Làm Sao Đoạn Tận Tham Sân Si Bát Thánh Đạo Tối Thượng Thừa
Làm Sao Đoạn Tận Tham Sân Si
Bát Thánh Đạo Tối Thượng Thừa
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoạn tận tham – sân – si, Niết-bàn PAGEREF _Toc113518715 \h 1
II. Bát Chánh Đạo PAGEREF _Toc113518716 \h 6
I. Đoạn tận tham – sân – si, Niết-bàn
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Chúng ta đang nghe về Tương Ưng Jambukhàdaka để chúng ta có một niềm tin vững chắc trong sự tu học, để mình đừng tu trong ảo tưởng.
Đầu tiên là bài kinh câu hỏi về Niết-bàn, kế đến là bài kinh câu hỏi về A-la-hán, câu hỏi về vị thuyết pháp.
Bài kinh Câu hỏi về Nibbàna (Niết-bàn):
“1) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.
2) Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta”
Tương ưng tên là Jambukhàdaka là tên của người du sĩ này, du si là một người tu thường đi chỗ này chỗ kia, vân du đây đó nên gọi là du sĩ. Những người này không phải tu theo Phật giáo mà tu đạo khác.
“Sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.”
“3) Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:
-- "Niết-bàn, Niết-bàn", này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.”
Ý nói đoạn tận là dứt hết tham, dứt hết giận, dứt hết tâm mê mệt, ngu si, si mê, đó gọi là Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt, sự chấm dứt mà chúng ta hay nói là “khổ tập diệt đạo”, như thường hay nói về khổ và phương pháp diệt khổ thì đó là Khổ Thánh Đế. Còn chữ diệt ở đây là diệt tận, diệt hết, giết sạch, diệt trừ tham, sân, si. Nên người du sĩ đó hỏi thì Ngài Xá-lợi-phất ý nói: đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
“4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.”
(Bài kinh Nibbàna, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
Như vậy, con đường, phương pháp, đạo lộ, cách thức để diệt tận hết tất cả tham, sân, si là con đường Bát Chánh Đạo: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Và Tám Đúng: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng.
Tiếp theo là câu hỏi về A-la-hán:
“1-2) ...
3) -- "A-la-hán, A-la-hán", này Hiền giả Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là A-lahán?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là A-la-hán.
4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định... Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.”
(Bài kinh ALaHán, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
“1-2) ...
3)
– Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời?”
Ý câu hỏi là ai là những giảng sư, ai là những pháp sư, những vị thầy giảng dạy đúng Chánh pháp.
“– Những ai là những vị khéo thực hành ở đời?”
Ý câu hỏi là ai là những hành giả khéo léo, ai là những người tu hành chân chánh? Ai là những người thực hành đúng pháp?
“– Những ai là những vị khéo đến ở đời?”
Ý câu hỏi là vị nào khéo đi đến nơi đến chốn.
“4) -- Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.”
Người nào nói cho người ấy đoạn tận tham, sân, si thì người đó mới là người Đức Phật công nhận vị đó là vị thuyết pháp. Một người mà nói cho người ta càng ngày càng tham thêm thì người đó có được gọi là vị thuyết pháp của Đức Phật không? Qua đó chúng ta thấy được chuẩn tắt của tu hành.
Một người nói cho người ta giận lên, hay người ta giận ít mà mình nói cho người ta giận nhiều thì người có có phải là người thuyết pháp không? Mà mình có giống với người đó không? Ví như chồng mình đang bực bội về, nhưng gặp mình thì nói cho bực thêm nữa. Vậy có không? Hay bạn đạo đang sân, đang có chuyện mà gặp mình thì mình nói cho người ta bớt sân, giảm sân, hết sân hay là mình nói một lúc thì sân của người ta to thêm?
“5) Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị khéo thực hành ở đời.”
Đó là những vị khéo tu hành, khéo thực hành, khéo làm, làm như vậy mới là khéo nhất trong tất cả cái khéo là làm cho bớt tham, sân, si, làm cho hết tham, sân, si, hết ta, hết tôi, hết giành giựt, hết hơn thua, hết đấu đá, hết thị phi, hết nhân ngã, hết đúng sai, hết cao thấp. Đó gọi là khéo thực hành ở trên đời.
Khéo nói, khéo làm. Khéo nói để bớt được tham, sân, si, diệt tham, sân, si, đoạn tham, sân, si. Khéo làm để bớt tham, sân, si; giảm tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si.
Như giờ này si đang xâm chiếm thân tâm, xâm chiếm mắt, mà mình nói ra sao để người đó hết buồn ngủ thì như vậy là khéo nói. Còn mình nói một lúc mà ru cho họ ngủ luôn thì đó là không khéo nói.
“6) Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời.”
Đó gọi là
“Thiện lai, thiện lai, thiện lai
Lành thay, lành thay, lành thay.”
Nên nhớ câu: Những ai đoạn tận tham, sân, si, cắt đứt mọi gốc rễ, làm cho nó giống như đang chặt cây dừa, chặt cây cao, chặt cây ta-la, không cho mọc trở lại được nữa, không thể sanh khởi trở lại trong tương lai được nữa, thì những vị đó là những vị khéo đến ở cuộc đời này.
Như vậy, chúng ta thấy nãy giờ bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu câu trả lời đều nhắm vào tham, sân, si. Đây là Thánh trí về tham, sân, si. Nhưng trước kia chúng ta chưa học nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý, chưa biết quán chiếu các cảm thọ, chúng ta nói tham, sân, si nhưng có biết được bộ mặt thật của nó không? Mình có vạch mặt, chạm mặt được tham, sân, si không? Hay thậm chí là nắm được mũi của nó?
II. Bát Chánh Đạo
Bây giờ thì mình mới bắt đầu thấy ba cảm thọ, thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, đốt cháy của nó. Thấy được sự nhận chìm của nó qua cảm thọ lạc trong tham, thấy được sự bừng bốc, thiêu đốt, đốt cháy qua cảm thọ khổ của sân, thấy được sự đơ đơ, lơ mơ, lờ mờ của cảm thọ không khổ không vui, qua cảm thọ si, cũng như là những cảm thọ bản ngã hơn thua.
“7) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?
-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
8) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy
-- Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
9) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
Thật là vừa đủ, này Hiền giả Sàriputta, để không phóng dật.”
(Bài kinh Vị Thuyết Pháp, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
Vị này đã khen ngợi Ngài Xá-lợi-phất, khen ngợi đạo lộ Thế Tôn đã dạy, Ngài Xá-lợi-phất đã truyền trao, con đường này thật là hiền thiện. Con đường Tám Đúng, Bát Chánh Đạo, Tám Ngành đó thật là hiền lành, tốt lành, hiền thiện. Đạo lộ này là đạo lộ hiền thiện, đưa đến dứt hết tham, sân, si, thật là vừa đủ để không buông lung phóng dật.
Chúng ta phải ý thức được sâu sắc Bát Chánh Đạo là một con đường rất hiền lành, thiện lành, tốt đẹp, thù thắng, vi diệu, tối thượng, tuyệt vời, màu nhiệm, tối cao, thần diệu, thánh diệu, thiêng liêng, vi diệu, tối thượng thừa, không có gì hơn. Chúng ta phải thường thường nhắc tâm, thường thường tác ý, thường quán chiếu, suy tư, chiêm nghiệm, khen ngợi, lễ lạy, quy kính đối với Bát Chánh Đạo.
Tác ý, làm cho mình sanh khởi lên sự thích thú, hoan hỷ, phấn khởi, vui sướng, hạnh phúc về Bát Chánh Đạo. Con đường này thật sự là con đường hiền thiện, tối thượng, vi diệu, màu nhiệm. Nên thường xuyên quán chiếu, thấy như vậy, quán như vậy, chiêm nghiệm, tư duy như vậy, cảm thọ như vậy, suy nghĩ như vậy, để chúng ta mới thấy được hạnh phúc khi đi trên con đường này.
Trong bài Vô thượng Phật đạo của chúng ta có những câu rất thần diệu, để chúng ta tác ý, lấy hùng khí của vô thượng Phật đạo để nó đánh tan những con ma si ám đang xâm chiếm trong chùa. Nhìn xuống thấy như ma nhập, hai mắt mở không ra, giờ mình cho Phật đạo vô thường đánh ma cho nó chạy hết.
Giờ chúng ta niệm theo:
“Ngài đi trước trên đường Tám Chánh
Theo dấu chân các Đức Như Lai
Con bước sau theo dấu chân Ngài
Lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc.
Ngài đi trước trên đường Tám Chánh
Theo dấu chân các Đức Như Lai
Nay chúng con theo dấu chân Ngài,
Nguyện tu tập trên đường Tám Chánh
Lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc.”
Trong bài Vô thượng Phật đạo này là một sự kết tinh tinh hoa, cốt tủy của cả đại tạng. Minh Thành chưa dám giảng giải về Bát Chánh Đạo, từ trước đến nay chúng ta chỉ mới học về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, chỉ mới ba phần đầu. Những câu này là hột xoàn, kim cương, cốt tủy thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, tức là Chánh tri kiến.
“Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân” là Chánh tư duy, “Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm” là Chánh ngữ, “Làm việc lành không sát, trộm, dâm” là chánh kiến, “Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh” là chánh đạo, “Siêng hành trì chế đoạn tu trì” là chánh tinh tấn, “Quán xét nhìn thân thọ tâm pháp” là chánh niệm, “Định tâm tuần tự theo bốn thiền” là chánh định.
Trên là chúng ta đọc một đoạn trích trong kinh Tương Ưng tập một, thế nào là tám điều chân chánh mà một người tu cần phải biết, cần phải tu tập, thực hành thì mới được gọi là một người chân tu, chúng ta muốn đoạn tham, sân, si thì chúng ta phải tu Tám Đúng.
Vậy tu Tám Đúng là tu như thế nào? Người tu chân chánh nào cũng cần có sự thấy biết đúng, thấy biết rõ ràng, thấy biết chân chánh về thân tâm, về thế giới. Vị này cần thấy biết rõ những sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang hoạt động thế nào trong thân tâm, chúng đang áp bức, khống chế thân tâm như thế nào. Vị này cần thấy rõ những cặn bã, rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc đang có mặt trong ngũ uẩn, trong tự thân, như vậy, người tu chân chánh nào cũng cần phải có, thấy đúng chánh tri kiến.
Chúng ta thấy sáng nay, các bạn trẻ hay các vị lớn tuổi trình bày những sự không thấy, không biết của mình làm cho cha mẹ buồn lo hay những sự bất hiếu, chưa hiếu thảo của mình. Chúng ta trình bày trong nước mắt, trong cảm xúc dạt dào, khi chúng ta thấy được, biết được thì có phải chúng ta đang đi trên đạo lộ chánh tri kiến không?
Lúc trước mình chưa thấy nhưng giờ mình thấy được những tâm cấu nhiễm, những cặn bã, rác bẩn, cấu uế, cặn bã đang có mặt trong thân tâm của mình mà trước nay mình không thấy. Chúng ta đi vào cửa thấy đúng chánh tri kiến, chúng ta nhận diện ra được những cái mà trước nay không thấy, không biết, không hề phát giác, phát hiện ra. Giờ mình thấy, mình biết, mình phát giác, phát hiện ra những rác bẩn, những cấu uế, những lậu hoặc, những cặn bã đang có mặt trong thân tâm của chúng ta. Thấy như vậy gọi là thấy đúng, thấy như vậy gọi là chánh kiến, thấy như vậy gọi là chính xác, chân xác, chân chánh về thân tâm của mình. Sự thấy như vậy có cần thiết, có quan trọng không? Có cần tu tập sự thấy này không? Đó là một thấy đúng của người chân tu.
Chúng ta bắt đầu thấy được tâm tham của mình chưa? Tâm dục ái ban đầu của mình đã thấy chưa? “Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân” như chúng ta trình bày trong nước mắt, trong những cảm xúc dạt dào, chúng ta nói rằng không ngờ tâm của mình là một con quái vật và chúng ta có được con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không nhìn ra được những yêu quái, chính là những ý nghĩ, suy tư, cảm xúc bất thiện, xấu tệ thậm chí là với cha mẹ, chồng con của mình, với anh em ruột của mình. Rồi ganh tị “Tại sao cha mẹ lại thương anh, thương chị hơn thương con?” Thậm chí chia gia tài mà đến đánh lộn với nhau, cự lộn, cãi lộn, đưa nhau ra tòa. Cha mẹ vừa chết thì hai nhóm anh em chia nhau thành hai phe như nước với lửa, trở thành kẻ thù vì chia không đồng, cho rằng cho người này nhiều, cho người kia ít. Thậm chí có những trường hợp mình thật là xót xa, người này bị cụt hay què chân phải ngồi xe lăn lên tòa mười mấy, hai chục năm vì anh em thưa kiện nhau vì cái nhà.
Qua đó, chúng ta có nhìn được ngũ uẩn này không? Không ai là người thân của mình mà chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy mau tỉnh thức. Khi chúng ta có được con mắt chánh tri kiến thì chúng ta mới thấy được sự thật rất phũ phàng. Hai con chó đang chơi thân, vui vẻ với nhau nhưng chỉ cần quăng một cục xương là chúng cắn lộn với nhau chỉ vì một khúc xương, là tâm tham.
Trí tuệ thứ hai là nghĩ đúng, người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những suy nghĩ về dục ái, tham, sân, si, bản ngã và cần nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly si. Như vậy, người tu chân chánh nào cũng cần phải có nghĩ đúng là chánh tư duy. Như vậy chúng ta tu không phải chỉ là trong nhận thức mà chúng ta còn tu ở trong suy nghĩ, vì nhận thức không chưa đủ. Mới biết rồi để đó, nhưng rồi những suy nghĩ của mình vẫn lặp lại những suy nghĩ của tham, sân, si, của tôi ta, của bản ngã. Nên “nghĩ cách từ bỏ dục hại sân”, nên nghĩ mọi cách để từ bỏ những cái dục, tham, ái, tâm làm hại đối với người khác, ngay cả người nhiều khi là bà con, anh em với nhau.
Một người mình ghét dù có chuyện gì xảy ra thì hạnh tai lạc họa, tức là mình lại hạnh phúc trên sự đau khổ của người ta. Nói ra là phũ phàng nhưng sự thật là như vậy, nên mình phải “nghĩ cách từ bỏ dục hại sân”, mình đọc trong suy nghĩ của mình, thấy nó có những cái như vậy là lập tức từ bỏ. Vừa lạy xuống và nói “Con nguyện từ bỏ suy nghĩ này, con nguyện diệt tận suy nghĩ này, con nguyện chôn vùi bản ngã này. Bát Chánh là nơi mồ chôn bản ngã.”
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cách nói bất thiện với lời nói bất chánh, như từ bỏ những lời nói dối, nói hai lời, những lời nói độc ác, lời nhảm nhí. Cần phải thành tựu những lời nói hiền thiện, hiền lành, ái ngữ. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh ngữ.
Thấy đúng rồi đến nghĩ đúng, nói đúng. “Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm.” Không nói lời dối trá, không nói lời đâm thọc, không nói lời độc ác, nhảm nhí, phù phiếm, mình phải tập, phải tu trong lời nói, khi nãy là tu trong suy nghĩ, cái nhìn, nhận thức nhưng chưa đủ, phải tu trong lời nói.
Chúng ta còn pháp tu nào hoàn hảo, nhiều phương diện, khía cạnh hết tất cả tám phương diện đúng cho chúng ta để đánh vào bát tà, bát chánh để trị bát tà, dùng tám đúng để diệt tám sai, chúng ta đều ở trong vô minh nên thấy sai, nói sai, làm sai, nghĩ sai, siêng sai, quán sai, sống sai, định sai. Nên mình dùng tám đúng này để trị tám sai, mình dùng tám chánh để đánh tám tà, mình tu tám phương diện này để thành tựu thân tâm trong sạch, hoàn thiện, hoàn hảo, thánh thiện.
“Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm” là nên kiểm tra lại lời nói của mình, nhiều khi mình nói ra thì “Tôi đâu có nói gì đâu!” nhưng mình lại thọt gậy bánh xe trong đó, tâm bị thóc thọc bị gạo, mà mình vì vô minh, vì không thấy không biết, không chánh niệm tỉnh giác, thậm chí thành thói quen, phản ứng, phản xạ, thành một thứ rất điêu luyện. Miệng này rất điêu luyện, không cần dạy, sanh ra là đi theo, gọi là câu sanh phiền não, nói ra là chọt, là châm một chút, nói cũng phải móc một cái. Đó là tập khí, nói một câu là nói mỉa mai, nói xa nói gần, nhiều khi thấy người ta thành đạt nói một câu chúc nhưng là chúc mỉa mai, nhưng điều này nếu muốn nhìn thấy nó thì phải hết sức tinh vi, chánh niệm, nhận diện ngũ uẩn, nếu không thì nó qua mặt như chơi.
Nên đó là tại sao khi nãy bài kinh liên hệ rất nhiều, là lời nói thật vừa đủ, không buông lung phóng dật. Vì mình buông lung nên mình nói mà mình không biết, mình phóng dật là mình nghĩ đó mà mình không hay, mình nghĩ trong dục, trong ái, trong sân, trong bản ngã mà mình cứ bình thường. Nên nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, không thu nhiếp, thu thúc, không quán sát, tư duy, như lý giác sát, như lý tác ý. Như lý giác sát là quan sát một cách chân chánh, đúng đắn, đúng sự thật, quan sát thọ, tưởng, hành của mình, quan sát suy nghĩ của mình, theo dõi nó, dòm ngó nó, quan sát nó, quán sát nó, quản lý, quản thúc nó. Như lý giác sát rồi mới như lý tác ý được, mình biết nó sai rồi mình mới tác ý được, đó là chánh tư duy, mình phải giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện nó.
“Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân,
Nói lời không dối đâm, độc, nhảm.”
Chúng ta nghĩ Bát Chánh Đạo này với một trí huệ phàm phu thì có thể thấy nổi không? Không thể nào thấy nổi. Chúng ta thấy chỉ chánh tri kiến thôi là chúng ta đã tu học gian truân cỡ nào rồi? Nên việc này cần một sự nỗ lực, cần một sự hết sức để tâm, mỗi một ý hành sanh khởi lên, mỗi khẩu hành phát ra, mỗi thân hành hoạt động đều phải được sự giác sát chặt chẽ, khít khao, trông nó giống như bảo mẫu trông trẻ. Chỉ sơ sải thôi cũng có thể làm đứa trẻ bị té, bị rơi xuống hầm. Như việc hai vợ chồng dẫn đứa con đi chơi, ngồi ăn uống nói chuyện thì đứa con đã bị rơi xuống ao.
Cũng vậy, tâm của mình lọt một ngày không biết bao nhiêu lần, lọt tức là lậu hoặc, nó bị rỉ chảy, bị thấm, như mái nhà không khéo lợp, mưa liền xâm nhập vào. Cũng vậy, tâm không tu tham dục liền xâm nhập, sân hận liền xâm nhập, hơn thua liền xâm nhập, mới vừa thấy hay nghe thôi là tham, sân, si. Thấy là “Đẹp quá!” rồi lại tham, thích, muốn, đòi, thèm. Nghe thấy là bực bội, bức xúc, khó chịu, sân hận. Cảm giác chút là “Khinh thường tôi hả? Coi tôi giống như không khí vậy hả? Coi tôi không ra gì, bộ tôi không có mặt ở đây hả?”
Như vậy là mình không có như lý giác sát, như lý tác ý, mình để cho tâm hoang vu, rừng rú, tâm rừng rậm, tâm hôn mê, tâm vô minh, tâm hoang dại, hoang dã, hoang vu. Tâm rừng rú, rừng rậm, tâm đầy rẫy những con mãnh thú như con cọp, sư tử, beo, sói, gấu, cá mập… ở trong biển tâm của chúng sanh.
Đầy rẫy trong này là thú dữ, rắn rết, rắn độc, mà mình không biết tu tập là nó cắn mình chết bất cứ lúc nào, nó phát tán chất độc ra, độc của nó mạnh không? Ba chất độc đó là phải luôn luôn nhìn ngó, quán sát, không kể trong khi nó tiếp xúc hay ý xúc. Ý xúc là ngồi một mình, không có tiếp xúc, nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, thân xúc, không có nhìn, không có nghe, không có ngửi, nếm, xúc chạm nhưng chỉ ngồi một mình, mà bên trong này vẫn vận hàng tham, sân, si, dục ái.
Chúng ta phải xử lý trong đó như lý giác sát một cách sâu sắc, sau đó là như lý tác ý, phải huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục thân tâm của mình phải khai khẩn, khai hoang, tâm hoang vu, tâm rừng rú. Như vậy thì người tu của chúng ta có rảnh đi nói chuyện nhiều không? Rảnh đi nhìn ngó, soi mói người ta không? Những người rảnh đi làm chuyện đó là những người không có tu.
Nên nhiều khi Minh Thành muốn mình trở nên khù khờ, khờ khạo, vì khi có người hỏi “Thầy hay gì không? Khi người ta nói thầy vầy!”, “Vậy hả? Ờ, không biết! Minh Thành bận lắm không rảnh!” Vì có nhiều công chuyện để làm lắm, chuyện cần làm thì làm chưa xong, ai nói gì kệ người ta, người ta có miệng thì người ta nói.
Nên Minh Thành thường hay chỉ tác ý “Mày nhìn mà mày lại sân si? Mày đui đi, mày đừng nhìn nữa, mày mù đi, mày nhìn chi để sân lên vậy? Nghe mà lại tham lam, tham dục như vậy thì nghe làm chi, nên điếc đi, đừng nghe nữa!” Nên tác ý như vậy để cho nó giảm bớt nhìn, nghe, để ý, giảm bớt ghim gút người ta, cứ săm soi, soi mói người ta. Lỗi của mình hay lỗi của người thì sao?
“Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.”
(Kinh Pháp Cú)
Chỗ đó là chỗ sai lầm, người chân tu thường không có thời gian, để lo hoàn thiện chính mình, thanh lọc thân tâm của mình, không rảnh đi nhìn người này, người kia người nọ. Nên ở trong gia đình của mình biết tu cái này rất hay. Mình cảm hóa được chồng mình, cha mẹ, anh em mình. Như Minh Thành có cả gia đình quy y Tam Bảo, ba mẹ của Minh Thành rồi các cô, chú, bác, anh em về quỳ lạy dưới chân thầy. Không phải lạy mình là hay ho mà đó là lạy pháp, mình mừng cho họ, vì mình không nhìn họ bằng cái nhìn của bà con, thân quyến, yêu thương, hệ lụy mà mình nhìn là
“Tất cả không ai là người thân của mình. Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy buông xả và mau tỉnh thức. Sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời. Nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si. Thoát ly sanh tử.”
Đó là giải thoát trong đó, mình không thấy được như vậy là mình khổ đau hoài, mình cứ nghĩ đây là “Chồng tôi, con tôi, nhà tôi, tiền tôi, của tôi!” người ngu mới nghĩ như vậy. “Tự ta ta không có, con đâu tài sản đâu.” Nên nhớ những câu đó là Thánh trí huệ mới tháo dỡ dần dần những hệ lụy, trói cột trong thân tâm của chúng ta, chúng ta phải khéo tác ý.
“Làm việc lành không sát trộm dâm” là làm những việc thiện lành, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, đối với cư sĩ.
“Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh”, năm nghề nên tránh là bán rượu, bán vũ khí, bán chất độc, buôn người, bán thịt. Đó là năm nghề Phật tử tuyệt đối nên tránh thì mới gọi là chánh mạng, nuôi mạng chân chánh, sống đúng. Năm thứ này là tà mạng đối với cư sĩ, vì năm thứ này gián tiếp làm cho người ta sát sanh, để cho người ta giết hại, làm đau khổ với nhau.
“Siêng hành trì chế đoạn tu trì”
Chúng ta nghe tiếp về tinh tấn:
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những siêng năng sai lầm, không đúng pháp, từ bỏ những nỗ lực tinh cần nhưng không có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái. Người này cần phải có những nỗ lực tinh tấn đối với những việc chân chánh cần phải làm của một người tu như tinh cần, chế ngự các căn, tinh cần đoạn tận những tà, tâm, ý. Tinh cần tu tập Bảy Pháp đưa đến giác ngộ và tinh cần hộ trì những thiện pháp đã thành tựu. Như vậy người chân tu nào cũng cần phải có chánh tinh tấn.
Người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những tà niệm, những tâm niệm, quán niệm sai lầm và cần tu tập thành tựu những tâm niệm, quán niệm chân chánh, đúng pháp, có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, thành tựu trí huệ về tự thân, thấy biết rõ những cấu uế trong thân tâm và nhiếp phục được những cấu uế này. Như vậy người chân tu nào cũng cần có sự tu tập và thành tựu chánh niệm.
Quán sát nhìn thân thọ, tâm pháp, phải siêng năng chế ngự các căn của mình. Điều này rất quan trọng, giống như khi nãy chúng ta xếp các ghế là chưa có thân, hành, niệm. Phải có thân, hành, niệm, cần phải tu từng chút như vậy, phải xếp những cái ghế nhẹ nhàng, đó là mình đang thực tập, đang trong đạo tràng, gần thầy, bạn mà có khi còn thất niệm, đừng nói chi là ra ngoài, như có bà nào chỉ vào mặt mình.
Vậy nên phải nhớ chế ngự các căn, làm cho nó nhẹ nhàng, an tịnh từng bước chân, từ lời nói, hành động, tập dần dần sẽ quen, tu là tập, nếu không tập thì làm sao tu? Tu là chỉnh, là sửa, nếu không chỉnh, không sửa thì làm sao tu? Nếu giờ quý vị mới tu và ba năm sau quý vị cũng như vậy thì tu để làm gì? Nếu không nhờ thầy chỉ, thầy chỉnh? Có những cái mình thấy, có những cái mình không thấy thì phải nhờ người chỉ, khi được chỉ thì “Dạ con cám ơn, con được tu!” Không phải là người ta chỉ thì mình khó chịu, bực bội mà nên cảm ơn.
Nếu gặp bậc hiền trí chỉ lỗi và khiển trách giống như chỉ chỗ chôn vàng, thân cận người hiền trí như vậy thì chỉ tốt hơn, không xấu. Vàng đó là vàng pháp, nên mình phải để ý, tinh cần, chế ngự các căn, tinh cần đoạn tận những tà tâm ý, trong tâm ý của mình thì làm sao người khác biết? Mình tu không phải để người khác biết mình mới tu, người khác không biết thì mình không tu.
Mình phải tinh cần tu tập Bảy Giác Chi, hộ trì những thiện pháp mà mình đang có, ví dụ như bọt nước, nùi giẻ rách này tên là hay kẻ ăn mày này tên là. Phải nhớ, lâu lâu phải nhắc lại như vậy, “Kẻ ăn mày xin trình pháp!”, “Nùi giẻ rách xin trình pháp!”, “Bọt nước con tên là…” Nên nhắc để mình nhớ, thôi mình vẫn còn rất ta đây.
Nhắc lại như vậy thì những thiện pháp mình phải hộ trì, tâm từ của mình có, “Hồ nước trong xanh, sạch, mát này hôm nay xin trình pháp”, “Con đang tu tâm từ!” Mình nên nhắc cho mình nhớ những hiện pháp mà mình phải giữ. Lên mà nhìn thấy tu già mà thảm sầu, sao thấy ngán, chán quá thì đã mất đi những thiện pháp. Hay “Hôm nay con Diệu Khiêm đổi tên thành khiêm cung, cúi đầu!” để nhắc những thiện pháp mình đã có được, không cho quên, rơi rớt, đừng cho nó mai một, rớt mất, phải giữ.
Quý vị đi làm có được tiền lời thì quý vị có cất giữ kĩ không? Thì thiện pháp cũng phải giữ kĩ như vậy, hay kĩ hơn, phải giữ các thiện pháp đừng để cho mất. Lúc đầu còn ngọt ngào, hiền thiện, cúi xuống, dễ thương nhưng tu một thời gian thì hết ngọt mà nó thành đắng cay, chua, chát thì mệt. Phải giữ cho nó ngọt ngào, nếu nó không phát triển thì cũng giữ được, đừng để nó mất đi vì dễ gì mình có được.
Như những cảm xúc sáng nay của mình, từ nhỏ đến lớn có bao giờ khóc với cha mẹ như vậy không? Điều đó rất quý báu, phải giữ gìn, trân trọng, trân kính, trân quý, giữ gìn, cất giữ, giống như là giữ hột xoàn, giữ tròng mắt của mình, mình về tiếp tục nhắc, tác ý những điều đó, những đức hạnh hiền thiện mà mình đã thành tựu, mới vừa thành tựu mình giữ, cất, giữ tâm từ, giữ tâm hiền, giữ tâm hoan hỷ này trong pháp, giữ tâm bi mẫn, tình thương, tâm buông xả, tâm hiếu, tâm khiêm cung này, giữ nùi giẻ rách, tác ý, trân quý.
Nên đó là lý do chúng ta lâu lâu chúng ta tác ý Phật đạo vô thường, vì sợ quên, nếu không thường tác ý là quên, nên phải tác ý lại, giữ thiện pháp đó, đó là trì. Quán thân thọ tâm pháp, định tâm theo bốn thiền thì sau này chúng ta nâng cao thêm, phải luôn luôn để ý thân mình. Luôn luôn để ý cảm giác, nội tâm, bên trong tâm đang vận hành cái gì, phải thấy biết nó.
Nên Minh Thành thấy có một số vị mệt, mắt lờ đờ như ma ngủ chuẩn bị nhập thì đánh một cái theo Vô thượng Phật đạo thì ma đã chạy đi hết, hết nhập, tan biến hết rồi phấn chấn, phấn khởi lên. Đó là sự khéo léo quán sát thân, thọ, tâm pháp của mình và người, để thiện xảo cho đại chúng tu học được hoan hỷ, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm. Đó là ví dụ điển hình, quý vị về tu một mình cũng phải khéo léo giống vậy. Ví dụ mình ngồi thiền mà buồn ngủ thì đừng ngồi tiếp mà mở Vô thượng Phật đạo, đi thiền hành, lạy sám hối diệt ngã thì đó là sự khéo léo quán thân thọ, tâm pháp của mình, nuôi dưỡng những cảm giác dạt dào, ngọt ngào tình thương của mình, đó là sự khéo tu tập.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.
Bát Thánh Đạo Tối Thượng Thừa
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoạn tận tham – sân – si, Niết-bàn PAGEREF _Toc113518715 \h 1
II. Bát Chánh Đạo PAGEREF _Toc113518716 \h 6
I. Đoạn tận tham – sân – si, Niết-bàn
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Chúng ta đang nghe về Tương Ưng Jambukhàdaka để chúng ta có một niềm tin vững chắc trong sự tu học, để mình đừng tu trong ảo tưởng.
Đầu tiên là bài kinh câu hỏi về Niết-bàn, kế đến là bài kinh câu hỏi về A-la-hán, câu hỏi về vị thuyết pháp.
Bài kinh Câu hỏi về Nibbàna (Niết-bàn):
“1) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.
2) Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta”
Tương ưng tên là Jambukhàdaka là tên của người du sĩ này, du si là một người tu thường đi chỗ này chỗ kia, vân du đây đó nên gọi là du sĩ. Những người này không phải tu theo Phật giáo mà tu đạo khác.
“Sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.”
“3) Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:
-- "Niết-bàn, Niết-bàn", này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.”
Ý nói đoạn tận là dứt hết tham, dứt hết giận, dứt hết tâm mê mệt, ngu si, si mê, đó gọi là Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt, sự chấm dứt mà chúng ta hay nói là “khổ tập diệt đạo”, như thường hay nói về khổ và phương pháp diệt khổ thì đó là Khổ Thánh Đế. Còn chữ diệt ở đây là diệt tận, diệt hết, giết sạch, diệt trừ tham, sân, si. Nên người du sĩ đó hỏi thì Ngài Xá-lợi-phất ý nói: đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
“4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.”
(Bài kinh Nibbàna, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
Như vậy, con đường, phương pháp, đạo lộ, cách thức để diệt tận hết tất cả tham, sân, si là con đường Bát Chánh Đạo: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Và Tám Đúng: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng.
Tiếp theo là câu hỏi về A-la-hán:
“1-2) ...
3) -- "A-la-hán, A-la-hán", này Hiền giả Sàriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là A-lahán?
-- Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là A-la-hán.
4) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
5) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
-- Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định... Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
6) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.”
(Bài kinh ALaHán, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
“1-2) ...
3)
– Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời?”
Ý câu hỏi là ai là những giảng sư, ai là những pháp sư, những vị thầy giảng dạy đúng Chánh pháp.
“– Những ai là những vị khéo thực hành ở đời?”
Ý câu hỏi là ai là những hành giả khéo léo, ai là những người tu hành chân chánh? Ai là những người thực hành đúng pháp?
“– Những ai là những vị khéo đến ở đời?”
Ý câu hỏi là vị nào khéo đi đến nơi đến chốn.
“4) -- Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.”
Người nào nói cho người ấy đoạn tận tham, sân, si thì người đó mới là người Đức Phật công nhận vị đó là vị thuyết pháp. Một người mà nói cho người ta càng ngày càng tham thêm thì người đó có được gọi là vị thuyết pháp của Đức Phật không? Qua đó chúng ta thấy được chuẩn tắt của tu hành.
Một người nói cho người ta giận lên, hay người ta giận ít mà mình nói cho người ta giận nhiều thì người có có phải là người thuyết pháp không? Mà mình có giống với người đó không? Ví như chồng mình đang bực bội về, nhưng gặp mình thì nói cho bực thêm nữa. Vậy có không? Hay bạn đạo đang sân, đang có chuyện mà gặp mình thì mình nói cho người ta bớt sân, giảm sân, hết sân hay là mình nói một lúc thì sân của người ta to thêm?
“5) Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị khéo thực hành ở đời.”
Đó là những vị khéo tu hành, khéo thực hành, khéo làm, làm như vậy mới là khéo nhất trong tất cả cái khéo là làm cho bớt tham, sân, si, làm cho hết tham, sân, si, hết ta, hết tôi, hết giành giựt, hết hơn thua, hết đấu đá, hết thị phi, hết nhân ngã, hết đúng sai, hết cao thấp. Đó gọi là khéo thực hành ở trên đời.
Khéo nói, khéo làm. Khéo nói để bớt được tham, sân, si, diệt tham, sân, si, đoạn tham, sân, si. Khéo làm để bớt tham, sân, si; giảm tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si.
Như giờ này si đang xâm chiếm thân tâm, xâm chiếm mắt, mà mình nói ra sao để người đó hết buồn ngủ thì như vậy là khéo nói. Còn mình nói một lúc mà ru cho họ ngủ luôn thì đó là không khéo nói.
“6) Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời.”
Đó gọi là
“Thiện lai, thiện lai, thiện lai
Lành thay, lành thay, lành thay.”
Nên nhớ câu: Những ai đoạn tận tham, sân, si, cắt đứt mọi gốc rễ, làm cho nó giống như đang chặt cây dừa, chặt cây cao, chặt cây ta-la, không cho mọc trở lại được nữa, không thể sanh khởi trở lại trong tương lai được nữa, thì những vị đó là những vị khéo đến ở cuộc đời này.
Như vậy, chúng ta thấy nãy giờ bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu câu trả lời đều nhắm vào tham, sân, si. Đây là Thánh trí về tham, sân, si. Nhưng trước kia chúng ta chưa học nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý, chưa biết quán chiếu các cảm thọ, chúng ta nói tham, sân, si nhưng có biết được bộ mặt thật của nó không? Mình có vạch mặt, chạm mặt được tham, sân, si không? Hay thậm chí là nắm được mũi của nó?
II. Bát Chánh Đạo
Bây giờ thì mình mới bắt đầu thấy ba cảm thọ, thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, đốt cháy của nó. Thấy được sự nhận chìm của nó qua cảm thọ lạc trong tham, thấy được sự bừng bốc, thiêu đốt, đốt cháy qua cảm thọ khổ của sân, thấy được sự đơ đơ, lơ mơ, lờ mờ của cảm thọ không khổ không vui, qua cảm thọ si, cũng như là những cảm thọ bản ngã hơn thua.
“7) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?
-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
8) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy
-- Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
9) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.
Thật là vừa đủ, này Hiền giả Sàriputta, để không phóng dật.”
(Bài kinh Vị Thuyết Pháp, Chương IV. Tương Ưng Jambukhàdaka, Phần IV. Năm mươi kinh thứ hai – Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)
Vị này đã khen ngợi Ngài Xá-lợi-phất, khen ngợi đạo lộ Thế Tôn đã dạy, Ngài Xá-lợi-phất đã truyền trao, con đường này thật là hiền thiện. Con đường Tám Đúng, Bát Chánh Đạo, Tám Ngành đó thật là hiền lành, tốt lành, hiền thiện. Đạo lộ này là đạo lộ hiền thiện, đưa đến dứt hết tham, sân, si, thật là vừa đủ để không buông lung phóng dật.
Chúng ta phải ý thức được sâu sắc Bát Chánh Đạo là một con đường rất hiền lành, thiện lành, tốt đẹp, thù thắng, vi diệu, tối thượng, tuyệt vời, màu nhiệm, tối cao, thần diệu, thánh diệu, thiêng liêng, vi diệu, tối thượng thừa, không có gì hơn. Chúng ta phải thường thường nhắc tâm, thường thường tác ý, thường quán chiếu, suy tư, chiêm nghiệm, khen ngợi, lễ lạy, quy kính đối với Bát Chánh Đạo.
Tác ý, làm cho mình sanh khởi lên sự thích thú, hoan hỷ, phấn khởi, vui sướng, hạnh phúc về Bát Chánh Đạo. Con đường này thật sự là con đường hiền thiện, tối thượng, vi diệu, màu nhiệm. Nên thường xuyên quán chiếu, thấy như vậy, quán như vậy, chiêm nghiệm, tư duy như vậy, cảm thọ như vậy, suy nghĩ như vậy, để chúng ta mới thấy được hạnh phúc khi đi trên con đường này.
Trong bài Vô thượng Phật đạo của chúng ta có những câu rất thần diệu, để chúng ta tác ý, lấy hùng khí của vô thượng Phật đạo để nó đánh tan những con ma si ám đang xâm chiếm trong chùa. Nhìn xuống thấy như ma nhập, hai mắt mở không ra, giờ mình cho Phật đạo vô thường đánh ma cho nó chạy hết.
Giờ chúng ta niệm theo:
“Ngài đi trước trên đường Tám Chánh
Theo dấu chân các Đức Như Lai
Con bước sau theo dấu chân Ngài
Lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc.
Ngài đi trước trên đường Tám Chánh
Theo dấu chân các Đức Như Lai
Nay chúng con theo dấu chân Ngài,
Nguyện tu tập trên đường Tám Chánh
Lòng hoan hỷ trào dâng hạnh phúc.”
Trong bài Vô thượng Phật đạo này là một sự kết tinh tinh hoa, cốt tủy của cả đại tạng. Minh Thành chưa dám giảng giải về Bát Chánh Đạo, từ trước đến nay chúng ta chỉ mới học về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, chỉ mới ba phần đầu. Những câu này là hột xoàn, kim cương, cốt tủy thấy biết bốn trí về ngũ uẩn, tức là Chánh tri kiến.
“Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân” là Chánh tư duy, “Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm” là Chánh ngữ, “Làm việc lành không sát, trộm, dâm” là chánh kiến, “Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh” là chánh đạo, “Siêng hành trì chế đoạn tu trì” là chánh tinh tấn, “Quán xét nhìn thân thọ tâm pháp” là chánh niệm, “Định tâm tuần tự theo bốn thiền” là chánh định.
Trên là chúng ta đọc một đoạn trích trong kinh Tương Ưng tập một, thế nào là tám điều chân chánh mà một người tu cần phải biết, cần phải tu tập, thực hành thì mới được gọi là một người chân tu, chúng ta muốn đoạn tham, sân, si thì chúng ta phải tu Tám Đúng.
Vậy tu Tám Đúng là tu như thế nào? Người tu chân chánh nào cũng cần có sự thấy biết đúng, thấy biết rõ ràng, thấy biết chân chánh về thân tâm, về thế giới. Vị này cần thấy biết rõ những sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang hoạt động thế nào trong thân tâm, chúng đang áp bức, khống chế thân tâm như thế nào. Vị này cần thấy rõ những cặn bã, rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc đang có mặt trong ngũ uẩn, trong tự thân, như vậy, người tu chân chánh nào cũng cần phải có, thấy đúng chánh tri kiến.
Chúng ta thấy sáng nay, các bạn trẻ hay các vị lớn tuổi trình bày những sự không thấy, không biết của mình làm cho cha mẹ buồn lo hay những sự bất hiếu, chưa hiếu thảo của mình. Chúng ta trình bày trong nước mắt, trong cảm xúc dạt dào, khi chúng ta thấy được, biết được thì có phải chúng ta đang đi trên đạo lộ chánh tri kiến không?
Lúc trước mình chưa thấy nhưng giờ mình thấy được những tâm cấu nhiễm, những cặn bã, rác bẩn, cấu uế, cặn bã đang có mặt trong thân tâm của mình mà trước nay mình không thấy. Chúng ta đi vào cửa thấy đúng chánh tri kiến, chúng ta nhận diện ra được những cái mà trước nay không thấy, không biết, không hề phát giác, phát hiện ra. Giờ mình thấy, mình biết, mình phát giác, phát hiện ra những rác bẩn, những cấu uế, những lậu hoặc, những cặn bã đang có mặt trong thân tâm của chúng ta. Thấy như vậy gọi là thấy đúng, thấy như vậy gọi là chánh kiến, thấy như vậy gọi là chính xác, chân xác, chân chánh về thân tâm của mình. Sự thấy như vậy có cần thiết, có quan trọng không? Có cần tu tập sự thấy này không? Đó là một thấy đúng của người chân tu.
Chúng ta bắt đầu thấy được tâm tham của mình chưa? Tâm dục ái ban đầu của mình đã thấy chưa? “Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân” như chúng ta trình bày trong nước mắt, trong những cảm xúc dạt dào, chúng ta nói rằng không ngờ tâm của mình là một con quái vật và chúng ta có được con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không nhìn ra được những yêu quái, chính là những ý nghĩ, suy tư, cảm xúc bất thiện, xấu tệ thậm chí là với cha mẹ, chồng con của mình, với anh em ruột của mình. Rồi ganh tị “Tại sao cha mẹ lại thương anh, thương chị hơn thương con?” Thậm chí chia gia tài mà đến đánh lộn với nhau, cự lộn, cãi lộn, đưa nhau ra tòa. Cha mẹ vừa chết thì hai nhóm anh em chia nhau thành hai phe như nước với lửa, trở thành kẻ thù vì chia không đồng, cho rằng cho người này nhiều, cho người kia ít. Thậm chí có những trường hợp mình thật là xót xa, người này bị cụt hay què chân phải ngồi xe lăn lên tòa mười mấy, hai chục năm vì anh em thưa kiện nhau vì cái nhà.
Qua đó, chúng ta có nhìn được ngũ uẩn này không? Không ai là người thân của mình mà chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy mau tỉnh thức. Khi chúng ta có được con mắt chánh tri kiến thì chúng ta mới thấy được sự thật rất phũ phàng. Hai con chó đang chơi thân, vui vẻ với nhau nhưng chỉ cần quăng một cục xương là chúng cắn lộn với nhau chỉ vì một khúc xương, là tâm tham.
Trí tuệ thứ hai là nghĩ đúng, người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những suy nghĩ về dục ái, tham, sân, si, bản ngã và cần nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly si. Như vậy, người tu chân chánh nào cũng cần phải có nghĩ đúng là chánh tư duy. Như vậy chúng ta tu không phải chỉ là trong nhận thức mà chúng ta còn tu ở trong suy nghĩ, vì nhận thức không chưa đủ. Mới biết rồi để đó, nhưng rồi những suy nghĩ của mình vẫn lặp lại những suy nghĩ của tham, sân, si, của tôi ta, của bản ngã. Nên “nghĩ cách từ bỏ dục hại sân”, nên nghĩ mọi cách để từ bỏ những cái dục, tham, ái, tâm làm hại đối với người khác, ngay cả người nhiều khi là bà con, anh em với nhau.
Một người mình ghét dù có chuyện gì xảy ra thì hạnh tai lạc họa, tức là mình lại hạnh phúc trên sự đau khổ của người ta. Nói ra là phũ phàng nhưng sự thật là như vậy, nên mình phải “nghĩ cách từ bỏ dục hại sân”, mình đọc trong suy nghĩ của mình, thấy nó có những cái như vậy là lập tức từ bỏ. Vừa lạy xuống và nói “Con nguyện từ bỏ suy nghĩ này, con nguyện diệt tận suy nghĩ này, con nguyện chôn vùi bản ngã này. Bát Chánh là nơi mồ chôn bản ngã.”
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cách nói bất thiện với lời nói bất chánh, như từ bỏ những lời nói dối, nói hai lời, những lời nói độc ác, lời nhảm nhí. Cần phải thành tựu những lời nói hiền thiện, hiền lành, ái ngữ. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh ngữ.
Thấy đúng rồi đến nghĩ đúng, nói đúng. “Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm.” Không nói lời dối trá, không nói lời đâm thọc, không nói lời độc ác, nhảm nhí, phù phiếm, mình phải tập, phải tu trong lời nói, khi nãy là tu trong suy nghĩ, cái nhìn, nhận thức nhưng chưa đủ, phải tu trong lời nói.
Chúng ta còn pháp tu nào hoàn hảo, nhiều phương diện, khía cạnh hết tất cả tám phương diện đúng cho chúng ta để đánh vào bát tà, bát chánh để trị bát tà, dùng tám đúng để diệt tám sai, chúng ta đều ở trong vô minh nên thấy sai, nói sai, làm sai, nghĩ sai, siêng sai, quán sai, sống sai, định sai. Nên mình dùng tám đúng này để trị tám sai, mình dùng tám chánh để đánh tám tà, mình tu tám phương diện này để thành tựu thân tâm trong sạch, hoàn thiện, hoàn hảo, thánh thiện.
“Nói lời không dối, đâm, độc, nhảm” là nên kiểm tra lại lời nói của mình, nhiều khi mình nói ra thì “Tôi đâu có nói gì đâu!” nhưng mình lại thọt gậy bánh xe trong đó, tâm bị thóc thọc bị gạo, mà mình vì vô minh, vì không thấy không biết, không chánh niệm tỉnh giác, thậm chí thành thói quen, phản ứng, phản xạ, thành một thứ rất điêu luyện. Miệng này rất điêu luyện, không cần dạy, sanh ra là đi theo, gọi là câu sanh phiền não, nói ra là chọt, là châm một chút, nói cũng phải móc một cái. Đó là tập khí, nói một câu là nói mỉa mai, nói xa nói gần, nhiều khi thấy người ta thành đạt nói một câu chúc nhưng là chúc mỉa mai, nhưng điều này nếu muốn nhìn thấy nó thì phải hết sức tinh vi, chánh niệm, nhận diện ngũ uẩn, nếu không thì nó qua mặt như chơi.
Nên đó là tại sao khi nãy bài kinh liên hệ rất nhiều, là lời nói thật vừa đủ, không buông lung phóng dật. Vì mình buông lung nên mình nói mà mình không biết, mình phóng dật là mình nghĩ đó mà mình không hay, mình nghĩ trong dục, trong ái, trong sân, trong bản ngã mà mình cứ bình thường. Nên nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác, không thu nhiếp, thu thúc, không quán sát, tư duy, như lý giác sát, như lý tác ý. Như lý giác sát là quan sát một cách chân chánh, đúng đắn, đúng sự thật, quan sát thọ, tưởng, hành của mình, quan sát suy nghĩ của mình, theo dõi nó, dòm ngó nó, quan sát nó, quán sát nó, quản lý, quản thúc nó. Như lý giác sát rồi mới như lý tác ý được, mình biết nó sai rồi mình mới tác ý được, đó là chánh tư duy, mình phải giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện nó.
“Nghĩ cách từ bỏ dục hại sân,
Nói lời không dối đâm, độc, nhảm.”
Chúng ta nghĩ Bát Chánh Đạo này với một trí huệ phàm phu thì có thể thấy nổi không? Không thể nào thấy nổi. Chúng ta thấy chỉ chánh tri kiến thôi là chúng ta đã tu học gian truân cỡ nào rồi? Nên việc này cần một sự nỗ lực, cần một sự hết sức để tâm, mỗi một ý hành sanh khởi lên, mỗi khẩu hành phát ra, mỗi thân hành hoạt động đều phải được sự giác sát chặt chẽ, khít khao, trông nó giống như bảo mẫu trông trẻ. Chỉ sơ sải thôi cũng có thể làm đứa trẻ bị té, bị rơi xuống hầm. Như việc hai vợ chồng dẫn đứa con đi chơi, ngồi ăn uống nói chuyện thì đứa con đã bị rơi xuống ao.
Cũng vậy, tâm của mình lọt một ngày không biết bao nhiêu lần, lọt tức là lậu hoặc, nó bị rỉ chảy, bị thấm, như mái nhà không khéo lợp, mưa liền xâm nhập vào. Cũng vậy, tâm không tu tham dục liền xâm nhập, sân hận liền xâm nhập, hơn thua liền xâm nhập, mới vừa thấy hay nghe thôi là tham, sân, si. Thấy là “Đẹp quá!” rồi lại tham, thích, muốn, đòi, thèm. Nghe thấy là bực bội, bức xúc, khó chịu, sân hận. Cảm giác chút là “Khinh thường tôi hả? Coi tôi giống như không khí vậy hả? Coi tôi không ra gì, bộ tôi không có mặt ở đây hả?”
Như vậy là mình không có như lý giác sát, như lý tác ý, mình để cho tâm hoang vu, rừng rú, tâm rừng rậm, tâm hôn mê, tâm vô minh, tâm hoang dại, hoang dã, hoang vu. Tâm rừng rú, rừng rậm, tâm đầy rẫy những con mãnh thú như con cọp, sư tử, beo, sói, gấu, cá mập… ở trong biển tâm của chúng sanh.
Đầy rẫy trong này là thú dữ, rắn rết, rắn độc, mà mình không biết tu tập là nó cắn mình chết bất cứ lúc nào, nó phát tán chất độc ra, độc của nó mạnh không? Ba chất độc đó là phải luôn luôn nhìn ngó, quán sát, không kể trong khi nó tiếp xúc hay ý xúc. Ý xúc là ngồi một mình, không có tiếp xúc, nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, thân xúc, không có nhìn, không có nghe, không có ngửi, nếm, xúc chạm nhưng chỉ ngồi một mình, mà bên trong này vẫn vận hàng tham, sân, si, dục ái.
Chúng ta phải xử lý trong đó như lý giác sát một cách sâu sắc, sau đó là như lý tác ý, phải huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục thân tâm của mình phải khai khẩn, khai hoang, tâm hoang vu, tâm rừng rú. Như vậy thì người tu của chúng ta có rảnh đi nói chuyện nhiều không? Rảnh đi nhìn ngó, soi mói người ta không? Những người rảnh đi làm chuyện đó là những người không có tu.
Nên nhiều khi Minh Thành muốn mình trở nên khù khờ, khờ khạo, vì khi có người hỏi “Thầy hay gì không? Khi người ta nói thầy vầy!”, “Vậy hả? Ờ, không biết! Minh Thành bận lắm không rảnh!” Vì có nhiều công chuyện để làm lắm, chuyện cần làm thì làm chưa xong, ai nói gì kệ người ta, người ta có miệng thì người ta nói.
Nên Minh Thành thường hay chỉ tác ý “Mày nhìn mà mày lại sân si? Mày đui đi, mày đừng nhìn nữa, mày mù đi, mày nhìn chi để sân lên vậy? Nghe mà lại tham lam, tham dục như vậy thì nghe làm chi, nên điếc đi, đừng nghe nữa!” Nên tác ý như vậy để cho nó giảm bớt nhìn, nghe, để ý, giảm bớt ghim gút người ta, cứ săm soi, soi mói người ta. Lỗi của mình hay lỗi của người thì sao?
“Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.”
(Kinh Pháp Cú)
Chỗ đó là chỗ sai lầm, người chân tu thường không có thời gian, để lo hoàn thiện chính mình, thanh lọc thân tâm của mình, không rảnh đi nhìn người này, người kia người nọ. Nên ở trong gia đình của mình biết tu cái này rất hay. Mình cảm hóa được chồng mình, cha mẹ, anh em mình. Như Minh Thành có cả gia đình quy y Tam Bảo, ba mẹ của Minh Thành rồi các cô, chú, bác, anh em về quỳ lạy dưới chân thầy. Không phải lạy mình là hay ho mà đó là lạy pháp, mình mừng cho họ, vì mình không nhìn họ bằng cái nhìn của bà con, thân quyến, yêu thương, hệ lụy mà mình nhìn là
“Tất cả không ai là người thân của mình. Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy buông xả và mau tỉnh thức. Sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời. Nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si. Thoát ly sanh tử.”
Đó là giải thoát trong đó, mình không thấy được như vậy là mình khổ đau hoài, mình cứ nghĩ đây là “Chồng tôi, con tôi, nhà tôi, tiền tôi, của tôi!” người ngu mới nghĩ như vậy. “Tự ta ta không có, con đâu tài sản đâu.” Nên nhớ những câu đó là Thánh trí huệ mới tháo dỡ dần dần những hệ lụy, trói cột trong thân tâm của chúng ta, chúng ta phải khéo tác ý.
“Làm việc lành không sát trộm dâm” là làm những việc thiện lành, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, đối với cư sĩ.
“Sống nuôi mạng năm nghề nên tránh”, năm nghề nên tránh là bán rượu, bán vũ khí, bán chất độc, buôn người, bán thịt. Đó là năm nghề Phật tử tuyệt đối nên tránh thì mới gọi là chánh mạng, nuôi mạng chân chánh, sống đúng. Năm thứ này là tà mạng đối với cư sĩ, vì năm thứ này gián tiếp làm cho người ta sát sanh, để cho người ta giết hại, làm đau khổ với nhau.
“Siêng hành trì chế đoạn tu trì”
Chúng ta nghe tiếp về tinh tấn:
Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những siêng năng sai lầm, không đúng pháp, từ bỏ những nỗ lực tinh cần nhưng không có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái. Người này cần phải có những nỗ lực tinh tấn đối với những việc chân chánh cần phải làm của một người tu như tinh cần, chế ngự các căn, tinh cần đoạn tận những tà, tâm, ý. Tinh cần tu tập Bảy Pháp đưa đến giác ngộ và tinh cần hộ trì những thiện pháp đã thành tựu. Như vậy người chân tu nào cũng cần phải có chánh tinh tấn.
Người tu chân chánh nào cũng cần từ bỏ những tà niệm, những tâm niệm, quán niệm sai lầm và cần tu tập thành tựu những tâm niệm, quán niệm chân chánh, đúng pháp, có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, thành tựu trí huệ về tự thân, thấy biết rõ những cấu uế trong thân tâm và nhiếp phục được những cấu uế này. Như vậy người chân tu nào cũng cần có sự tu tập và thành tựu chánh niệm.
Quán sát nhìn thân thọ, tâm pháp, phải siêng năng chế ngự các căn của mình. Điều này rất quan trọng, giống như khi nãy chúng ta xếp các ghế là chưa có thân, hành, niệm. Phải có thân, hành, niệm, cần phải tu từng chút như vậy, phải xếp những cái ghế nhẹ nhàng, đó là mình đang thực tập, đang trong đạo tràng, gần thầy, bạn mà có khi còn thất niệm, đừng nói chi là ra ngoài, như có bà nào chỉ vào mặt mình.
Vậy nên phải nhớ chế ngự các căn, làm cho nó nhẹ nhàng, an tịnh từng bước chân, từ lời nói, hành động, tập dần dần sẽ quen, tu là tập, nếu không tập thì làm sao tu? Tu là chỉnh, là sửa, nếu không chỉnh, không sửa thì làm sao tu? Nếu giờ quý vị mới tu và ba năm sau quý vị cũng như vậy thì tu để làm gì? Nếu không nhờ thầy chỉ, thầy chỉnh? Có những cái mình thấy, có những cái mình không thấy thì phải nhờ người chỉ, khi được chỉ thì “Dạ con cám ơn, con được tu!” Không phải là người ta chỉ thì mình khó chịu, bực bội mà nên cảm ơn.
Nếu gặp bậc hiền trí chỉ lỗi và khiển trách giống như chỉ chỗ chôn vàng, thân cận người hiền trí như vậy thì chỉ tốt hơn, không xấu. Vàng đó là vàng pháp, nên mình phải để ý, tinh cần, chế ngự các căn, tinh cần đoạn tận những tà tâm ý, trong tâm ý của mình thì làm sao người khác biết? Mình tu không phải để người khác biết mình mới tu, người khác không biết thì mình không tu.
Mình phải tinh cần tu tập Bảy Giác Chi, hộ trì những thiện pháp mà mình đang có, ví dụ như bọt nước, nùi giẻ rách này tên là hay kẻ ăn mày này tên là. Phải nhớ, lâu lâu phải nhắc lại như vậy, “Kẻ ăn mày xin trình pháp!”, “Nùi giẻ rách xin trình pháp!”, “Bọt nước con tên là…” Nên nhắc để mình nhớ, thôi mình vẫn còn rất ta đây.
Nhắc lại như vậy thì những thiện pháp mình phải hộ trì, tâm từ của mình có, “Hồ nước trong xanh, sạch, mát này hôm nay xin trình pháp”, “Con đang tu tâm từ!” Mình nên nhắc cho mình nhớ những hiện pháp mà mình phải giữ. Lên mà nhìn thấy tu già mà thảm sầu, sao thấy ngán, chán quá thì đã mất đi những thiện pháp. Hay “Hôm nay con Diệu Khiêm đổi tên thành khiêm cung, cúi đầu!” để nhắc những thiện pháp mình đã có được, không cho quên, rơi rớt, đừng cho nó mai một, rớt mất, phải giữ.
Quý vị đi làm có được tiền lời thì quý vị có cất giữ kĩ không? Thì thiện pháp cũng phải giữ kĩ như vậy, hay kĩ hơn, phải giữ các thiện pháp đừng để cho mất. Lúc đầu còn ngọt ngào, hiền thiện, cúi xuống, dễ thương nhưng tu một thời gian thì hết ngọt mà nó thành đắng cay, chua, chát thì mệt. Phải giữ cho nó ngọt ngào, nếu nó không phát triển thì cũng giữ được, đừng để nó mất đi vì dễ gì mình có được.
Như những cảm xúc sáng nay của mình, từ nhỏ đến lớn có bao giờ khóc với cha mẹ như vậy không? Điều đó rất quý báu, phải giữ gìn, trân trọng, trân kính, trân quý, giữ gìn, cất giữ, giống như là giữ hột xoàn, giữ tròng mắt của mình, mình về tiếp tục nhắc, tác ý những điều đó, những đức hạnh hiền thiện mà mình đã thành tựu, mới vừa thành tựu mình giữ, cất, giữ tâm từ, giữ tâm hiền, giữ tâm hoan hỷ này trong pháp, giữ tâm bi mẫn, tình thương, tâm buông xả, tâm hiếu, tâm khiêm cung này, giữ nùi giẻ rách, tác ý, trân quý.
Nên đó là lý do chúng ta lâu lâu chúng ta tác ý Phật đạo vô thường, vì sợ quên, nếu không thường tác ý là quên, nên phải tác ý lại, giữ thiện pháp đó, đó là trì. Quán thân thọ tâm pháp, định tâm theo bốn thiền thì sau này chúng ta nâng cao thêm, phải luôn luôn để ý thân mình. Luôn luôn để ý cảm giác, nội tâm, bên trong tâm đang vận hành cái gì, phải thấy biết nó.
Nên Minh Thành thấy có một số vị mệt, mắt lờ đờ như ma ngủ chuẩn bị nhập thì đánh một cái theo Vô thượng Phật đạo thì ma đã chạy đi hết, hết nhập, tan biến hết rồi phấn chấn, phấn khởi lên. Đó là sự khéo léo quán sát thân, thọ, tâm pháp của mình và người, để thiện xảo cho đại chúng tu học được hoan hỷ, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm. Đó là ví dụ điển hình, quý vị về tu một mình cũng phải khéo léo giống vậy. Ví dụ mình ngồi thiền mà buồn ngủ thì đừng ngồi tiếp mà mở Vô thượng Phật đạo, đi thiền hành, lạy sám hối diệt ngã thì đó là sự khéo léo quán thân thọ, tâm pháp của mình, nuôi dưỡng những cảm giác dạt dào, ngọt ngào tình thương của mình, đó là sự khéo tu tập.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.