh, người ta rước ông ra chữa bệnh là ông hơn tám mươi tuổi, đứa con bốn chục tuổi, bốn mốt tuổi. Người ta kêu bằng người rừng, họ ăn, uống, ở rất là đạm bạc, đơn sơ mà vẫn sống được. Họ ở bốn chục năm trong rừng, còn mình rủ nhau lên ở bốn năm, có làm được không? Cậu con trai lớn lên không biết xài tiền, tivi, điện thoại cũng không biết gì hết.
Chỗ này nói rộng một chút, chúng ta là người xuất gia đừng quá lệ thuộc vào vật chất. Nhiều người không tắm một bữa là khó chịu, ngủ chỗ đơn giản quá là cũng ngủ không được; ăn mà thấy không có gì ăn là cũng phiền não, như vậy là dở lắm. Tu là phải tập, tập biết đủ, tập đời sống đơn giản, ọi là dễ nuôi ở trong kinh Nikāya dùng từ gọi là dễ nuôi. Dễ nuôi chứ không phải dễ vui. Dễ vui là buông lung phóng dật. Còn dễ nuôi là sao cũng được, có gì ăn nấy, ở đâu ngủ cũng được, chỗ ở đơn sơ. Đầu tiên là dễ nuôi, sau đó là dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo. Đó là những từ rất hay trong kinh Nikāya. Nghe đơn giản nhưng không phải dễ học, không phải dễ làm, không phải dễ tu ạ.
Như vậy, chúng ta phải thấy được bản chất của sắc uẩn để có sự tu tập cho tự thân mình.
Trí tuệ về thọ uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?
– Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
– Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi.
– Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.
– Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Đức Phật nói có sáu thọ thân: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ
Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Ngoài ra, nếu nói có ba loại thọ, bao gồm: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ – cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không vui không khổ.
Cảm thọ là uẩn quan trọng cực kỳ, là mấu chốt của năm uẩn. Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật”, Đức Phật dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”. Chúng ta phải thường trực, luôn luôn lúc nào cũng để ý vào cảm thọ, cảm giác của mình tại vì đây là chỗ hội tụ của tất cả pháp. Khi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được trong cảm giác vui có tham; trong cảm giác khổ có sân; trong cảm giác không vui không khổ có si. Sau khi nhìn thấy được, chúng ta sẽ có phương pháp hóa giải những tham, sân, si đó.
Mặt khác, sáu thọ là cảm giác sanh ra khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Khi mắt tiếp xúc với các sắc sẽ sanh ra cảm giác, gọi là thọ do nhãn xúc sanh, chúng ta phải thấy được chỗ nhãn xúc đó. Do duyên có mắt (căn) và các sắc (trần), sanh khởi sự rõ biết các sắc tức là nhãn thức. Ba pháp căn, trần, thức này hội tụ với nhau là nhãn xúc.
Đây là duyên sanh pháp, cần phải học thuộc lòng để tu tập, quán chiếu và hướng dẫn người khác. Khi ba pháp này hội tụ nhau, tạo thành nhãn xúc (sự tiếp xúc của con mắt), mà xúc sẽ sanh thọ, vừa tiếp xúc là sanh ra cảm giác. Sau đó, thọ sanh ái, ái sanh thủ, cho nên Mươi Hai Nhân Duyên giờ nào, ngày nào cũng có mặt nếu thường quán chiếu, chứ không phải đợi lúc học mới mở sách ra mới có.
Chẳng hạn nhìn thấy một người đẹp là sanh khởi nhãn xúc. Xúc sanh cảm cảm thọ dễ chịu, trong thọ đó có sự thích thích, dù không làm gì nhưng chỉ cần nói chuyện được vui, nhìn thôi cũng đã mắt… Sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh khởi sáu thọ như vậy khiến tất cả chúng sanh chết với cái thọ này. Hơn nữa, không phải một thọ, mà tận sáu thọ. Con mắt thấy thích thích. Lỗ tai thấy khoái khoái. Hai lỗ mũi thấy thích mùi thơm đặc biệt. Cái lưỡi được nói chuyện với người đẹp, người nổi tiếng, người thành đạt. Khi đứng với người xấu, người ăn mày không ai chụp hình đăng lên facebook hết cả, chỉ trừ những người làm từ thiện, những thầy tu.
Còn lại, mọi người khi được đứng chung với người nổi tiếng, hoa hậu quốc tế, diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá là chụp ảnh đăng khoe liền. Đó chính do thọ của mắt, tai, mũi, lưỡi… Đến sự tiếp xúc của thân cũng vậy, bắt tay người nổi tiếng thấy vui, lập tức chụp hình rồi đăng lên mạng, có khi còn rửa ra, lộng khung treo ngay trước cửa. Còn người bình thường thì không cần chụp, gặp người nổi tiếng là chụp liền. Những hành động đó xuất phát từ cảm thọ, trong thọ có ái, trong ái có thủ, trong thủ có danh lợi, khoe khoan “tôi như vậy đây này”, những người khác nhìn vào thì suýt xoa, khi được khen nhiều khi khoái chí còn nổ, khoe là thân quen với người nổi tiếng nữa. Các pháp sanh khởi dài một dọc như vậy. Chuỗi duyên sanh pháp dài như vậy nhưng mình không thấy, chỉ thấy mọi người bình thường nhưng thực ra trong đó là cả một bộ máy vận hành. Như khi lên máy bay, không phải chỉ leo lên ngồi là nó bay đi, không đơn giản như vậy. Chỉ một sơ sẩy nhỏ là rất nhiều người phải chết. Chẳng may những con chip, những công tắc bị bấm nhầm một chút là đảo lộn tất cả, mọi người có thể bị nổ banh xác, cả chiếc máy bay bị lao xuống biển.
Nhìn lại chính bản thân mình, một khi bị dính mắc vào cảm thọ là nguy hiểm vô cùng. Ngoài đời, người ta lừa gạt, giết người, cướp của…. đa phần cũng vì thọ do thân xúc sanh mà chết. Chư Thiên không có thân thể vật chất giống như mình nên cõi đó gọi là sắc giới, chứ không phải dục giới như chúng ta. Thân thể chư Thiên giống như khi mình nằm chiêm bao, cũng như một bóng sáng, cho nên dục của họ không nặng nề giống mình. Chính vì cái khổ của họ ít, cho nên cái thọ, cái tâm, cái thân của người ta nhẹ hơn, tuổi của người ta dài hơn, phước cũng lớn hơn. Còn chúng ta rất thô thiển, thân tâm bất tịnh và ưa thích những thứ bất tịnh. Các cõi trời được diễn tả rằng, chỉ một cái nắm tay, hoặc chỉ bốn con mắt nhìn nhau là đã tự thỏa mãn. Trong khi chúng ta còn nặng nề về dục, nên gọi là dục giới.
Chính vì vậy, cùng một lúc sáu thọ nhất tề tấn công là mình chết liền trong cảm thọ đó. Chỉ cần mở mạng lên coi là đã sanh khởi nhãn xúc, nhĩ xúc. Mặc dù không có tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc nhưng lại có ý xúc. Từ mắt, tai cộng với ý chúng ta cũng phải bó tay đầu hàng trước những cảm thọ sanh khởi. Nhiều huynh đệ nói với Minh Thành là rất khó vượt qua được dục ái, khốn khổ hơn là không biết cách vượt qua. Thật sự đây là một vấn đề nan giải, không phải chuyện giỡn. Nếu không tu quán bất tịnh, không quán chiếu, không có phương pháp, không chánh niệm định giác, không có rào chắn thì dính vào vấn đề này là chuyện bình thường. Nhất là khi thân xúc sanh, dù biết là hang hùm miệng cọp nhưng cũng nhào vô, mặc kệ tất cả, chết cũng tính sau. Cũng vì cái xúc này mà thân bại danh liệt, tan nát hết sự nghiệp tu hành.
Tuy nhiên, dù yêu thương như vậy nhưng khi chết rồi thì không ai dám rờ đến. Dù hai vợ chồng thương yêu nhau vô cùng nhưng người này chết rồi là người kia sợ. Khi còn sống thì yêu thương, thích thú nhưng bị tai nạn, bị ung thư, xạ trị rồi nằm chết là xong. Cho nên, cái thọ này là vô thường. Lúc thuận lợi với nhau thì nói gì cũng chịu; còn lúc nghịch nhau là cảm thọ lập tức đổi khác, cho gì cũng không thèm, đụng mặt không muốn nhìn.
Cho nên, chúng ta phải thường trực quán chiếu các cảm thọ. Mỗi khi tiếp xúc phải nhìn thấy thọ sanh khởi, an trú rồi chấm dứt như thế nào. Sự thấy biết này là thánh trí, người bình thường không biết được. Ngoài Đức Thế Tôn, tất cả chúng sanh ở trong tam giới đều không biết trí huệ này và chỉ có Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu trí này. Khi thành tựu trí tuệ này thì mới kiểm soát được cảm xúc, làm chủ được cảm giác, sự quán chiếu phải xuyên suốt, không phải chuyện đơn giản. Chúng ta phải thường trực nhìn lại cảm giác, không để nó lừa gạt, lừa dối mình, không để cho nó nhận diện, làm chủ mình. Người làm được điều này là bậc trí vì luôn luôn thấy được cảm giác trong tự thân như thế nào. Vì vậy, Minh Thành thường nhắc huynh đệ phải an trú cảm giác toàn thân. Luôn thực tập ba pháp: chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Bất cứ lúc nào cũng phải thực tập được, pháp này sẽ đánh vào thọ do thân xúc sanh.
Có anh chàng về quê, dự lễ thanh minh, ở đó anh chàng xin nước uống và gặp một cô gái đẹp nhưng hai người này không kịp nói chuyện gì với nhau. Dù chỉ nhìn qua nhưng khi về anh cứ nhớ. Năm sau anh về lại chỗ đó, nhưng không gặp cô gái, nên anh đề lên cửa một bài thơ. Không lâu sau, trở lại đó, anh nghe tin cô này chết vì nhớ thương sau khi đọc bài thơ. Đây là một bài thơ rất nổi tiếng:
Khứ niên kim nhật hữu môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
(Đề Đô thành Nam trang – Thôi Hộ)
Dịch nghĩa:
Ngày này năm ngoái tại của đây,
Hoa đào và mặt người cùng ánh lên sắc hồng.
Gương mặt người xưa giờ không biết chốn nào
Chỉ thấy hoa đào vẫn như cũ cười với gió đông.
Qua đó, chúng ta thấy, có khi chỉ vì thọ do nhãn xúc sanh, chỉ vì thọ do con mắt tiếp xúc mà nhớ thương cả đời. Khi học Thánh trí này, chúng ta sẽ thấy năm uẩn chồng chất lên nhau, không gì có thể ra khỏi năm uẩn. Khi học trí tuệ này rồi, chúng ta sẽ thấy tất cả sự kiện, sự việc, con người diễn ra xung quanh là chúng ta nắm bắt được hết, vì chúng chỉ ở trong năm uẩn, không đi ra khỏi đó. Trong câu chuyện trên cũng vậy, chàng trai và cô gái này mặc dù chưa kịp nói chuyện, chưa kịp lại gần, chưa có gì với nhau, chỉ tiếp xúc con mắt thôi nhưng vẫn còn nhớ và tìm gặp lại nhau. Cái thọ ghê gớm như vậy, chỉ tiếp xúc bằng mắt thôi nhưng thời gian lâu sau cảm giác đó vẫn chưa có tan, vẫn còn lưu luyến, muốn tìm kiếm.
Người tu chúng ta, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh khởi sáu thọ thì lập tức phải quán chiếu để hóa giải cảm thọ đó, không được để cảm thọ đó gắn kết sâu sắc ở trong tâm, bằng không, nó sẽ trói cột tâm mình, trở thành kiết sử là nguy hiểm vô cùng. Vì khi chúng ta trở thành kiết sử là nó sẽ trói buộc, sai khiến mình. Càng thọ, càng ái, càng thủ nhiều chừng nào thì người đó càng khổ đau chứ không sung sướng gì hết, vì khi đó phải làm nô lệ cho cảm giác, tôi đòi cho cảm thọ, như vậy là càng khổ. Dính mắc một người đã là khổ vô cùng, người tu chúng ta may mắn vì thoát được 50% sanh tử, tức là không có sanh con là thoát được nửa phần sinh tử.
Vì vậy, quán chiếu cảm thọ rất sâu sắc là tuyệt vời trong sự tu này. Chúng ta không chỉ học lý thuyết suông là xong, mà trong sinh hoạt thường nhật, lúc nào cũng phải để ý cảm giác trong tâm mình.
V. Tưởng uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng?
– Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng.
– Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi.
– Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt.
– Đây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định... thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Tương Ưng Uẩn, Phần 22b, phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)
Trong tâm có hình bóng gì đó thì nhận rõ hình bóng đó, ví dụ khi suy nghĩ về mẹ thì trong tâm có hình bóng mẹ hiện ra mình nhận rõ hình bóng đó là hình bóng của mẹ mình. Hoặc khi nghĩ về đứa em, đứa cháu, người bạn mình thì hình bóng về những người đó hiện lên trong nội tâm mình, mình nhận rõ hình bóng đó, hình bóng đó gọi là tưởng.
Tưởng uẩn được phân làm sáu loại. Sắc tưởng là hình bóng về sắc ở trong nội tâm. Đào sâu ví dụ về chàng trai gặp cô gái phía trên thì hình bóng của cô gái đó tồn tại một năm trời ở trong tâm của anh chàng đó. Sắc tưởng đó tồn tại trong thời gian dài, không quên được, dù tiếp xúc chỉ một lần. Cho nên, sắc uẩn ở bên ngoài làm khổ mình ít hơn là sắc tưởng bên trong nội tâm. Khi không được gặp, một mình ngồi nhớ nhung, tưởng tượng thì khổ hơn rất nhiều. Vì vậy, chúng ta càng phải cẩn thận với sắc tưởng.
Ví dụ, đang ngồi yên tĩnh tự nhiên trong tâm mình có hình bóng một người hiện ra, dù người này là người thương hay người ghét thì phải biết đây chỉ là sắc tưởng, không có thật. Khi đó, chúng ta trở về với cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tĩnh giác, không đi theo cái sắc tưởng đó. Thực hành như vậy rất quan trọng, đây là công phu tu tập của mình. Nếu không, mình nhập cuộc vào sắc tưởng đó, khi sắc tưởng đó hiện lên thì mình mới nói chuyện với nó, rồi mình hành động, tưởng tượng sẽ làm gì, suy tính đủ chuyện giống như một bộ phim nhiều tập và mình cứ đi theo nó, không biết mấy đó là sắc tưởng, để cho nó an trú vào tâm mình.
Huynh đệ cần nắm vững, sắc tưởng là những hình bóng về sắc ở trong tâm. Khi chiêm nghiệm sẽ thấy sắc tưởng đầy rẫy trong tâm mình, hơn nữa trong sắc tưởng còn có dục, có ái, có tham, có sân, có si trong đó. Chỉ cần một hình bóng ưa thích hiện lên là dục khởi, tham khởi. Ngược lại, nếu có hình bóng người làm mình bực bội, khó chịu, ghen ghét thì sân hận sanh khởi theo những hình bóng đó.
Khi được học Thánh trí ngũ uẩn, trong tâm có cái gì là mình thấy biết cái đó, không có cái nào mình không thấy, không có cái nào mình không biết. Như vậy mới gọi là Thánh trí – trí huệ của bậc thánh. Tận tường tất cả pháp bên trong lẫn bên ngoài, không có cái nào qua mặt được trí tuệ này. Tuy chúng ta chưa đủ sức nhiếp phục hết nhưng khi thấy biết được chúng là trí huệ được sanh khởi, bắt đầu nhãn sanh, minh sanh, trí sanh.
Kế đến là thanh tưởng, tức là những hình bóng của âm thanh đã tiếp xúc. Có những tiếng văng vẳng đã nghe ở đâu đó hiện khởi lên trong cái nội tâm của mình, đó được gọi là thanh tưởng. Ví dụ, Minh Thành nhớ ông anh của mình từng nói: “Mày mà đi tu được tao cùi hết mười ngón tay”. Khi Minh Thành nhớ câu nói thì đó là thanh tưởng; nhớ hình ảnh của ông anh và cách ông đưa mười ngón tay lên, đó là sắc tưởng. Lúc nhớ lại thì trong tâm cũng có cảm thọ và Minh Thành thấy biết được nó. Bây giờ, người anh đó nhờ Minh Thành quy y Tam bảo, những người cô Minh Thành cũng vậy, cũng quy y và thường lên núi tu tập cùng Minh Thành. Như vậy, những lúc trong tâm nhớ lại những lời nói, âm thanh đã nghe, mình phải biết đó là thanh tưởng. Khi thấy được nó, chúng ta phải đọc tên nó lên, không đi theo nó, trở về cái cảm giác toàn thân.
Kế tiếp, hương tưởng là như thế nào? Mùi dầu thơm, mùi của ai đó, hay mùi của món đồ, mùi của thức ăn mình ngửi và nhớ lại mùi hương đó, đó gọi là hương tưởng. Khi hình bóng của mùi thơm hiện trở lại, mình phải biết đó là hương tưởng, không được đi theo nó.
Sau hương tưởng thì đến vị tưởng. Nhớ lại mùi vị của những món ăn đã ăn thì đó gọi là vị tưởng. Ví dụ, ngày hôm qua mình ăn me, me này đặc biệt lắm, chua chua, ngọt ngọt, bùi bùi. Khi nghe Minh Thành nói vậy, trong tâm huynh đệ nghĩ đến hình ảnh quả me thì đó là sắc tưởng; hương tưởng về mùi thơm thơm của me sanh khởi; vị chua chua ngọt ngọt hiện ra, tức là vị tưởng cũng có mặt; có người còn nhớ lại lúc mình để me vào lưỡi nhai, đó là xúc tưởng và tươm tươm nước bọt ra.
Xúc tưởng những hình bóng mình đã tiếp xúc, xúc chạm. Ví dụ, người ta mới mua chiếc xe 3 tỷ, mời mình lên ngồi cho họ có phước. Sau khi leo lên ngồi, trở về chùa nhớ lại lúc leo lên xe thân người nhúng nhúng, cảm giác êm êm. Đó là xúc tưởng. Xúc tưởng này ghê lắm, có khi chỉ đưa người kia món đồ nhưng lỡ chạm trúng ngón tay, không đến năm giây nhưng ba ngày chưa quên, bảy ngày chưa quên được cái xúc đó. Những cảm giác về sự xúc chạm tại chỗ đó vẫn còn trong tâm, cứ nghĩ đến là xúc tưởng.
Sau đó những thọ, tưởng, hành quá khứ sanh khởi trong tâm, đó là pháp tưởng. Ví dụ, mình nhớ lại gì đó, chẳng hạn ngày hôm qua làm gì đó ở bếp hay tiếp xúc với ai đó thì tự nhiên hiện ra cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về việc đó. nNớ lại hình bóng hôm qua đã tiếp xúc thì đó là pháp tưởng.
Trí về ngũ uẩn rất sâu sắc, cần này phải thiền định, thực tập thiền để nhận diện từ từ. Sau đó chúng ta mới có thể thấy rõ được sáu tưởng trong tâm vận hành như thế nào. Nếu không học pháp này, không có sự nhận diện quán chiếu về ngũ uẩn thì trong tâm như một đống tơ vò.
./.