Cửa Vào Bất Tử 4
Tinh Hoa Nikāya
Cửa Vào Bất Tử 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán xét "cảm thọ" PAGEREF _Toc179392754 \h 1
II. Quán xét "tưởng" PAGEREF _Toc179392755 \h 9
I. Quán xét "cảm thọ"
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về chuyên đề cửa vào bất tử, chúng ta đang thực tập soi rọi và nhìn lại cảm thọ, cảm giác trong con người mình để chúng ta có thể nhìn thấy được cảm thọ là một thứ ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt những hình bóng, suy nghĩ trong tâm, cảm thọ này là một thứ ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm này, làm chủ cả tâm mê muội này.
Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta đã huân tập rất nhuần nhuyễn, rất điêu luyện, thuần thục và quen thuộc từ trong vô lượng kiếp, Điêu luyện cái gì? Thuần thục cái gì? Quen thuộc cái gì? Điêu luyện vô minh, dục, ái, tham, sân, si, nói ra thì chúng ta hơi buồn nhưng lời thật thì mích lòng, thuốc đắng mới giã tật. Vô minh không phải là cái gì xa xôi trong quá khứ mà vô minh là sự không thấy không biết về ngũ uẩn, thân tâm. Chúng ta đã quen với cái không thấy không biết, chúng ta rất quen thuộc với sự hướng ngoại, quen thuộc với những hình sắc, âm thanh, chạy theo thanh sắc bên ngoài, còn cái nhìn lại rõ ràng và chính xác về nội tâm thì lại không quen. Đây là chỗ quen sai, quen trật của mình nên cần tập ngược lại, tập nhìn sắc, tập nhìn cảm giác, tập nhìn những suy nghĩ, đó là sự đổi chiều, xoay chiều, là sự xoay chuyển thân tâm của mình.
Trước nay chúng ta quen hướng ngoại còn giờ phải nội soi, dùng những phương tiện đưa vào bên trong để soi rọi những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm chúng ta. Soi rọi bằng sự chánh niệm tỉnh thức nhìn năm uẩn, chỉ có sự chánh niệm tỉnh thức nhìn chính xác, xác thực, nhìn cặn kẽ, thấu đáo những thứ làm mình khổ đau thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nguyên nhân đau khổ thì mình hết đau khổ. Ngoài cách này ra không còn cách nào khác, là con đường độc nhất.
"-- Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Không còn con đường nào khác ngoài con đường nội soi, chiếu soi, soi rọi lại tự thân tâm của mình để tìm ra được căn nguyên của đau khổ, tìm ra được thủ phạm thật sự, kẻ ác thật sự lẩn trốn trong các cảm thọ của chúng ta. Kẻ ác đó là dục, ái, tham, sân, si, những cảm giác thúc giục ngấm ngầm.
Tất cả pháp tụ vào cảm thọ,
Thọ gọi là kho chứa của tâm
Chỗ nhận vào và chỗ cho ra,
Chỗ điều khiển thân tâm hành xử.
Thọ là chỗ âm thầm chi phối,
Sai khiến và điều khiển thân tâm,
Thúc giục và xúi giục thân tâm
Theo lệnh của dục, tham, sân, ái.
Tập nhìn kỹ vào trong cảm giác
Để nhìn ra dục, ái, tham, sân
Để nhìn ra tập khí trong mình
Để thực thấy vô minh, lậu hoặc.
Tập nhiếp phục các dòng cảm giác
Nhiếp phục lòng dục, ái, tham, sân
Nhiếp phục tâm ngã mạn, cứng đầu,
Nhiếp phục tập khí và cấu uế.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Phần cảm thọ này vô cùng quan trọng, nó là cốt lõi, là xương sống của pháp hành trong tạng kinh Nikāya, con mắt của mười hai phần giáo, trái tim của Thánh điển, chính là cảm thọ nên cần học thật kĩ, để ý thật kĩ. Sự thúc giục, sự xúi giục ở bên trong thân tâm mình, nó xúi giục mình đi chơi trong những ngày lễ tết, ở nhà buồn lắm, những cảm xúc trong tâm xúi giục, những suy nghĩ trong tâm kêu gọi, réo gọi, mình phải thấy được những dòng cảm thọ đó, phải thấy được những suy nghĩ đó.
Ra đường đi chơi bị lây dịch bệnh, bên Mỹ trong một ngày có một triệu ca nhiễm, nước ta mỗi ngày có mười sáu ngàn ca nhưng cảm giác thúc giục trong tâm kêu đi, muốn đi chơi, muốn tiếp xúc, thật là nguy hiểm. Chúng ta phải tập nhìn ra những cảm thọ tham muốn đó là những cảm thọ giết người, rõ ràng là nó hại người, nếu nhìn thâm sâu vào bên trong thì không phải con virut hại mình mà là cảm giác thúc giục, xúi giục hại mình, nếu mình không ra ngoài là mình không bị nhiễm, nếu mình biết 5K, nếu mình biết giữ gìn là mình không bị nhiễm, đằng này ỷ lại đã chích ngừa nên không cẩn thận rồi bị nhiễm.
Chữ "dục" trong kinh Nikāya rất rộng lớn, nó bao trùm mọi phương diện, nó là sự thúc giục ham muốn về sắc đẹp, thúc giục muốn nghe những tiếng hay, thúc giục về mùi vị, về sự muốn tiếp xúc đụng chạm và nó thúc giục trong tâm là những hình bóng, nghĩ tưởng. Chúng ta phải tập nhìn ra được những cái đó, đó là Thánh trí, là Phật tuệ, là Phật tri kiến, là cái thấy biết của Phật, là cái thấy biết của bậc Thánh, là nhìn ra được những gì diễn ra bên trong tâm, nó manh nha, sai khiến trong tâm. Nếu là thiện pháp thì mình tăng trưởng, phát triển, còn nếu là bất thiện pháp thì ngăn chặn, nhiếp phục, chế ngự, đánh phá, diệt tận nó, đó chính là tu tâm, đó là tối thượng thừa, đó là tâm ấn của chư Phật, là Thánh đạo, là con đường của bậc Thánh, là đạo lộ của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, cách tu của bậc Thánh, giáo pháp của bậc Thánh, phương pháp của bậc Thánh, cách hành trì của bậc Thánh.
Đối với cái nóng giận cũng vậy, những cảm thọ bực bội, thiêu đốt trong tâm cũng phải tập nhìn ra nó, tập kiểm soát, chế ngự nó, không để nó điều khiển, làm chủ mình, không cho nó ngấm ngầm dẫn lối mình đi, "ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi" (Truyện Kiều). Chính những cảm thọ tham, sân, si là ma đưa lối quỷ dẫn đường, đưa vào những chỗ đoạn trường sầu đau. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói những cảm giác thúc giục là tâm ma, ma ở trong lòng mình, nó thúc giục mình ham muốn, nó thúc giục mình nóng giận, nó thúc giục mình hơn thua, nó thúc giục mình phải thể hiện cái ta, cái tôi, vỗ ngực xưng tên, đó chính là ma đưa lối quỷ dẫn đường và mình phải tập nhìn ra nó, tập thấy biết nó, như vậy gọi là nhận diện các cảm thọ, đó là sự rõ ràng, cụ thể, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy.
Thọ là chỗ nhận vào và chỗ cho ra. Khi chúng ta tiếp xúc với cái gì là mình thích cái đó, mình thọ nhận cảm giác đó, thiếu nó mình không chịu được, ví dụ khi ăn cơm phải có ớt, không có ớt là ăn không ngon, vậy thì đầu tiên là mình thọ nhận cảm giác cay nồng của ớt, mình tập quen cảm thọ đó rồi ái luyến, chấp thủ trong cảm thọ đó nên không cay là ăn không được. Tập quen ăn thịt cá nên không có thịt cá là ăn không được, một người sanh ra đã ăn chay trường, một người sanh ra đã cho ăn thịt cá quen rồi thì người ăn chay sẽ quen với ăn chay, còn người ăn thịt cá thì quen với ăn thịt cá, khi thọ nhận vào, huân tập thì trở thành thói quen, tập tánh, nghiệp. Vì cái nghiệp ngon một chút ở cái lưỡi mà phải giết hại, sát sanh, nghiệp kia thì ăn chay cũng ngon nhưng tránh được nghiệp sát sanh, như vậy cái thích hoặc là cái nghiệp chính là sự huân tập của cảm thọ.
Chiều chạng vạng là phải xem phim, hôm nay không xem là buồn bực, khó chịu, còn chiều là phải tụng kinh, còn hôm nay không tụng thì thấy thiếu thiếu, còn tập đến giờ đó nghe pháp mà giờ không được nghe thì cũng thấy thiếu thiếu, đó là chỗ mình thọ vào. Thọ vào xem phim hay thọ vào tụng kinh hoặc nghe pháp, tập quen rồi thì trở thành thiện pháp hoặc bất thiện pháp, đúng giờ đó là tụng kinh hoặc nghe pháp, ngược lại đúng giờ đó là đi đánh bài, đó là sự huân tập, nhận vào.
Cho ra tức là phải làm những thứ đó mới chịu được, không có là bực bội, khi đã ái, đã yêu thích thì dục sẽ tăng lên, tức là muốn cái đó nhiều hơn, không dừng lại được thì gọi là tham. Sự thúc giục là khác, sự yêu thích, ái luyến là khác, cái tham là muốn thêm lại khác nữa, dục, tham, ái khác nhau hoàn toàn, những người nghiền bài đánh một lần làm sao đã nghiền, ngày mai, ngày mốt phải tìm sòng đánh nữa, những người thích đá gà đâu phải đá một lần là hết nghiền mà phải tìm trận lớn hơn để đá nữa, người nghiện rượu có cho uống ba ngày ba đêm cũng không hết nghiền, vài hôm cũng kiếm rượu uống tiếp, đó là sự huân tập của các cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, đó là sự thúc giục, yêu thích và muốn thêm nữa.
Chúng sanh không tu tập cảm thọ, không thấy biết cảm thọ, không quán sát, quán chiếu về cảm thọ, về những thứ làm cho mình đau khổ nên chúng sanh bị vô minh, bị cảm thọ này ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển, ngấm ngầm làm chủ. Còn chúng ta nhận được con mắt pháp của Đức Phật nên chúng ta nhìn ra được những thứ đó rồi biết nhiếp phục đó. Một khi đã nóng giận lên là không còn làm chủ được nữa, không thể ra lệnh cho cơn giận ngưng lại, đừng giận nữa, như vậy là mình bị nó ra lệnh, mình ngoan ngoãn nghe theo nó chứ mình không làm chủ cơn giận, mình không điều khiển cơn giận mà cơn giận điều khiển mình, mình không nhiếp phục cơn giận mà ngược lại cơn giận nhiếp phục mình, mình không chế ngự cơn giận mà cơn giận quay lại khống chế mình, nó xâm chiếm, áp đảo mình, nó thiêu đốt, thiêu hủy mình, nó đốt cháy nội tâm mình, như vậy mình là người mất tự do, mình là kẻ bị cảm giác sân hận sai khiến, bị cảm thọ sân hận nó điều khiển, bị cảm thọ sân hận đó làm chủ, phi chối, dẫn dắt.
Mình đi theo sự điều khiển của một tên ác rồi nó chỉ mình đi vào chỗ khổ đau, nó chỉ mình đi vào con đường tan rã, rạn nứt, con đường chia ly, con đường của sự giận hờn, thù hằn, sân hận. Như vậy thì tu đến khi nào mới hết khổ? Tu mà đi làm nô lệ, làm đầy tớ, làm tay sai cho những thứ ác độc, sân hận, cho những cảm thọ nóng bức đó thì làm sao được bình an? Mình đã thấy ra được sự nô lệ của mình chưa? Mình đã thấy ra được sự mất quyền làm chủ của mình chưa? Mình đã thấy ra được nguyên nhân làm mình đau khổ chưa?
Mỗi lần cảm thọ sân sanh khởi lên là phải thấy được ngay "mày đừng hại tao nữa", "mày đừng dẫn dắt tao đi vào nẻo khổ nữa, hỡi này cảm thọ sân hận, thiêu đốt kia hãy dập tắt hoàn toàn đi, an tịnh, lắng dịu đi, mát mẻ, ngọt ngào đi, dễ thương, dễ chịu đi chứ đừng phóng hỏa đốt nhà nữa". Phải la rầy, dạy dỗ, giáo dục nó, cải tạo, huấn luyện, sửa đổi nó, bắt cảm thọ sân hận này phải cải tạo, cải cách, cải thiện, như vậy mới gọi là tu. Tu là sự sửa đổi, cải thiện, sửa lại cho tốt, sửa cảm thọ sân hận, bực bội, gắt gỏng, cọc cằn, ganh tỵ, đố kỵ để trở thành bao dung, tha thứ, hiền đức, hiền lành, hiền trí rồi đi đến cả hiền Thánh.
Tất cả đều do mình làm chủ, quyền tự chủ trong tay mình. Các bậc Thánh không thể làm tịnh chỉ các cảm thọ thiêu đốt của mình được, mình đang giận ngoài chợ thì làm sao thầy ở đó cho kịp mà ngăn cản, như vậy cái gì giúp mình ngăn chặn được cảm thọ nóng giận đó? Chỉ có sự chánh niệm và tỉnh giác của mình mới ngăn chặn lại được, giống như chỉ có tài xế mới đạp thắng xe lại kịp, còn người ngoài xa làm sao đạp thắng được. Mình chính là tài xế điều khiển chiếc xe tâm linh của mình, ai có thể đạp thắng giúp mình nếu không phải là chính mình. Mình phải có sự rà soát, kiểm soát, phải có sự nhìn ngó, quán sát phải trái, trước sau. Người tài xế lái xe đâu phải chỉ nhìn đằng trước, mình cũng phải nhìn lại nội tâm của mình trong nhiều phương diện và ở đây mình đang nói về phương diện cảm thọ, cảm giác. Chúng ta rất ít khi nào nhìn tâm mà rất thích nhìn bên ngoài, nhìn cảnh vật, con người.
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Ta để cho những cảm thọ, cảm giác này tàn phá thân tâm chúng ta, làm cho mình thân tàn ma dại, làm cho mình tiều tụy, héo mòn, làm cho mình khô khan, kiệt quệ, làm cho mình không còn sức sống vì suốt ngày cứ tham, sân, si, suốt ngày cứ ghét người này giận người nọ, suốt ngày cứ ưa người ngày thích người kia, tối ngày cứ thiêu đốt, tàn phá nội tạng của mình, tàn phá những cảm thọ hiền thiện, gương mặt trở nên thảm não, khổ sầu vì trong tâm chất chứa những thứ làm cho mình khô héo, úa sầu, trong tâm chất chứa những nhiêu liệu dễ bốc cháy nên đụng vào là bốc hỏa, còn tu mà trở thành hồ nước trong xanh, mát mẻ, thơm ngọt thì tàn thuốc làm sao cháy nổi với hồ nước đó, hoàn toàn không có chất cháy mà chỉ toàn là sự thanh lương, mát mẻ, từ ái, từ hòa, từ bi. Không thể có ngọn lửa nào có thể đốt cháy hồ nước trong xanh và mát mẻ như vậy, Thế Tôn thường ví dụ tâm từ là hồ nước lớn, rộng, trong xanh, sạch mát và ngọt ngào, trong đó là những đóa sen tươi thắm.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Mình cứ nghĩ thương mình là cho ăn ngon, ở cho sang, mặc đẹp, đi xe đời mới nhưng cái đó chỉ là cái thương ở một khía cạnh phàm phu thôi, chưa phải là cái thương của bậc trí tuệ, cái thương của bậc trí tuệ là biết chăm sóc cảm thọ của mình, không để mình bị đau khổ, bị phiền bực vì những chuyện vu vơ, chuyện vỉa hè, không dễ gì ngọn gió thổi làm chao đảo được trụ đá chôn sâu, những ngọn gió chỉ thổi được miếng bông gòn, những cành yếu lá mềm, còn thạch trụ chôn sâu đứng vững thì gió không thể lay chuyển được.
Mình an trú trong sự thật Bốn Thánh Đế, mình an trú trong Tứ Niệm Xứ, mình an trú trong trí tuệ về khổ thì những thứ đúng sai, thị phi của cuộc đời này không thể làm mình chao đảo, nghiêng ngã được. Muốn được như vậy phải quay lại chăm sóc cảm thọ, thương yêu cảm thọ thật sự, bồi đắp, tưới tẩm trong từng giây, từng phút, từng ý nghĩ, từng suy tư, phải hướng dẫn, dẫn dắt trong từng cảm thọ để đi con đường thiện lành, con đường từ bi, hiền trí, không để đi vào con đường sân hận, hơn thua, đấu đá.
Vợ chồng thương yêu nhau biết bao nhau nhưng hở ra vài câu là cãi lộn, thượng cẳng tay hạ cẳng chân rồi lấy đó làm thú vui, đó là vui trong sân hận rồi khổ đau, vui trong tham dục rồi khổ, vui trong bản ngã là vui trong cái khổ. Nói qua nói lại với chồng con để giành phần thắng, phần hơn rồi cuối cùng mình được sự xa lánh, bị bớt đi tình thương với mình, bạn bè cũng vậy, chơi với nhau cũng muốn giành phần hơn, giành phần thắng.
Đó là chúng ta đi sai đường, đặt tâm sai hướng cho nên mình mới chịu nhiều khổ đau, hằng ngày mình phải làm cho những cảm xúc của mình đau đớn, bực bội, mệt mỏi, đè nặng như vậy, tự mình hành hạ những cảm giác của mình vậy mà mình nói mình thương mình. Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh, lấy khổ mà muốn bỏ khổ, cái gì cũng bực dọc, cái gì cũng khó chịu, cái gì cũng hơn thua, cái gì cũng ta đây rồi đày đọa mình, làm cho mình khổ, bắt cảm thọ ở trong hỏa ngục, bắt cảm thọ phải cô đơn, lẻ loi, sân hận lên không vừa lòng ai nên không ai chơi và cũng không muốn chơi với ai, không biết tu là như vậy đó.
Phải thực sự thấy được bộ mặt của vô minh này, thật sự thấy được tâm mê lậu hoặc này, tâm mê ngấm ngầm hoạt động. Cái tâm cứ nắm vào sự nóng giận là tâm si mê, cái tâm cứ nắm vào cái tôi, cái ta, phải làm cho ra lẽ mới được, nhịn thì bị nói ngu là tâm mê, tâm dại khờ, tâm ngu si, tăm tối. Cái chấp ngã này vô cùng cứng chắc, nó rất ngang ngạch, ngang bướng, ngang tàng chứ không phải dễ nhiếp phục nó, phải nhìn ra ý niệm ta, tôi, muốn hơn người khác, phải hạ gục nó xuống, phải đánh đổ nó xuống và bắt nó phải khiêm hạ, khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, tập những cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, dễ thương, cảm thọ khả ái, từ tâm, bao dung, tha thứ, độ lượng, phải thực tập, tưới tẩm, tác ý những cảm thọ đó thì chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong lòng mình, trong thân tâm mình và trong cảm thọ của mình.
II. Quán xét "tưởng"
Tập thấy biết rõ về các Tưởng
Tưởng nào đang ẩn hiện trong tâm
Tưởng nào đang sanh diệt âm thầm
Tập thấy biết rõ ràng các tưởng.
Bóng dáng của sáu trần sanh khởi
Bóng sáu trần hiện rõ trong tâm
Đó là Tưởng - Bóng dáng sáu trần
Rõ biết chúng, gọi chúng là Tưởng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Tưởng là những hình bóng trong tâm, phải tập nhìn ra được những hình bóng ẩn hiện đó. Khi trong tâm có hình bóng của món đồ, căn nhà, cảnh vật hoặc một người nào đó thì mình phải biết đó là tưởng uẩn, là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới có ra hình bóng này, không tiếp xúc thì không có hình bóng này. Ngày trước chúng ta học đơn giản hình bóng là tưởng, bây giờ mình học có đến sáu tưởng.
- Bóng dáng cảnh, vật, người, tứ đại
Hiện khởi trong tâm là Sắc tưởng.
- Bóng dáng lời nói và âm thanh
Hiện khởi trong tâm là Thanh tưởng.
- Bóng dáng mùi thơm, hay mùi thối
Hiện khởi trong tâm là Hương tưởng.
- Bóng dáng vị chua, cay, mặn, ngọt
Hiện khởi trong tâm là Vị tưởng.
- Bóng dáng sự đụng chạm, cọ quẹt
Hiện khởi trong tâm là Xúc tưởng
- Bóng dáng cảm thọ và tưởng, hành
Hiện khởi trong tâm là Pháp tưởng.
Khi ra Vịnh Hạ Long thấy cảnh đẹp tuyệt vời, mình trở về nhà thì hình bóng của Vịnh Hạ Long hiện trở lại trong tâm thì đó là sắc tưởng. Khi ra Vũng Tàu thấy biển mênh mông tắm mát thì khi về nhà mình nhớ lại lúc tắm biển, lội tung tăng thì đó là sắc tưởng. Đi đâu cũng nhớ về căn nhà, có hình bóng căn nhà hiện ra trong tâm thì đó là sắc tưởng. Tưởng là hình bóng, sắc là sắc trần, sắc pháp, hình bóng của sắc trần hiện trong tâm thì gọi là sắc tưởng. Sau khi mình tiếp xúc với ai thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm mình, hình bóng người đó là sắc tưởng, những hình bóng của cảnh vật, đồ vật, con người sau khi mình tiếp xúc rồi trở về mà tâm mình hiện ra hình bóng thì đó là sắc tưởng.
Sáng ra đi chợ được người bán khen mình đẹp ra, trắng trẻo, hồng hào, thế là khi về nhà nhớ lại âm thanh đó rồi cười một mình, đó là thanh tưởng, âm thanh của lời khen đó vang vọng lại. Đối với tiếng chê cũng vậy, khi nhớ lại những lời bị chê là mình khó chịu, bực mình thì âm thanh đó chính là thanh tưởng, một bên là tham (khen), một bên là sân (chê). Khi mình trở về nhà hồi tưởng lại âm thanh đó thì mình phải nhận biết âm thanh đó chính là thanh tưởng, đây chỉ là thanh tưởng mà thôi, chỉ là sự hồi tưởng lại những âm thanh đó nên nó không có thật, đừng chạy theo âm thanh đó rồi buồn vui, thích thú hay sân hận.
Lên mạng xem thấy người ta ăn bánh xèo, xem một hồi là muốn ăn bánh xèo, trong đó vừa có sắc tưởng, hương tưởng và vị tưởng. Hình bóng của món ăn sau khi tiếp xúc là sắc tưởng, mùi hương phản phất của món đó là hương tưởng, cần nhớ là sau khi tiếp xúc rồi hồi tưởng lại mới gọi là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, còn khi tiếp xúc trực tiếp thì đó là sắc trần, hương trần, vị trần. Như vậy mình nhớ lại hình ảnh của cái bánh xèo, mùi hương, nước chấm ngon lành của bánh xèo, rồi mình nhớ lại vị của nó thì đó là sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng.
Mỗi ngày chúng ta đều gặp những thứ này nhưng chúng ta lại không biết gì cả cho nên Đức Phật gọi là vô minh, mình thì cứ cho là tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi thích, tôi khoái, cái nào mình cũng gắn cái tôi vào mà không biết đó chỉ là những pháp đang vận hành, đó chỉ là bộ máy, guồng máy, cơ chế, mô típ, cấu trúc đang vận chuyển, vận hành trong tâm, vì vô minh, chấp ngã, si mê nên mình dính chùm vào hết, làm thành một khối to lớn là cái tôi vĩ đại. Còn khi nó rời rạc thì nó là từng pháp một, Đức Phật chỉ ra từng món một cho mình thấy.
Cái ghế Minh Thành ngồi làm bằng mây, có rất nhiều cây mây hợp nhau thành cái ghế. Khi chưa thành cái ghế nó là từng cây mây riêng lẻ, còn khi kết hợp với nhau thì người ta chỉ thấy một cái ghế duy nhất nhưng thật ra có hàng chục, hàng trăm cây mây lớn nhỏ trong đó. Cũng vậy, chúng sanh phàm phu chỉ thấy một bản ngã, một cái tôi nhưng cái tôi đó hoàn toàn là ảo tưởng, mộng tưởng, hư tưởng, Đức Thế Tôn dùng Thánh trí tháo gỡ ra từng cây mây cho mình thấy nó rời rạc, riêng lẻ, Thế Tôn chỉ ra cái nào là sắc, cái nào là sắc tưởng, cái nào là thọ, nó thuộc về thọ gì, trong cái thọ đó có cái gì, cái nào là hành. Ngài chỉ từng cái một cho mình thấy, ngài lột ra từng bẹ chuối, trong đó không có lõi bên trong.
Khi mình tiếp xúc với một ai đó hay nắm tay cháu nội, cháu ngoại hoặc là ôm người yêu thương, đến khi trở về mình nghĩ về cái nắm tay đó, nhớ lại cái ôm ấp đó, nghĩ lại sự tiếp xúc đụng chạm đó thì gọi là xúc tưởng, là sự hồi tưởng lại việc tiếp xúc, đụng chạm đó, cái này vô cùng ghê gớm, nguy hiểm. Khi ra Vịnh Hạ Long mình thấy đẹp, có cảm giác thích thú, dễ chịu rồi mình suy nghĩ nó đẹp ra sao, xanh ra sao, mát ra sao thì những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng đó hiện khởi trở lại sau khi mình về nhà thì đó là pháp tưởng, là sự hồi tưởng lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sau khi mình tiếp xúc với cảnh đẹp đó. Hoặc là mình hồi tưởng lại con người đó dễ thương như thế nào, dễ ghét ra sao, cảm giác khi gặp ra sao, mình hồi tưởng lại cảm giác, suy nghĩ, hình bóng khi tiếp xúc người đó thì đó là pháp tưởng. Những cái này chúng ta rất thuần thục, nhuần nhuyễn nhưng cứ dính chặt vào nhau rồi cho rằng tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi suy tư nhưng thật ra Đức Phật mở ra từng mảnh của bẹ chuối để thấy rằng trong này không có cái lõi gì cả.
Hôm nay chúng ta tiếp tục học về thọ và bắt đầu đi vào sáu tưởng, nhận diện sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng. Lần sau chúng ta sẽ tiếp tục về những tính chất, tác hại và lợi ích của các tưởng.
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe.
./.
Cửa Vào Bất Tử 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán xét "cảm thọ" PAGEREF _Toc179392754 \h 1
II. Quán xét "tưởng" PAGEREF _Toc179392755 \h 9
I. Quán xét "cảm thọ"
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về chuyên đề cửa vào bất tử, chúng ta đang thực tập soi rọi và nhìn lại cảm thọ, cảm giác trong con người mình để chúng ta có thể nhìn thấy được cảm thọ là một thứ ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt những hình bóng, suy nghĩ trong tâm, cảm thọ này là một thứ ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm này, làm chủ cả tâm mê muội này.
Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta đã huân tập rất nhuần nhuyễn, rất điêu luyện, thuần thục và quen thuộc từ trong vô lượng kiếp, Điêu luyện cái gì? Thuần thục cái gì? Quen thuộc cái gì? Điêu luyện vô minh, dục, ái, tham, sân, si, nói ra thì chúng ta hơi buồn nhưng lời thật thì mích lòng, thuốc đắng mới giã tật. Vô minh không phải là cái gì xa xôi trong quá khứ mà vô minh là sự không thấy không biết về ngũ uẩn, thân tâm. Chúng ta đã quen với cái không thấy không biết, chúng ta rất quen thuộc với sự hướng ngoại, quen thuộc với những hình sắc, âm thanh, chạy theo thanh sắc bên ngoài, còn cái nhìn lại rõ ràng và chính xác về nội tâm thì lại không quen. Đây là chỗ quen sai, quen trật của mình nên cần tập ngược lại, tập nhìn sắc, tập nhìn cảm giác, tập nhìn những suy nghĩ, đó là sự đổi chiều, xoay chiều, là sự xoay chuyển thân tâm của mình.
Trước nay chúng ta quen hướng ngoại còn giờ phải nội soi, dùng những phương tiện đưa vào bên trong để soi rọi những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm chúng ta. Soi rọi bằng sự chánh niệm tỉnh thức nhìn năm uẩn, chỉ có sự chánh niệm tỉnh thức nhìn chính xác, xác thực, nhìn cặn kẽ, thấu đáo những thứ làm mình khổ đau thì mình mới nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nguyên nhân đau khổ thì mình hết đau khổ. Ngoài cách này ra không còn cách nào khác, là con đường độc nhất.
"-- Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Không còn con đường nào khác ngoài con đường nội soi, chiếu soi, soi rọi lại tự thân tâm của mình để tìm ra được căn nguyên của đau khổ, tìm ra được thủ phạm thật sự, kẻ ác thật sự lẩn trốn trong các cảm thọ của chúng ta. Kẻ ác đó là dục, ái, tham, sân, si, những cảm giác thúc giục ngấm ngầm.
Tất cả pháp tụ vào cảm thọ,
Thọ gọi là kho chứa của tâm
Chỗ nhận vào và chỗ cho ra,
Chỗ điều khiển thân tâm hành xử.
Thọ là chỗ âm thầm chi phối,
Sai khiến và điều khiển thân tâm,
Thúc giục và xúi giục thân tâm
Theo lệnh của dục, tham, sân, ái.
Tập nhìn kỹ vào trong cảm giác
Để nhìn ra dục, ái, tham, sân
Để nhìn ra tập khí trong mình
Để thực thấy vô minh, lậu hoặc.
Tập nhiếp phục các dòng cảm giác
Nhiếp phục lòng dục, ái, tham, sân
Nhiếp phục tâm ngã mạn, cứng đầu,
Nhiếp phục tập khí và cấu uế.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Phần cảm thọ này vô cùng quan trọng, nó là cốt lõi, là xương sống của pháp hành trong tạng kinh Nikāya, con mắt của mười hai phần giáo, trái tim của Thánh điển, chính là cảm thọ nên cần học thật kĩ, để ý thật kĩ. Sự thúc giục, sự xúi giục ở bên trong thân tâm mình, nó xúi giục mình đi chơi trong những ngày lễ tết, ở nhà buồn lắm, những cảm xúc trong tâm xúi giục, những suy nghĩ trong tâm kêu gọi, réo gọi, mình phải thấy được những dòng cảm thọ đó, phải thấy được những suy nghĩ đó.
Ra đường đi chơi bị lây dịch bệnh, bên Mỹ trong một ngày có một triệu ca nhiễm, nước ta mỗi ngày có mười sáu ngàn ca nhưng cảm giác thúc giục trong tâm kêu đi, muốn đi chơi, muốn tiếp xúc, thật là nguy hiểm. Chúng ta phải tập nhìn ra những cảm thọ tham muốn đó là những cảm thọ giết người, rõ ràng là nó hại người, nếu nhìn thâm sâu vào bên trong thì không phải con virut hại mình mà là cảm giác thúc giục, xúi giục hại mình, nếu mình không ra ngoài là mình không bị nhiễm, nếu mình biết 5K, nếu mình biết giữ gìn là mình không bị nhiễm, đằng này ỷ lại đã chích ngừa nên không cẩn thận rồi bị nhiễm.
Chữ "dục" trong kinh Nikāya rất rộng lớn, nó bao trùm mọi phương diện, nó là sự thúc giục ham muốn về sắc đẹp, thúc giục muốn nghe những tiếng hay, thúc giục về mùi vị, về sự muốn tiếp xúc đụng chạm và nó thúc giục trong tâm là những hình bóng, nghĩ tưởng. Chúng ta phải tập nhìn ra được những cái đó, đó là Thánh trí, là Phật tuệ, là Phật tri kiến, là cái thấy biết của Phật, là cái thấy biết của bậc Thánh, là nhìn ra được những gì diễn ra bên trong tâm, nó manh nha, sai khiến trong tâm. Nếu là thiện pháp thì mình tăng trưởng, phát triển, còn nếu là bất thiện pháp thì ngăn chặn, nhiếp phục, chế ngự, đánh phá, diệt tận nó, đó chính là tu tâm, đó là tối thượng thừa, đó là tâm ấn của chư Phật, là Thánh đạo, là con đường của bậc Thánh, là đạo lộ của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, cách tu của bậc Thánh, giáo pháp của bậc Thánh, phương pháp của bậc Thánh, cách hành trì của bậc Thánh.
Đối với cái nóng giận cũng vậy, những cảm thọ bực bội, thiêu đốt trong tâm cũng phải tập nhìn ra nó, tập kiểm soát, chế ngự nó, không để nó điều khiển, làm chủ mình, không cho nó ngấm ngầm dẫn lối mình đi, "ma đưa lối quỷ dẫn đường, lại tìm những chốn đoạn trường mà đi" (Truyện Kiều). Chính những cảm thọ tham, sân, si là ma đưa lối quỷ dẫn đường, đưa vào những chỗ đoạn trường sầu đau. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói những cảm giác thúc giục là tâm ma, ma ở trong lòng mình, nó thúc giục mình ham muốn, nó thúc giục mình nóng giận, nó thúc giục mình hơn thua, nó thúc giục mình phải thể hiện cái ta, cái tôi, vỗ ngực xưng tên, đó chính là ma đưa lối quỷ dẫn đường và mình phải tập nhìn ra nó, tập thấy biết nó, như vậy gọi là nhận diện các cảm thọ, đó là sự rõ ràng, cụ thể, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy.
Thọ là chỗ nhận vào và chỗ cho ra. Khi chúng ta tiếp xúc với cái gì là mình thích cái đó, mình thọ nhận cảm giác đó, thiếu nó mình không chịu được, ví dụ khi ăn cơm phải có ớt, không có ớt là ăn không ngon, vậy thì đầu tiên là mình thọ nhận cảm giác cay nồng của ớt, mình tập quen cảm thọ đó rồi ái luyến, chấp thủ trong cảm thọ đó nên không cay là ăn không được. Tập quen ăn thịt cá nên không có thịt cá là ăn không được, một người sanh ra đã ăn chay trường, một người sanh ra đã cho ăn thịt cá quen rồi thì người ăn chay sẽ quen với ăn chay, còn người ăn thịt cá thì quen với ăn thịt cá, khi thọ nhận vào, huân tập thì trở thành thói quen, tập tánh, nghiệp. Vì cái nghiệp ngon một chút ở cái lưỡi mà phải giết hại, sát sanh, nghiệp kia thì ăn chay cũng ngon nhưng tránh được nghiệp sát sanh, như vậy cái thích hoặc là cái nghiệp chính là sự huân tập của cảm thọ.
Chiều chạng vạng là phải xem phim, hôm nay không xem là buồn bực, khó chịu, còn chiều là phải tụng kinh, còn hôm nay không tụng thì thấy thiếu thiếu, còn tập đến giờ đó nghe pháp mà giờ không được nghe thì cũng thấy thiếu thiếu, đó là chỗ mình thọ vào. Thọ vào xem phim hay thọ vào tụng kinh hoặc nghe pháp, tập quen rồi thì trở thành thiện pháp hoặc bất thiện pháp, đúng giờ đó là tụng kinh hoặc nghe pháp, ngược lại đúng giờ đó là đi đánh bài, đó là sự huân tập, nhận vào.
Cho ra tức là phải làm những thứ đó mới chịu được, không có là bực bội, khi đã ái, đã yêu thích thì dục sẽ tăng lên, tức là muốn cái đó nhiều hơn, không dừng lại được thì gọi là tham. Sự thúc giục là khác, sự yêu thích, ái luyến là khác, cái tham là muốn thêm lại khác nữa, dục, tham, ái khác nhau hoàn toàn, những người nghiền bài đánh một lần làm sao đã nghiền, ngày mai, ngày mốt phải tìm sòng đánh nữa, những người thích đá gà đâu phải đá một lần là hết nghiền mà phải tìm trận lớn hơn để đá nữa, người nghiện rượu có cho uống ba ngày ba đêm cũng không hết nghiền, vài hôm cũng kiếm rượu uống tiếp, đó là sự huân tập của các cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, đó là sự thúc giục, yêu thích và muốn thêm nữa.
Chúng sanh không tu tập cảm thọ, không thấy biết cảm thọ, không quán sát, quán chiếu về cảm thọ, về những thứ làm cho mình đau khổ nên chúng sanh bị vô minh, bị cảm thọ này ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển, ngấm ngầm làm chủ. Còn chúng ta nhận được con mắt pháp của Đức Phật nên chúng ta nhìn ra được những thứ đó rồi biết nhiếp phục đó. Một khi đã nóng giận lên là không còn làm chủ được nữa, không thể ra lệnh cho cơn giận ngưng lại, đừng giận nữa, như vậy là mình bị nó ra lệnh, mình ngoan ngoãn nghe theo nó chứ mình không làm chủ cơn giận, mình không điều khiển cơn giận mà cơn giận điều khiển mình, mình không nhiếp phục cơn giận mà ngược lại cơn giận nhiếp phục mình, mình không chế ngự cơn giận mà cơn giận quay lại khống chế mình, nó xâm chiếm, áp đảo mình, nó thiêu đốt, thiêu hủy mình, nó đốt cháy nội tâm mình, như vậy mình là người mất tự do, mình là kẻ bị cảm giác sân hận sai khiến, bị cảm thọ sân hận nó điều khiển, bị cảm thọ sân hận đó làm chủ, phi chối, dẫn dắt.
Mình đi theo sự điều khiển của một tên ác rồi nó chỉ mình đi vào chỗ khổ đau, nó chỉ mình đi vào con đường tan rã, rạn nứt, con đường chia ly, con đường của sự giận hờn, thù hằn, sân hận. Như vậy thì tu đến khi nào mới hết khổ? Tu mà đi làm nô lệ, làm đầy tớ, làm tay sai cho những thứ ác độc, sân hận, cho những cảm thọ nóng bức đó thì làm sao được bình an? Mình đã thấy ra được sự nô lệ của mình chưa? Mình đã thấy ra được sự mất quyền làm chủ của mình chưa? Mình đã thấy ra được nguyên nhân làm mình đau khổ chưa?
Mỗi lần cảm thọ sân sanh khởi lên là phải thấy được ngay "mày đừng hại tao nữa", "mày đừng dẫn dắt tao đi vào nẻo khổ nữa, hỡi này cảm thọ sân hận, thiêu đốt kia hãy dập tắt hoàn toàn đi, an tịnh, lắng dịu đi, mát mẻ, ngọt ngào đi, dễ thương, dễ chịu đi chứ đừng phóng hỏa đốt nhà nữa". Phải la rầy, dạy dỗ, giáo dục nó, cải tạo, huấn luyện, sửa đổi nó, bắt cảm thọ sân hận này phải cải tạo, cải cách, cải thiện, như vậy mới gọi là tu. Tu là sự sửa đổi, cải thiện, sửa lại cho tốt, sửa cảm thọ sân hận, bực bội, gắt gỏng, cọc cằn, ganh tỵ, đố kỵ để trở thành bao dung, tha thứ, hiền đức, hiền lành, hiền trí rồi đi đến cả hiền Thánh.
Tất cả đều do mình làm chủ, quyền tự chủ trong tay mình. Các bậc Thánh không thể làm tịnh chỉ các cảm thọ thiêu đốt của mình được, mình đang giận ngoài chợ thì làm sao thầy ở đó cho kịp mà ngăn cản, như vậy cái gì giúp mình ngăn chặn được cảm thọ nóng giận đó? Chỉ có sự chánh niệm và tỉnh giác của mình mới ngăn chặn lại được, giống như chỉ có tài xế mới đạp thắng xe lại kịp, còn người ngoài xa làm sao đạp thắng được. Mình chính là tài xế điều khiển chiếc xe tâm linh của mình, ai có thể đạp thắng giúp mình nếu không phải là chính mình. Mình phải có sự rà soát, kiểm soát, phải có sự nhìn ngó, quán sát phải trái, trước sau. Người tài xế lái xe đâu phải chỉ nhìn đằng trước, mình cũng phải nhìn lại nội tâm của mình trong nhiều phương diện và ở đây mình đang nói về phương diện cảm thọ, cảm giác. Chúng ta rất ít khi nào nhìn tâm mà rất thích nhìn bên ngoài, nhìn cảnh vật, con người.
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Ta để cho những cảm thọ, cảm giác này tàn phá thân tâm chúng ta, làm cho mình thân tàn ma dại, làm cho mình tiều tụy, héo mòn, làm cho mình khô khan, kiệt quệ, làm cho mình không còn sức sống vì suốt ngày cứ tham, sân, si, suốt ngày cứ ghét người này giận người nọ, suốt ngày cứ ưa người ngày thích người kia, tối ngày cứ thiêu đốt, tàn phá nội tạng của mình, tàn phá những cảm thọ hiền thiện, gương mặt trở nên thảm não, khổ sầu vì trong tâm chất chứa những thứ làm cho mình khô héo, úa sầu, trong tâm chất chứa những nhiêu liệu dễ bốc cháy nên đụng vào là bốc hỏa, còn tu mà trở thành hồ nước trong xanh, mát mẻ, thơm ngọt thì tàn thuốc làm sao cháy nổi với hồ nước đó, hoàn toàn không có chất cháy mà chỉ toàn là sự thanh lương, mát mẻ, từ ái, từ hòa, từ bi. Không thể có ngọn lửa nào có thể đốt cháy hồ nước trong xanh và mát mẻ như vậy, Thế Tôn thường ví dụ tâm từ là hồ nước lớn, rộng, trong xanh, sạch mát và ngọt ngào, trong đó là những đóa sen tươi thắm.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Mình cứ nghĩ thương mình là cho ăn ngon, ở cho sang, mặc đẹp, đi xe đời mới nhưng cái đó chỉ là cái thương ở một khía cạnh phàm phu thôi, chưa phải là cái thương của bậc trí tuệ, cái thương của bậc trí tuệ là biết chăm sóc cảm thọ của mình, không để mình bị đau khổ, bị phiền bực vì những chuyện vu vơ, chuyện vỉa hè, không dễ gì ngọn gió thổi làm chao đảo được trụ đá chôn sâu, những ngọn gió chỉ thổi được miếng bông gòn, những cành yếu lá mềm, còn thạch trụ chôn sâu đứng vững thì gió không thể lay chuyển được.
Mình an trú trong sự thật Bốn Thánh Đế, mình an trú trong Tứ Niệm Xứ, mình an trú trong trí tuệ về khổ thì những thứ đúng sai, thị phi của cuộc đời này không thể làm mình chao đảo, nghiêng ngã được. Muốn được như vậy phải quay lại chăm sóc cảm thọ, thương yêu cảm thọ thật sự, bồi đắp, tưới tẩm trong từng giây, từng phút, từng ý nghĩ, từng suy tư, phải hướng dẫn, dẫn dắt trong từng cảm thọ để đi con đường thiện lành, con đường từ bi, hiền trí, không để đi vào con đường sân hận, hơn thua, đấu đá.
Vợ chồng thương yêu nhau biết bao nhau nhưng hở ra vài câu là cãi lộn, thượng cẳng tay hạ cẳng chân rồi lấy đó làm thú vui, đó là vui trong sân hận rồi khổ đau, vui trong tham dục rồi khổ, vui trong bản ngã là vui trong cái khổ. Nói qua nói lại với chồng con để giành phần thắng, phần hơn rồi cuối cùng mình được sự xa lánh, bị bớt đi tình thương với mình, bạn bè cũng vậy, chơi với nhau cũng muốn giành phần hơn, giành phần thắng.
Đó là chúng ta đi sai đường, đặt tâm sai hướng cho nên mình mới chịu nhiều khổ đau, hằng ngày mình phải làm cho những cảm xúc của mình đau đớn, bực bội, mệt mỏi, đè nặng như vậy, tự mình hành hạ những cảm giác của mình vậy mà mình nói mình thương mình. Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh, lấy khổ mà muốn bỏ khổ, cái gì cũng bực dọc, cái gì cũng khó chịu, cái gì cũng hơn thua, cái gì cũng ta đây rồi đày đọa mình, làm cho mình khổ, bắt cảm thọ ở trong hỏa ngục, bắt cảm thọ phải cô đơn, lẻ loi, sân hận lên không vừa lòng ai nên không ai chơi và cũng không muốn chơi với ai, không biết tu là như vậy đó.
Phải thực sự thấy được bộ mặt của vô minh này, thật sự thấy được tâm mê lậu hoặc này, tâm mê ngấm ngầm hoạt động. Cái tâm cứ nắm vào sự nóng giận là tâm si mê, cái tâm cứ nắm vào cái tôi, cái ta, phải làm cho ra lẽ mới được, nhịn thì bị nói ngu là tâm mê, tâm dại khờ, tâm ngu si, tăm tối. Cái chấp ngã này vô cùng cứng chắc, nó rất ngang ngạch, ngang bướng, ngang tàng chứ không phải dễ nhiếp phục nó, phải nhìn ra ý niệm ta, tôi, muốn hơn người khác, phải hạ gục nó xuống, phải đánh đổ nó xuống và bắt nó phải khiêm hạ, khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, tập những cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, dễ thương, cảm thọ khả ái, từ tâm, bao dung, tha thứ, độ lượng, phải thực tập, tưới tẩm, tác ý những cảm thọ đó thì chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong lòng mình, trong thân tâm mình và trong cảm thọ của mình.
II. Quán xét "tưởng"
Tập thấy biết rõ về các Tưởng
Tưởng nào đang ẩn hiện trong tâm
Tưởng nào đang sanh diệt âm thầm
Tập thấy biết rõ ràng các tưởng.
Bóng dáng của sáu trần sanh khởi
Bóng sáu trần hiện rõ trong tâm
Đó là Tưởng - Bóng dáng sáu trần
Rõ biết chúng, gọi chúng là Tưởng.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Tưởng là những hình bóng trong tâm, phải tập nhìn ra được những hình bóng ẩn hiện đó. Khi trong tâm có hình bóng của món đồ, căn nhà, cảnh vật hoặc một người nào đó thì mình phải biết đó là tưởng uẩn, là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới có ra hình bóng này, không tiếp xúc thì không có hình bóng này. Ngày trước chúng ta học đơn giản hình bóng là tưởng, bây giờ mình học có đến sáu tưởng.
- Bóng dáng cảnh, vật, người, tứ đại
Hiện khởi trong tâm là Sắc tưởng.
- Bóng dáng lời nói và âm thanh
Hiện khởi trong tâm là Thanh tưởng.
- Bóng dáng mùi thơm, hay mùi thối
Hiện khởi trong tâm là Hương tưởng.
- Bóng dáng vị chua, cay, mặn, ngọt
Hiện khởi trong tâm là Vị tưởng.
- Bóng dáng sự đụng chạm, cọ quẹt
Hiện khởi trong tâm là Xúc tưởng
- Bóng dáng cảm thọ và tưởng, hành
Hiện khởi trong tâm là Pháp tưởng.
Khi ra Vịnh Hạ Long thấy cảnh đẹp tuyệt vời, mình trở về nhà thì hình bóng của Vịnh Hạ Long hiện trở lại trong tâm thì đó là sắc tưởng. Khi ra Vũng Tàu thấy biển mênh mông tắm mát thì khi về nhà mình nhớ lại lúc tắm biển, lội tung tăng thì đó là sắc tưởng. Đi đâu cũng nhớ về căn nhà, có hình bóng căn nhà hiện ra trong tâm thì đó là sắc tưởng. Tưởng là hình bóng, sắc là sắc trần, sắc pháp, hình bóng của sắc trần hiện trong tâm thì gọi là sắc tưởng. Sau khi mình tiếp xúc với ai thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm mình, hình bóng người đó là sắc tưởng, những hình bóng của cảnh vật, đồ vật, con người sau khi mình tiếp xúc rồi trở về mà tâm mình hiện ra hình bóng thì đó là sắc tưởng.
Sáng ra đi chợ được người bán khen mình đẹp ra, trắng trẻo, hồng hào, thế là khi về nhà nhớ lại âm thanh đó rồi cười một mình, đó là thanh tưởng, âm thanh của lời khen đó vang vọng lại. Đối với tiếng chê cũng vậy, khi nhớ lại những lời bị chê là mình khó chịu, bực mình thì âm thanh đó chính là thanh tưởng, một bên là tham (khen), một bên là sân (chê). Khi mình trở về nhà hồi tưởng lại âm thanh đó thì mình phải nhận biết âm thanh đó chính là thanh tưởng, đây chỉ là thanh tưởng mà thôi, chỉ là sự hồi tưởng lại những âm thanh đó nên nó không có thật, đừng chạy theo âm thanh đó rồi buồn vui, thích thú hay sân hận.
Lên mạng xem thấy người ta ăn bánh xèo, xem một hồi là muốn ăn bánh xèo, trong đó vừa có sắc tưởng, hương tưởng và vị tưởng. Hình bóng của món ăn sau khi tiếp xúc là sắc tưởng, mùi hương phản phất của món đó là hương tưởng, cần nhớ là sau khi tiếp xúc rồi hồi tưởng lại mới gọi là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, còn khi tiếp xúc trực tiếp thì đó là sắc trần, hương trần, vị trần. Như vậy mình nhớ lại hình ảnh của cái bánh xèo, mùi hương, nước chấm ngon lành của bánh xèo, rồi mình nhớ lại vị của nó thì đó là sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng.
Mỗi ngày chúng ta đều gặp những thứ này nhưng chúng ta lại không biết gì cả cho nên Đức Phật gọi là vô minh, mình thì cứ cho là tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi thích, tôi khoái, cái nào mình cũng gắn cái tôi vào mà không biết đó chỉ là những pháp đang vận hành, đó chỉ là bộ máy, guồng máy, cơ chế, mô típ, cấu trúc đang vận chuyển, vận hành trong tâm, vì vô minh, chấp ngã, si mê nên mình dính chùm vào hết, làm thành một khối to lớn là cái tôi vĩ đại. Còn khi nó rời rạc thì nó là từng pháp một, Đức Phật chỉ ra từng món một cho mình thấy.
Cái ghế Minh Thành ngồi làm bằng mây, có rất nhiều cây mây hợp nhau thành cái ghế. Khi chưa thành cái ghế nó là từng cây mây riêng lẻ, còn khi kết hợp với nhau thì người ta chỉ thấy một cái ghế duy nhất nhưng thật ra có hàng chục, hàng trăm cây mây lớn nhỏ trong đó. Cũng vậy, chúng sanh phàm phu chỉ thấy một bản ngã, một cái tôi nhưng cái tôi đó hoàn toàn là ảo tưởng, mộng tưởng, hư tưởng, Đức Thế Tôn dùng Thánh trí tháo gỡ ra từng cây mây cho mình thấy nó rời rạc, riêng lẻ, Thế Tôn chỉ ra cái nào là sắc, cái nào là sắc tưởng, cái nào là thọ, nó thuộc về thọ gì, trong cái thọ đó có cái gì, cái nào là hành. Ngài chỉ từng cái một cho mình thấy, ngài lột ra từng bẹ chuối, trong đó không có lõi bên trong.
Khi mình tiếp xúc với một ai đó hay nắm tay cháu nội, cháu ngoại hoặc là ôm người yêu thương, đến khi trở về mình nghĩ về cái nắm tay đó, nhớ lại cái ôm ấp đó, nghĩ lại sự tiếp xúc đụng chạm đó thì gọi là xúc tưởng, là sự hồi tưởng lại việc tiếp xúc, đụng chạm đó, cái này vô cùng ghê gớm, nguy hiểm. Khi ra Vịnh Hạ Long mình thấy đẹp, có cảm giác thích thú, dễ chịu rồi mình suy nghĩ nó đẹp ra sao, xanh ra sao, mát ra sao thì những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng đó hiện khởi trở lại sau khi mình về nhà thì đó là pháp tưởng, là sự hồi tưởng lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sau khi mình tiếp xúc với cảnh đẹp đó. Hoặc là mình hồi tưởng lại con người đó dễ thương như thế nào, dễ ghét ra sao, cảm giác khi gặp ra sao, mình hồi tưởng lại cảm giác, suy nghĩ, hình bóng khi tiếp xúc người đó thì đó là pháp tưởng. Những cái này chúng ta rất thuần thục, nhuần nhuyễn nhưng cứ dính chặt vào nhau rồi cho rằng tôi nghĩ, tôi tưởng, tôi suy tư nhưng thật ra Đức Phật mở ra từng mảnh của bẹ chuối để thấy rằng trong này không có cái lõi gì cả.
Hôm nay chúng ta tiếp tục học về thọ và bắt đầu đi vào sáu tưởng, nhận diện sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng. Lần sau chúng ta sẽ tiếp tục về những tính chất, tác hại và lợi ích của các tưởng.
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe.
./.