Nghiệp 13 - Từ đâu có khổ vui
Nghiệp 13
Từ Đâu Có Khổ Vui?
-THÍCH MINH THÀNH-
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu khổ vui từ đâu, chúng ta sẽ nghe bậc tướng quân của Chánh pháp – Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) giải thích cho chúng ta thấy được vui khổ từ ở đâu.
Tôn giả Bhùmija, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng đậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhùmija thưa Tôn giả Sàriputta:
- Hiền giả Sàruputta, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm. Hiền giả Sàruputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm. Hiền giả Sariputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do người khác làm. Hiền giả Sàriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh.
- Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn không tìm được lý do để chỉ trích?
- Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói lạc khổ do duyên mà sanh? Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp, và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Ở đây, này Hiền giả, các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, bài kinh Bhùmija)
Tức là 4 chủ trương đó đều sai hết: tự mình làm cho mình khổ; người khác làm cho mình khổ; 2 cái đó cộng lại, mình và người khác làm cho mình khổ, cuối cùng là tự nhiên sanh khổ. Thường thường khi khổ, mình có bị rơi vô 4 chủ trương này không? Thường là mình nằm trong đây và rơi nhiều vô chủ trương người ta làm cho mình khổ, đây là quan điểm chung của phàm phu. Tại người đó, tại ông đó, tại bà đó, tại cô đó, tại hoàn cảnh đó, đổ thừa cho cái bên ngoài. Cho nên cái thấy của mình là cái thấy góc cạnh, phiến diện, nhỏ bé, cái thấy của nghiệp, của vô minh, cái thấy của tình thức chứ không phải cái thấy của Thánh trí. Mỗi bữa tụng kinh mình đọc bài khai kinh trong kinh Nikāya, không có ở đâu đọc khai kinh bài này hết.
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay! Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho con ý nghĩa của lời dạy ấy sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì.
Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, ta sẽ giảng.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau.
Nhớ câu đó thì Chánh pháp không bị diệt. Tất cả pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ, tức là dựa vào Thánh trí chứng ngộ của Đức Phật. Bây giờ mình có chuyện gì thì lấy suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của mình hoặc đi học được chút đỉnh thì lấy tư tưởng của người khác, của người này, người kia, hoặc theo ngoài đời gọi là lấy tư tưởng của những người đại gia, mắc chước theo hay lấy tư tưởng của những triết gia, thường thường là vậy. Dẫn chứng là theo nhà triết học này, nhà triết gia này, những tư tưởng nổi tiếng trên thế giới nhưng mà tất cả những cái đó là phàm phu, không giải quyết được vấn đề. Chúng ta đọc kinh nhiều sẽ thấy, ngay cả Tôn giả Xá-lợi-phất, Ngài A-nan, các bậc Thánh giả nhưng vẫn chờ đợi Đức Thế Tôn chỉ dạy các vấn đề. Sau khi Đức Phật nói rồi thì “Chúng con thọ trì”. Ngay cả bậc Thánh, dầu cho vị đó là A-la-hán nhưng cái thấy đó cũng không viên mãn bằng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đức Thế Tôn là cha của các bậc A-la-hán, từ Ngài mà sanh ra các bậc A-la-hán, cha của hàng Thánh.
Trở lại bài kinh, lúc đó Ngài A-nan đã là Sơ quả, Nhị Quả rồi nhưng sau khi Ngài A-nan nghe sự kiện vừa rồi xảy ra vẫn đi đến Đức Phật trình bày, chờ nghe Đức Thế Tôn dạy.
Này Ananda, Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh.
Này Ananda, chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có lời nói, này Ananda, do nhân khẩu tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có ý, này Ananda, do nhân ý tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ.
Do duyên vô minh, hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác này Ananda làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda... (như trên)... Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc tự mình, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda... (như trên) ... Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Này Ananda, trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối.
Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Khẩu ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Chúng không phải là đồng ruộng, chúng không phải là căn cứ, chúng không phải là xứ, chúng không phải là luận sự,; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, bài kinh Bhùmija)
Cái này đọc sẽ thấy khó hiểu lắm, khi giải thích ra mới thấy được chỗ thâm sâu, bây giờ chúng ta sẽ đi từ từ. Thông thường chúng ta bị 4 cái quan điểm sai lầm Sa-môn, Bà-la-môn, ngoại đạo thời đó chủ trương như vậy, tự tôi làm cho tôi khổ; hoặc người ta làm cho tôi khổ; hoặc 2 bên cộng lại, 2 người rước về ở chung nhau khổ; quan điểm tệ nhất là khổ trên đời này là tự nhiên. Tôn giả Bhùmija hỏi Ngài Xá-lợi-phất và Ngài nói lại lời Thế Tôn là lạc khổ là do duyên sanh, duyên sanh là do xúc, 1 chữ này rất ghê gớm, 1 chữ này là đề tại thiền quán. Chúng ta học định lý 5 uẩn thì xúc tập khởi sanh ra thọ, tưởng, hành tập khởi. Đức Phật nói chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ, chỗ nào có lời nói, chỗ nào có ý tư niệm khởi lên lạc khổ. Cho nên xúc sanh ra cảm giác, nghĩ tưởng, khi mình tiếp xúc sanh ra suy nghĩ, sanh ra cảm giác, sanh ra những hình bóng trong tâm. Mình không thể suy nghĩ về 1 cái gì mà từ đó giờ mình chưa từng tiếp xúc, chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng gặp. Đó là chỗ chứng ngộ của Đức Phật. Một cơn tức giận của mình lên không thể là do ngồi 1 mình, mà là do tiếp xúc với cảnh, cảnh đó cụ thể là tiếp xúc với người không ưa. Mình thấy họ hoặc nghe họ nói, hay họ làm hành động gì đó mà mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc, đụng chạm, chẳng hạn họ lại thụi mình 1 cái, thì như vậy mới khởi lên khổ lạc. Lại nựng mình 1 cái hoặc tán 1 cái thì đó là thân xúc, xúc thì mới sanh khổ lạc. Hoặc tự nhiên trời mưa, ngồi trong thư viện nhìn ra buổi chiều, buồn, không biết ở nhà con đang làm gì. Mình nói tự nhiên mình buồn nhưng đó là do duyên xúc, bên trong mới sanh ra thọ, tưởng, hành. Hình bóng đứa con hiện ra, cảm giác hiện ra, suy nghĩ hiện ra, trong này mới buồn. Hay là lên Quán Chiếu Đường, mặt trời lên, mây bay, chim hót, phong linh vang lên thì thấy tuyệt vời quá, chụp hình, đó là xúc sanh ra lạc. Còn lúc nãy xúc mưa chiều buồn nên sanh ra khổ. Tất cả là xúc hết, nhưng mình không biết là vì vô minh, mình có học đâu mà biết, mình có nhận diện đâu mà biết, mình có quán chiếu đâu mà biết. Cho nên mình cứ nói tôi buồn quá, tôi vui quá, chỗ này đẹp quá, tức là mình hướng ngoại mà không biết tâm mình đang vận hành thế nào.
Phải biết nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt, thân xúc, ý xúc, phải biết xúc đó sanh lên thọ gì, tưởng gì, hành gì. Trong thọ, tưởng, hành đó có thứ gì ở bên trong, trong đó có thúc giục, áp đảo, xâm chiếm, rủ rê như thế nào. Phải thấy hết tất cả vòng vận hành như vậy thì đó là trí tuệ, là Chánh kiến. Tự giác nhìn thấy được thân tâm của mình. Nhiều khi mình nhìn thấy, mình trạch pháp trong đó rồi thì mình lựa cái xúc để mà mình xúc, đây chính là sự tu. Mình biết xúc với người đó là sân, hận, xúc với người đó là 1 hồi có chuyện thì cắt xúc, tránh xúc. Mình biết xúc với người này tham ái, dính mắc, 70, 80 tuổi, bạc đầu hết rồi, không còn cọng tóc đen nào hết mà xúc với cháu ngoại, xúc với cháu cố, nhớ quá, cưng quá, vô ngồi thiền hình bóng nó hiện lên rồi ngồi cười, xúc cái đó là xúc duyên ái. Tu trong cái xúc này là trí tuệ, mình phải biết xúc với cái nào là làm cho mình thoái đọa, xúc cái nào làm cho mình tăng thượng, xúc cái nào làm cho mình hướng thượng, xúc cái nào để đưa mình lên chỗ trí tuệ, bình an, đó là sự tu tập thông minh của mình. Bây giờ mình nói sao tu hoài mà tu không được, đó là tại vì toàn là xúc với cái ô nhiễm, xúc với những tác nhân làm cho mình sanh ra dục, tham, sân, si, bản ngã thì làm sao mình tu được.
Mấy ngày hôm nay quý vị tiếp xúc với tre, trúc biếc, mây trắng, chim hót, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tiếp xúc với không gian núi đồi đại ngàn, tiếp xúc với những hình bóng huỳnh y, chiếc áo vàng an tịnh, lắng dịu, trang nghiêm. Tiếp xúc với Thánh trí của Đức Phật với những pháp âm, tiếp xúc những lời dạy từ bậc Chánh Đẳng Giác truyền thụ. Tiếp xúc với sự thật, tiếp xúc với chân lý, tiếp xúc với ánh sáng, tiếp xúc với tuệ giác, tiếp xúc với trí tuệ, tiếp xúc với sự tăng thượng giới học, tăng thượng tâm kiên định, tiếp xúc với trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Qua đó thấy cái tu của mình cũng là xúc, chuyển cái xúc vào tu. Mỗi lần sắp xếp về núi tu là nửa tháng, 1 tháng, còn nếu sắp xếp được là lên tu 3 tháng. Tâm nguyện của con là tái hiện 1 phần nào Trúc Lâm Tinh Xá, không cần xây chùa to, Phật lớn, chỉ cần có chỗ cho mọi người về tu đúng Chánh pháp, nhìn thấy được 5 uẩn, nhìn thấy bộ mặt thật của tham, sân, si, bản ngã, có khả năng phát giác, phát hiện, nhiếp phục. Từ đó có được sự bình an, tịnh lạc, có được sự thấu hiểu về thân tâm của chính mình, thấu hiểu những gì đã làm cho mình khổ, cái gì đưa mình tới an lạc thì mình thực tập điều đó, chúng ta gọi là tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá, tái hiện Kỳ Viên Tinh Xá. Con làm đất cho rộng rãi là hy vọng nhiều người về tu để được xúc với Chánh pháp. Tại sao Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Tăng ở trên núi rừng, tại sao Đức Phật sanh dưới gốc cây, tu dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, chuyển pháp luân ở dưới gốc cây và cuối cùng nhập Niết-bàn dưới gốc cây? Chúng ta phải suy ngẫm, qua đó nói lên điều gì? Núi rừng là nhà của Phật, nhà của các bậc Thánh.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Bậc ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A-la-hán)
Ở phố thị, thành đô khi ngồi thiền tâm rất khó yên, bao nhiêu màu sắc, bao nhiêu ồn ào, bao nhiêu thứ dẫn dắt tâm. Cho nên các bậc Thánh thành tựu đạo quả từ chỗ xa vắng, điều đó muôn đời không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có 1 môi trường tiếp xúc là hết sức quan trọng trong sự tu, đừng có nói “Nhất tu thị, nhị tu sơn”, cái đó Phật không có nói, mình đi theo mấy cái đó là mình đi theo phàm phu. Phật nói phải có những hoàn cảnh thanh vắng, an tịnh. Mình phải nhìn lại, mình ngồi ở nhà chút xíu là con khóc, cháu ngoại khóc, chút xíu là điện thoại reo, chỉ cái điện thoại là tu cả 1 vấn đề. Đang ngồi thiền cái nó reo lên, rồi xong là thọ, tưởng, hành nghĩ là coi chừng có chuyện quan trọng. Đó là lỗ tai xúc, cho nên phải cắt cái xúc đó, xúc sanh ra khổ lạc, khổ và vui. Cho nên cái xúc của chúng ta là mỗi ngày nghe pháp, hành thiền, mỗi ngày chúng ta ngồi an tịnh trong không gian đại ngàn. Vì vậy, Thế Tôn nói khổ vui do duyên sanh, khổ vui do duyên xúc. Một người cứ đi chơi với mấy người bạn nhậu, dù người này không nhậu nhưng đi chơi riết thì sớm muộn gì cũng bị dẫn. Một người không hút thuốc, không ghiền xì ke, nhưng cứ đi chơi với lũ bạn đó thì chắc chắn sẽ bị xúc dẫn. Một người thích đi ra chợ, thích lại quán bar, hộp đêm, vũ trường so với người thích đi chùa tu thì sẽ khác nhau. Người thích lấy tiền ra đếm với người thích lật kinh Nikāya thì cũng khác nhau, cũng là 1 tờ giấy, nhưng 1 cái đưa đi xuống, 1 cái đưa đi lên. Cũng xúc tờ giấy nhưng đếm tiền là tâm ô nhiễm, gần xuống lỗ rồi mà cứ ngồi đó đếm tiền. Cũng là 1 tờ giấy thôi mà đếm tiền là tâm ô nhiễm, nhưng lật trang kinh Nikāya ra thì lại là thanh tịnh, đó là hắc pháp, bạch pháp, cũng là 1 tờ giấy nhưng mình phải biết chọn lựa để xúc. Phải lựa trong cái xúc này, phải trạch pháp thì mình tu hay lắm, tiến bộ lắm.
Cho nên Đức Phật nói chỗ nào có thân, do suy nghĩ về cái thân đó mà nội thân khởi lên khổ lạc, xúc tập khởi, tư niệm là hành uẩn, suy nghĩ về cái thân. “Trong 6 pháp này đều bị vô minh chi phối”, suy nghĩ về cái thân nhưng nghĩ bằng vô minh dẫn dắt: thân tôi không bằng người ta, thân tôi xấu hơn người ta, nghèo hơn người ta, không thành đạt bằng người ta, thân tôi là mập, là ốm, là đen, là trắng, suy nghĩ về chung quanh cái thân này. Suy nghĩ đó có khổ vui tại vì cho rằng thân đó là tôi, là của tôi nên khổ lạc sanh khởi lên. Còn nếu nó sanh khởi lên “Nhà kế bên giàu hơn mình. Bà đó cái tướng có phước hơn, sang hơn mình”, sau đó suy nghĩ cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này là tứ đại, 5 uẩn, vô minh, không có gì là tôi, không có gì là của tôi trong đó. Khi mình đánh tan bằng suy nghĩ đó đi thì sự tự ti, mặc cảm, so sánh hơn thua lúc nãy tan đi, lúc đó hết khổ, giải tỏa được cảm giác bên trong. Cũng 1 suy nghĩ thôi nhưng có thể là khổ hoặc lạc. Nếu suy nghĩ theo chiều vô minh, tham ái, chấp thủ thì nó khổ và nếu suy nghĩ theo chiều trí tuệ, Như lý tác ý bằng sự vượt thoát ra cái hành đó thì lúc ấy mình trở về sự an tịnh, trú trong pháp, đó là tu trong hành uẩn. Bởi vì có xúc mới sanh ra tư niệm, nhìn thấy ngôi nhà kia, nhìn thấy hình bóng của người kia, món đồ của người kia bắt đầu nó so sánh, nó sanh ra suy nghĩ. Khi mình có Như lý tác ý, mình đánh nó thì nó tan, nếu không mình cứ đi theo thì nội thân khởi lên lạc khổ, nó cứ khổ, vui, khổ, vui hoài trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó. Nó đi ra không được và cứ xà quần trong những suy nghĩ. Có những người họ thù oán nhau 10 năm, 20 năm cũng không đi ra được.
Có 1 người vì nghèo khổ cho nên mới đi ăn xin, gặp 1 đại gia rất giàu có nên mới chìa tay xin, ông giàu có không những không cho còn cầm cục đá liệng vô người ăn xin. Người này vô cùng oán hận, tức giận, lượm cục đá cất rất kỹ, thề rằng khi ông đại gia phá sản ổng sẽ dùng cục đá này liệng trở lại, ổng nuôi thù hận đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó cho đến hơn 20 năm sau. Sau đó ông nhà giàu không những bị phá sản mà còn bị bắt vô tù, trong ngày người ta còng tay đưa từ nhà vô tù thì ông ăn xin chờ sẵn, hả dạ, cầm cục đá sẵn trong tay để liệng vô đầu ông kia. Khi ông nhà giàu phá sản bị còng đi tới gần thì ông ăn xin nhìn thấy dáng vẻ, mặt mày hốc hác, 2 hàng nước mắt, bộ dạng rất thống khổ của người nhà giàu bị bắt đó. Bỗng nhiên ông ăn xin sanh khởi lên sự tội nghiệp, đã đau khổ trong cảnh nghèo khó này mà mình lại còn ôm nỗi hận mấy chục năm, rất đau khổ. Cuối cùng sau khi suy nghĩ thì ông ăn xin này buông cục đá xuống, không liệng nữa. Một cảm giác, nghĩ tưởng mà nó trở thành tù ngục trong 20 mấy năm, trong thời gian đó chất chứa những cảm giác thù hận, đau khổ, chờ đợi ngày rửa nhục mình thấy có sung sướng không? Như vậy, do cái xúc bị liệng cục đá đó mà có nội lạc, nội khổ, đau khổ dày xéo tâm can. Đây là 1 trong muôn ngàn ví dụ khác trong đời sống này: anh em ruột hoặc là mẹ con không nhìn mặt nhau do oán hận, đó là xúc khởi lên nội lạc, nội khổ. Một bóng đêm trùm phủ hết mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; trùm phủ hết tất cả cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức; trùm phủ hết những sự tiếp xúc của 6 xúc, 6 thọ, 6 tư. Nếu mình không nhìn thấy Chánh pháp này thì làm sao mình biết, làm sao có khả năng giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát được.
Cho nên khi tu học mình phải thương mình thiệt nhiều và cảm thông với những người chung quanh, chứ không phải tu là khinh thường những người ở chung. Phải thương, cảm thông, chấp nhận, tha thứ! Mình thấy mình tu, mình học như vậy mà còn tham, sân, si, bản ngã còn họ không thấy, không biết thì như thế nào. Không phải mình tu, biết được 1 chút thì mình khinh khi thiên hạ, mình bản ngã là trật lất, thương nhiều hơn thì đó mới là từ bi của đạo Phật. Từ bi là sự thấy biết thật sự bản chất của đau khổ trên cuộc đời, của thân tâm, của những cấu nhiễm rồi xót thương cho chính mình, xót thương thương cho những người thân thương nhất của mình, xót thương cho những người chung quanh, cho cả hữu tình chúng sanh. Với từ tâm xót thương đó, mình nói thì mình làm, mình đóng góp, cống hiến đó là từ tâm, là tư bi, làm tất cả mọi việc bằng từ tâm đó với mục đích là muốn giúp cho người ta hiểu được sự thật. Đó là đại bi trong Phật giáo, đó là trải tâm từ, chứ không phải chỉ ngồi quán tưởng trải trong tâm mà phải nói lời thương, lời từ ái, phải làm được những hành động cụ thể trong đời sống. Sau khi mình thấy, mình hiểu và mình thương thì mình phải thực hiện, phải hành động còn bằng không cả 1 đời của mình là tự làm khổ mình, khổ người, hành hạ những người mình thương, dày xéo tâm can của mình, chà đạp những người mình yêu thương mà mình không biết, mình làm khổ cho mình, làm khổ cho người. Bao nhiêu những cảm giác, suy nghĩ, hành động tàn phá nội tâm, thân tâm của mình đến cuối cùng chỉ là 1 cái thân già cỗi, tiều tụy, suy nhược giữa thân và tâm, từ thể chất cho đến tinh thần. Cái thân ngày càng tiều tụy, suy nhược, cái tâm ngày càng bành trướng, phát triển sân, si, bản ngã, ta đây, cuối cùng khi kéo màn buồn xuống là lệ tuôn rơi, Kết thúc đời sống này trong nước mắt, trong tiếc nuối, trong ái luyến, trong oán hận, trong hờn trách, trong buồn tủi, mình đem những cái đó ra đi chứ không có gì hết. Tất cả những thứ mình ưa thích, quý trọng nhất nhưng đến cuối cùng không có gì hết, chỉ có nghiệp ra đi. Nó sẽ là ác nghiệp nếu mình không tích tụ thiện pháp, công đức, phước báu, không làm những hạnh lành, đời sống mình cuối cùng không phải là trống rỗng, mà là âm.
Cho nên Đức Phật dạy chỗ nào có lời nói do tư niệm về lời nói, nội thân khởi lên khổ lạc, chỗ nào có ý do tư niệm về ý thì nội thân khởi lên khổ lạc. Khi người ta nói 1 câu, nghe xong là về suy nghĩ, đó là nhĩ xúc, về sanh thanh tưởng, thanh tư, thọ do nhĩ xúc sanh. Bao nhiêu cảm giác, nghĩ tưởng về câu nói đó cứ suy nghĩ hoài, rồi bắt đầu viết luận văn. Kêu viết bài tu thu hoạch thì không thấy đâu nhưng mà nghe ai nói câu gì thì tối về ngồi viết luận văn, không cần bút, mực, giấy gì hết mà viết hết cuốn này tới cuốn khác, chất hết trong đầu, mở bài, bình luận, kết luận rất dài. Phê phán đúng sai, hay dở của người ta, thích làm quan tòa xử kiện, phán quan nhưng không xử chính nó, mà nó đi xử người ta, bữa nào bị người ta xử lại rồi đau khổ. Ngồi lại là nói người ta chứ không nói mình, không nói“Thầy ơi, con thấy vấn đề này con không giải quyết được, bản ngã của con quá chừng quá đất, cái sân của con tổ bố, si của con vô ngồi thiền cứ gục hoài” mà nói bà kia, ông nọ, người này, người kia. Chỗ nào có ý do ý tư niệm, tức là suy nghĩ về cái ý, chỗ này là pháp tưởng, pháp tư, ý xúc, cho nên ngồi 1 mình cũng khởi lên khổ lạc. Khi ngồi tự cười khặc khặc, hoặc là khóc hu hu, đó là bị thần kinh, là bị nặng. Còn nhẹ thì vẫn là ngồi đó, tự nhiên suy nghĩ rồi mỉm cười nhẹ nhẹ lên, hoặc suy nghĩ xong là xụ mặt xuống, đó là ý xúc, xúc tập khởi là do duyên xúc nên khổ lạc khởi lên. Ngồi đó mình tưởng đâu là không có ai nhưng có ý xúc bên trong.
Chúng ta sẽ nói đến phước và tội, thiện và ác. Khi mình sắp sửa chết thì lúc đó quay lại hết 1 cuốn phim 6, 7 chục năm, lúc đó là ý xúc. Khi đó thọ, tưởng, hành hoạt động khủng khiếp lắm, giống như vũ bão. Cho nên mình thấy người đâm heo, khi gần chết họ để con dao mổ heo kế bên. Tại vì thọ, tưởng, hành sanh khởi thì những hình ảnh, những cảm giác, suy nghĩ hiện lên. Những ai giết người nếu họ không đầu thú, họ trốn chui trốn nhủi, thì họ gặp ác mộng, cái đó chính là ý xúc, pháp tưởng, pháp tư. Những hình bóng, tội lỗi họ làm, những cảm giác đau đớn của người mà họ hại, những suy nghĩ về chuyện bất lương, về tội ác đó ám ảnh họ. Đức Thế Tôn đã nói khổ vui do duyên xúc sanh chính vì vậy do bình thường làm ác nghiệp nhiều, lường gạt, dối trá, xạo ngụy, mưu sĩ, hại người ta thì tới lúc mình chết tất cả những ác nghiệp biểu hiện. Chính thọ, tưởng, hành đẩy mình đi vào các ác nghiệp, vào thế giới tương xứng với ác nghiệp đó chứ không phải có con ma, con quỷ nào lại bắt mình. Chính những ác nghiệp đó đẩy mình đi tương xứng với những cảm giác, nghĩ tưởng, tâm thức đó. Nó đi tìm cảnh giới tương xứng, thích ứng với nó nhưng không phải đi tìm là được, mà nó bị sức hút mãnh liệt của nghiệp lôi đi, không tự chủ, không làm chủ, không sáng suốt được.
Còn người hành thiện, làm những nghiệp trắng, làm những phước báu công đức thì trước khi nhắm mắt thì những hình ảnh mình đã làm bao nhiêu thiện pháp, bao nhiêu phước lành, bao nhiêu công đức, những thiện pháp đó biểu hiện ra thì họ an lạc, hạnh phúc, mãn nguyện. Những thọ, tưởng, hành an lạc cộng với nghiệp thiện, nghiệp trắng đưa họ đi còn những tài sản vật chất không đem theo được gì hết. Có đem thì là lấy tiền giả đốt cho mình chứ đâu có ai lấy tiền thiệt đốt cho mình. Mình làm được mấy tỷ nhưng tới chừng chết đâu có ai đốt hết mấy tỷ đó cho mình, nó để lại nó xài chứ đâu có đốt. Vụ vàng mã là ngoài miền Bắc thịnh lắm, đốt nhà, đốt xe hơi bằng giấy, có đốt điện thoại xuống để điện nữa, mà đốt toàn là đồ giả. Mình làm thì làm ra đồ thiệt, bao nhiêu nước mắt mồ hồi, bao nhiêu tính toán nghiệp ác, nhưng tới chừng chết là toàn đồ giả. Cho nên phải siêng năng làm tất cả các thiện pháp, nỗ lực mà làm, suy nghĩ lên là phải làm ngay lập tức, không có hứa. Có 1 chú định lên đây xuất gia, mấy tháng sau sắp xếp lên nhưng khoảng nửa tháng, 1 tháng sau thì nghe tin điện giật chết, vô thường bất trắc lắm, đừng nói đợi tới lúc nào mới làm, thiện pháp thì phải làm ngay lập tức, nếu không thì không kịp. Tu cũng vậy, tu ngay lập tức, ngay bây giờ. Mình có hứa đợi chừng nào mình thở không, có hứa đợi 3 tháng sau mới thở chứ giờ con không thở khôgn, sự tu của mình cũng vậy, phải thấy nó giống như hơi thở, giống như món ăn mỗi bữa mình ăn cơm. Phải siêng năng, nỗ lực, giờ nghe pháp, giờ ngồi thiền, giờ tụng kinh, những giờ viết bài, tu tập, công quả phải làm bằng tất cả tấm lòng, trái tim của mình. Sự bố thí, cúng dường, hộ trì Tam bảo, giúp đỡ những người nghèo khổ, sự chia sẻ đối với người thân, cha mẹ, anh em, vợ chồng, làm được cái gì thì phải làm bằng tất cả trách nhiệm, những cái đó là phước báu đi theo mình, nó che chắn, che chở, bảo vệ cho mình trong hiện tại và tương lai.
Cho nên chỗ nào có ý mà do tư niệm về ý thì nội thân khởi lên lạc khổ, do duyên vô minh hoặc tự chúng ta làm những hành động, nói những lời nói, những suy nghĩ hoặc có ý thức rõ ràng hay không có ý thức rõ ràng cũng khởi lên khổ lạc. Tất cả những cái đó bị vô minh bao phủ. Thí dụ, 1 người bị bệnh thần kinh trong trại tâm thần, họ cũng vui cũng cười khi được cái áo mới hay là họ được bữa ăn ngon. Mình nhìn mình thấy thương trước niềm vui nhỏ bé, đối với mình thấy cái đó không có gì vui. Tuy rằng mình đi làm từ thiện nhưng đối với mình nếu bị vậy thì có vui không, mình nghĩ khi đi ra trại tâm thần, phải làm người tỉnh táo đó mới là vui. Cũng vậy, cái được cái mất của mình, cái mà mình được khen hay bị chê, giàu hay nghèo, gia đình thuận thảo hay đối nghịch chẳng khác nào cái được mất của người bị tâm thần. Mình còn sống trong vô minh, còn sống trong si ám, còn sống trong mê mụi, chấp thủ 5 uẩn, trong thân kiến, dù cho có được gì thì cũng giống như kẻ bị tâm thần được mấy món đồ từ thiện. Điều quan trọng là tỉnh thức, hết bệnh, làm con người tỉnh táo thì đó là sự thành tựu Chánh kiến. Sau khi vỏ bọc phước báu mình có được do đã làm bên ngoài, thì mình phải tiến sâu vào vấn đề thành tựu Chánh kiến. Một người bị bệnh, cũng đồng thời bán thân bất toại, bị tai biến nhưng trong 1 cái nhà nghèo tàn tạ với nhà giàu thì giữa 2 cái đó mình thấy cái đỡ hơn, nhưng tụ chung vẫn là tai biến. Mình không muốn làm người tai biến liệt giường, liệt chiếu trong cái nhà giàu, mình muốn làm người khỏe mạnh, cũng vậy mình phải trị cho hết tâm bệnh. Tâm mình bị bệnh trầm kha, nan y, bệnh nhiều thứ, phải trị cho nó hết bệnh. Muốn trị hết bệnh phải cần những thứ hỗ trợ, có điều kiện, có tiền bạc, có phương tiện, cũng vậy trong sự tu cần có trí huệ và phước đức phù trợ, hỗ trợ. Cho nên Đức Phật nói “Trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối. Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, Thân ấy không có; Khẩu ấy không có; Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.”, có khởi lên khổ lạc là khổ lạc về phần vật chất, sắc uẩn. Chứ khi đã nhìn thấy tính chất trống rỗng của thân thì phải ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, phá được thân kiến. Giống như mình đã nói trị để trở thành người tỉnh, không còn bị điên, không còn thần kinh, không còn tai biến, không còn nan y, trở thành 1 người tỉnh táo và khỏe mạnh đó là điều quan trọng. Phước chỉ là cái hỗ trợ, phương tiện, mục đích của mình là thành 1 người tỉnh táo, không bị tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoành hành, bạo hành – hành động bạo lực với mình. Rồi mình gục ngã, bị nó đè đầu cưỡi cổ, bị nó xiềng xích, bị nó kèm gọng, bị nó hành hạ, tàn phá. Cho nên Đức Phật dạy rất tuyệt diệu về ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, Chánh kiến ly tham. Vậy thì cái gì giúp mình Chánh kiến? Bộ xương giúp cho mình Chánh kiến, đống tro tàn sau khi đem từ lò thiêu ra giúp cho mình Chánh kiến. Tim, gan, phèo, phổi giúp cho mình Chánh kiến, giúp cho mình phá vỡ được thân kiến. 9 giai đoạn của 1 tử thi giúp cho mình thấy, biết đúng, thành tựu trí tuệ ly tham.
Như vậy chúng ta thấy được từ xúc, do nhân duyên sanh, do sự tiếp xúc mà khổ và vui khởi lên. Mình phải chọn cái xúc trong trí tuệ, trong pháp, ngăn chặn những cái xúc làm cho mình sanh khởi lậu hoặc, tâm cấu nhiễm. Một cái xúc tốt, môi trường tốt, thời lành, bạn tốt, không gian yên tĩnh, không khí mát mẻ, có đường lối, có pháp tu, có hành trì thì vô cùng tuyệt vời! Quý thầy, đại chúng lót ổ sẵn cho mình ngồi mà còn không chịu tu nữa thì thôi ráng chịu, không còn nói gì nữa hết. Có người đi cầu pháp, đi tìm pháp, tạo lập cơ sở thuyết pháp, có người hướng dẫn tu, có người lo cho miếng ăn giấc ngủ, tuy là ngủ tệ 1 chút nhưng đỡ hơn các vị Thánh Tăng, Đức Phật ngày xưa. Quý nhất là cái pháp, còn ăn ngủ ở nhà dư rồi, không cầu. Cho nên mình phải hạnh phúc, hoan hỷ, tinh tấn quyết liệt lên!
Câu cuối con muốn thưa vơi đại chúng là phải tác ý hỷ lạc thường xuyên và an trú trong đó. Phải nhớ điều này, nó rất quan trọng, không có là tu không nổi. Phải an trú trong hỷ lạc, thấy mình thật hạnh phúc, mình có phước báu, có công đức chứ không dễ gì trong 1 tỷ kiếp mà nghe được pháp này được 1 lần. Không ai nói cho mình biết hết, người ta khuyến khích mình đi vào ái mà trá hình đó là tu. Cho nên đi được vào pháp ly tham là phước báu tối thượng của chúng ta trong thời đại này. Phải trân quý, nắm giữ, nắm chắc, nắm chặt, nắm thật kỹ, đừng cho nó lọt rớt ra, nó lọt rớt ra là mình đọa vào 3 vào đường ác. Nắm cho thật là kỹ và phải đi nhanh, mau, đang có trớn là đi tiếp tục. Phải nhớ thường thường tác ý hỷ lạc, an trú trong ly dục, ly tham, hỷ lạc, trí huệ. Bây giờ mình nhìn thấy được khổ rồi thì mình cười lên và phải bớt mê hơn hồi xưa. Bây giờ mình thấy được bản ngã rồi, xưa giờ mình không thấy nhưng giờ thấy thì phải cười lên. Bây giờ mình thấy được dục rồi, xưa giờ mình không thấy, bây giờ mình thấy được bộ mặt thật sự của con quái vật sân trong tâm rồi, phải vui lên, vì xưa mình không thấy nhưng giờ đã thấy. “Từ từ đó, tao sẽ xử lí mày”, tuy là thua nhưng không bỏ cuộc vì mình đã thấy rồi, biết rồi và đã có phương pháp rồi. Nhất trí không?
Câu hỏi của Phật tử:
“Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin thưa hỏi sư phụ.
Sư phụ chỉ dạy về tiếp xúc, đúng với tâm trạng của con đang bị rất nặng về tài, bị vướng vô rất nặng, rất sâu. Con khổ khoảng 2 năm nay rồi, nếu về luật pháp con cũng làm được, hoặc về thế gian bên ngoài như bè bạn chỉ dẫn thì con cũng làm được nhưng lương tâm con cắn rứt. Con không biết phải làm thế nào, vì con cũng là người Phật tử, đã quy y Phật rồi, con không muốn làm gì hết, nhưng con đau khổ hoài. Sư phụ chỉ dạy cho con để con thoát đi đau khổ đó vì con cứ ray rứt hằng ngày. Cụ thể là con tin tưởng 1 người em dâu trong gia đình, cô em dâu đó huy động vốn để làm tiền đáo hạn ngân hàng thì con cũng đưa vô cỡ 3 tỷ rưỡi, trong vòng 2 tháng thì cô đó trả con chỉ có 500 triệu rồi không trả nữa. Con có đầy đủ giấy tờ, chứng cứ hết, ra thưa kiện cũng được, bạn bè con xúi là dùng giang hồ cũng được. Nhưng lương tâm con cắn rứt, con không thể nào làm được và con rất đau khổ 2 năm nay. Con không làm gì hết và con cứ tiếc nuối, đau khổ về khoảng 100 lượng vàng, rồi khi tiếp xúc với người đó, người mà con tin tưởng. Con không biết làm thế nào để cho con đừng đau khổ nữa, dù số tiền đó có mất đi, con không thiếu thốn gì, mà con cứ khó chịu trong suốt 2 năm nay. Mỗi lần lên công phu con cũng nhớ, con làm việc gì cũng nhớ, mặc dù nghe pháp rất nhiều, con không xóa đi được. Xin sư phụ chỉ dẫn để con giải tỏa được vấn đề này.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Trong sự việc này có nhiều cấp độ, tùy theo cái tâm mình chứ không phải là chỉ dẫn là có thể làm được. Tùy theo tâm mình có quyết tâm hành pháp hay là không?
Mức độ mạnh nhất của pháp là quán chiếu về vô thường, về cái chết xảy ra với mình. Niệm tử nếu bất ngờ cái chết xảy ra, tiền mình đã mất rồi, mất tiền là mũi tên thứ nhất; tâm mình bất an, đau khổ dài dài, ràng buộc, luyến tiếc là mũi tên thứ 2, và chính cái tâm này nó hành hạ mình. Nếu mình không giải quyết cái tâm này thì mình mất luôn tâm, đã mất tiền, mà còn mất đi cái tâm bình an. Cho nên phải luôn quán chiếu vô thường, quán chiếu cái chết, quán chiếu 32 thể trược, quán chiếu bất tịnh, quán chiếu 9 giai đoạn của 1 tử thi. Thường trực quán chiếu để giải phá cảm giác nghĩ tưởng, tiếc nuối đó. Không phải 1, 2 lần là xong nhưng mình nỗ lực làm thì nó sẽ thuyên giảm, nếu mình nỗ lực nhiều, kiên trì thì có thể đoạn tận. Cô mở nghe những bài 9 giai đoạn của 1 tử thi, quán bất tịnh rồi mình làm theo, ngày nào cũng phải quán, quán càng nhiều càng tốt, quán để giải tỏa cảm giác nghĩ tưởng, tiếc nuối đó. Vấn đề tiền bạc trả được hay không tính sau, bây giờ giải tỏa cái cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mình trước cho nó nhẹ, nếu không nhắm mắt sẽ bị đọa lạc thì mình chọn cái nào. Tiền thì cứ nghĩ là nó mất đi, đừng nghĩ là tìm lại được, nghĩ đó là làm mình khổ. Vì suy nghĩ mất tiền mà làm mình đọa lạc tam đồ khổ, nặng thì thành ngạ quỷ để mình đi kiếm cái tiền đó, đi theo người đó, phải vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vừa vừa hơn là thành súc sanh. Cái tâm mình bây giờ làm mình ăn không ngon, ngủ không yên, ngồi thiền không được, thì nó đã rất nghiêm trọng, nó đi vào tích tụ trong thọ của mình thành 1 khối, tức là bị ung thư trong tâm, cái này cần phải giải phẩu. Giải phẩu bằng cách mình phải tư sát, quán chiếu thật nhiều góc độ để mình giải phá, đặt mình vô rất nhiều trường hơp. Mình bị bệnh bất thình lình chết thì sao, nhiễm dịch bệnh thì sao, mình đi máy bay thì sao. Mình đặt thật nhiều trường hợp rồi cứ quán hoài những ý nghĩ, cảm giác đó để giải phá cái đã tích tụ trong cảm thọ. Vì đây là bệnh nặng nên phải dùng đô cho thật mạnh thì sẽ giải tỏa được, không khó. Làm liên tục, làm kiên trì dưới sự hướng dẫn của quý thầy ở đây thì sẽ được còn nếu không là cực kỳ nguy hiểm, mình sẽ không siêu thoát được. Đây cũng là bài học cho nhiều người khác, có nhiều người thiếu nợ, hoặc là chủ nợ của người ta.
Còn vấn đề xã hội đen là tuyệt đối không được, đó là mình gieo thêm cái nghiệp, rất nguy hiểm, người ta xúi thì kệ người ta, nhưng cái đó mình loại bỏ hẳn, diệt tận ý nghĩ đó trong tâm mình, không cho nó sanh khởi suy nghĩ đó lại nữa. Còn vấn đề mình làm chánh đáng, nếu được thì tốt, còn không thì mình quán chiếu về nghiệp quả trong quá khứ. Biết đâu đời trước mình giật người ta chứ tại sao mình lại tin tưởng 1 người như vậy, tại sao mình rơi vào hoàn cảnh như vậy. Bây giờ phải quả quyết, trong tâm mình phải có sự quyết định rõ ràng, phải dứt khoác, nếu thương thì giải tỏa luôn, diệt tận suy nghĩ, cảm giác đó. Thực tập mới được, còn nói thì dễ mà ở trong đó nó cứ day dứt, vì vậy phải giải tỏa được cái khối trong cảm thọ, nghĩ tưởng đó. Mình cần có tình thương, người đó cũng trong bà con, mình quán cũng tại mình thôi, tại mình tham. Quán nghiệp quả trong quá khứ, quán vô thường, quán nếu sau khi nhắm mắt mà khối u này nó đeo bám trong nội tâm mình thì sẽ rơi vô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, quán cái nguy hại của sự luyến tiếc tài sản này. Quán thật là sâu sắc để mình xuất ly, thoát ra khỏi thì đó là mình tự cứu mình. Trong khi mình không phải nghèo khổ, không có nó mình vẫn sống, mình quán chiếu đây là trả nợ và mình giải tỏa tâm tham luyến đó bằng 1 tâm từ, xót thương. Nếu đời trước mình thiếu nợ, thì bây giờ mình trả nợ, mình nghĩ như vậy, còn nếu mình không thiếu nợ thì do người đó gây nợ, sau này người ta trả. Mình cứ quán bằng tâm từ, hơn nữa người đó cũng là bà con thâm quyến của mình đang trong hoàn cảnh khổ. Như vậy là có hướng để mình đi.
Phát biểu tri ân trước khi xuống núi:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng con thành kính tri ân sư phụ, thành kính cảm ơn sư phụ. Chúng con thành kính tri ân quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng đã tạo cho chúng con 1 khóa tu. Qua khoá tu này chúng con đã hiểu thêm về sự biến độ của nhân quả, ngày hôm nay thầy đã cho chúng con thấy thêm 1 khía cạnh của xúc và đoạn xúc là như thế nào. Con xin cảm ơn thầy Pháp Từ về chương trình tu học vừa qua. Thầy đã đi từ bài Giải Thoát Trí cho đến Tâm từ, những cảm xúc trong con và những gì con nhận được là vô cùng quý giá. Sự thông hiểu về khổ cho con 1 sự thông cảm đối với những người thân của con và những người xung quanh con. Con xin thành kính tri ân sư phụ, người mà con tôn kính, có những đức hạnh mà con hiếm gặp trong cuộc đời của các vị tu sĩ hiện tại. Lòng từ bi của thầy đã thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, những đức hạnh của thầy, những bài thầy giảng đã làm thay đổi sâu sắc trong tâm của con. Con xin thành kính cảm ơn đến sư phụ với tất cả lòng chân thành của mình. Con cũng xin phép chúng con xuống núi.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
./.
Từ Đâu Có Khổ Vui?
-THÍCH MINH THÀNH-
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu khổ vui từ đâu, chúng ta sẽ nghe bậc tướng quân của Chánh pháp – Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) giải thích cho chúng ta thấy được vui khổ từ ở đâu.
Tôn giả Bhùmija, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng đậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhùmija thưa Tôn giả Sàriputta:
- Hiền giả Sàruputta, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm. Hiền giả Sàruputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm. Hiền giả Sariputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do người khác làm. Hiền giả Sàriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh.
- Ở đây, này Hiền giả Sàriputta, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn không tìm được lý do để chỉ trích?
- Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói lạc khổ do duyên mà sanh? Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp, và không một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Ở đây, này Hiền giả, các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, bài kinh Bhùmija)
Tức là 4 chủ trương đó đều sai hết: tự mình làm cho mình khổ; người khác làm cho mình khổ; 2 cái đó cộng lại, mình và người khác làm cho mình khổ, cuối cùng là tự nhiên sanh khổ. Thường thường khi khổ, mình có bị rơi vô 4 chủ trương này không? Thường là mình nằm trong đây và rơi nhiều vô chủ trương người ta làm cho mình khổ, đây là quan điểm chung của phàm phu. Tại người đó, tại ông đó, tại bà đó, tại cô đó, tại hoàn cảnh đó, đổ thừa cho cái bên ngoài. Cho nên cái thấy của mình là cái thấy góc cạnh, phiến diện, nhỏ bé, cái thấy của nghiệp, của vô minh, cái thấy của tình thức chứ không phải cái thấy của Thánh trí. Mỗi bữa tụng kinh mình đọc bài khai kinh trong kinh Nikāya, không có ở đâu đọc khai kinh bài này hết.
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay! Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho con ý nghĩa của lời dạy ấy sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì.
Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, ta sẽ giảng.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau.
Nhớ câu đó thì Chánh pháp không bị diệt. Tất cả pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ, tức là dựa vào Thánh trí chứng ngộ của Đức Phật. Bây giờ mình có chuyện gì thì lấy suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của mình hoặc đi học được chút đỉnh thì lấy tư tưởng của người khác, của người này, người kia, hoặc theo ngoài đời gọi là lấy tư tưởng của những người đại gia, mắc chước theo hay lấy tư tưởng của những triết gia, thường thường là vậy. Dẫn chứng là theo nhà triết học này, nhà triết gia này, những tư tưởng nổi tiếng trên thế giới nhưng mà tất cả những cái đó là phàm phu, không giải quyết được vấn đề. Chúng ta đọc kinh nhiều sẽ thấy, ngay cả Tôn giả Xá-lợi-phất, Ngài A-nan, các bậc Thánh giả nhưng vẫn chờ đợi Đức Thế Tôn chỉ dạy các vấn đề. Sau khi Đức Phật nói rồi thì “Chúng con thọ trì”. Ngay cả bậc Thánh, dầu cho vị đó là A-la-hán nhưng cái thấy đó cũng không viên mãn bằng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đức Thế Tôn là cha của các bậc A-la-hán, từ Ngài mà sanh ra các bậc A-la-hán, cha của hàng Thánh.
Trở lại bài kinh, lúc đó Ngài A-nan đã là Sơ quả, Nhị Quả rồi nhưng sau khi Ngài A-nan nghe sự kiện vừa rồi xảy ra vẫn đi đến Đức Phật trình bày, chờ nghe Đức Thế Tôn dạy.
Này Ananda, Sàriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh.
Này Ananda, chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có lời nói, này Ananda, do nhân khẩu tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có ý, này Ananda, do nhân ý tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ.
Do duyên vô minh, hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc tự chúng ta, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác này Ananda làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda... (như trên)... Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc tự mình, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ananda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ananda... (như trên) ... Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ananda làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Này Ananda, trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối.
Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Khẩu ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Chúng không phải là đồng ruộng, chúng không phải là căn cứ, chúng không phải là xứ, chúng không phải là luận sự,; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, bài kinh Bhùmija)
Cái này đọc sẽ thấy khó hiểu lắm, khi giải thích ra mới thấy được chỗ thâm sâu, bây giờ chúng ta sẽ đi từ từ. Thông thường chúng ta bị 4 cái quan điểm sai lầm Sa-môn, Bà-la-môn, ngoại đạo thời đó chủ trương như vậy, tự tôi làm cho tôi khổ; hoặc người ta làm cho tôi khổ; hoặc 2 bên cộng lại, 2 người rước về ở chung nhau khổ; quan điểm tệ nhất là khổ trên đời này là tự nhiên. Tôn giả Bhùmija hỏi Ngài Xá-lợi-phất và Ngài nói lại lời Thế Tôn là lạc khổ là do duyên sanh, duyên sanh là do xúc, 1 chữ này rất ghê gớm, 1 chữ này là đề tại thiền quán. Chúng ta học định lý 5 uẩn thì xúc tập khởi sanh ra thọ, tưởng, hành tập khởi. Đức Phật nói chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ, chỗ nào có lời nói, chỗ nào có ý tư niệm khởi lên lạc khổ. Cho nên xúc sanh ra cảm giác, nghĩ tưởng, khi mình tiếp xúc sanh ra suy nghĩ, sanh ra cảm giác, sanh ra những hình bóng trong tâm. Mình không thể suy nghĩ về 1 cái gì mà từ đó giờ mình chưa từng tiếp xúc, chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng gặp. Đó là chỗ chứng ngộ của Đức Phật. Một cơn tức giận của mình lên không thể là do ngồi 1 mình, mà là do tiếp xúc với cảnh, cảnh đó cụ thể là tiếp xúc với người không ưa. Mình thấy họ hoặc nghe họ nói, hay họ làm hành động gì đó mà mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc, đụng chạm, chẳng hạn họ lại thụi mình 1 cái, thì như vậy mới khởi lên khổ lạc. Lại nựng mình 1 cái hoặc tán 1 cái thì đó là thân xúc, xúc thì mới sanh khổ lạc. Hoặc tự nhiên trời mưa, ngồi trong thư viện nhìn ra buổi chiều, buồn, không biết ở nhà con đang làm gì. Mình nói tự nhiên mình buồn nhưng đó là do duyên xúc, bên trong mới sanh ra thọ, tưởng, hành. Hình bóng đứa con hiện ra, cảm giác hiện ra, suy nghĩ hiện ra, trong này mới buồn. Hay là lên Quán Chiếu Đường, mặt trời lên, mây bay, chim hót, phong linh vang lên thì thấy tuyệt vời quá, chụp hình, đó là xúc sanh ra lạc. Còn lúc nãy xúc mưa chiều buồn nên sanh ra khổ. Tất cả là xúc hết, nhưng mình không biết là vì vô minh, mình có học đâu mà biết, mình có nhận diện đâu mà biết, mình có quán chiếu đâu mà biết. Cho nên mình cứ nói tôi buồn quá, tôi vui quá, chỗ này đẹp quá, tức là mình hướng ngoại mà không biết tâm mình đang vận hành thế nào.
Phải biết nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt, thân xúc, ý xúc, phải biết xúc đó sanh lên thọ gì, tưởng gì, hành gì. Trong thọ, tưởng, hành đó có thứ gì ở bên trong, trong đó có thúc giục, áp đảo, xâm chiếm, rủ rê như thế nào. Phải thấy hết tất cả vòng vận hành như vậy thì đó là trí tuệ, là Chánh kiến. Tự giác nhìn thấy được thân tâm của mình. Nhiều khi mình nhìn thấy, mình trạch pháp trong đó rồi thì mình lựa cái xúc để mà mình xúc, đây chính là sự tu. Mình biết xúc với người đó là sân, hận, xúc với người đó là 1 hồi có chuyện thì cắt xúc, tránh xúc. Mình biết xúc với người này tham ái, dính mắc, 70, 80 tuổi, bạc đầu hết rồi, không còn cọng tóc đen nào hết mà xúc với cháu ngoại, xúc với cháu cố, nhớ quá, cưng quá, vô ngồi thiền hình bóng nó hiện lên rồi ngồi cười, xúc cái đó là xúc duyên ái. Tu trong cái xúc này là trí tuệ, mình phải biết xúc với cái nào là làm cho mình thoái đọa, xúc cái nào làm cho mình tăng thượng, xúc cái nào làm cho mình hướng thượng, xúc cái nào để đưa mình lên chỗ trí tuệ, bình an, đó là sự tu tập thông minh của mình. Bây giờ mình nói sao tu hoài mà tu không được, đó là tại vì toàn là xúc với cái ô nhiễm, xúc với những tác nhân làm cho mình sanh ra dục, tham, sân, si, bản ngã thì làm sao mình tu được.
Mấy ngày hôm nay quý vị tiếp xúc với tre, trúc biếc, mây trắng, chim hót, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tiếp xúc với không gian núi đồi đại ngàn, tiếp xúc với những hình bóng huỳnh y, chiếc áo vàng an tịnh, lắng dịu, trang nghiêm. Tiếp xúc với Thánh trí của Đức Phật với những pháp âm, tiếp xúc những lời dạy từ bậc Chánh Đẳng Giác truyền thụ. Tiếp xúc với sự thật, tiếp xúc với chân lý, tiếp xúc với ánh sáng, tiếp xúc với tuệ giác, tiếp xúc với trí tuệ, tiếp xúc với sự tăng thượng giới học, tăng thượng tâm kiên định, tiếp xúc với trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ. Qua đó thấy cái tu của mình cũng là xúc, chuyển cái xúc vào tu. Mỗi lần sắp xếp về núi tu là nửa tháng, 1 tháng, còn nếu sắp xếp được là lên tu 3 tháng. Tâm nguyện của con là tái hiện 1 phần nào Trúc Lâm Tinh Xá, không cần xây chùa to, Phật lớn, chỉ cần có chỗ cho mọi người về tu đúng Chánh pháp, nhìn thấy được 5 uẩn, nhìn thấy bộ mặt thật của tham, sân, si, bản ngã, có khả năng phát giác, phát hiện, nhiếp phục. Từ đó có được sự bình an, tịnh lạc, có được sự thấu hiểu về thân tâm của chính mình, thấu hiểu những gì đã làm cho mình khổ, cái gì đưa mình tới an lạc thì mình thực tập điều đó, chúng ta gọi là tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá, tái hiện Kỳ Viên Tinh Xá. Con làm đất cho rộng rãi là hy vọng nhiều người về tu để được xúc với Chánh pháp. Tại sao Đức Thế Tôn và các bậc Thánh Tăng ở trên núi rừng, tại sao Đức Phật sanh dưới gốc cây, tu dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, chuyển pháp luân ở dưới gốc cây và cuối cùng nhập Niết-bàn dưới gốc cây? Chúng ta phải suy ngẫm, qua đó nói lên điều gì? Núi rừng là nhà của Phật, nhà của các bậc Thánh.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Bậc ly tham ưa thích,
Vị không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm A-la-hán)
Ở phố thị, thành đô khi ngồi thiền tâm rất khó yên, bao nhiêu màu sắc, bao nhiêu ồn ào, bao nhiêu thứ dẫn dắt tâm. Cho nên các bậc Thánh thành tựu đạo quả từ chỗ xa vắng, điều đó muôn đời không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có 1 môi trường tiếp xúc là hết sức quan trọng trong sự tu, đừng có nói “Nhất tu thị, nhị tu sơn”, cái đó Phật không có nói, mình đi theo mấy cái đó là mình đi theo phàm phu. Phật nói phải có những hoàn cảnh thanh vắng, an tịnh. Mình phải nhìn lại, mình ngồi ở nhà chút xíu là con khóc, cháu ngoại khóc, chút xíu là điện thoại reo, chỉ cái điện thoại là tu cả 1 vấn đề. Đang ngồi thiền cái nó reo lên, rồi xong là thọ, tưởng, hành nghĩ là coi chừng có chuyện quan trọng. Đó là lỗ tai xúc, cho nên phải cắt cái xúc đó, xúc sanh ra khổ lạc, khổ và vui. Cho nên cái xúc của chúng ta là mỗi ngày nghe pháp, hành thiền, mỗi ngày chúng ta ngồi an tịnh trong không gian đại ngàn. Vì vậy, Thế Tôn nói khổ vui do duyên sanh, khổ vui do duyên xúc. Một người cứ đi chơi với mấy người bạn nhậu, dù người này không nhậu nhưng đi chơi riết thì sớm muộn gì cũng bị dẫn. Một người không hút thuốc, không ghiền xì ke, nhưng cứ đi chơi với lũ bạn đó thì chắc chắn sẽ bị xúc dẫn. Một người thích đi ra chợ, thích lại quán bar, hộp đêm, vũ trường so với người thích đi chùa tu thì sẽ khác nhau. Người thích lấy tiền ra đếm với người thích lật kinh Nikāya thì cũng khác nhau, cũng là 1 tờ giấy, nhưng 1 cái đưa đi xuống, 1 cái đưa đi lên. Cũng xúc tờ giấy nhưng đếm tiền là tâm ô nhiễm, gần xuống lỗ rồi mà cứ ngồi đó đếm tiền. Cũng là 1 tờ giấy thôi mà đếm tiền là tâm ô nhiễm, nhưng lật trang kinh Nikāya ra thì lại là thanh tịnh, đó là hắc pháp, bạch pháp, cũng là 1 tờ giấy nhưng mình phải biết chọn lựa để xúc. Phải lựa trong cái xúc này, phải trạch pháp thì mình tu hay lắm, tiến bộ lắm.
Cho nên Đức Phật nói chỗ nào có thân, do suy nghĩ về cái thân đó mà nội thân khởi lên khổ lạc, xúc tập khởi, tư niệm là hành uẩn, suy nghĩ về cái thân. “Trong 6 pháp này đều bị vô minh chi phối”, suy nghĩ về cái thân nhưng nghĩ bằng vô minh dẫn dắt: thân tôi không bằng người ta, thân tôi xấu hơn người ta, nghèo hơn người ta, không thành đạt bằng người ta, thân tôi là mập, là ốm, là đen, là trắng, suy nghĩ về chung quanh cái thân này. Suy nghĩ đó có khổ vui tại vì cho rằng thân đó là tôi, là của tôi nên khổ lạc sanh khởi lên. Còn nếu nó sanh khởi lên “Nhà kế bên giàu hơn mình. Bà đó cái tướng có phước hơn, sang hơn mình”, sau đó suy nghĩ cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này là tứ đại, 5 uẩn, vô minh, không có gì là tôi, không có gì là của tôi trong đó. Khi mình đánh tan bằng suy nghĩ đó đi thì sự tự ti, mặc cảm, so sánh hơn thua lúc nãy tan đi, lúc đó hết khổ, giải tỏa được cảm giác bên trong. Cũng 1 suy nghĩ thôi nhưng có thể là khổ hoặc lạc. Nếu suy nghĩ theo chiều vô minh, tham ái, chấp thủ thì nó khổ và nếu suy nghĩ theo chiều trí tuệ, Như lý tác ý bằng sự vượt thoát ra cái hành đó thì lúc ấy mình trở về sự an tịnh, trú trong pháp, đó là tu trong hành uẩn. Bởi vì có xúc mới sanh ra tư niệm, nhìn thấy ngôi nhà kia, nhìn thấy hình bóng của người kia, món đồ của người kia bắt đầu nó so sánh, nó sanh ra suy nghĩ. Khi mình có Như lý tác ý, mình đánh nó thì nó tan, nếu không mình cứ đi theo thì nội thân khởi lên lạc khổ, nó cứ khổ, vui, khổ, vui hoài trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó. Nó đi ra không được và cứ xà quần trong những suy nghĩ. Có những người họ thù oán nhau 10 năm, 20 năm cũng không đi ra được.
Có 1 người vì nghèo khổ cho nên mới đi ăn xin, gặp 1 đại gia rất giàu có nên mới chìa tay xin, ông giàu có không những không cho còn cầm cục đá liệng vô người ăn xin. Người này vô cùng oán hận, tức giận, lượm cục đá cất rất kỹ, thề rằng khi ông đại gia phá sản ổng sẽ dùng cục đá này liệng trở lại, ổng nuôi thù hận đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó cho đến hơn 20 năm sau. Sau đó ông nhà giàu không những bị phá sản mà còn bị bắt vô tù, trong ngày người ta còng tay đưa từ nhà vô tù thì ông ăn xin chờ sẵn, hả dạ, cầm cục đá sẵn trong tay để liệng vô đầu ông kia. Khi ông nhà giàu phá sản bị còng đi tới gần thì ông ăn xin nhìn thấy dáng vẻ, mặt mày hốc hác, 2 hàng nước mắt, bộ dạng rất thống khổ của người nhà giàu bị bắt đó. Bỗng nhiên ông ăn xin sanh khởi lên sự tội nghiệp, đã đau khổ trong cảnh nghèo khó này mà mình lại còn ôm nỗi hận mấy chục năm, rất đau khổ. Cuối cùng sau khi suy nghĩ thì ông ăn xin này buông cục đá xuống, không liệng nữa. Một cảm giác, nghĩ tưởng mà nó trở thành tù ngục trong 20 mấy năm, trong thời gian đó chất chứa những cảm giác thù hận, đau khổ, chờ đợi ngày rửa nhục mình thấy có sung sướng không? Như vậy, do cái xúc bị liệng cục đá đó mà có nội lạc, nội khổ, đau khổ dày xéo tâm can. Đây là 1 trong muôn ngàn ví dụ khác trong đời sống này: anh em ruột hoặc là mẹ con không nhìn mặt nhau do oán hận, đó là xúc khởi lên nội lạc, nội khổ. Một bóng đêm trùm phủ hết mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; trùm phủ hết tất cả cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức; trùm phủ hết những sự tiếp xúc của 6 xúc, 6 thọ, 6 tư. Nếu mình không nhìn thấy Chánh pháp này thì làm sao mình biết, làm sao có khả năng giải tỏa, giải phá, giải phóng, giải thoát được.
Cho nên khi tu học mình phải thương mình thiệt nhiều và cảm thông với những người chung quanh, chứ không phải tu là khinh thường những người ở chung. Phải thương, cảm thông, chấp nhận, tha thứ! Mình thấy mình tu, mình học như vậy mà còn tham, sân, si, bản ngã còn họ không thấy, không biết thì như thế nào. Không phải mình tu, biết được 1 chút thì mình khinh khi thiên hạ, mình bản ngã là trật lất, thương nhiều hơn thì đó mới là từ bi của đạo Phật. Từ bi là sự thấy biết thật sự bản chất của đau khổ trên cuộc đời, của thân tâm, của những cấu nhiễm rồi xót thương cho chính mình, xót thương thương cho những người thân thương nhất của mình, xót thương cho những người chung quanh, cho cả hữu tình chúng sanh. Với từ tâm xót thương đó, mình nói thì mình làm, mình đóng góp, cống hiến đó là từ tâm, là tư bi, làm tất cả mọi việc bằng từ tâm đó với mục đích là muốn giúp cho người ta hiểu được sự thật. Đó là đại bi trong Phật giáo, đó là trải tâm từ, chứ không phải chỉ ngồi quán tưởng trải trong tâm mà phải nói lời thương, lời từ ái, phải làm được những hành động cụ thể trong đời sống. Sau khi mình thấy, mình hiểu và mình thương thì mình phải thực hiện, phải hành động còn bằng không cả 1 đời của mình là tự làm khổ mình, khổ người, hành hạ những người mình thương, dày xéo tâm can của mình, chà đạp những người mình yêu thương mà mình không biết, mình làm khổ cho mình, làm khổ cho người. Bao nhiêu những cảm giác, suy nghĩ, hành động tàn phá nội tâm, thân tâm của mình đến cuối cùng chỉ là 1 cái thân già cỗi, tiều tụy, suy nhược giữa thân và tâm, từ thể chất cho đến tinh thần. Cái thân ngày càng tiều tụy, suy nhược, cái tâm ngày càng bành trướng, phát triển sân, si, bản ngã, ta đây, cuối cùng khi kéo màn buồn xuống là lệ tuôn rơi, Kết thúc đời sống này trong nước mắt, trong tiếc nuối, trong ái luyến, trong oán hận, trong hờn trách, trong buồn tủi, mình đem những cái đó ra đi chứ không có gì hết. Tất cả những thứ mình ưa thích, quý trọng nhất nhưng đến cuối cùng không có gì hết, chỉ có nghiệp ra đi. Nó sẽ là ác nghiệp nếu mình không tích tụ thiện pháp, công đức, phước báu, không làm những hạnh lành, đời sống mình cuối cùng không phải là trống rỗng, mà là âm.
Cho nên Đức Phật dạy chỗ nào có lời nói do tư niệm về lời nói, nội thân khởi lên khổ lạc, chỗ nào có ý do tư niệm về ý thì nội thân khởi lên khổ lạc. Khi người ta nói 1 câu, nghe xong là về suy nghĩ, đó là nhĩ xúc, về sanh thanh tưởng, thanh tư, thọ do nhĩ xúc sanh. Bao nhiêu cảm giác, nghĩ tưởng về câu nói đó cứ suy nghĩ hoài, rồi bắt đầu viết luận văn. Kêu viết bài tu thu hoạch thì không thấy đâu nhưng mà nghe ai nói câu gì thì tối về ngồi viết luận văn, không cần bút, mực, giấy gì hết mà viết hết cuốn này tới cuốn khác, chất hết trong đầu, mở bài, bình luận, kết luận rất dài. Phê phán đúng sai, hay dở của người ta, thích làm quan tòa xử kiện, phán quan nhưng không xử chính nó, mà nó đi xử người ta, bữa nào bị người ta xử lại rồi đau khổ. Ngồi lại là nói người ta chứ không nói mình, không nói“Thầy ơi, con thấy vấn đề này con không giải quyết được, bản ngã của con quá chừng quá đất, cái sân của con tổ bố, si của con vô ngồi thiền cứ gục hoài” mà nói bà kia, ông nọ, người này, người kia. Chỗ nào có ý do ý tư niệm, tức là suy nghĩ về cái ý, chỗ này là pháp tưởng, pháp tư, ý xúc, cho nên ngồi 1 mình cũng khởi lên khổ lạc. Khi ngồi tự cười khặc khặc, hoặc là khóc hu hu, đó là bị thần kinh, là bị nặng. Còn nhẹ thì vẫn là ngồi đó, tự nhiên suy nghĩ rồi mỉm cười nhẹ nhẹ lên, hoặc suy nghĩ xong là xụ mặt xuống, đó là ý xúc, xúc tập khởi là do duyên xúc nên khổ lạc khởi lên. Ngồi đó mình tưởng đâu là không có ai nhưng có ý xúc bên trong.
Chúng ta sẽ nói đến phước và tội, thiện và ác. Khi mình sắp sửa chết thì lúc đó quay lại hết 1 cuốn phim 6, 7 chục năm, lúc đó là ý xúc. Khi đó thọ, tưởng, hành hoạt động khủng khiếp lắm, giống như vũ bão. Cho nên mình thấy người đâm heo, khi gần chết họ để con dao mổ heo kế bên. Tại vì thọ, tưởng, hành sanh khởi thì những hình ảnh, những cảm giác, suy nghĩ hiện lên. Những ai giết người nếu họ không đầu thú, họ trốn chui trốn nhủi, thì họ gặp ác mộng, cái đó chính là ý xúc, pháp tưởng, pháp tư. Những hình bóng, tội lỗi họ làm, những cảm giác đau đớn của người mà họ hại, những suy nghĩ về chuyện bất lương, về tội ác đó ám ảnh họ. Đức Thế Tôn đã nói khổ vui do duyên xúc sanh chính vì vậy do bình thường làm ác nghiệp nhiều, lường gạt, dối trá, xạo ngụy, mưu sĩ, hại người ta thì tới lúc mình chết tất cả những ác nghiệp biểu hiện. Chính thọ, tưởng, hành đẩy mình đi vào các ác nghiệp, vào thế giới tương xứng với ác nghiệp đó chứ không phải có con ma, con quỷ nào lại bắt mình. Chính những ác nghiệp đó đẩy mình đi tương xứng với những cảm giác, nghĩ tưởng, tâm thức đó. Nó đi tìm cảnh giới tương xứng, thích ứng với nó nhưng không phải đi tìm là được, mà nó bị sức hút mãnh liệt của nghiệp lôi đi, không tự chủ, không làm chủ, không sáng suốt được.
Còn người hành thiện, làm những nghiệp trắng, làm những phước báu công đức thì trước khi nhắm mắt thì những hình ảnh mình đã làm bao nhiêu thiện pháp, bao nhiêu phước lành, bao nhiêu công đức, những thiện pháp đó biểu hiện ra thì họ an lạc, hạnh phúc, mãn nguyện. Những thọ, tưởng, hành an lạc cộng với nghiệp thiện, nghiệp trắng đưa họ đi còn những tài sản vật chất không đem theo được gì hết. Có đem thì là lấy tiền giả đốt cho mình chứ đâu có ai lấy tiền thiệt đốt cho mình. Mình làm được mấy tỷ nhưng tới chừng chết đâu có ai đốt hết mấy tỷ đó cho mình, nó để lại nó xài chứ đâu có đốt. Vụ vàng mã là ngoài miền Bắc thịnh lắm, đốt nhà, đốt xe hơi bằng giấy, có đốt điện thoại xuống để điện nữa, mà đốt toàn là đồ giả. Mình làm thì làm ra đồ thiệt, bao nhiêu nước mắt mồ hồi, bao nhiêu tính toán nghiệp ác, nhưng tới chừng chết là toàn đồ giả. Cho nên phải siêng năng làm tất cả các thiện pháp, nỗ lực mà làm, suy nghĩ lên là phải làm ngay lập tức, không có hứa. Có 1 chú định lên đây xuất gia, mấy tháng sau sắp xếp lên nhưng khoảng nửa tháng, 1 tháng sau thì nghe tin điện giật chết, vô thường bất trắc lắm, đừng nói đợi tới lúc nào mới làm, thiện pháp thì phải làm ngay lập tức, nếu không thì không kịp. Tu cũng vậy, tu ngay lập tức, ngay bây giờ. Mình có hứa đợi chừng nào mình thở không, có hứa đợi 3 tháng sau mới thở chứ giờ con không thở khôgn, sự tu của mình cũng vậy, phải thấy nó giống như hơi thở, giống như món ăn mỗi bữa mình ăn cơm. Phải siêng năng, nỗ lực, giờ nghe pháp, giờ ngồi thiền, giờ tụng kinh, những giờ viết bài, tu tập, công quả phải làm bằng tất cả tấm lòng, trái tim của mình. Sự bố thí, cúng dường, hộ trì Tam bảo, giúp đỡ những người nghèo khổ, sự chia sẻ đối với người thân, cha mẹ, anh em, vợ chồng, làm được cái gì thì phải làm bằng tất cả trách nhiệm, những cái đó là phước báu đi theo mình, nó che chắn, che chở, bảo vệ cho mình trong hiện tại và tương lai.
Cho nên chỗ nào có ý mà do tư niệm về ý thì nội thân khởi lên lạc khổ, do duyên vô minh hoặc tự chúng ta làm những hành động, nói những lời nói, những suy nghĩ hoặc có ý thức rõ ràng hay không có ý thức rõ ràng cũng khởi lên khổ lạc. Tất cả những cái đó bị vô minh bao phủ. Thí dụ, 1 người bị bệnh thần kinh trong trại tâm thần, họ cũng vui cũng cười khi được cái áo mới hay là họ được bữa ăn ngon. Mình nhìn mình thấy thương trước niềm vui nhỏ bé, đối với mình thấy cái đó không có gì vui. Tuy rằng mình đi làm từ thiện nhưng đối với mình nếu bị vậy thì có vui không, mình nghĩ khi đi ra trại tâm thần, phải làm người tỉnh táo đó mới là vui. Cũng vậy, cái được cái mất của mình, cái mà mình được khen hay bị chê, giàu hay nghèo, gia đình thuận thảo hay đối nghịch chẳng khác nào cái được mất của người bị tâm thần. Mình còn sống trong vô minh, còn sống trong si ám, còn sống trong mê mụi, chấp thủ 5 uẩn, trong thân kiến, dù cho có được gì thì cũng giống như kẻ bị tâm thần được mấy món đồ từ thiện. Điều quan trọng là tỉnh thức, hết bệnh, làm con người tỉnh táo thì đó là sự thành tựu Chánh kiến. Sau khi vỏ bọc phước báu mình có được do đã làm bên ngoài, thì mình phải tiến sâu vào vấn đề thành tựu Chánh kiến. Một người bị bệnh, cũng đồng thời bán thân bất toại, bị tai biến nhưng trong 1 cái nhà nghèo tàn tạ với nhà giàu thì giữa 2 cái đó mình thấy cái đỡ hơn, nhưng tụ chung vẫn là tai biến. Mình không muốn làm người tai biến liệt giường, liệt chiếu trong cái nhà giàu, mình muốn làm người khỏe mạnh, cũng vậy mình phải trị cho hết tâm bệnh. Tâm mình bị bệnh trầm kha, nan y, bệnh nhiều thứ, phải trị cho nó hết bệnh. Muốn trị hết bệnh phải cần những thứ hỗ trợ, có điều kiện, có tiền bạc, có phương tiện, cũng vậy trong sự tu cần có trí huệ và phước đức phù trợ, hỗ trợ. Cho nên Đức Phật nói “Trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối. Này Ananda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, Thân ấy không có; Khẩu ấy không có; Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.”, có khởi lên khổ lạc là khổ lạc về phần vật chất, sắc uẩn. Chứ khi đã nhìn thấy tính chất trống rỗng của thân thì phải ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, phá được thân kiến. Giống như mình đã nói trị để trở thành người tỉnh, không còn bị điên, không còn thần kinh, không còn tai biến, không còn nan y, trở thành 1 người tỉnh táo và khỏe mạnh đó là điều quan trọng. Phước chỉ là cái hỗ trợ, phương tiện, mục đích của mình là thành 1 người tỉnh táo, không bị tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoành hành, bạo hành – hành động bạo lực với mình. Rồi mình gục ngã, bị nó đè đầu cưỡi cổ, bị nó xiềng xích, bị nó kèm gọng, bị nó hành hạ, tàn phá. Cho nên Đức Phật dạy rất tuyệt diệu về ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, Chánh kiến ly tham. Vậy thì cái gì giúp mình Chánh kiến? Bộ xương giúp cho mình Chánh kiến, đống tro tàn sau khi đem từ lò thiêu ra giúp cho mình Chánh kiến. Tim, gan, phèo, phổi giúp cho mình Chánh kiến, giúp cho mình phá vỡ được thân kiến. 9 giai đoạn của 1 tử thi giúp cho mình thấy, biết đúng, thành tựu trí tuệ ly tham.
Như vậy chúng ta thấy được từ xúc, do nhân duyên sanh, do sự tiếp xúc mà khổ và vui khởi lên. Mình phải chọn cái xúc trong trí tuệ, trong pháp, ngăn chặn những cái xúc làm cho mình sanh khởi lậu hoặc, tâm cấu nhiễm. Một cái xúc tốt, môi trường tốt, thời lành, bạn tốt, không gian yên tĩnh, không khí mát mẻ, có đường lối, có pháp tu, có hành trì thì vô cùng tuyệt vời! Quý thầy, đại chúng lót ổ sẵn cho mình ngồi mà còn không chịu tu nữa thì thôi ráng chịu, không còn nói gì nữa hết. Có người đi cầu pháp, đi tìm pháp, tạo lập cơ sở thuyết pháp, có người hướng dẫn tu, có người lo cho miếng ăn giấc ngủ, tuy là ngủ tệ 1 chút nhưng đỡ hơn các vị Thánh Tăng, Đức Phật ngày xưa. Quý nhất là cái pháp, còn ăn ngủ ở nhà dư rồi, không cầu. Cho nên mình phải hạnh phúc, hoan hỷ, tinh tấn quyết liệt lên!
Câu cuối con muốn thưa vơi đại chúng là phải tác ý hỷ lạc thường xuyên và an trú trong đó. Phải nhớ điều này, nó rất quan trọng, không có là tu không nổi. Phải an trú trong hỷ lạc, thấy mình thật hạnh phúc, mình có phước báu, có công đức chứ không dễ gì trong 1 tỷ kiếp mà nghe được pháp này được 1 lần. Không ai nói cho mình biết hết, người ta khuyến khích mình đi vào ái mà trá hình đó là tu. Cho nên đi được vào pháp ly tham là phước báu tối thượng của chúng ta trong thời đại này. Phải trân quý, nắm giữ, nắm chắc, nắm chặt, nắm thật kỹ, đừng cho nó lọt rớt ra, nó lọt rớt ra là mình đọa vào 3 vào đường ác. Nắm cho thật là kỹ và phải đi nhanh, mau, đang có trớn là đi tiếp tục. Phải nhớ thường thường tác ý hỷ lạc, an trú trong ly dục, ly tham, hỷ lạc, trí huệ. Bây giờ mình nhìn thấy được khổ rồi thì mình cười lên và phải bớt mê hơn hồi xưa. Bây giờ mình thấy được bản ngã rồi, xưa giờ mình không thấy nhưng giờ thấy thì phải cười lên. Bây giờ mình thấy được dục rồi, xưa giờ mình không thấy, bây giờ mình thấy được bộ mặt thật sự của con quái vật sân trong tâm rồi, phải vui lên, vì xưa mình không thấy nhưng giờ đã thấy. “Từ từ đó, tao sẽ xử lí mày”, tuy là thua nhưng không bỏ cuộc vì mình đã thấy rồi, biết rồi và đã có phương pháp rồi. Nhất trí không?
Câu hỏi của Phật tử:
“Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin thưa hỏi sư phụ.
Sư phụ chỉ dạy về tiếp xúc, đúng với tâm trạng của con đang bị rất nặng về tài, bị vướng vô rất nặng, rất sâu. Con khổ khoảng 2 năm nay rồi, nếu về luật pháp con cũng làm được, hoặc về thế gian bên ngoài như bè bạn chỉ dẫn thì con cũng làm được nhưng lương tâm con cắn rứt. Con không biết phải làm thế nào, vì con cũng là người Phật tử, đã quy y Phật rồi, con không muốn làm gì hết, nhưng con đau khổ hoài. Sư phụ chỉ dạy cho con để con thoát đi đau khổ đó vì con cứ ray rứt hằng ngày. Cụ thể là con tin tưởng 1 người em dâu trong gia đình, cô em dâu đó huy động vốn để làm tiền đáo hạn ngân hàng thì con cũng đưa vô cỡ 3 tỷ rưỡi, trong vòng 2 tháng thì cô đó trả con chỉ có 500 triệu rồi không trả nữa. Con có đầy đủ giấy tờ, chứng cứ hết, ra thưa kiện cũng được, bạn bè con xúi là dùng giang hồ cũng được. Nhưng lương tâm con cắn rứt, con không thể nào làm được và con rất đau khổ 2 năm nay. Con không làm gì hết và con cứ tiếc nuối, đau khổ về khoảng 100 lượng vàng, rồi khi tiếp xúc với người đó, người mà con tin tưởng. Con không biết làm thế nào để cho con đừng đau khổ nữa, dù số tiền đó có mất đi, con không thiếu thốn gì, mà con cứ khó chịu trong suốt 2 năm nay. Mỗi lần lên công phu con cũng nhớ, con làm việc gì cũng nhớ, mặc dù nghe pháp rất nhiều, con không xóa đi được. Xin sư phụ chỉ dẫn để con giải tỏa được vấn đề này.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Trong sự việc này có nhiều cấp độ, tùy theo cái tâm mình chứ không phải là chỉ dẫn là có thể làm được. Tùy theo tâm mình có quyết tâm hành pháp hay là không?
Mức độ mạnh nhất của pháp là quán chiếu về vô thường, về cái chết xảy ra với mình. Niệm tử nếu bất ngờ cái chết xảy ra, tiền mình đã mất rồi, mất tiền là mũi tên thứ nhất; tâm mình bất an, đau khổ dài dài, ràng buộc, luyến tiếc là mũi tên thứ 2, và chính cái tâm này nó hành hạ mình. Nếu mình không giải quyết cái tâm này thì mình mất luôn tâm, đã mất tiền, mà còn mất đi cái tâm bình an. Cho nên phải luôn quán chiếu vô thường, quán chiếu cái chết, quán chiếu 32 thể trược, quán chiếu bất tịnh, quán chiếu 9 giai đoạn của 1 tử thi. Thường trực quán chiếu để giải phá cảm giác nghĩ tưởng, tiếc nuối đó. Không phải 1, 2 lần là xong nhưng mình nỗ lực làm thì nó sẽ thuyên giảm, nếu mình nỗ lực nhiều, kiên trì thì có thể đoạn tận. Cô mở nghe những bài 9 giai đoạn của 1 tử thi, quán bất tịnh rồi mình làm theo, ngày nào cũng phải quán, quán càng nhiều càng tốt, quán để giải tỏa cảm giác nghĩ tưởng, tiếc nuối đó. Vấn đề tiền bạc trả được hay không tính sau, bây giờ giải tỏa cái cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mình trước cho nó nhẹ, nếu không nhắm mắt sẽ bị đọa lạc thì mình chọn cái nào. Tiền thì cứ nghĩ là nó mất đi, đừng nghĩ là tìm lại được, nghĩ đó là làm mình khổ. Vì suy nghĩ mất tiền mà làm mình đọa lạc tam đồ khổ, nặng thì thành ngạ quỷ để mình đi kiếm cái tiền đó, đi theo người đó, phải vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vừa vừa hơn là thành súc sanh. Cái tâm mình bây giờ làm mình ăn không ngon, ngủ không yên, ngồi thiền không được, thì nó đã rất nghiêm trọng, nó đi vào tích tụ trong thọ của mình thành 1 khối, tức là bị ung thư trong tâm, cái này cần phải giải phẩu. Giải phẩu bằng cách mình phải tư sát, quán chiếu thật nhiều góc độ để mình giải phá, đặt mình vô rất nhiều trường hơp. Mình bị bệnh bất thình lình chết thì sao, nhiễm dịch bệnh thì sao, mình đi máy bay thì sao. Mình đặt thật nhiều trường hợp rồi cứ quán hoài những ý nghĩ, cảm giác đó để giải phá cái đã tích tụ trong cảm thọ. Vì đây là bệnh nặng nên phải dùng đô cho thật mạnh thì sẽ giải tỏa được, không khó. Làm liên tục, làm kiên trì dưới sự hướng dẫn của quý thầy ở đây thì sẽ được còn nếu không là cực kỳ nguy hiểm, mình sẽ không siêu thoát được. Đây cũng là bài học cho nhiều người khác, có nhiều người thiếu nợ, hoặc là chủ nợ của người ta.
Còn vấn đề xã hội đen là tuyệt đối không được, đó là mình gieo thêm cái nghiệp, rất nguy hiểm, người ta xúi thì kệ người ta, nhưng cái đó mình loại bỏ hẳn, diệt tận ý nghĩ đó trong tâm mình, không cho nó sanh khởi suy nghĩ đó lại nữa. Còn vấn đề mình làm chánh đáng, nếu được thì tốt, còn không thì mình quán chiếu về nghiệp quả trong quá khứ. Biết đâu đời trước mình giật người ta chứ tại sao mình lại tin tưởng 1 người như vậy, tại sao mình rơi vào hoàn cảnh như vậy. Bây giờ phải quả quyết, trong tâm mình phải có sự quyết định rõ ràng, phải dứt khoác, nếu thương thì giải tỏa luôn, diệt tận suy nghĩ, cảm giác đó. Thực tập mới được, còn nói thì dễ mà ở trong đó nó cứ day dứt, vì vậy phải giải tỏa được cái khối trong cảm thọ, nghĩ tưởng đó. Mình cần có tình thương, người đó cũng trong bà con, mình quán cũng tại mình thôi, tại mình tham. Quán nghiệp quả trong quá khứ, quán vô thường, quán nếu sau khi nhắm mắt mà khối u này nó đeo bám trong nội tâm mình thì sẽ rơi vô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, quán cái nguy hại của sự luyến tiếc tài sản này. Quán thật là sâu sắc để mình xuất ly, thoát ra khỏi thì đó là mình tự cứu mình. Trong khi mình không phải nghèo khổ, không có nó mình vẫn sống, mình quán chiếu đây là trả nợ và mình giải tỏa tâm tham luyến đó bằng 1 tâm từ, xót thương. Nếu đời trước mình thiếu nợ, thì bây giờ mình trả nợ, mình nghĩ như vậy, còn nếu mình không thiếu nợ thì do người đó gây nợ, sau này người ta trả. Mình cứ quán bằng tâm từ, hơn nữa người đó cũng là bà con thâm quyến của mình đang trong hoàn cảnh khổ. Như vậy là có hướng để mình đi.
Phát biểu tri ân trước khi xuống núi:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chúng con thành kính tri ân sư phụ, thành kính cảm ơn sư phụ. Chúng con thành kính tri ân quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng đã tạo cho chúng con 1 khóa tu. Qua khoá tu này chúng con đã hiểu thêm về sự biến độ của nhân quả, ngày hôm nay thầy đã cho chúng con thấy thêm 1 khía cạnh của xúc và đoạn xúc là như thế nào. Con xin cảm ơn thầy Pháp Từ về chương trình tu học vừa qua. Thầy đã đi từ bài Giải Thoát Trí cho đến Tâm từ, những cảm xúc trong con và những gì con nhận được là vô cùng quý giá. Sự thông hiểu về khổ cho con 1 sự thông cảm đối với những người thân của con và những người xung quanh con. Con xin thành kính tri ân sư phụ, người mà con tôn kính, có những đức hạnh mà con hiếm gặp trong cuộc đời của các vị tu sĩ hiện tại. Lòng từ bi của thầy đã thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, những đức hạnh của thầy, những bài thầy giảng đã làm thay đổi sâu sắc trong tâm của con. Con xin thành kính cảm ơn đến sư phụ với tất cả lòng chân thành của mình. Con cũng xin phép chúng con xuống núi.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
./.