Người Thợ Gốm Và Đức Phật Ca Diếp - Trung Bộ 2 - Bài 81
Kinh Nikāya Giảng Giải
Người Thợ Gốm Và Đức Phật Ca Diếp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc112679121 \h 1
II. Chia sẻ về lễ nghĩa thầy - trò PAGEREF _Toc112679122 \h 12
I. Bài kinh
Kính lễ Đức Thế Tôn
Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác
Kính lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát
Kính lễ bốn đôi tám chúng, hiền Thánh tăng là ruộng phước vô thường ở trên đời.
Thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử, nay chúng ta tiếp tục nghe chuyên đề Bảy Đức Phật, bài kinh số 81, Trung Bộ Kinh tập 2, kinh Ghatìkàra nói về Đức Phật Kassapa (Đức Phật Ca-Diếp):
“Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ananda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.
-- Thuở xưa này Ananda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
Rồi Tôn giả Ananda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
-- Thuở xưa, này Ananda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
Này Ananda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Lần thứ hai, này Ananda... Lần thứ ba, này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Lần thứ ba này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
“-- Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.
“-- Thưa bạn, vâng”.
Này Ananda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.
Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Lần thứ hai, này Ananda, ...lần thứ ba này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Lần thứ ba, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”*-.
Rồi này Ananda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?”
Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”
“-- Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
“-- Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.
Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”
“-- Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.
“-- Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
Và này Ananda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Baranasi. Ngài tuần tự du hành và đến tại Baranasi (Ba-la-nại). Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Baranasi, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.
Này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Baranasi, trú tại Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ananda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Baranasi với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.
Và này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ananda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Và này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:
“-- Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
“-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi.”
Lần thứ hai, này Ananda,... Lần thứ ba, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
“-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.
Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
“-- Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:
“-- Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
“-- Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dung”.
Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:
“-- Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
“-- Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:
“-- Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?”
Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:
“-- Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
“-- Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.”
Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:
“-- Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
“-- Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột.”
“-- Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!”
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:
“-- Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
“-- Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột.”
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy.”
Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
“-- Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”
Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ananda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:
“-- Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy.”
“-- Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này.”
-- Này Ananda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ananda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
II. Chia sẻ về lễ nghĩa thầy - trò
Chúng ta mới thấy được tại sao ngài Ananda lại làm thị giả Đức Phật hai mươi mấy năm. Vì nỗi cử chỉ, hành động Ngài Ananda rất là chuẩn mực, cung kính đối với Đức Phật. Đắp y về phía một bên vai, tức là bài vai phải (vai hữu) ra, trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế hành động đó là biểu lộ sự kính trọng, cung kính. Chúng ta nghĩ thầy trò ở gần nhau, thân quá rồi, khỏi cần lễ nghi gì phải không? Không phải. Càng thân, càng kính thì càng lễ nghi, chứ không phải càng than thì không cần. Theo phàm phu của mình thì thân nhau rồi khỏi cần giữ gìn gì hết, cái chỗ đó là chỗ khác biệt. Cho nên, trong gia đình mà không có còn quý kính nhau nữa, hay là trong chùa phép tắc không còn là tại vì thân. Còn chúng ta thấy, Ngài Ananda đặc biệt làm thị giả Đức Phật 25 năm, không có người nào làm thị giả Đức Phật được hết, có người làm được chút là bỏ, làm thời gian ngắn là bỏ, có người bỏ Đức Phật đi một mình, Đức Phật kêu giúp cho Ngài lấy này lấy kia nhưng không làm, bỏ đi.
Có những vị thị giả xin Đức Phật đi độc cư, giống như bây giờ sinh nhập thất.
Đức Phật nói: “Chưa có phải thời”. Vị thị giả này trả lời: “Thế Tôn không còn chuyện gì phải làm nữa, bọn con còn chuyện phải làm, nên Thế Tôn cho con đi”. Ngài xin 3 lần như vậy, Ngài nói “bây giờ ngài muốn đi”. Thì Đức Phật phải đành chấp nhận. Vị này bỏ Đức Phật tuổi già như vậy để đi độc cư. Khi vị này nhập thất ở một mình thì không tu được, ác bất thiện pháp sanh khởi lên.
Vậy đó, thành ra mình đọc kinh mình phải hiểu nhiều khía cạnh. Ngài Ananda chỉ thấy Đức Phật mỉm cười thôi, Ngài đã trịch áo, bày vai, quỳ xuống chấp tay. Nếu như mình bây giờ khi thấy thầy cười, thì hỏi “sao thầy cười như vậy”. Trong khi Ngài với Đức Phật là bà con, chính chỗ cung kính đó mới giữ được bền lâu. Con cũng chứng kiến những việc không biết nói làm sao, nhiều khi về dự mấy buổi lễ, thị giả hay đệ tử với ông thầy đi, họ nói chuyện mà mình ngồi kế bên không biết ai là thầy, ai là trò.
Con mà thấy những cảnh đó, là con xót xa lắm. Nói chuyện không có lễ nghi, không có phép tắc, thứ bậc, tôn ti. Cho nên tại sao mình phải tụng “Hai mươi bốn oai nghi”, hổm nay chúng ta có tụng, có chiêm nghiệm không? Phải chiêm nghiệm, phải viết bài cảm nhận về “Hai mươi bốn oai nghi”, học từ trong đó và nhìn lại cái oai nghi, cử chỉ của mình, để mà đối chiếu. Các bậc Đức Như Lai, Thánh tăng hay các bậc hiền trí ngày xưa đọc trong kinh, mình phải để ý cái oai nghi, tế hạnh của các Ngài.
Ở trong chùa, chỗ này là chỗ mình phải xót xa, để mình thiền quán nó. Đại chúng coi, con đi xuống bếp rất ít, có chuyện gì con mới xuống. Ở trong chúng cũng vậy, không phải ai cũng đi xuống dưới, khi nào có phiên chỉ nhật của mình, công việc cần thiết, hay có nguyên do mới xuống bếp. Không phải chỗ nào mình cũng xuất hiện, không phải đi tới chỗ nào cũng có mặt, có tiếng nói của mình hết. Mình phải biết cái trú sứ của mình là ở đâu, cái đi, đứng, ăn, nói của mình, làm việc của mình. Cái cách chắp tay, xá chào, mỗi bước chân của mình, tất cả đều phải niệm oai nghi, hành động, đều phải chuẩn mực, đó là sự tu tập, chứ đâu có cái tu gì ngoài cái đó đâu. Mình nghĩ tu là diệt tham, sân, si ở đâu đâu đó. Buông lung phóng dật là trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, trong lời nói, cử chỉ, việc làm, hành động của mình. Ít nhất trong tâm mình chưa có thành công, mà thân mình phải 70, 80 phần nhiếp phục.
Cho nên nhiều khi con thấy xót xa, mấy vị về tu học, các vị công quả, tập sự, xuất gia, nói gì ra là cãi tay đôi lại liền, mà học nhận diện ngũ uẫn thì học. Người xuất gia cũng vậy nữa, cái đó là cái rất là thô, không nhìn thấy được, không nhiếp phục được, là không tu được. Hễ nghe thầy nói chưa hết câu, là nhảy ra cãi, thì sao mà tu. Cái đó là một cái tập khí, mà cần phải diệt tận nó. Thật sự mỗi lần vậy là con xót xa lắm, xót xa không phải vì không nghe lời mình rồi mình giận, mà con nghĩ “như vầy rồi sao mà tu”.
Mà cái tập khí chung của con người mình là như vậy, từ trên xuống dưới, hễ nói cái gì ra, chưa nói hết câu là nhảy vô cãi, rồi kêu làm này thì làm cái kia, một cái tâm hết sức cứng cỏi, ương nghạnh, một cái bản ngã hết sức là lớn, mà không nhìn thấy được. Đó là vì mình không có tập được an tịnh, lắng dịu, ít nhất mình phải chờ, không biết người đó là ai, đừng nói là thầy, ngang hàng cũng vậy, huynh đệ, tỷ muội cũng vậy, mình phải chờ người ta nói hết, coi cần cái gì, rồi sau đó mình mới coi lại việc đó là nên hay không nên, đúng hay không đúng, cần hay là không cần, sau đó mình mới trình bày. Còn này thì không, sư phụ, sư huynh, thầy nói chưa hết câu, là mình nhảy ra mình nói “không phải, làm này, làm kia”.
Cũng như bữa cô Phật tử Nhỏ ở đây làm bên ban văn hóa cũng vậy nữa, lâu lắm con mới gọi điện thoại, ít khi nào con gọi lắm. Con nói: “Bây giờ thầy cần phân loại những bài thiền quán cần thiết, quan trọng, thầy cần cái bài thiền quán tên gì đó, giờ ngưng công việc đang làm lại vì bình thường là cô sửa bài giảng, nay làm dùm mấy bài thiền quán quan trọng. Mà con nói ba lần, vì bữa đó đang cần một bài thiền quán, cho ai đó đang cần xin, đặng người ta tu. Cô đó nhắn tin lại “con đang bận, con đang sửa bài, nào xong con làm”. Con thấy tin nhắn xong, con im luôn, không nói gì hết. Tới chừng con về núi rồi, cô đến đến cô sám hối “con thấy con sai”, “con thấy được thì tốt, chứ thầy tính không nói”. Sau đó con phân tích cho nghe, mới hiểu vấn đề. Trình bày nãy giờ “con thấy con với cái tâm bất kính, con thấy con bản ngã, vội vã, vội vàng”.
Thì chúng ta thấy cái vô minh nó khủng khiếp lắm, không phải cái vô minh là cái không thấy khổ, không thấy nguyên nhân của khổ, không thấy khổ diệt đạo. Cái đó là cái thâm sâu, còn ngay lúc mình nói, mình làm, mình không biết gì hết. Vì thầy cũng ít hướng dẫn cho các vị sau này, chỉ nhiều chắc đi xuống núi hết (cười), lâu lâu có cơ hội chỉ cho, như vậy là không có tu được. Thì sau khi cô Nhỏ sám hối xong con mới hỏi: “Thưa cô, nếu mà cô đi làm ở ngoài, cô có dám nói chuyện với sếp như vậy không?” Cô đáp: “Dạ đâu có dám”. Đúng ra quý thầy rất là từ bi, rất là thương mình, nhưng mà mình phải có sự kính trọng nhiều hơn nữa.
Những câu chuyện nhỏ kể ở đây không phải mình nói xấu, mà đó là những bài học mà tất cả chúng ta bị như vậy rất nhiều, 10 người là hết 7, 8 người bị. Cũng như chú thợ hồ phụ chùa làm, con nói chưa hết nửa câu là chú nhảy vô nói ngay “không”, “sai”, “không có đúng”. Mà hễ 10 lần nói, chú làm bảy, tám lần thôi, sau này con không nói nữa, để cho anh Nam ở dưới nói. Thành ra là thật sự mà để nhìn thấy được các tập khí, thói quen, lậu hoặc của mình, là cả một sự tu học nghiêm túc, nghiêm khắc, không phải là đơn giản. Mà mình tu lâu năm hay xuất gia đi nữa cũng không thấy được, nếu không có người chỉ, mà khi người ta chỉ, mình không nhận thì cũng như không. Vì bản ngã mình không nhận lỗi, với lại mình nói cái này là chuyện nhỏ nhặt, không cần thiết, mình không có sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Cho nên, tu không có tiến, tu hoài cũng vậy, 5 năm, 8 năm, 10 năm, 20 năm, gặp lại thì cũng thế thôi, dù cho tới chết cũng vậy, không có nhìn ra cái tập khí, tập nghiệp, thói quen đó.
Chính điều đó, thật sự con không muốn đào tạo cái người thâm sâu nữa, thật sự là không có, giờ cực kỳ khó có cái người thiết tha cầu đạo, quên mình vì Phật. Làm được một chút gì, là cái bản ngã họ gán vô cái công chuyện đó, học được một chút gì là cái bản ngã họ gán vô cái tri thức đó, họ tu được chút gì là cái bản ngã ẩn hiện trong cái hành trì đó, trong khi cái pháp thì nó sâu xa, phải nhìn liên tục, nghiêm túc. Cho nên rất nhiều các vị thầy, đệ tử nói: “Người ta ao ước, mong muốn cái chỗ giống như thầy, để làm khu du lịch tâm linh, mà sao thầy không chịu làm”. Con thưa các bậc hiền trí, con có nên làm không ạ? Đệ tử con nói như vậy thì con đi con đường của con thật đơn độc, cô độc, không có mấy người chấp nhận. Như bây giờ nói là cãi, mà có mấy ai chấp nhận, con chỉ dạy 100 lần vẫn vậy. Nhiều khi ngoài miệng không nói, nhưng trong bụng nói, chống đối trong suy nghĩ. “Pháp Tâm có nhìn thấy được cái này không ạ?”.
Thì cái này là cái là khó, không có sức trầm tĩnh, Chánh niệm, tĩnh giác, thì không nhìn ra được, rồi sẽ tự tung, tự tác, từ việc nhỏ đến việc lớn ở trong chùa, làm theo cái vô minh, dục, bản ngã. Và người đó sẽ thoái đoạ, tổn phước cho đến xuống núi, đến ra đời rất là nhiều, vì thâm sâu trong tâm coi thầy không ra gì hết, tự đi ra lập riêng, làm riêng, tự đi con đường riêng. Chúng ta thấy bản ngã này nó ác độc không? Làm sao mà mình nhìn ra được. Cái tâm mình không có mềm mại, nhu nhuyến, nhu thuần, không có tôn kính pháp. Những cái đó “đâu phải là con đâu, đâu phải cái tôi đâu, mà cái đó là pháp”, đưa cái pháp đến người đó, mà người đó không chấp nhận cái pháp. Đó là cái thô nhất mới ngoài lời nói thôi, đừng nói chi trong ý nghĩ, trong suy nghĩ. Cái này mà không nhìn ra được là không có tu được, dù có tu bao nhiêu lâu đi nữa thì tu trong bóng đêm, chứ không có tu trong ánh sáng.
Cho nên tại sao gần đây con tâm sự với quý vị nhiều về việc sống viễn ly, là nhìn ra đau lòng trong người tu hiện tại lắm. Thứ nhất là không có biết ngũ uẩn, thì làm sao nhận diện ngũ uẫn. Thứ hai là nhận diện ngũ uẩn sơ sài, qua loa, cẩu thả, ẩu tả, cái thô còn không thấy, chứ đừng nói cái tế. Mà không thấy được, thì một cái thân tâm đầy rẫy tật bệnh và cấu nhiễm. Như một cái bản ngã to lớn vỗ ngực xưng tên, kể tháng, kể năm ở trong chùa.
Thật sự một người chân tu đi đâu cũng khum đầu, cúi xuống, không có dám ngẩng lên, thấy nhục, không có dám vênh váo. Chúng ta nhìn thấy không ạ? Chúng ta có bắt đầu khum đầu xuống chưa hay là còn ngẩng cao lắm? “Khum chưa vậy Hiền Thục, cúi xuống chưa?”, “còn ngẩng đi lắm hả? Mười phần cúi được bao nhiêu?” Chỉ khi nào mình nhìn được cái lậu hoặc, mình thấy thực trạng của thân tâm mình, cái tâm mình lần lần mới lắng dịu. Còn chưa thấy, thì nó còn kênh kiệu, ta đây, thể hiện, đúng sai, hơn thua với cuộc đời này lắm.
(Phần Phật tử Trình Pháp)
Quý thầy, quý cô, quý chú muốn học thì con sẽ chỉ “Chúng ta muốn học không ạ?”. Thứ nhất chủ đề hôm nay là 7 Đức Phật chứ không phải bốn đức Phật. Thứ hai nữa là thầy Ca-Diếp sai mấy vị Tỷ-kheo đến dỡ cái mái nhà. Chứ không phải Đức Phật Thích Ca kêu thầy Ca-Diếp đi gỡ cái mái nhà. Tâm mình dễ bị mờ tối thì cái pháp sẽ dễ bị lẫn lộn, mình mới vừa nghe mà mình nhớ sai, mình nói lại sai. Cho nên từ chỗ đó chúng ta phải suy nghĩ, các bậc Thánh giữ gìn 2600 năm, thì chúng ta biết công đức và trí tuệ của các Ngài như thế nào. Mình mới vừa nghe mình nói lại sai, thì mình sau này đi nói lại cho người khác nữa là sai luôn.
Lúc nãy cô Hiền Thục trình Pháp rất là tốt, mới đầu buổi con vừa nói là lúc ra bị liền đó. Con hỏi: “Hổm rày mình có bắt đầu cúi đầu xuống chưa?”, trả lời “dạ chưa”, phản ứng rất là nhanh, nhưng không quay lại để nhìn, mà nhìn thấy rất là tốt, đúng ra là con không có nói, nhưng cô sám hối thì con mới nói. Chúng ta 10 người hết 8 người bị như vậy, cái thói quen của chúng ta là thích nói ngược thôi, ai hỏi cái gì cũng nói ngược lại cái rồi tính gì tính sau. Thì cái đó rất là sâu sắc, mình phải nhìn lại mình coi, nếu mà mình chưa thì mình nói: “Dạ con thấy con cũng có cúi xuống chút chút”. Một hồi con tác ý cho cô, con gợi ra rồi hỏi bao nhiêu phần, rồi cô nói 5 phần, chứ lúc đầu là cô nói “không có” giống như không có gì hết vậy đó. Những cái đó nó rất là vi tế tại vì mình quen rồi, mà cô nhìn ra được thì con rất mừng, lúc cô sám hối thì con mừng lắm, không ngờ cô nhìn được cái đó.
Lúc mình trả lời cái tâm mình không có mềm mại nhu nhuyến hiền thiện cung kính. Bởi vì mình nhận diện ngũ uẩn sâu sắc mình mới thấy, chứ mình không học cái pháp này mình không có thấy được đâu, nó rất là bình thường. Nhưng mà tu cái này là một sợi tóc chẻ ra làm trăm phần, thì mới có thể nhìn thấy được lậu hoặc. Cô ở đây đã được hơn 2 tháng, vậy khi con hỏi “cô đã cúi đầu xuống chưa?” thì cô trả lời “con thấy con cũng đã cúi xuống chút chút rồi, nhưng mà lâu lâu nó cũng còn ngẩng lên”, thì câu nói đó nó rất là phù hợp, là một cái tâm mềm mại, lắng nghe, hiền thiện, cảm nhận cái đối đáp đó, là cái đối đáp của sự Chánh niệm và tĩnh giác. Còn khi hỏi trả lời ngay như lúc nãy thì phản ứng của mình không được gì hết. Cái này là một bài học không phải của cá nhân cho người nào đâu, mà tất cả các ngũ uẩn, 10 người thì hết 8,9 người như vậy, là mình thích nói ngược lại, nói gì là cãi lại trước, nói gì là mình làm ngược lại cái đã. Thì cái đó là cái phải để ý nhiều lắm, vi tế lắm mới thấy được. Cho nên con mà gặp mấy người như vậy thì chừng 5 lần, chứ không đến 7, 8 lần giống như ông thợ gốm giúp cho bạn ổng. Thành ra chỗ đó nhìn ra được rất là hay, phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy.
Bây giờ là cái chuyện ở Bửu Liên, Ni Sư khơi lại con mới nói chứ đúng ra con không có chỉ. Hôm đó, con sẽ để cho đại chúng tự nhiên, xem coi mình muốn về trong ngày hôm đó hay là ngày hôm sau. Thì con dò ý hỏi thăm thì tất cả mọi người đều muốn về liền hết. Mà hôm đó là chiều chủ nhật, là thời điểm rất khó có xe, bình thường mình điện sao cũng được, nhưng thời điểm đó rất là khó. Mà mình muốn cẩn thận cho đại chúng vì số lượng mình đông, về khuya, mà đi lên núi nữa. Cho nên con mới kêu thầy Pháp Tâm đi ra chỗ trạm để đặt coi sao cho nó đàng hoàng, còn cái chuyện điện thoại thì bình thường, khi mà nó ế thì nó dễ lắm. Còn khi cao điểm, thì tự mình phải đến, mình hỏi như thế nào, để mình sắp xếp cho đại chúng. Còn bây giờ, nếu đưa hết đại chúng ra đó, thì có thể phải chờ 2, 3 tiếng đồng hồ, chứ không phải con không biết là điện thoại. Con kêu thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Tâm nói: “Mấy thầy điện rồi”, lúc đó con đứng với Ni sư thì con cười, không nói gì hết.
Sao con không biết được, con ở sau lưng đại chúng mà chăm sóc, lo lắng, từng chút một. Nhưng mà bệnh chung ngũ uẩn chúng ta, cứ nghĩ mình nghĩ là đúng thôi, chứ không biết rằng có những cái nghĩ sâu xa và rộng lớn hơn mình rất nhiều, cái đó là sự tu tập. Con nghe như vậy thì con cười với Ni sư thôi (lúc đó có sư cô Tuệ Quý nữa), con cười con nói: “Được rồi vậy thôi”. Thật sự mình khó mà hiểu được tấm lòng của người thầy.
Cái nhìn, cái suy nghĩ, cái tầm nhận thức của mình nó không phải là tuyệt đối, thành ra những cái nhỏ đó là tu sâu sắc lắm. Thật ra bữa đó cảm thọ của con nó chùn xuống lắm, thương chứ không phải nói gì hết, bởi vì con lo cho đại chúng, và quả thật bữa đó ra ngồi chờ tới 2:00 đêm mới về tới núi. Bởi vì công việc của con rất là nhiều, phải lo mấy công việc khác, chứ nếu không thì con sẽ đi ra trạm trước, chứ không phải con không biết điện thoại để đặt đâu. Con ở sau lưng đại chúng, mà suy nghĩ, lo lắng, chăm sóc cho đại chúng. Nhưng mà mình nhiều khi không hiểu hết mình, cứ nghĩ suy nghĩ của mình là được rồi. Đúng ra con không có nói, nhưng hôm nay Ni Sư có nhân duyên, nên con gợi cho mình biết mình đừng có nghĩ suy nghĩ, nhận thức của mình là đúng. Nhất là đối với những bậc trưởng thượng, huynh, thầy, những bậc thiện trí thức thì phải hết sức mà lắng nghe.
Như hôm qua chú Lực chở con lên núi, xong con kêu chú lực xuống chở tài xế và chú quay phim, chú nói: “Giờ thầy Nghĩa kêu chú đi qua Tăng xá lấy đồ, thầy kêu chú Thuận xuống đi”. Con lại kêu lần nữa, chú tiếp tục cãi lại “phải đi làm thầy Nghĩa kêu”. Mà trong khi con đứng đó, chú tài xế lái xe cực khổ, chú Tân quay phim đang chờ ở dưới, rồi đồ đạc mà sắp sửa chuyển mưa nữa, mà một mực không chịu đi rước, thì con thấy rất là xót xa.
Mình nghe trong kinh hoài, hôm nay cái này là những bài học sống. Cái tâm mình nó không có sáng suốt, để biết được hiện tại chuyện gì mình nên làm, chuyện gì cần, nó không biết, mà người biết chỉ cho mình, mình không nghe, mình cứ cãi. Thôi con đi vô luôn chứ sao giờ, sẵn dịp hôm qua có nhắc nhở chút, thật sự bây giờ con ít nhắc chú lắm, người nào thật sự chịu học mình mới nhắc, chứ nhắc hoài ở đây không còn ai ở hết (cười).
Đó là cái mê lầm, trong khi việc đang cần thiết ở đây, thầy mình đang cần ở đây, huynh đệ mình đang cần ở đây, ngay trước mắt này, mà mình lại muốn làm việc khác ở đâu đâu đó, mà nói rồi cũng không nghe, mình phải cãi lại. Hội chúng chúng ta rất là hiền thiện, nói chuyện bình thường thôi, nhưng mà ở đây mình muốn cao cấp hơn nữa, muốn tăng thượng hơn nữa, muốn là phải học như vậy đó. Giống như hồi nãy nói Pháp Tâm vậy đó, rất là bình thường “thầy Nghĩa nói có điện thoại rồi, thì con nói lại có điện thoại rồi”, rất là bình thường. Nhưng tại vì mình không phải học pháp bình thường, mình học pháp phi thường của Thánh nhân.
Cho nên mình phải mổ xẻ, để mình thấy được tất cả các lậu hoặc thân tâm để mình nhiếp phục, chế ngự, để mình thành tựu thượng nhân pháp, mình không phải học phàm phu pháp. Không phải học cái pháp hạ liệt, cái pháp thấp kém, mà mình học cái pháp của Tuệ giác, của minh kiến, của phi phàm, phi thường. Chính vì vậy mà mình phải mổ xẻ thân tâm mình thật là nhiều. Đó là nhân duyên hôm nay, chúng ra giải phẫu một chút, để chúng ta thấy được việc tu học của chúng ta còn rất là nhiều cái cần phải làm, cần phải nhìn và cần phải tu.
“Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”
Người Thợ Gốm Và Đức Phật Ca Diếp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc112679121 \h 1
II. Chia sẻ về lễ nghĩa thầy - trò PAGEREF _Toc112679122 \h 12
I. Bài kinh
Kính lễ Đức Thế Tôn
Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác
Kính lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát
Kính lễ bốn đôi tám chúng, hiền Thánh tăng là ruộng phước vô thường ở trên đời.
Thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử, nay chúng ta tiếp tục nghe chuyên đề Bảy Đức Phật, bài kinh số 81, Trung Bộ Kinh tập 2, kinh Ghatìkàra nói về Đức Phật Kassapa (Đức Phật Ca-Diếp):
“Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ananda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ananda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.
-- Thuở xưa này Ananda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
Rồi Tôn giả Ananda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
-- Thuở xưa, này Ananda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ananda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
Này Ananda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Lần thứ hai, này Ananda... Lần thứ ba, này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Lần thứ ba này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
“-- Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.
“-- Thưa bạn, vâng”.
Này Ananda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.
Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Khi nghe nói vậy, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Lần thứ hai, này Ananda, ...lần thứ ba này Ananda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
Lần thứ ba, này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”*-.
Rồi này Ananda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?”
Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:
“-- Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”
“-- Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
“-- Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.
Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi này Ananda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
“-- Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”
“-- Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.
“-- Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Rồi này Ananda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
Và này Ananda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Baranasi. Ngài tuần tự du hành và đến tại Baranasi (Ba-la-nại). Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Baranasi, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.
Này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Baranasi, trú tại Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ananda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Baranasi với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.
Và này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ananda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Và này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:
“-- Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
Rồi này Ananda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
“-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi.”
Lần thứ hai, này Ananda,... Lần thứ ba, này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Baranasi; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
“-- Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.
Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
“-- Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Baranasi”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:
“-- Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
“-- Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dung”.
Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:
“-- Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
“-- Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:
“-- Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?”
Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:
“-- Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
“-- Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.”
Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:
“-- Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
“-- Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột.”
“-- Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!”
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:
“-- Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
“-- Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột.”
Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy.”
Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
“-- Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”
Rồi này Ananda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ananda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:
“-- Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy.”
“-- Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này.”
-- Này Ananda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ananda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
II. Chia sẻ về lễ nghĩa thầy - trò
Chúng ta mới thấy được tại sao ngài Ananda lại làm thị giả Đức Phật hai mươi mấy năm. Vì nỗi cử chỉ, hành động Ngài Ananda rất là chuẩn mực, cung kính đối với Đức Phật. Đắp y về phía một bên vai, tức là bài vai phải (vai hữu) ra, trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế hành động đó là biểu lộ sự kính trọng, cung kính. Chúng ta nghĩ thầy trò ở gần nhau, thân quá rồi, khỏi cần lễ nghi gì phải không? Không phải. Càng thân, càng kính thì càng lễ nghi, chứ không phải càng than thì không cần. Theo phàm phu của mình thì thân nhau rồi khỏi cần giữ gìn gì hết, cái chỗ đó là chỗ khác biệt. Cho nên, trong gia đình mà không có còn quý kính nhau nữa, hay là trong chùa phép tắc không còn là tại vì thân. Còn chúng ta thấy, Ngài Ananda đặc biệt làm thị giả Đức Phật 25 năm, không có người nào làm thị giả Đức Phật được hết, có người làm được chút là bỏ, làm thời gian ngắn là bỏ, có người bỏ Đức Phật đi một mình, Đức Phật kêu giúp cho Ngài lấy này lấy kia nhưng không làm, bỏ đi.
Có những vị thị giả xin Đức Phật đi độc cư, giống như bây giờ sinh nhập thất.
Đức Phật nói: “Chưa có phải thời”. Vị thị giả này trả lời: “Thế Tôn không còn chuyện gì phải làm nữa, bọn con còn chuyện phải làm, nên Thế Tôn cho con đi”. Ngài xin 3 lần như vậy, Ngài nói “bây giờ ngài muốn đi”. Thì Đức Phật phải đành chấp nhận. Vị này bỏ Đức Phật tuổi già như vậy để đi độc cư. Khi vị này nhập thất ở một mình thì không tu được, ác bất thiện pháp sanh khởi lên.
Vậy đó, thành ra mình đọc kinh mình phải hiểu nhiều khía cạnh. Ngài Ananda chỉ thấy Đức Phật mỉm cười thôi, Ngài đã trịch áo, bày vai, quỳ xuống chấp tay. Nếu như mình bây giờ khi thấy thầy cười, thì hỏi “sao thầy cười như vậy”. Trong khi Ngài với Đức Phật là bà con, chính chỗ cung kính đó mới giữ được bền lâu. Con cũng chứng kiến những việc không biết nói làm sao, nhiều khi về dự mấy buổi lễ, thị giả hay đệ tử với ông thầy đi, họ nói chuyện mà mình ngồi kế bên không biết ai là thầy, ai là trò.
Con mà thấy những cảnh đó, là con xót xa lắm. Nói chuyện không có lễ nghi, không có phép tắc, thứ bậc, tôn ti. Cho nên tại sao mình phải tụng “Hai mươi bốn oai nghi”, hổm nay chúng ta có tụng, có chiêm nghiệm không? Phải chiêm nghiệm, phải viết bài cảm nhận về “Hai mươi bốn oai nghi”, học từ trong đó và nhìn lại cái oai nghi, cử chỉ của mình, để mà đối chiếu. Các bậc Đức Như Lai, Thánh tăng hay các bậc hiền trí ngày xưa đọc trong kinh, mình phải để ý cái oai nghi, tế hạnh của các Ngài.
Ở trong chùa, chỗ này là chỗ mình phải xót xa, để mình thiền quán nó. Đại chúng coi, con đi xuống bếp rất ít, có chuyện gì con mới xuống. Ở trong chúng cũng vậy, không phải ai cũng đi xuống dưới, khi nào có phiên chỉ nhật của mình, công việc cần thiết, hay có nguyên do mới xuống bếp. Không phải chỗ nào mình cũng xuất hiện, không phải đi tới chỗ nào cũng có mặt, có tiếng nói của mình hết. Mình phải biết cái trú sứ của mình là ở đâu, cái đi, đứng, ăn, nói của mình, làm việc của mình. Cái cách chắp tay, xá chào, mỗi bước chân của mình, tất cả đều phải niệm oai nghi, hành động, đều phải chuẩn mực, đó là sự tu tập, chứ đâu có cái tu gì ngoài cái đó đâu. Mình nghĩ tu là diệt tham, sân, si ở đâu đâu đó. Buông lung phóng dật là trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, trong lời nói, cử chỉ, việc làm, hành động của mình. Ít nhất trong tâm mình chưa có thành công, mà thân mình phải 70, 80 phần nhiếp phục.
Cho nên nhiều khi con thấy xót xa, mấy vị về tu học, các vị công quả, tập sự, xuất gia, nói gì ra là cãi tay đôi lại liền, mà học nhận diện ngũ uẫn thì học. Người xuất gia cũng vậy nữa, cái đó là cái rất là thô, không nhìn thấy được, không nhiếp phục được, là không tu được. Hễ nghe thầy nói chưa hết câu, là nhảy ra cãi, thì sao mà tu. Cái đó là một cái tập khí, mà cần phải diệt tận nó. Thật sự mỗi lần vậy là con xót xa lắm, xót xa không phải vì không nghe lời mình rồi mình giận, mà con nghĩ “như vầy rồi sao mà tu”.
Mà cái tập khí chung của con người mình là như vậy, từ trên xuống dưới, hễ nói cái gì ra, chưa nói hết câu là nhảy vô cãi, rồi kêu làm này thì làm cái kia, một cái tâm hết sức cứng cỏi, ương nghạnh, một cái bản ngã hết sức là lớn, mà không nhìn thấy được. Đó là vì mình không có tập được an tịnh, lắng dịu, ít nhất mình phải chờ, không biết người đó là ai, đừng nói là thầy, ngang hàng cũng vậy, huynh đệ, tỷ muội cũng vậy, mình phải chờ người ta nói hết, coi cần cái gì, rồi sau đó mình mới coi lại việc đó là nên hay không nên, đúng hay không đúng, cần hay là không cần, sau đó mình mới trình bày. Còn này thì không, sư phụ, sư huynh, thầy nói chưa hết câu, là mình nhảy ra mình nói “không phải, làm này, làm kia”.
Cũng như bữa cô Phật tử Nhỏ ở đây làm bên ban văn hóa cũng vậy nữa, lâu lắm con mới gọi điện thoại, ít khi nào con gọi lắm. Con nói: “Bây giờ thầy cần phân loại những bài thiền quán cần thiết, quan trọng, thầy cần cái bài thiền quán tên gì đó, giờ ngưng công việc đang làm lại vì bình thường là cô sửa bài giảng, nay làm dùm mấy bài thiền quán quan trọng. Mà con nói ba lần, vì bữa đó đang cần một bài thiền quán, cho ai đó đang cần xin, đặng người ta tu. Cô đó nhắn tin lại “con đang bận, con đang sửa bài, nào xong con làm”. Con thấy tin nhắn xong, con im luôn, không nói gì hết. Tới chừng con về núi rồi, cô đến đến cô sám hối “con thấy con sai”, “con thấy được thì tốt, chứ thầy tính không nói”. Sau đó con phân tích cho nghe, mới hiểu vấn đề. Trình bày nãy giờ “con thấy con với cái tâm bất kính, con thấy con bản ngã, vội vã, vội vàng”.
Thì chúng ta thấy cái vô minh nó khủng khiếp lắm, không phải cái vô minh là cái không thấy khổ, không thấy nguyên nhân của khổ, không thấy khổ diệt đạo. Cái đó là cái thâm sâu, còn ngay lúc mình nói, mình làm, mình không biết gì hết. Vì thầy cũng ít hướng dẫn cho các vị sau này, chỉ nhiều chắc đi xuống núi hết (cười), lâu lâu có cơ hội chỉ cho, như vậy là không có tu được. Thì sau khi cô Nhỏ sám hối xong con mới hỏi: “Thưa cô, nếu mà cô đi làm ở ngoài, cô có dám nói chuyện với sếp như vậy không?” Cô đáp: “Dạ đâu có dám”. Đúng ra quý thầy rất là từ bi, rất là thương mình, nhưng mà mình phải có sự kính trọng nhiều hơn nữa.
Những câu chuyện nhỏ kể ở đây không phải mình nói xấu, mà đó là những bài học mà tất cả chúng ta bị như vậy rất nhiều, 10 người là hết 7, 8 người bị. Cũng như chú thợ hồ phụ chùa làm, con nói chưa hết nửa câu là chú nhảy vô nói ngay “không”, “sai”, “không có đúng”. Mà hễ 10 lần nói, chú làm bảy, tám lần thôi, sau này con không nói nữa, để cho anh Nam ở dưới nói. Thành ra là thật sự mà để nhìn thấy được các tập khí, thói quen, lậu hoặc của mình, là cả một sự tu học nghiêm túc, nghiêm khắc, không phải là đơn giản. Mà mình tu lâu năm hay xuất gia đi nữa cũng không thấy được, nếu không có người chỉ, mà khi người ta chỉ, mình không nhận thì cũng như không. Vì bản ngã mình không nhận lỗi, với lại mình nói cái này là chuyện nhỏ nhặt, không cần thiết, mình không có sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Cho nên, tu không có tiến, tu hoài cũng vậy, 5 năm, 8 năm, 10 năm, 20 năm, gặp lại thì cũng thế thôi, dù cho tới chết cũng vậy, không có nhìn ra cái tập khí, tập nghiệp, thói quen đó.
Chính điều đó, thật sự con không muốn đào tạo cái người thâm sâu nữa, thật sự là không có, giờ cực kỳ khó có cái người thiết tha cầu đạo, quên mình vì Phật. Làm được một chút gì, là cái bản ngã họ gán vô cái công chuyện đó, học được một chút gì là cái bản ngã họ gán vô cái tri thức đó, họ tu được chút gì là cái bản ngã ẩn hiện trong cái hành trì đó, trong khi cái pháp thì nó sâu xa, phải nhìn liên tục, nghiêm túc. Cho nên rất nhiều các vị thầy, đệ tử nói: “Người ta ao ước, mong muốn cái chỗ giống như thầy, để làm khu du lịch tâm linh, mà sao thầy không chịu làm”. Con thưa các bậc hiền trí, con có nên làm không ạ? Đệ tử con nói như vậy thì con đi con đường của con thật đơn độc, cô độc, không có mấy người chấp nhận. Như bây giờ nói là cãi, mà có mấy ai chấp nhận, con chỉ dạy 100 lần vẫn vậy. Nhiều khi ngoài miệng không nói, nhưng trong bụng nói, chống đối trong suy nghĩ. “Pháp Tâm có nhìn thấy được cái này không ạ?”.
Thì cái này là cái là khó, không có sức trầm tĩnh, Chánh niệm, tĩnh giác, thì không nhìn ra được, rồi sẽ tự tung, tự tác, từ việc nhỏ đến việc lớn ở trong chùa, làm theo cái vô minh, dục, bản ngã. Và người đó sẽ thoái đoạ, tổn phước cho đến xuống núi, đến ra đời rất là nhiều, vì thâm sâu trong tâm coi thầy không ra gì hết, tự đi ra lập riêng, làm riêng, tự đi con đường riêng. Chúng ta thấy bản ngã này nó ác độc không? Làm sao mà mình nhìn ra được. Cái tâm mình không có mềm mại, nhu nhuyến, nhu thuần, không có tôn kính pháp. Những cái đó “đâu phải là con đâu, đâu phải cái tôi đâu, mà cái đó là pháp”, đưa cái pháp đến người đó, mà người đó không chấp nhận cái pháp. Đó là cái thô nhất mới ngoài lời nói thôi, đừng nói chi trong ý nghĩ, trong suy nghĩ. Cái này mà không nhìn ra được là không có tu được, dù có tu bao nhiêu lâu đi nữa thì tu trong bóng đêm, chứ không có tu trong ánh sáng.
Cho nên tại sao gần đây con tâm sự với quý vị nhiều về việc sống viễn ly, là nhìn ra đau lòng trong người tu hiện tại lắm. Thứ nhất là không có biết ngũ uẩn, thì làm sao nhận diện ngũ uẫn. Thứ hai là nhận diện ngũ uẩn sơ sài, qua loa, cẩu thả, ẩu tả, cái thô còn không thấy, chứ đừng nói cái tế. Mà không thấy được, thì một cái thân tâm đầy rẫy tật bệnh và cấu nhiễm. Như một cái bản ngã to lớn vỗ ngực xưng tên, kể tháng, kể năm ở trong chùa.
Thật sự một người chân tu đi đâu cũng khum đầu, cúi xuống, không có dám ngẩng lên, thấy nhục, không có dám vênh váo. Chúng ta nhìn thấy không ạ? Chúng ta có bắt đầu khum đầu xuống chưa hay là còn ngẩng cao lắm? “Khum chưa vậy Hiền Thục, cúi xuống chưa?”, “còn ngẩng đi lắm hả? Mười phần cúi được bao nhiêu?” Chỉ khi nào mình nhìn được cái lậu hoặc, mình thấy thực trạng của thân tâm mình, cái tâm mình lần lần mới lắng dịu. Còn chưa thấy, thì nó còn kênh kiệu, ta đây, thể hiện, đúng sai, hơn thua với cuộc đời này lắm.
(Phần Phật tử Trình Pháp)
Quý thầy, quý cô, quý chú muốn học thì con sẽ chỉ “Chúng ta muốn học không ạ?”. Thứ nhất chủ đề hôm nay là 7 Đức Phật chứ không phải bốn đức Phật. Thứ hai nữa là thầy Ca-Diếp sai mấy vị Tỷ-kheo đến dỡ cái mái nhà. Chứ không phải Đức Phật Thích Ca kêu thầy Ca-Diếp đi gỡ cái mái nhà. Tâm mình dễ bị mờ tối thì cái pháp sẽ dễ bị lẫn lộn, mình mới vừa nghe mà mình nhớ sai, mình nói lại sai. Cho nên từ chỗ đó chúng ta phải suy nghĩ, các bậc Thánh giữ gìn 2600 năm, thì chúng ta biết công đức và trí tuệ của các Ngài như thế nào. Mình mới vừa nghe mình nói lại sai, thì mình sau này đi nói lại cho người khác nữa là sai luôn.
Lúc nãy cô Hiền Thục trình Pháp rất là tốt, mới đầu buổi con vừa nói là lúc ra bị liền đó. Con hỏi: “Hổm rày mình có bắt đầu cúi đầu xuống chưa?”, trả lời “dạ chưa”, phản ứng rất là nhanh, nhưng không quay lại để nhìn, mà nhìn thấy rất là tốt, đúng ra là con không có nói, nhưng cô sám hối thì con mới nói. Chúng ta 10 người hết 8 người bị như vậy, cái thói quen của chúng ta là thích nói ngược thôi, ai hỏi cái gì cũng nói ngược lại cái rồi tính gì tính sau. Thì cái đó rất là sâu sắc, mình phải nhìn lại mình coi, nếu mà mình chưa thì mình nói: “Dạ con thấy con cũng có cúi xuống chút chút”. Một hồi con tác ý cho cô, con gợi ra rồi hỏi bao nhiêu phần, rồi cô nói 5 phần, chứ lúc đầu là cô nói “không có” giống như không có gì hết vậy đó. Những cái đó nó rất là vi tế tại vì mình quen rồi, mà cô nhìn ra được thì con rất mừng, lúc cô sám hối thì con mừng lắm, không ngờ cô nhìn được cái đó.
Lúc mình trả lời cái tâm mình không có mềm mại nhu nhuyến hiền thiện cung kính. Bởi vì mình nhận diện ngũ uẩn sâu sắc mình mới thấy, chứ mình không học cái pháp này mình không có thấy được đâu, nó rất là bình thường. Nhưng mà tu cái này là một sợi tóc chẻ ra làm trăm phần, thì mới có thể nhìn thấy được lậu hoặc. Cô ở đây đã được hơn 2 tháng, vậy khi con hỏi “cô đã cúi đầu xuống chưa?” thì cô trả lời “con thấy con cũng đã cúi xuống chút chút rồi, nhưng mà lâu lâu nó cũng còn ngẩng lên”, thì câu nói đó nó rất là phù hợp, là một cái tâm mềm mại, lắng nghe, hiền thiện, cảm nhận cái đối đáp đó, là cái đối đáp của sự Chánh niệm và tĩnh giác. Còn khi hỏi trả lời ngay như lúc nãy thì phản ứng của mình không được gì hết. Cái này là một bài học không phải của cá nhân cho người nào đâu, mà tất cả các ngũ uẩn, 10 người thì hết 8,9 người như vậy, là mình thích nói ngược lại, nói gì là cãi lại trước, nói gì là mình làm ngược lại cái đã. Thì cái đó là cái phải để ý nhiều lắm, vi tế lắm mới thấy được. Cho nên con mà gặp mấy người như vậy thì chừng 5 lần, chứ không đến 7, 8 lần giống như ông thợ gốm giúp cho bạn ổng. Thành ra chỗ đó nhìn ra được rất là hay, phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy.
Bây giờ là cái chuyện ở Bửu Liên, Ni Sư khơi lại con mới nói chứ đúng ra con không có chỉ. Hôm đó, con sẽ để cho đại chúng tự nhiên, xem coi mình muốn về trong ngày hôm đó hay là ngày hôm sau. Thì con dò ý hỏi thăm thì tất cả mọi người đều muốn về liền hết. Mà hôm đó là chiều chủ nhật, là thời điểm rất khó có xe, bình thường mình điện sao cũng được, nhưng thời điểm đó rất là khó. Mà mình muốn cẩn thận cho đại chúng vì số lượng mình đông, về khuya, mà đi lên núi nữa. Cho nên con mới kêu thầy Pháp Tâm đi ra chỗ trạm để đặt coi sao cho nó đàng hoàng, còn cái chuyện điện thoại thì bình thường, khi mà nó ế thì nó dễ lắm. Còn khi cao điểm, thì tự mình phải đến, mình hỏi như thế nào, để mình sắp xếp cho đại chúng. Còn bây giờ, nếu đưa hết đại chúng ra đó, thì có thể phải chờ 2, 3 tiếng đồng hồ, chứ không phải con không biết là điện thoại. Con kêu thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Tâm nói: “Mấy thầy điện rồi”, lúc đó con đứng với Ni sư thì con cười, không nói gì hết.
Sao con không biết được, con ở sau lưng đại chúng mà chăm sóc, lo lắng, từng chút một. Nhưng mà bệnh chung ngũ uẩn chúng ta, cứ nghĩ mình nghĩ là đúng thôi, chứ không biết rằng có những cái nghĩ sâu xa và rộng lớn hơn mình rất nhiều, cái đó là sự tu tập. Con nghe như vậy thì con cười với Ni sư thôi (lúc đó có sư cô Tuệ Quý nữa), con cười con nói: “Được rồi vậy thôi”. Thật sự mình khó mà hiểu được tấm lòng của người thầy.
Cái nhìn, cái suy nghĩ, cái tầm nhận thức của mình nó không phải là tuyệt đối, thành ra những cái nhỏ đó là tu sâu sắc lắm. Thật ra bữa đó cảm thọ của con nó chùn xuống lắm, thương chứ không phải nói gì hết, bởi vì con lo cho đại chúng, và quả thật bữa đó ra ngồi chờ tới 2:00 đêm mới về tới núi. Bởi vì công việc của con rất là nhiều, phải lo mấy công việc khác, chứ nếu không thì con sẽ đi ra trạm trước, chứ không phải con không biết điện thoại để đặt đâu. Con ở sau lưng đại chúng, mà suy nghĩ, lo lắng, chăm sóc cho đại chúng. Nhưng mà mình nhiều khi không hiểu hết mình, cứ nghĩ suy nghĩ của mình là được rồi. Đúng ra con không có nói, nhưng hôm nay Ni Sư có nhân duyên, nên con gợi cho mình biết mình đừng có nghĩ suy nghĩ, nhận thức của mình là đúng. Nhất là đối với những bậc trưởng thượng, huynh, thầy, những bậc thiện trí thức thì phải hết sức mà lắng nghe.
Như hôm qua chú Lực chở con lên núi, xong con kêu chú lực xuống chở tài xế và chú quay phim, chú nói: “Giờ thầy Nghĩa kêu chú đi qua Tăng xá lấy đồ, thầy kêu chú Thuận xuống đi”. Con lại kêu lần nữa, chú tiếp tục cãi lại “phải đi làm thầy Nghĩa kêu”. Mà trong khi con đứng đó, chú tài xế lái xe cực khổ, chú Tân quay phim đang chờ ở dưới, rồi đồ đạc mà sắp sửa chuyển mưa nữa, mà một mực không chịu đi rước, thì con thấy rất là xót xa.
Mình nghe trong kinh hoài, hôm nay cái này là những bài học sống. Cái tâm mình nó không có sáng suốt, để biết được hiện tại chuyện gì mình nên làm, chuyện gì cần, nó không biết, mà người biết chỉ cho mình, mình không nghe, mình cứ cãi. Thôi con đi vô luôn chứ sao giờ, sẵn dịp hôm qua có nhắc nhở chút, thật sự bây giờ con ít nhắc chú lắm, người nào thật sự chịu học mình mới nhắc, chứ nhắc hoài ở đây không còn ai ở hết (cười).
Đó là cái mê lầm, trong khi việc đang cần thiết ở đây, thầy mình đang cần ở đây, huynh đệ mình đang cần ở đây, ngay trước mắt này, mà mình lại muốn làm việc khác ở đâu đâu đó, mà nói rồi cũng không nghe, mình phải cãi lại. Hội chúng chúng ta rất là hiền thiện, nói chuyện bình thường thôi, nhưng mà ở đây mình muốn cao cấp hơn nữa, muốn tăng thượng hơn nữa, muốn là phải học như vậy đó. Giống như hồi nãy nói Pháp Tâm vậy đó, rất là bình thường “thầy Nghĩa nói có điện thoại rồi, thì con nói lại có điện thoại rồi”, rất là bình thường. Nhưng tại vì mình không phải học pháp bình thường, mình học pháp phi thường của Thánh nhân.
Cho nên mình phải mổ xẻ, để mình thấy được tất cả các lậu hoặc thân tâm để mình nhiếp phục, chế ngự, để mình thành tựu thượng nhân pháp, mình không phải học phàm phu pháp. Không phải học cái pháp hạ liệt, cái pháp thấp kém, mà mình học cái pháp của Tuệ giác, của minh kiến, của phi phàm, phi thường. Chính vì vậy mà mình phải mổ xẻ thân tâm mình thật là nhiều. Đó là nhân duyên hôm nay, chúng ra giải phẫu một chút, để chúng ta thấy được việc tu học của chúng ta còn rất là nhiều cái cần phải làm, cần phải nhìn và cần phải tu.
“Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”