Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nilaya Thiền Quán - Buồn Đau Khổ Sầu Là Từ Yêu Thương - Kinh Ái Sanh 1

2026-03-03 00:55:32
Nikāya Thiền Quán

Buồn Đau Khổ Sầu Là Từ Yêu Thương

Kinh Ái Sanh 1

Thích Minh Thành

Ngày 17 tháng 02 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh Ái Sanh PAGEREF _Toc133068084 \h 1

II. Buồn đau sanh khởi là từ nơi yêu thương PAGEREF _Toc133068085 \h 8

III. Trình pháp PAGEREF _Toc133068086 \h 11

IV. Buồn đau sanh khởi là do tham ái PAGEREF _Toc133068087 \h 13

V. Chín pháp lấy ái làm gốc PAGEREF _Toc133068088 \h 21



I. Bài kinh Ái Sanh

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ con một của một gia chủ, khả ái, đáng thương, bị mệnh chung. Sau khi nó chết, (người cha) không còn muốn làm việc, không còn muốn ăn uống, luôn luôn đi đến nghĩa địa, người ấy than khóc: "Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?" Rồi người gia chủ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với người gia chủ đang ngồi một bên:

– Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông, có phải các căn của Ông đổi khác?

– Bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết (con) không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc: "Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?"

– Sự thật là như vậy, này Gia chủ, vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

– Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái?" Vì rằng, bạch Thế Tôn hỷ lạc (anandasomanassa) do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Rồi người gia chủ, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Lúc bấy giờ, một số người đánh bạc đang chơi đổ nhứt lục không xa Thế Tôn bao nhiêu. Người gia chủ kia, đi đến những người đánh bạc ấy, sau khi đến nói với những người ấy như sau:

– Này Quý vị, ở đây tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến, đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Này Quý vị, Sa-môn Gotama nói với tôi đang ngồi một bên:

– "Này Gia chủ, có phải Ông có các căn để an trú tự tâm ông. Có phải các căn của Ông đổi khác?" Này Quý vị, được nghe nói vậy tôi nói với Sa-môn Gotama:

– "Bạch Thế Tôn sao các căn của con có thể đổi khác được. Bạch Thế Tôn, đứa con một khả ái, đáng thương của con đã mệnh chung. Sau khi nó chết, con không còn muốn làm việc, con không còn muốn ăn uống, con luôn luôn đi đến nghĩa địa và than khóc:

"Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?"

– "Sự thật là như vậy, này Gia chủ. Vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu, não, do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

– "Nhưng đối với ai, bạch Thế Tôn, sự tình sẽ như vậy! "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái". Vì rằng bạch Thế Tôn, hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái". Này Quý vị, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, ta chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

– Sự thật là như vậy, này Gia Chủ! Sự thật là như vậy này Gia chủ! Này Gia chủ, hỷ lạc do ái sanh, hiện hữu từ nơi ái.

Rồi người gia chủ suy nghĩ: "Có sự đồng ý giữa ta và những người đánh bạc, " rồi bỏ đi. Và cuộc đối thoại ấy dần dần được truyền đi và truyền đến trong nội cung. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi hoàng hậu Mallika:

– Này Mallika, đây là lời Sa-môn Gotama nói với các người ấy: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

– Tâu Đại vương, nếu Thế Tôn đã dạy như vậy, thì sự việc là như vậy.

– Điều gì Sa-môn Gotama nói, Mallika này cũng nói theo. Vì Mallika quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama. Vì vị Đạo sư nói gì cho đệ tử, và đệ tử quá hoan hỷ với vị Đạo sư nên nói: "Sự thật là vậy, thưa Đạo sư! Sự thật là như vậy, thưa Đạo sư". Cũng vậy, này Mallika, điều gì Sa-môn Gotama nói, Hoàng hậu quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama nên đã nói: "Nếu Thế Tôn đã nói như vậy thời sự việc là vậy". Hãy đi đi, Mallika, hãy đi đi! Rồi hoàng hậu Mallika cho gọi Bà-la-môn Nalijangha và nói:

– Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú, và thưa: "Bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallika cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn lạc trú không, và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái". Và nếu Thế Tôn trả lời Ông như thế nào, hãy khéo nắm giữ và nói lại với ta. Vì các Như Lai không nói phản lại sự thật.

– Thưa vâng, tâu Hoàng hậu. Bà-la-môn Nalijangha vâng đáp hoàng hậu Mallika, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, Và sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Nalijangha Bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallika cúi đầu đảnh lễ chân Sa-môn Gotama, hỏi thăm có ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú và thưa như sau: "Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói như sau: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái"?

– Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, bà mẹ của một người đàn bà mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn bà này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: "Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?". Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người cha của một người đàn bà mệnh chung... (như trên)..., người anh mệnh chung, người chị mệnh chung, người con trai mệnh chung, người con gái mệnh chung, người chồng mệnh chung. Từ khi người chồng mệnh chung, người đàn bà này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: "Người có thấy chồng tôi đâu không? Người có thấy chồng tôi đâu không?". Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người mẹ của một người đàn ông mệnh chung. Từ khi bà ta mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác và nói: "Người có thấy mẹ tôi đâu không? Người có thấy mẹ tôi đâu không?". Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, thuở xưa, ở tại Savatthi này, người cha của một người đàn ông mệnh chung... (như trên) ... người anh mệnh chung, người chị mệnh chung, người con trai mệnh chung, người con gái mệnh chung, người vợ mệnh chung. Từ khi người vợ mệnh chung, người đàn ông này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư đường này qua ngã tư đường khác, và nói: "Người có thấy vợ tôi đâu không? Người có thấy vợ tôi đâu không?".

Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Này Bà-la-môn, thuở xưa chính tại thành Savatthi này, một người đàn bà đi về thăm gia đình bà con. Những người bà con ấy của người đàn bà muốn dùng sức mạnh bắt người đàn bà ấy phải xa chồng và muốn gả cho một người đàn ông khác.

Người đàn bà ấy không chịu. Rồi người đàn bà ấy nói với chồng mình: "Này Hiền phu, những người bà con này muốn dùng sức mạnh bắt tôi phải xa anh và muốn gả cho một người đàn ông khác. Nhưng tôi không muốn như vậy". Rồi người ấy chặt người đàn bà ấy làm hai, rồi tự vận, nghĩ rằng: "Hai chúng ta sẽ gặp nhau trong đời sau". Này Bà-la-môn, do pháp môn này cần phải được hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái

Rồi Bà-la-môn Nalijangha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến hoàng hậu Mallika, sau khi đến, kể lại cho hoàng hậu Mallika toàn thể cuộc đàm thoại với Thế Tôn. Rồi hoàng hậu Mallika đi đến vua Pasenadi nước Kosala, và thưa:

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có thương công chúa Vajiri của thiếp không?

– Phải, này Mallika, ta thương công chúa Vajiri.

– Tâu đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của Đại vương. Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajiri của ta, thì sẽ có một sự thay đổi đến đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nữ Sát-đế-lỵ Vasabha, Đại vương có thương yêu không?

– Này Mallika, ta có thương yêu nữ Sát-đế-lỵ Vasabha.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát-đế- lỵ Vasabha, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho nữ Sát Đến Lỵ Vasabha, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho đời sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Tướng quân Vidudabha, Đại vương có thương quý không?

– Này Mallika, ta có thương quý tướng quân Vidudabha.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho tướng quân Vidudabha thì sẽ có sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta, sầu, bi, khổ, ưu não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu thương thiếp không?

– Phải, này Mallika, ta có thương yêu Hoàng hậu.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho thiếp, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho Hoàng hậu, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu thương dân chúng Kasi và Kosala không?

– Phải, này Mallika, ta thương yêu dân chúng Kasi và Kosala. Này Mallika, nhờ sức mạnh của họ, chúng ta mới có được gỗ chiên-đàn từ nước Kasi và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho dân chúng Kasi và Kosala, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch đổi khác xảy đến cho dân chúng nước Kasi và Kosala, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

– Thật vi diệu thay, này Mallika! Thật hy hữu thay, này Mallika! Thế Tôn đã thể nhập nhờ trí tuệ, đã thấy nhờ trí tuệ. Đến đây, Mallika, hãy sửa soạn tẩy trần. Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái Thế Tôn và nói lên ba lần lời cảm hứng sau đây: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn... (như trên) ... Đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác".

(Kinh Ái Sanh – Trung Bộ Kinh)

Kính bạch chư tôn, hiền đức, các bậc hiền trí. Bên trên là bài kinh Ái sanh, bài kinh số 87 Trung Bộ Kinh tập hai. Chúng ta đã nghe rất nhiều lần nhưng con thấy bài kinh này rất quan trọng nên chúng ta nghe lại để nhớ, chiêm nghiệm thêm về sự thật này và cả thế giới đều không nhìn thấy. Vậy sự thật gì?

Sự thật là như vậy, này Gia chủ. Vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu, não, do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

(Kinh Ái Sanh – Trung Bộ Kinh)

II. Buồn đau sanh khởi là từ nơi yêu thương

Sự buồn đau, sự sầu đau, sự khổ đau, sự lo lắng, sợ hãi, bất an là từ nơi yêu thích, yêu thương mà có ra. Sở dĩ những buồn đau, khổ sầu, bất an, tai họa có ra là từ nơi cái tâm yêu thương, ràng buộc, hệ lụy. Nếu không có tâm đó thì không có sầu bi, khổ, ưu não.

Lúc đó Đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên 19:35 tinh xá, trong gia đình của một người giàu có một đứa con một, con cưng, đứa con được ông đại gia rất thương yêu, đột ngột qua đời.

Đứa con một, con cưng, một bảo bối, đứa con được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Tất cả trên dưới, từ gia chủ, cha mẹ tới những người hầu hạ, phục vụ đều nâng niu, yêu thương, chăm sóc. Nhưng đứa trẻ này bất thình lình bị chết, như bảo bối bị mất. Đó là đứa con cưng, con yêu, cục vàng bị chết một cách đột ngột, bất ngờ.

Sau khi đứa bé chết thì ông gia chủ đó không còn muốn làm việc gì nữa. Đau buồn quá mức, đau xót tột độ, tột cùng, đau khổ. Người cha này không còn muốn ăn, uống gì nữa, không làm không ăn, không uống, bỏ ngủ, bỏ ăn, mất ngủ và người cha này cứ đi đến nghĩa địa, ở bên nắm mồ của đứa con mà kêu “Con rơi, con ơi! Đứa con một của ta ơi, con đâu rồi? Bảo bối của ta đâu rồi? Con cưng đâu rồi? Giờ này con đang ở đâu? Con ơi là con.”

Người đại gia này ôm lấy nấm mồ khóc, lấy bàn tay xoa trên ngôi mộ và kêu lên những tiếng kêu thảm thiết, bi thương, đau khổ tột cùng giống như trái tim tan nát, bể nát ra. Chúng ta dùng thọ, tưởng, hành của mình, bằng thiền quán để đọc bài kinh này. Chúng ta thấy trong gia đình giàu có, quý tộc, đại gia, đại hào phú như vậy nhưng bị hiếm muộn, đến tuổi lớn khoảng năm mươi thì lúc đó mới có được một đứa con thì chúng ta nghĩ đó là con cầu, con khẩn, là thương như thế nào, cưng như thế nào, từ trên xuống dưới cho đến người hầu.

Ngày được sanh ra thì biết bao nụ cười, niềm vui, hy vọng trong gia đình, tổ chức ngày đại tiệc ăn mừng. Đến ngày thôi nôi, đầy tháng thì bao nhiêu người tấp nập quà cáp, hoa quả, bao nhiêu người đi đến tặng những lễ phẩm chúc mừng. Bao nhiêu những tiếng nói, tiếng cười, lời nhạc vang lên, vang dội lên, sung sướng, vui sướng, hạnh phúc.

Nhưng bỗng chốc tất cả những nụ cười đó, tất cả những tiếng nhạc du dương, niềm vui đó, ca ở đây, cười ở đây, khóc ở đây rồi gục ngã, khổ đau ở đây, nước mắt ở đây và người cha ngã quỵ xuống, sụp đổ, trái tim tan nát vì hay tin đứa con một của mình đã chết. Đứa con khả ái, đáng yêu, đáng thương bị mệnh chung.

Sau khi đứa con chết thì người cha không còn muốn làm ăn, kinh doanh gì nữa, bỏ ăn, mất ngủ. Ở trong đầu là những hình ảnh đứa con hiện ra với gương mặt thật dễ thương, nụ cười của nó, những bước đi chập chững của đứa con hiện ra. Những cảm giác ngọt ngào, yêu dấu, nâng niu, những hình bóng, những suy nghĩ hiện ra. Gương mặt tròn trịa, bụ bẫm, dễ thương, càng nhớ những hình ảnh đó thì những cảm giác yêu thương càng khổ đau.

Hình ảnh càng hiện ra ngọt ngào bao nhiêu thì giờ càng đắng cay bấy nhiêu. Nó hạnh phúc bấy nhiêu thì giờ nó đau khổ bấy nhiêu, nó ngọt ngào bao nhiêu thì giờ nó cay đắng bấy nhiêu. Những hình ảnh cứ ám ảnh trong tâm trí, những cảm giác vui sướng đổ vỡ, tan nát, hủy hoại hết. Những suy nghĩ cứ dồn dập tới, cứ thầm thì, cứ nói làm người cha này đau khổ tột cùng, bỏ ăn bỏ ngủ, bỏ làm việc và đi như một người điên, người khùng, đi thẩn thờ, đi như người mất hồn, lơ thơ, lẩn thẩn, đầu bù, tóc rối, không tắm rửa gì và cứ kêu “Con của tôi đâu!”

Giờ đi ra trong nghĩa địa, người cha này khóc lóc tức tưởi, những tiếng kêu bi ai “Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?" Người cha này ôm lấy nấm mộ, sờ từng viên gạch trong nước mắt, trong sự tiếc nuối, sự xót xa.

Hình ảnh này không chỉ riêng người gia chủ này mà đó là hình ảnh của chúng ta. Khi chúng ta đau khổ, khóc vì cha mất, mẹ mất, ông bà mất, những người thân mất, những người bạn bè mất, những người yêu thương, vợ, chồng… Chúng ta cũng vậy.

Minh Thành nhớ hồi đó, lúc ông nội Minh Thành chết, nằm trên giường, các cô bên cạnh quằn quại đau thương. Những dòng nước mắt tuôn trào xuống, sự xót thương, sự ảo não, sự buồn đau, sự đau khổ, sự tan nát tâm can cõi lòng. Hoặc khi bà nội chết, các cô cũng lại đau khổ, các chú khổ đau và Minh Thành cũng với những dòng nước mắt (vì lúc đó Minh Thành nhỏ tuổi, khoảng 14-15 tuổi) Thì những dòng nước mắt tuôn trào xuống, đội ơn nội vì lúc xưa Minh Thành sống với nội nhiều hơn sống với cha mẹ, sống với các cô. Còn nhỏ hung dữ bị các anh các chị đánh nhiều, ngang tàng, hống hách, ngã mạn, cứng đầu, bị đánh mãi rồi chạy về nhà nội. Chứng kiến cảnh nội chết, Minh Thành là người đứng trên xe rồng, vì là cháu nội đích tôn.

Đó là ông nội, bà nội chết, ông bà ngoại mất lúc nào không biết, chỉ được nghe kể lại, không được nhìn mặt. Sau đó Minh Thành phải chứng kiến rất nhiều những người thân thương lần lượt ra đi. Chứng kiến những người Phật tử tới lui chùa chết, hay chứng kiến những người dưng kẻ lạ nhưng mình nhìn thấy trong đó là cha, là mẹ, là anh, là chị, là ông là bà của mình trong nhiều kiếp, theo lời Đức Phật dạy bằng thiên nhãn, thuần tịnh, siêu nhân. Và Minh Thành cũng nhìn thấy những người con của người mất đó đau khổ, giống như mình đau khổ khi mẹ của Minh Thành mất.

Tim gan mình như tan nát, đất trời như sụp đổ. Tất cả đều không còn gì ý nghĩa nữa. Rồi ông bà mình chết, cha mẹ chết, cô chú chết, cho đến vợ chết hay chồng chết, con chết. Ông cụ bán vé số bảy mươi tuổi hôm trước Minh Thành đã chia sẻ cho chúng ta còn một bài nữa sáng tác là một bài hát vì con ông chết, ông hát ở trong nước mắt. Tự ông sáng tác ra bài hát đưa tiễn con ông trong nước mắt, rất xúc động. Ông hát trong nước mắt, trong tức tưởi, trong nghẹn ngào, trong xót xa, trong tan nát trái tim, chỉ có một đứa con một. Ông đại gia có con chết cũng đau khổ như vậy mà người nghèo bán vé số ngoài đầu đường mà đứa con chết cũng đau khổ giống như vậy.

Đau khổ của người đại gia, của người bán vé số, ăn xin, nhặt phế liệu khi con chết, chồng chết, vợ chết, cha chết, mẹ chết cũng giống như vậy, không khác gì nhau hết.

Hình ảnh ông nội, bà nội, mẹ, dì Tư của Minh Thành chết, hình ảnh của các cô bà con chết, hình ảnh những người Phật tử lớn tuổi chết. Hình ảnh Minh Thành đi vào viện dưỡng lão để chứng kiến cảnh đa thương, những cảnh chết chóc, tất cả đều ghi lại rất đậm, ngay giây phút này hiện ra như tập phim, như những tấm ảnh được chụp, rất rõ nét, được cất giữ ở trong tâm này.

Chúng ta phải cất giữ những hình ảnh, những cảm thọ ở trong tâm này, đừng quên. Minh Thành cho mọi người xem video này, lời cảm xúc tận đáy lòng của một ông già nghèo khổ, đứng trên đường để bán từng tờ vé số, khi đứa con duy nhất của ông phải ra đi. Ông đã viết nên tất cả nỗi lòng của mình trong bài này.

Với trí tuệ chúng ta đã được truyền trao trong tạng kinh Nikāya, từ trong Thánh tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta nhìn mọi cái, nghe mọi cái đều phải bằng thiền quán. Không phải đợi tới khi mở bài thiền quán lúc đó mình mới thiền quán, như vậy là học tiểu học, mà chúng ta nhìn mọi thứ, nghe mọi thứ phải bằng thiền quán, nghe bất cứ cái gì, nhìn bất cứ cái gì, tiếp xúc bất cứ cái gì, cảm giác gì sanh khởi, suy nghĩ gì

…40:00- 45:00 Phật tử xem video

Sự thật là như vậy, sầu bi, khổ, ưu não là do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Minh Thành xin mời đại chúng chia sẻ cảm thọ thiền quán trong giây phút này, những cảm thọ trí tuệ sâu sắc, thánh thiện này được khơi gợi, được tăng trưởng, được lan tỏa trong khắp chúng hội Nikāya. Minh Thành bây giờ xót xa lắm, tim nhói đau.

III. Trình pháp

Ni sư … trình pháp:

Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Sáng nay, con nghe bài kinh sư phụ vừa mở và ông cụ hát thì cảm thọ của con như chết lặng. Con thiền quán hình ảnh một đứa con nằm trong quan tài, đó cũng chính là sắc thân của con đã từng bỏ cha, bỏ mẹ của mình ra đi, để cho cha mẹ mình, những người thân yêu của mình, họ phải chết lặng. Những đứa con của con nó nằm trong quan tài, nó bỏ con ra đi, để con ở lại cõi đời này ngẩn ngơ, ngơ ngác, những dòng nước mắt chảy ngược vào tim, thật là đau xót, thật là đớn đau. Đó là tưởng của con.

Còn ý hành của con thì những lời trong bài kinh đã phơi bày sự thật, phiền não, khổ đau, ưu bi, khổ não đều do ái sinh ra. Một bài kinht hật là thấm thía và cũng là lời nhắc nhở cho con đi trọn đời. Bài kinh khắc cốt ghi tâm. Con phải đem bài kinh này thiền quán và chiêm nghiệm, để cố gắng ráng lo tu tập và ý thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành, đó là trong buổi thiền quán của con sáng hôm nay, con xin tri ân sư phụ đã nhắc nhở cho con, con nguyện sẽ cố gắng tu tập, thiền quán mọi lúc mọi nơi, không để tâm buông lung phóng dật.

Con thấy trong bài kinh Đức Phật nói:

Mạng sống bị dắt dẫn,

Tuổi thọ chẳng là bao,

Bị dẫn đến già nua,

Không có nơi dừng bước.

Ai đem tâm quán tưởng,

Sợ hãi tử vong này,

Hãy bỏ mọi thế lợi,

Tâm hướng cầu tịch tịnh.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1 Thiên Có Kệ – Chương Tương Ưng Chư Thiên - Phẩm Cây Lau - Bài kinh Đưa đến đoạn tận)

Con thấy cũng đúng vậy, ngày xưa thì người ta nói một trăm năm cuộc đời, bây giờ thì họ nói là sáu mươi năm cuộc đời, mà con cũng sắp sửa tới rồi. Chính vì vậy mà con phải bước nhanh bước lẹ, nếu không kịp nữa rồi.

Đó là bài thiền quán của con sáng hôm nay, con xin đảnh lễ tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng đã lắng nghe con nói.

IV. Buồn đau sanh khởi là do tham ái

Sư phụ giảng giải:

Ông có đứa con mất này đi đến chỗ Đức Phật, đây gọi là có chuyện thì mới ôm chân Phật, vì bình thường ông không học giáo pháp, ông đi tới với mục đích là có cách nào để cứu giúp được. Ông đến lạy Đức Phật rồi thì Thế Tôn mới nói với ông là: Này gia chủ, sao tôi thấy, có phải ông có các căn để an trú tự tâm ông, có phải các căn của ông đổi khác? Ý nói là mặt mày của ông lem luốc, đầu bù tóc rối. Quần áo của ông dơ bẩn, nước mắt đầm đìa, các căn thay đổi là ý như vậy. Tức là ông đó không còn vẻ trang trọng, lịch thiệp, đẹp đẽ như hằng ngày nữa mà hình dáng của ông khác lạ, nó đổi thay, mặt mày bơ phờ, đầu bù, tóc rối. Nước mắt thì từng hàng, quần áo dơ… vì ông ta ở trong nghĩa trang, ông nằm ôm cái mộ.

Thế Tôn mới hỏi là ông có điều gì biến đổi không, ông có gặp chuyện gì không mà sao vóc dáng của ông thay đổi như vậy?

Ông ấy trả lời là: bạch Thế Tôn, sao các căn của con có thể không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con khả ái đáng thương của con đã mạng chung, làm sao mà con có thể bình tĩnh, tươi cười giống như hằng ngày được? Đứa con yêu dấu nhất, bảo bối, đứa con một của con đã đột ngột ra đi.

Đột ngột có nghĩa là đột tử, đã bị vô thường. Làm sao con có thể bình tĩnh, làm sao con có thể giống như hằng ngày, làm sao con có thể cười nói được? Sau khi đứa con của con chết rồi thì con không muốn làm gì nữa. Con không muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ thì ngủ không được vì nằm xuống thì cứ bị ám ảnh, cứ nhớ, cứ thương, cứ tưởng về hình bóng của đứa con. Nên con mới ra nghĩa địa để than khóc và kêu lên con ơi, con đang ở đâu. Hiện tại là con đang ở đâu?

Lúc đó Đức Thế Tôn nói:

Này gia chủ, sự thật là vậy. Này gia chủ, buồn đau, sầu khổ, lo lắng và sợ hãi là từ nơi sự yêu thương này mà có ra. Sự buồn đau của ông, sự khổ sở của ông, sự than khóc hiện tại của ông, nước mắt đầy mặt của ông, đầu bù, tóc rối, mặt mày bơ phờ, nước mắt đầy mặt, như người không có hồn. Tất cả những cái này nó có là từ nơi lòng yêu thương của ông đó. Từ nơi sự thương yêu, thương con của ông mà nó có ra. Nên chữ ái là yêu thương, còn trong bài này thì chữ ái rất rộng, phạm trù của nó rộng lớn tới Tam giới. Ở đây, trong nghĩa này, mình hiểu chữ ái này là lòng yêu thương con của người cha.

Chữ ái sanh ở đây là yêu thương sanh ra sầu đau và nước mắt. Chúng ta thấy câu này có đủ để mình làm thiền quán trọn đời không?

Ông gia chủ này đáp lại là: Bạch Thế Tôn, nhưng đối với ai thì sự tình như vậy xảy ra. Ý nói như vậy nhưng người gia chủ hỏi lại là đối với ai mà sầu bi, khổ, ưu não? Do ái sanh ra hiện hữu từ nơi ái?

Đức Phật nói câu đó mà ông ấy nghĩ Đức Phật nói với ai, không phải nói với ông ấy. Có giống mình không? Mình đọc kinh của ông mất con chứ không dính dáng gì tới mình. Nếu mình đọc bằng thiền quán thì mình đọc như đọc truyện, mình xem tin tức, báo chí như Thổ Nhĩ Kỳ động đất, xe tông những người kia, đứa nhỏ kia đi tắm rồi bị chết ở sông, hay chơi bị té giếng… Mình thấy những chuyện đó là của ai khác, giống như mình đọc tin tức hay thời sự, mình đọc kinh cũng giống vậy.

Ông này cũng giống với mình. Ông ấy hỏi: Thưa Đức Phật, câu mà Ngài nói sầu bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái là Ngài nói ai? Chúng ta thấy vô minh của chúng sanh nặng nề không? Tăm tối bao trùm không? Sự si mê, hắc ám này phủ kín hết. Mình không học kinh Nikāya thì mình cũng sẽ giống vậy. Lúc trước mình nghe hay đọc tin tức có phải là mình đọc tin tức, thời sự thôi phải không? Không dính dáng gì tới mình. Khi nào xe tông vô trúng mình thì lúc đó mới có chuyện để nói, còn trúng người ta thì không có gì. Đó là tâm vô minh, vô cảm, không cảm nhận được sự thật.

Ông ấy hỏi: nhưng đối với ai bạch Thế Tôn, sự tình như vậy xảy ra? Nói câu đó là để nói cho ai? Sầu bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái, buồn đau, khổ sầu. Sự đau khổ có mặt là từ nơi yêu thương.

Vì rằng bạch Thế Tôn, hỷ lạc sanh ra hiện hữu từ nơi ái, ông ấy nói lại với Đức Phật, yêu thương là hạnh phúc, yêu thương là vui sướng, Ngài nói với ai vậy? Ngài nói với ai là sầu bi, khổ, ưu não vậy? Yêu thương là hạnh phúc, là ngọt ngào, sung sướng? Tức là ông này cãi lại Đức Phật, rồi ông ấy bỏ đi.

Rồi người gia chủ, không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

(Kinh Ái Sanh – Trung Bộ Kinh)

Chúng ta thấy Đức Phật còn bị cãi, còn bị chống đối thì chúng ta bây giờ có là gì. Đức Phật nói là ông gia chủ cãi lại: Ai mà yêu thương là sầu khổ đâu? Tôi thấy yêu thương là sung sướng mà? Tôi thấy yêu thương là hạnh phúc, ngọt ngào, là khoan khoái, thích thú mà? Ngài nói yêu thương là khổ là Ngài nói ai vậy? Ông gia chủ chống đối lại, chống báng lại rồi đi, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Chúng ta thấy bài kinh này được dựng thành bộ phim hoạt hình, đóng thành bộ phim được. Nhưng những người làm phim về Phật giáo, về Đức Phật thì họ không làm về những bài này, ai có duyên, có khả năng, có điều kiện thì nên làm bài kinh này thành phim. Ngắn thôi, ba mươi phút thôi, để giáo dục rất lớn, thức tỉnh cho chúng sanh rất nhiều.

Như ông ấy hỏi là: Ngài nói cái gì vậy Ngài Gotama? Tại sao yêu thương lại khổ sầu, lại buồn đau? Tôi thấy yêu thương là hạnh phúc, là sung sướng mà? Ngài nói sai rồi! Ông này là hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Và người gia chủ này không chấp nhận, không hoan hỷ với lời dạy của Thế Tôn, chống báng lại, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Vậy nên chúng ta nhớ khi chia sẻ pháp thì phải tùy người, không phải ai cũng nói ngũ uẩn, tứ đột (đột ngột, đột quỵ, đột biến, đột tử) thì không nên. Lúc xưa thì còn chống báng bỏ đi còn bây giờ thì có thể nghiêm trọng hơn. Đừng nên gặp ai cũng thuyết pháp Nikāya.

Chúng ta thấy khi mình đọc kinh thì đọc hay lắm, mình đọc bằng thiền quán, đọc chầm chậm, mình thấm thấm, ngẫm ngẫm ra. Mình đọc kinh giống như mình xem một bộ phim rất gây cấn, hấp dẫn, mình không rời mắt được một chút nào, tâm mình không rời được chút nào. Mình thấm thía như vậy.

Minh Thành đọc kinh cho các Ngài nghe, các Ngài có chịu không? Hoan hỷ không? Vì Minh Thành học không giỏi nên đọc kinh rất chậm, Minh Thành đọc tới đọc lui, đọc qua đọc lại, nghe tới nghe lui, nghe qua, nghe lại rồi nghiền ngẫm, lâu lâu mới hiểu thêm một chút rồi lại hiểu thêm được một chút nữa. Vì Minh Thành học chậm, tu chậm, tu không giỏi nên Minh Thành phải làm chậm, làm kĩ. Còn các vị tu giỏi chỉ cần đọc lướt qua là xem như đã học xong bài kinh đó rồi.

Những bài kinh như vậy thì chúng ta nên đọc hàng trăm lần, hàng ngàn lần, khắc ghi vào trong tâm không bao giờ quên.

Tiếp theo, người gia chủ chống báng (chống đối và phỉ báng, chê bai) Trong kinh đã nói rất hàm xúc, rất cô đọng, hiểu ra lúc đó như thế nào rồi ông ấy cự cãi lại rồi ông ấy bỏ đi.

Ông ấy đi tới một sòng bạc, lúc bấy giờ có một nhóm người chơi đánh bài, chơi đổ nhất lục (xí ngầu hay bầu cua cá cọp) … Không xa Thế Tôn bao nhiêu, tức là gần bên Đức Phật mà đánh bài. Vậy ở gần chùa mọi người có đánh bài không? Có karaoke không? Có quán nhậu không? Giờ người ta bày bán đồ nhậu ở trước đường vô chùa?

Người gia chú đi vào chỗ sòng bài, ông ấy kể lại: Tôi mới tới Sa-môn Gotama, sau khi tới, tôi làm lễ đàng hoàng xuống thì Sa-môn Gotama nói với tôi. Rồi ông ấy kể lại câu chuyện tại sao mặt mày lem luốc, đầu bù tóc rối thì kể lại là do con ông ta vừa chết. Đứa con một của tôi vừa chết, rồi kể lại đi vào nghĩa địa khóc than thì Ngài Gotama nói với tôi là sự thật yêu thương là sanh ra khổ đau, buồn đau, sanh ra nước mắt, sầu bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Ngài nói với tôi như vậy, sự thật, chân lý là yêu thương, là sanh ra khổ sầu, sanh ra đau buồn, nước mắt. Tôi mới hỏi lại là Ngài nói với ai vậy, tôi không đồng ý, không chấp nhận với lời nói đó, tôi chống báng lại, chống đối lại, phỉ báng rồi tôi bỏ đi. Tại sao nói yêu thương lại sanh ra buồn đau, khổ sầu? Tôi không đồng ý như vậy.

Những người đánh bạc lại nói đúng rồi, Gotama nói sai rồi, yêu thương tại sao lại khổ sầu? Yêu thương phải là ngọt ngào, hạnh phúc mới đúng. Ông thầy tu đó nói sai rồi. Yêu thương là hạnh phúc, sung sướng là hạnh phúc, là ngọt ngào mới đúng chứ! Ông thầy tu đó nói sai rồi.

Như vậy ông gia chủ thấy mấy ông đánh bạc này nói hợp ý mình, đúng ý mình, có sự đồng ý giữa ta và những người đánh bạc.

Câu chuyện này đồn, truyền cho tới cung vua. Chúng ta biết Đức Thế Tôn, Đức Phật được rất nhiều người tôn kính, quý trọng nên có những sự kiện quan trọng như vậy nên đương nhiên người ta sẽ nói ra rất nhiều. Câu chuyện này tới tai nội cung, truyền tới cung vua. Lúc bấy giờ vua Ba-tư-nặc gọi hoàng hậu Mạc lợi phu nhân là Marika, vì hoàng hậu quy y với Đức Phật, là đệ tử của Đức Phật nên nhà vua nghe câu chuyện này rồi kêu hoàng hậu ra xem sư phụ nói gì:

Này ra đây, xem sư phụ nói gì. Này Mallika, đây là lời nói của Sa-môn Gotama, sầu bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Nghe thầy của bà ấy nói yêu thương là đau khổ, thầy của bà nói đó, sư phụ của bà nói đó. Phu nhân ra đây, hoàng hậu ra đây, hậu ra đây, tôi nói cho hậu nghe, Sa-môn Gotama là sư phụ của hậu, là bậc đạo sư, là thầy của hậu, bây giờ Ngài nói yêu thương sanh ra buồn đau, khổ sầu thì giờ nàng tính làm sao? Thầy của bà nói đó.

Hoàng hậu Mallika mới trả rời rằng: Nếu Thế Tôn đã dạy như vậy thì sự việc là như vậy.

Chúng ta thấy người thành tựu Chánh tri kiến, tịnh tính bất động đối với Tam Bảo, nói câu gì ra là như đinh đóng cột: Thưa đại vương, nếu Thế Tôn đã dạy như vậy thì sự việc là như vậy, không thể khác được. Bậc tôn quý nhất ở trên đời đã nói như vậy thì phải là như vậy, không thể khác.

Các vị xuất gia trong đạo tràng nên nhớ kĩ câu này, Thế Tôn nói như vậy thì là như vậy, không thể khác. Đó là câu nói của người đạt được tịnh tín bất động đối với Đức Phật. Đó là bậc Nhập lưu. Một vị đã nhập lưu rồi, thành tựu Chánh kiến rồi thì tin tuyệt đối với Đức Phật.

Này hoàng hậu, điều gì Sa-môn Gotama nói là bà cũng nói theo, điều gì thầy nói sao thì bà cũng nói theo vậy. Vì bà đã quá hoan hỷ với sư phụ của bà rồi đúng không? Vị đạo sư nói gì thì đệ tử cũng phải hoan hỷ, không phải là nói theo, sự thật là vậy, thưa đạo sư sự thật là vậy. Tức là nhà vua lặp lại những câu nói mà ông thầy nói, thầy nói là trời vỗ tay, ý nói là thầy nói cái gì ra thì cái đó cũng là đúng, là phải, là hay.

Cũng vậy, này Mallika, điều gì Sa-môn Gotama nói hoàng hậu quá hoan hỷ với Sa-môn Gotama nên đã nói nếu Thế Tôn đã nói như vậy, tin vào sự việc như vậy. Hãy đi đi Mallika, hãy đi đi.

Chúng ta thấy hoàng hậu Mạc-lợi trí tuệ lắm, bậc đã đạt được tịnh tín bất đông, chúng ta thấy cách giải quyết của hoàng hậu thì mình tâm phục, khẩu phục, bái phục, mình phải học cách này. Hoàng hậu Mallika gọi một Bà-la-môn, tên là Najianga và nói rằng ông ấy đến chỗ Đức Thế Tôn, lạy dưới chân của Đức Phật, hỏi thăm giúp ta là Ngài có ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe không? Trí lực có sung mãn lạc trú không? Sau khi ông lạy Phật xong rồi ông hỏi thăm sức khỏe của Ngài xong rồi thì ông thưa dùm hoàng hậu Mallika cúi đầu lạy dưới chân của Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã nói sầu bi, khổ, ưu não là do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

Ý là xác nhận lại câu nói, có phải Đức Thế Tôn nói rằng yêu thương là sầu đau, là buồn khổ. Sự sầu đau, sự buồn khổ có phải là từ sự yêu thương không? Có phải Đức Thế Tôn nói như vậy không? Nếu Thế Tôn trả lời như thế nào thì ông hãy khéo nắm giữ và về thuậnt lại cho ta, vì các Như Lai không nói trái ngược với sự thật, vì các Như Lai không nói phản lại sự thật, phản lại tức trái ngược.

Vị Ba-la-môn này vâng lời dạy và làm như vậy. Đức Phật mới xác nhận đúng là vậy: Thật sự là vậy, sầu bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Buồn đau, khổ sầu có ra từ nơi sự yêu thương.

Nhưng chữ yêu thương này khác với lúc chúng ta trải tâm thương rộng lớn. Cần phân biệt kĩ vì khác nhau. Tâm từ mà chúng ta tu tập tâm thương rộng lớn với tâm thương này khác nhau, tâm từ đó. Đây là đang nói về ái.

Tiếp theo Đức Thế Tôn trả lời cho người Bà-la-môn: Đây là một pháp môn do pháp môn này cần được hiểu là sầu bi, khổ, ưu não. Tức là buồn đau, sầu khổ do yêu thương mà có ra, sở dĩ nó có mặt là từ nơi sự yêu thương. Sau đó Đức Phật kể lại, thuở xưa, ở trong thành Xavathi này có một bà mẹ của một người đàn bà mạng chung, tức là có một người kia có mẹ bị chết, từ khi mẹ mất, cô này điên cuồng vì ngày đêm thương nhớ quá nên cô này bị ảnh hưởng thần kinh, bị bệnh tâm thần, tâm tư hỗn loạn, phát điên cuồng. Cô này đi từ chỗ này qua chỗ kia, đi lang thang từ đường này qua đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác và nói “Có ai thấy được mẹ tôi không?”

Người con gái mất mẹ này, cô này quá thương nhớ, quá đau buồn nên bị ảnh hưởng thần kinh, cô ấy bị phát cuồng, điên loạn, đi đường gặp ai cũng hỏi “Có ai thấy mẹ tôi ở đâu không?”

Đức Phật nói:

– Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Này Bà-la-môn, đây là một pháp môn, do pháp môn này, cần phải được hiểu là sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.

(Kinh Ái Sanh – Trung Bộ Kinh)

Ý nói, này Bà-la-môn, đây là lý do, đây là pháp môn cần phải được hiểu từ yêu thương mà có ra buồn đau, sầu khổ.

Ý nói buồn đau, khổ sầu là từ nơi lòng yêu thương. Buồn đau, sầu khổ có ra từ lòng yêu thương. Nước mắt, tang thương, điên loạn, những thứ này có ra từ lòng yêu thương sâu nặng. Thật sự câu này Minh Thành đọc lên thì trong tim nhói lên, thấm, ngấm vào trong tim, không còn ngoài da, ngoài thịt mà nó đi vào trong tâm, tủy. Cái mình yêu thương nhất chính cái đó làm mình đau khổ nhất.

Khi nãy là cha mất con, bây giờ là con mất mẹ, Đức Phật đưa ra những thực trạng ngay trong đời sống. Giống như chúng ta học Nikāya bây giờ mà ứng dụng theo Đức Phật, những sự kiện đang xảy ra hằng ngày trong đời sống. Đức Phật lấy đó để diễn bài tâm lý tối thượng. Nên ngày nay chúng ta học, lấy những sự kiện thực tế trong đời sống mình để thiền quán, giải thích là chúng ta học từ bài kinh này, học theo cách của Đức Phật.

Ngài không nói gì xa, không kể chuyện bao nhiêu đời kiếp trước mà Ngài nói chuyện ngay trước mắt, ngay tại thành phố Xavathi này. Một người con gái mất mẹ, người này quá thương nhớ, đau khổ và người này trở nên điên loạn. Người này đi lang thang từ ngã tư này đến ngã tư khác, từ đầu đường này đến đầu đường nọ, gặp ai cũng hỏi người ta có thấy mẹ tôi đâu không. Nên do vậy, hãy hiểu rằng yêu thương và cội nguồn của buồn đau, sầu khổ, nước mắt, là điên loạn.

Ngay ở trong thành phố Xavathi này, trước kia, này Bà-la-môn, có một cô này mất cha, cha cô chết, anh, chị, người con trai, người con gái, người chồng của người đó bị chết. Như Minh Thành nói một cậu thanh niên chết mà trong gia đình hai mươi người cùng chết, có người kia mười lăm người cùng chết. Hay ở thành phố chúng ta lúc covid thì có những đứa trẻ năm người trong nhà cùng chết, còn mình đứa trẻ chỉ mới năm, bảy tuổi.

Những người này phát điên cuồng, tâm tư hỗn loạn, đi từ đường này qua đường khác, đi từ ngã tư này qua ngã tư khác. “Có ai thấy chồng tôi đâu không?”, “Có ai thấy em trai tôi đâu không?”, “Có ai thấy em gái tôi đâu không?” Gặp người ta, nắm lấy vai người ta rồi lại hỏi “Cha tôi đâu, mẹ tôi đâu có thấy không? Con tôi đâu có thấy không? Có ai thấy không? Bây giờ đang ở đâu, chồng tôi đâu?”

Bài kinh này rất thâm sâu, rất gần gũi thực tế cho đến nỗi tất cả chúng sanh không nhìn thấy. Nó cực kì thâm sâu mà hết sức gần gũi thực tế mà chúng sanh vì vô minh, vì tham ái, vì si mê nên không nhìn thấy được một sự thật yêu thương, sâu nặng, là nguồn cội của buồn đau, khổ sầu, nước mắt thảm thương và điên loạn.

Chúng ta có nhìn thấy những việc như: ghen với nhau là tạt a-xit với nhau, lột đồ đánh ở ngoài đường, bứt tóc, cạo đầu. Vì ghen tuông, vì yêu thương đó mà có thể đưa nhau vào trong tù tội, tai họa, chết chóc, thậm chí phải mang những án tử hình cũng chịu nữa, cũng cam tâm, cũng phải chịu suốt cuộc đời mà sống trong hối hận, đau khổ và chung thân trong nhà tù cũng chịu. Từ yêu thương sanh ra sân hận, từ yêu thương đó sanh ra sự chiếm hữu, từ yêu thương đó sanh ra sự ích kỷ, sự thâm độc, ác độc, sự giết hại. Thật sự chỉ có Thánh trí tuệ Nikāya mới lột tả hết tất cả sự thật, phơi bày hết tất cả những mật mã khổ đau ở trên thế giới này, trong đời sống này, trong thân tâm này.

V. Chín pháp lấy ái làm gốc

Như bài kinh Ái trong Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn:

1. - Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc?

1. Do duyên ái nên cầu tìm.

2. Do duyên cầu tìm nên có được.

3. Do duyên có được nên có quyết định.

4. Do duyên quyết định nên có dục tham.

5. Do duyên dục tham nên đắm trước.

6. Do duyên đắm trước nên có chấp trước.

7. Do duyên chấp trước nên có xan tham.

8. Do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Chín Pháp - Phẩm Chỗ Cư Trú Các Hữu Hình – Bài kinh Ái)

Vì mình yêu thích nên mình mới đi tìm, khi tìm được rồi thì có được, khi có được thì trong tâm xác quyết đây là của mình, của tôi, món đồ đó, con người đó, căn nhà đó, mảnh đất đó, khi quyết định trong tâm rồi thì dục tham. Khi đã dục tham rồi thì sẽ đắm trước trong đó, chìm đắm, say mê, nắm giữ, nắm chặt, chiếm hữu trong đó. Cho đó là mình là của mình, không ai được đụng tới hết. Sau đó là sang tham, là keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chia cái đó cho ai, chỉ của riêng mình. Mình bắt đầu giữ gìn, cầm gậy, cầm kiếm, khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh.

Nếu đụng tới nhà, đất, tiền, người yêu thương, vợ chồng của tôi là khẩu tranh, đấu tranh, chiến tranh, là ly gián ngữ, vọng ngữ. Rất nhiều ác và bất thiện pháp khởi lên cũng đồng nghĩa với sầu bi, khổ, ưu não, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nước mắt khởi lên, máu đổ ra, những sinh mạng chết chóc.

Tất cả chín pháp đó đều lấy ái làm cội gốc. Chúng ta thấy đây là Thánh trí huệ tối tôn, tối thượng của bậc đại đạo sư, nhìn thấu hết tất cả tam thiên, đại thiên thế giới này, tất cả chúng sanh, đời sống, ngũ uẩn, thế giới đều lấy ái ra làm pháp, đều đau khổ, buồn đau, khổ sầu, nước mắt, tai họa, đấu khẩu, đấu tranh, cạnh tranh, chiến tranh, giết chóc tất cả với nhau từ nơi một chữ ái.

Chúng ta thấy tầm vóc, Thánh trí tuệ mà Đức Phật phát hiện ra là không có một người thứ hai trên cuộc đời này có thể nhìn thấy được bản chất. Khi nãy Minh Thành đưa ra hình ảnh cạo đầu, bứt tóc, lột đồ, tạt a-xít, đấm đá, giết với nhau, đầu độc với nhau bằng thuốc độc, đâm với nhau, chém với nhau, chặt với nhau.

Này Bà-la-môn, tại thành này, có một cậu có mẹ chết, cậu cũng điên loạn như vậy. Cha bị chết cũng bị điên loạn như vậy. Một người phụ nữ đi về thăm gia đình bà con, nhưng những người bà con này dùng sức mạnh của họ bắt ép người phụ nữ này bỏ chồng để lấy người đàn ông khác, đem gả cho một người đàn ông khác, có thể vì lợi lộc. Nhưng người phụ nữ này không chịu, người phụ nữ này mới nói với chồng mình: Giờ những người bà con này muốn bắt gả cho người khác, bắt phải xa người chồng, nhưng người phụ nữ không muốn xa chồng.

Hai người bàn với nhau, ông chồng này giết người vợ này chết để hai người không xa. Ông ta dùng cách rất khủng khiếp là chặt đầu của người vợ, sau đó ông ta tự vẫn chết và nghĩ rằng hai chúng ta sẽ gặp lại nhau ở trong đời sau. Đây là chính Đức Phật kể, là những sự kiện có thật trong thời Đức Phật đã diễn ra, hai người vợ chồng này quyên sinh, tự vẫn để được đời sau ở bên nhau.

Này Bà-la-môn, do pháp môn này cần phải được hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái

Rồi Bà-la-môn Nalijangha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến hoàng hậu Mallika, sau khi đến, kể lại cho hoàng hậu Mallika toàn thể cuộc đàm thoại với Thế Tôn. Rồi hoàng hậu Mallika đi đến vua Pasenadi nước Kosala, và thưa.

Hoàng hậu không kể hết câu chuyện như khi nãy Đức Phật nói mà hoàng hậu rất trí tuệ là: Đại Vương có thương công chúa, con của đại vương không? Đại Vương trả lời là Ngài có thương công chúa. Hoàng hậu hỏi tiếp Đại Vương nhghĩ thế nào nếu có một sự biến dịch, đổi khác, nếu có tai nạn xảy đến với công chúa, thì Đại Vương có buồn đau khổ sầu không? Đại Vương trả lời là làm sao Ngài ấy không buồn đau khổ sầu được, con gái cưng của ta và nàng mà. Ta rất thương ta rất yêu công chúa.

Đó là câu hỏi thứ nhất về con gái, đến câu hỏi thứ hai là: Đại Vương nghĩ thế nào mà nữ Sát-đế-lị bị thương, nếu có chuyện gì xảy ra với hoàng phi, thứ phi thì Đại Vương có buồn đau, khổ sầu không? Làm sao ta không buồn đau, khổ sầu được? Ta rất thương ái phi, hoàng phi.

Tâu đại vương, chính liên hệ đến sự tình này mà Thế Tôn, bậc phi giả, kiến giả, bậc A-la-hán đã thấy biết tận cùng, thấu suốt tất cả, bậc đã giác ngộ hoàn toàn nói rằng: Buồn đau sầu khổ khởi lên là từ nơi yêu thương mà có ra. Tất cả buồn đau sầu khổ này có mặt là từ nơi yêu thương mà có.

Vì Ngài yêu thương công chúa nên nếu công chúa có tai nạn, có chết chóc thì Ngài sẽ khổ đau, vì Ngài yêu thương hoàng hậu, hoàng phi, nếu có chuyện gì xảy ra đột ngột, bất ngờ, tai họa, tai nạn, chết chóc thì Ngài sẽ sầu bi, khổ, ưu não, Ngài sẽ buồn đau.

Dẫn chứng tiếp theo là tướng quân, những vị hộ vệ cho Nhà Vua, những người tri âm, tri kỷ, hộ vệ, bảo vệ thì Nhà Vua cũng trả lời là cũng buồn đau, khổ nếu tướng quân có chuyện gì xảy ra, ta cũng rất đau khổ.

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu thương thiếp không?

– Phải, này Mallika, ta có thương yêu Hoàng hậu.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho thiếp, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho Hoàng hậu, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu thương dân chúng Kasi và Kosala không?

– Phải, này Mallika, ta thương yêu dân chúng Kasi và Kosala. Này Mallika, nhờ sức mạnh của họ, chúng ta mới có được gỗ chiên-đàn từ nước Kasi và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp.

– Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho dân chúng Kasi và Kosala, Đại vương có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Này Mallika, nếu có một sự biến dịch đổi khác xảy đến cho dân chúng nước Kasi và Kosala, thì sẽ có một sự đổi khác xảy đến cho mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?

– Chính liên hệ đến sự tình này, tâu Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái".

– Thật vi diệu thay, này Mallika! Thật hy hữu thay, này Mallika! Thế Tôn đã thể nhập nhờ trí tuệ, đã thấy nhờ trí tuệ. Đến đây, Mallika, hãy sửa soạn tẩy trần. Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái Thế Tôn và nói lên ba lần lời cảm hứng sau đây: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn... (như trên) ... Đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác".

(Kinh Ái Sanh – Trung Bộ Kinh)

Sửa soạn tẩy trần là Nhà Vua phải tắm gội sạch sẽ, đắp thượng y, mặc áo trang trọng nhất. Lời cảm hứng “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!” có nghĩa là con xin dập đầu cúi lạy dưới chân bậc tôn kính nhất trên đời, bậc đã sạch hết tất cả những tham, sân, si, đạt được nội tâm hoàn toàn thanh tịnh. Bậc đã thấy cùng tột chân lý sự thật cùng khắp của thế gian. Con xin dập đầu cúi lạy. Câu mình đọc có ý nghĩa là vậy.

Con xin dập đầu cúi lạy dưới chân bậc tôn quý nhất ở trên đời, bậc đã đạt được một nội tâm hoàn toàn trong sạch, bậc đã thấy biết, thấu suốt cùng tột tất cả sự thật nhân sinh vũ trụ và thế giới. Con xin dập đầu cúi lạy dưới chân Ngài.

Đó là ý nghĩa của câu “Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!”

Bài kinh này chúng ta thấm được nhiều không? Nên chiêm nghiệm thật nhiều, buồn đau, khổ sầu có ra từ nơi yêu thương ở trong si mê, hạnh phúc và an lạc có ra từ nơi sự yêu thương bằng trí tuệ rộng lớn. Đó là sự khác biệt giữ ái và từ, tham ái và từ bi.

Chúng ta trải tâm từ:

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.