Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền quán - Trái tim của Đức Phật

2026-03-03 00:52:28
Thiền Quán

TRÁI TIM CỦA ĐỨC PHẬT

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cốt lõi của sự tu tập: PAGEREF _Toc48889814 \h 1

II. Quán chiếu và khiếp sợ: PAGEREF _Toc48889815 \h 6

III. Bài kinh “Tùy pháp”: PAGEREF _Toc48889816 \h 13

IV. Phật tử chia sẻ: PAGEREF _Toc48889817 \h 15

Phật tử Tâm Như PAGEREF _Toc48889818 \h 15

Phật tử 2 PAGEREF _Toc48889819 \h 17

Phật tử 3 PAGEREF _Toc48889820 \h 17

Phật tử 4 PAGEREF _Toc48889821 \h 19

Phật tử 5 PAGEREF _Toc48889822 \h 20

Phật tử 6 PAGEREF _Toc48889823 \h 21

Sư cô Hồng Tuệ PAGEREF _Toc48889824 \h 23

Phật tử 7 PAGEREF _Toc48889825 \h 25

I. Cốt lõi của sự tu tập:

Đảnh lễ Vô Thượng Pháp Bảo, bốn Thánh Trí ngũ uẩn, bốn Thánh Trí lậu hoặc, đưa đến ly tham, giải thoát.

Kính bạch đại chúng, chúng ta cần phải nắm được tổng cương lĩnh của Thánh Giáo. Khi mình chưa biết về Chánh Pháp, chưa thực tập Chánh Pháp, thì chúng ta luôn luôn sống trong một cái tâm hướng ngoại, tìm dục, tìm ái, phát huy một cái tôi, cái ta, một cái bản ngã. Hoàn toàn không biết về thân tâm của chính mình. 

Vừa rồi chúng ta đảnh lễ “Vô Thượng Pháp Bảo, bốn Thánh Trí ngũ uẩn, bốn Thánh Trí lậu hoặc, đưa đến ly tham giải thoát”, ý nghĩa câu này như thế nào? Trong sự tu học này, đầu tiên là nhìn thấy được thân tâm của chính mình, là sự xoay ngược tâm hướng ngoại, trở về nội soi, và phương pháp nội soi đó là nhận diện ngũ uẩn. Từ sự nhận diện một cách đầy đủ mọi khía cạnh, góc độ, phương diện của thân tâm qua trí tuệ của ngũ uẩn, chúng ta phát giác, phát hiện lậu hoặc. Đây là chỗ hồng tâm, cốt lõi, xương tủy, tinh tủy, tinh túy của Thánh Giáo.

Đức Phật ra đời, để giúp cho chúng ta nhìn thấy được cái tâm cấu uế. Đây mới thật là đại sự nhân duyên. Người nào tu học mà chưa thấy được tâm cấu uế của mình, chưa thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, rắn rết, độc xà, yêu quái, yêu tinh cư trú trong thân tâm của mình, là người đó còn đứng ngoài cửa. Người nào càng nhìn thấy một cách sâu sắc, thật nhiều, thật nhỏ nhiệm, vi tế những cái tâm xấu, ác, bất thiện, thì người đó trí tuệ càng thâm sâu, càng có chỗ đứng vững trong pháp và luật. Cho nên, trọng tâm mà Đức Thế Tôn nói pháp suốt bốn mươi năm, là để cho chúng ta nhìn thấy được cấu uế, lậu hoặc.

Một người mà còn nghĩ mình hay, mình giỏi, mình tốt, mình đẹp, mình hơn, thì người đó còn xa vời với Niết bàn lắm. Người thường thấy được cấu uế, lậu hoặc, những tâm ác, bất thiện, sự hèn hạ, thấp kém, hạ liệt, bẩn thỉu, thối tha, xấu xa, tồi bại bên trong chính mình. Người an trú trong một cái tâm tàm quý, mạnh mẽ, sung mãn, xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi, người này đến gần Niết bàn. Người nào luôn luôn nhìn thấy được lậu hoặc, dục, tham, ái, ô nhiễm, cấu nhiễm, tạp nhiễm, uế nhiễm và người này ngày đêm tinh tấn nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận, người đó đang bước gần, đến gần, tiến gần, tới gần, cứu cánh Phạm hạnh. 

Mai mốt mình gặp nhau, mình đừng hỏi “có khỏe không”, mình hỏi “sư tỷ có nhìn thấy cấu uế không? Sư muội có nhìn thấy rác bẩn không? Có thấy được nhiều chưa? Có thấy được lòng dục, lòng tham, lòng ái của mình nhiều không? Sư muội có nhìn thấy tâm sân hận, những cảm giác bực bội, tức tối, khó chịu, sân si, của mình nhiều không?”. Mình gặp các Phật tử bên đạo tràng Nikāya mình đừng hỏi “khỏe không”, “hổm rày làm gì?” mình hỏi “Có thấy lậu hoặc không? Có thấy một cái bản ngã to tướng bành trướng che lấp cả hư không hay không?”. Đó là lời chào hết sức giá trị, ý nghĩa và sâu sắc, của những thành viên đạo tràng Nikāya.

Đó là một câu nhắc nhở, một tiếng chuông thức tỉnh, một tiếng chuông cảnh tỉnh, một tiếng chuông báo thức, mà người thường được nghe, thường được học, thường được nhìn, thường được nhắc nhở như vậy, người này nhất định sẽ giảm thiểu, đề phòng, canh chừng những cấu uế, những cái tham, sân, si, bản ngã, thối tha, xấu xa, bẩn thỉu, tồi bại, hèn hạ, phàm phu, hạ liệt, xấu xí, ác độc.

Đó là trái tim của Đức Thế Tôn, là bốn Thánh Trí về lậu hoặc, Đức Thế Tôn ra đời là muốn chỉ cho chúng sanh thấy lậu hoặc, biết lậu hoặc, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, chấm dứt tất cả các lậu hoặc, để đi đến chỗ lậu tận. Đây là con đường trực chỉ, trực tiếp, trực diện, đây là lời nói trực ngôn, là chính chỗ đó.

Tại sao mình không có tàm quý? Tại sao mình không thấy mình nhục nhã, khi mình sân hận, bản ngã? Do mình hướng ngoại, lãng quên pháp hành, chạy theo ngoại cảnh, hữu ái, ưa thích những cái hiện hữu, những cái sắc, những cái thanh, cái hương, cái vị, cái xúc. Chạy theo những dục, những tham, quên mất pháp hành của mình.

Cho nên chúng ta phải nắm thật vững chỗ này, đây là trái tim của Đức Thế Tôn, cho chúng ta nhìn thấy lậu hoặc, nhìn thấy một cái tâm nhớp nhúa, nhầy nhụa, xú uế, bẩn thỉu. “Hỡi ôi, một cái tâm đó. Ơi trời, một cái tâm đó. Ngao ngán, chán chường, chán nản, chán ngán những cái tâm đó, không có muốn ở trong đó, muốn xa rời nó, muốn viễn ly, xuất ly, đoạn ly, xả ly, muốn diệt tận những cái tâm đó”. Từ đó làm cho mình có động lực, nhiệt tâm, tinh tấn, Chánh niệm tỉnh giác, thôi thúc, day dứt, thao thức, ray rứt. Một ngọn lửa trong tim của mình bùng cháy rực lên, để thiêu đốt hết tất cả những thứ rác rưởi, dơ bẩn, cấu nhiễm, hôi thối đó.

Nếu mình sáng thức dậy thấy một đống rác, xế trưa cũng thấy, giữa trưa, ăn cơm, vô ngủ, buổi chiều, khi đi kinh hành, thiền hành, giờ giải lao bên ngoài, buổi tối vô ngồi thiền cũng nhìn thấy, lúc nào cũng nhìn thấy rác rưởi, lậu hoặc hết như vậy, thì cái tu của mình tuyệt vời không? Đó là “Thánh Trí hiện tiền”, Thánh Trí được thắp sáng liên tục đó, là chiếu kiến ngũ uẩn, chiếu kiến lậu hoặc.

(Như vậy tuyệt vời không? Con thưa sư cô Hạnh trí)

Mà mình đã như vậy rồi, thì mình có nhìn ra ngoài để hơn thua với ai không? Ở trong này quá nhục rồi, mà còn hơn thua với ai ở ngoài? Trong này quá tồi bại rồi, còn ghen tị với ai ở ngoài? Mình thấy mình đang bị tai nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan mà, sao có thể mình đi gây sự với người ngoài được? Đó là địa chỉ thường trú của hành giả Nikāya. Đó là quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Đó là người thấy pháp, người “đắc pháp nhãn tịnh”.

Người ta không biết, nên cứ tưởng tượng, một người “đắc pháp nhãn tịnh” là người dữ dằn lắm, nhìn thấy tâm của người này, người nọ, người kia, biết hết trơn người khác, lầm tưởng, ảo tưởng. Người “đắc pháp nhãn tịnh” là người mở được con mắt pháp, thành tựu trí nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, pháp nhãn, là người nhìn thấy được lậu hoặc, nội tâm của chính mình, thấy được những ô uế, bẩn thỉu, luôn luôn thấy để nhiếp phục. Người này thấy như vậy, người này an trú trong tàm quý sung mãn, lúc nào cũng thấy nhục nhã, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê với cái tâm u mê, chán chê với cái thân xú uế, chán chê cho cảnh giới ô nhiễm bất tịnh.

Luôn luôn trú trong viễn ly, yểm ly, xả ly, thì làm sao ưa thích được? Làm sao tham đắm được? Làm sao có thể chấp thủ được những thứ ác độc đó? Nó đốt cháy mình đau khổ như vậy, nó làm cho mình bức xúc, nhiệt não, nóng bức như vậy, thì làm sao mình ưa thích được? Chỉ có người mù, kẻ vô văn phàm phu, không thấy, không biết mới ưa thích, mới đam mê, mới chấp thủ cái lậu hoặc đó. Còn những người đã thấy, đã biết, dẫu chưa đủ lực quăng bỏ xuống ngay lập tức, nhưng người này cũng dần dần lánh xa, tránh xa. Giống như tránh xa hồng lửa, tránh xa một đống nội tạng heo bị phân hủy, hôi thối, người này tránh xa, lánh xa nó.

Đức Thế Tôn ví dụ trong Trung Bộ Kinh “Giống như người đẹp, ưa thích đẹp đẽ, thích trang sức, thích trang điểm, mà người này bị quàng một xác chó, một xác người lên trên cổ. Thì người này run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ “nhanh nhanh vứt đó, nó thúi quá”. Người này phải nhìn thấy lậu hoặc giống như vậy, phải thấy khiếp sợ, kinh sợ, hoảng sợ, hãi sợ, chán chê đối với các dục tham, sân hận, bản ngã, si mê, vô minh. Người còn yêu, còn thích, còn tham, còn đắm, còn chấp, còn thủ, còn nắm, còn giữ những cảm thọ đó, thì người này chưa thấy, chưa biết, còn mù loà, còn ở trong bóng đêm, chưa nhìn thấy”. Đây thật sự là cái lõi của giáo pháp, tinh túy của Nikāya, trái tim của Đức Phật, tinh tủy của giáo pháp.

Mình trở thành một con bò bị bẻ gãy hai cái sừng, không còn có khả năng húc ai, hất ai hết. Mình trở thành một con rùa rút cổ, rút đầu, rút chân, rút vô hết, để không cho con dã can không cắn được, không ngoạm được, đó là “Linh quy pháp môn”, thu thúc lục căn thanh tịnh giới. Không để ý cái xấu dở của người ta, không để ý tập khí của người ta, trong khi tập khí của mình đầy dẫy như vậy mình không lo, mình để ý của người ta để làm gì? Để cho mình sanh thêm lậu hoặc, là ngu, si, khùng mới làm vậy, người tỉnh, người khôn, không ai làm vậy.

Cái lậu hoặc đầy dẫy trong này, mình không biết xấu hổ, không thấy nhục nhã, không lo nhiếp phục, không lo đánh gục, không lo tẩy sạch, ở đó đi để ý lậu hoặc của người ta, để cho lậu hoặc của mình tăng thêm.

II. Quán chiếu và khiếp sợ:

“Các nhân tự tảo môn tiền tuyết

Mạc quản tha nhân ốc thượng sương”

Mọi người hãy lo tự quét tuyết ở trước cổng nhà mình, đừng để ý sương ở trên mái ngói của người ta. Tuyết hàng đống trước cửa nhà mình đó, mình lo quét đi, mình không lo quét, mình để ý sương trên mái ngói của nhà hàng xóm. Đó là những con người đáng thương, mà xót thương nhất chính là chúng ta “chúng ta có hay bị vậy không?”. Đây là một trong những kiết sử của chúng ta, cái để ý, dòm ngó, moi móc của người ta, trong khi mình là đầy dẫy, thật là đáng thương thay cho chúng ta, đáng thương thay cho một cái tâm lậu hoặc.

Ăn hết cơm gạo trong chùa, đi mòn bao nhiêu đôi dép, rách mấy cái y, bồ đoàn hư bao nhiêu cái, mà cuối cùng lậu hoặc vẫn hoàn lậu hoặc, vẫn ở trong một cái ung nhọt, lún xuống đầm lầy, dục thủ, kiến thủ, vô minh thủ, ngã luận thủ. Nắm chặt những cái dục đó, nắm chặt những cái kiến chấp của vô minh, u mê, ngu si, thức uẩn đó. Chấp chặt vô cái biết ngu si, u mê, ngu muội, ngu dại, cái biết ngu hết chỗ nói, chấp chặt vô cái biết đó, gọi là kiến thủ.

Không mở tâm ra đối với Thánh Pháp, không mở lòng đối với Thánh Trí, không mở cánh cửa ra để đón nhận ánh sáng bình minh của Thánh Tuệ, đóng chặt lại, khép kín lại, ở trong bóng đêm ngàn năm sầu, bi, khổ, ưu, não. “Này các Tỳ-kheo, các ông bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Các ông lại đi tìm bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Các ông bị tham, bị sầu, bị bi, bị khổ, bị ưu, bị não. Các ông lại đi tìm cái bị, bị sầu, bị lo, bị khổ, bị ưu, não”, thật là đáng thương cho chúng ta “ma đưa lối, quỷ dẫn đường, lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi”.

Dục đưa lối, sân đưa lối, bản ngã đưa lối, dẫn đường, để đi vào những con đường tăm tối, khốn khổ, đầy dẫy hiểm họa, hiểm nguy, chông gai. Đi vào không có lối ra, như đi vào trong mê hồn trận, bát quái trận. Đã bị tham làm cho khổ rồi, lại đi tìm cái bị tham. Đã bị sân làm cho khổ rồi, lại đi tìm cái sân. Bị si mê che tối, phủ lắp, trùm kín hết rồi, lại đi tìm cái si mê thêm nữa. Đã bị cái bản ngã xâm chiếm hết tất cả ngũ uẩn rồi, lại đi tìm bản ngã lớn lao hơn nữa, để ngưỡng mộ những cái bản ngã đó, để tiếp tục làm những con thiêu thân. Nhìn thấy cái bản ngã kia lớn hơn cái bản ngã của mình, ngưỡng mộ, mong muốn được cái bản ngã to như vậy, bự như vậy đó.

Thật là đáng thương cho chúng ta, chúng ta cứ chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài. Chúng ta đã chạy, đang chạy và sẽ chạy; đã tìm, đang tìm và sẽ tìm; đã muốn, đang muốn và sẽ muốn; đã mê, đang mê và sẽ mê; đã khổ, đang khổ và tiếp tục sẽ khổ, nếu chúng ta không đi vào con đường Thánh Đạo, Thánh Tuệ, Thánh Trí, Thánh Pháp này. Càng nhìn thấy cái tâm lậu hoặc, cái tâm cấu nhiễm, cái tâm xú uế, thì chúng ta càng nhàm chán, càng muốn đi ra khỏi nó, đó là con đường dẫn đến giải thoát sanh tử, chấm dứt khổ đau, đoạn tận luân hồi.

Khi Chúng ta chưa học giáo pháp này, chúng ta đâu có thấy, cái miệng thì nói chán thôi. Thấy gặp đám ma, thấy tai nạn này kia hay gặp những chuyện buồn thì chán một chút vậy đó. Chán những cái bên ngoài nó tác động vô hay vì mình không được cái mình muốn cho nên mình chán, chứ không phải là cái gọi là yểm ly Thánh Trí Tuệ. Còn cái thấy biết này, làm cho chúng ta nhàm chán, muốn xa lìa, muốn từ bỏ.

Thật sự, con tiếp xúc với những người, và con nhìn thấy trên hàng ngày những tin tức. Mình thấy đầy dẫy những đống dục tham, những đống sân hận, nó đang thiêu đốt khắp hành tinh này, nó đang đốt cháy mình, đốt cháy người, đốt cháy tất cả. Chúng sanh đi vào cái vòng xoáy đó, vô lượng, vô cùng, bất tận, không có ngày để bước ra, trừ những vị thành tựu Chánh Kiến.

Ngay cả người ta đang khổ sở, bệnh hoạn, nhiễm dịch này kia như vậy, mà lên giá khẩu trang, làm những cái khẩu trang không có chất lượng, hàng giả, thậm chí đi lụm những cái người ta xài rồi, người ta quăng, đem lại tái chế, rồi đi bán kiếm tiền. Rồi bao nhiêu những trò lừa gạt, đưa những người nước ngoài nhập cảnh phi pháp, đem mầm bệnh, rồi lây cho bao nhiêu người khác. Tất cả là vì lòng tham, lòng ích kỷ, gây ra bao nhiêu những thứ ác nghiệp, làm khổ bao nhiêu người, cả nước điêu đứng, đau khổ. Bao nhiêu người mất người thân, thậm chí trong gia đình năm người cùng nhiễm bệnh, ba thế hệ, ông bà, cha mẹ, con cháu cùng nhiễm. Từ cái dục lậu, lòng tham, vô minh, ích kỷ, si mê, làm cho bao nhiêu người đau khổ, khổ mình và khổ người. Có khi chính bản thân người đó bị nhiễm bệnh.

Có những người sống trong bãi rác ở Ấn Độ, những bãi rác đó là những rác của những người điều trị Covid-19, những rác thải y tế. Họ sống trong bãi rác đó, họ lụm những cái rác đó, họ đổi lấy thức ăn, hoặc họ lụm những thức ăn trong đống rác lại để ăn. Người ta đến hỏi “tại sao ăn như vậy?” Họ nói “bây giờ không lụm thì lấy cái gì ăn, sẽ chết đói” (chúng ta có món ăn mà còn chê, khen). Thậm chí họ đạp trúng những kim tiêm mà người ta tiêm á phiện, nhiễm những chứng bệnh của thời đại, và vô số những cảnh khổ trên cuộc đời này, tràn ngập.

Có em bé được mẹ sinh ra, bị bỏ ở hố ga, sống chỉ được hai mươi ngày. Các bác sĩ tận tâm điều trị, nhưng không qua khỏi, mạng sống của em bé chỉ được hai mươi ngày. Và vô số những em bé chết, người mẹ đào cái hố chôn sống con, vô số những thai nhi chết oan ức, chưa chào đời. Bao nhiêu người bị lũ lụt cuốn trôi mất xác, ngay trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây, ngay giờ phút này, hàng triệu người không có nhà. Hàng triệu người, hàng chục triệu người, hàng nhiều chục triệu người mất, nhà tan cửa nát, nước lũ cuốn trôi, tràn ngập hết mấy chục tỉnh thành. Chúng ta tưởng tượng nước Việt Nam chúng ta bằng một tỉnh, hoặc nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, mà bây giờ nó ngập hết hai mươi tám tỉnh, là nó ngập hết nước Việt Nam, hết Campuchia, Lào, Thái Lan. Hàn Quốc cũng vậy, chết bao nhiêu chục người. Li Băng cũng chết một trăm ba mươi lăm người, bị thương trên bốn ngàn người, một vụ nổ lên, tan tành nửa thành phố. Có những người Việt mình, họ chứng kiến, họ bị văng cánh tay ra làm mấy mảnh. Rồi máy bay rớt, máy bay bị gãy ra làm hai, núi lửa thì phun trào, thức giấc sau hàng nửa thế kỷ.

Chưa bao giờ mà chúng ta chứng kiến những thảm họa dồn dập, liên tục, trùng trùng như trong giai đoạn này. Trung Quốc lại thêm một bệnh dịch mới nữa, chết một số người, dịch bọ (dịch từ những con bọ). Rồi hiện tại bây giờ trong nước chúng ta, bao nhiêu người thất nghiệp, đi cướp giật “bần cùng sinh đạo tặc”, nhiều triệu người thất nghiệp. Ai ai cũng sống trong lo lắng, từ người giàu cho đến kẻ nghèo, từ người khỏe cho đến người bệnh, mỗi ngày đều thấp thỏm, lo sợ, bất an. Đây là thời điểm, đúng thời cơ để chúng ta dóc toàn bộ tinh lực, trí lực, sinh lực, tâm lực, nguyện lực, chúng ta thực hành Thánh Pháp này, đừng đợi khóa tu. Phải nhìn thấy bao nhiêu người đang khổ sở, đang quằn quại, đang điêu thương, mất nhà, mất con, mất cha, mất mẹ, mất ông, mất bà, mất vợ, mất chồng. Ví dụ có người vợ đang nhiễm bệnh, chồng đi vào thăm, chỉ một cuộc gặp gỡ đó phải đánh đổi bằng sang mạng của mình.

Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến khó khăn như lúc này, rồi chúng ta có thể ngồi đây, để mà ngồi tham thiền với nhau, chia sẻ pháp với nhau hay là không, còn chưa biết. Bất cứ ai trong chúng ta ở đây đều có thể bị nhiễm dịch, bất cứ ai trong chúng ta ở đây đều có thể không qua nổi mùa dịch này, đó là một trong bao nhiêu những thứ khác đưa đến cái chết cho mình. Kể cả miếng ăn của mình, cũng có thể làm cho mình ngã quỵ xuống, đi vào trong bệnh viện. Một cái khó thở của mình, cũng có thể đưa mình ra đồng, đem xuống huyệt, đắp mộ và dựng bia. Đời sống này thật mong manh hơn bao giờ hết. Ở thời điểm này, không có thời giờ để giận nhau đâu, không có thời giờ để buồn nhau, càng không có thời giờ để ý, moi móc những cái xấu dở của nhau, chỉ có những người ngu si mới đi làm những chuyện đó trong thời điểm này. Hãy quán chiếu nỗi khổ của thế giới, nỗi khổ của hữu tình, nỗi khổ của chúng sanh. Hãy đau lòng, đau xót, đau đớn, đau khổ cho chúng sanh. Một màu xám, một màu đen đang trùm phủ toàn thể thế giới này, u ám, âm u, thống khổ.

Có Phật tử bên Mỹ điện về thưa “thầy ơi bây giờ con hoảng sợ, lo sợ quá. Người bạn thân của con ra đi thình lình, mới vừa gặp mấy bữa, nhiễm dịch bệnh chết rồi. Người bà con của con, người thân thương của con, lần lượt ra đi, mà mỗi một ngày ở tiểu bang chết hàng trăm người, những người hàng xóm con lo sợ, con sợ quá, con lo lắng, bất an quá thầy ơi. Nhưng con vẫn phải cầm những cánh tay để con làm móng tay, móng chân cho người ta trong lo sợ, vì miếng ăn. Vẫn phải làm việc trong lo lắng, trong sợ hãi, mà con dành dụm tiền đó, để con gửi về cúng dường”. Mình nghe, mình đau nhói tâm can của mình, những đồng tiền đó con nhận, để con làm nên thiền đường này, những chỗ ở cho Tăng, Ni, những chỗ tu học cho đại chúng.

Xung quanh chúng ta rất nhiều sự đau khổ, chúng ta hãy sanh khởi những cảm thọ xót xa, trắc ẩn, bi ai và bi thương. Không phải chỉ những người nghèo, bệnh hoạn mới khổ. Những người đầy đủ, có tiền bạc, họ đi du lịch, đi chơi, rồi cuối cùng bị nhiễm bệnh, họ cũng sống trong quằn quại, lo lắng và sợ hãi. Chúng ta đừng sống trong vô cảm, đừng sống trơ trơ, hãy mở tấm lòng của mình ra, để cảm nhận một cách sâu sắc, rộng lớn cuộc đời này, thế gian này, hành tinh, trái đất này.

Năm Châu đang trong cuộc khủng hoảng, khắp năm châu hơn hai trăm mười mấy quốc gia. Hôm nay là hơn hai chục triệu người nhiễm bệnh rồi, hơn hai chục triệu đó chỉ là những con số trên báo cáo. Những nước nghèo, thiếu phương tiện, không có điều kiện để xét nghiệm, có những người chết oan ức cũng không ai hay. Đâu phải ai cũng được xét nghiệm, được chữa trị, được chăm sóc. Số liệu ngày hôm qua, hay hôm kia cũng đã nhiễm hai chục triệu không trăm hai mươi bốn ngàn hai trăm sáu mươi ba người, tử vong là bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm chín mươi lăm người. Trong vòng có ba ngày thôi, mà con số nhiễm tăng thêm một triệu ca. Mà tiếp tục cái đà này, thật sự là những lời dự đoán của các nhà chuyên gia không phải là không thể xảy ra, sẽ nhiễm bệnh hơn dân số nửa thế giới. Trong vòng có ba ngày thôi mà nhảy lên con số hơn một triệu ca nhiễm, mà đó là báo cáo, còn số chưa báo cáo thì mình không biết. Càng ngày thì độc tính của virus càng biến thể mạnh hơn, độc hơn, nhanh hơn, nặng hơn. Các y bác sĩ quằn quại, bao nhiêu người bác sĩ chết trên thế giới này, hàng ngàn, hàng chục ngàn người những y bác sĩ ở tuyến đầu hi sinh cho những bệnh nhân.

Chúng ta thấy được những cú điện thoại, miệng bác sĩ hét lên, những bác sĩ bị quỵ xuống xỉu, những y tá, điều dưỡng từ trong nước cho đến ngoài nước. Hình ảnh các y bác sĩ Đà Nẵng nằm quẹo cổ, trải một tấm cái thùng giấy, xé ra, trải xuống, nằm co ro. Có những người ngã quỵ, những bác sĩ phải thở máy, kiệt sức vì lo cho bệnh nhân.

Ở Bắc Mỹ có sáu triệu một trăm hai chục ngàn bốn trăm bảy mươi hai ca nhiễm, Châu Á là năm triệu không trăm bốn chục ngàn năm trăm sáu mươi bảy cả nhiễm, ở Nam Mỹ là bốn triệu bảy trăm năm chục ngàn bốn trăm lẻ bốn ca nhiễm, Châu Âu là ba triệu không trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm năm mươi ca nhiễm (đây là số liệu mấy ngày trước), Châu Phi là một triệu không trăm năm mươi hai ngàn không trăm bốn mươi ca nhiễm, ở Mỹ hơn năm triệu người, Brazil là hơn ba triệu, Ấn Độ là hơn hai triệu hai, ở Nga là tám trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm ba mươi sáu cả nhiễm. Ở Mỹ chết gần một trăm bảy chục ngàn người. Hai trăm hai mươi mốt quốc gia và vùng lãnh thổ có ca nhiễm.

Tổ chức y tế thế giới cho chúng ta biết rằng, Virus này bệnh này, dịch bệnh này có thể kéo dài hàng thập kỷ, tức là hàng chục năm. Chúng ta thấy không, bây giờ những khóa tu không mở được nữa, những đạo tràng, thọ bát quan trai không sinh hoạt được, những buổi tụng kinh thông thường ở chùa, nhất là các chùa ở các tỉnh ngay tâm dịch là hoàn toàn không được, cả tụng kinh cũng không được, đến thăm chùa cũng không đến được. Nếu chúng ta không nắm vững pháp, không an trú pháp, không thực hành pháp, thì khi chúng ta nằm ở trên giường bệnh, đối diện với cái chết đó, sẽ đau khổ như thế nào? 

Mình phải biết lo lắng, phải biết lo sợ, phải biết lo toan, phải biết thực sự lo lắng và sợ hãi cho cuộc đời vô nghĩa này, đầy dẫy những tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não này. Đầy dẫy những danh lợi, hơn thua, mưu tính, quỷ quyệt, gian xảo, dối trá này, vô nghĩa là đời sống này, vô nghĩa là thân này, vô nghĩa là những thứ tham, sân, si, bản ngã này. Chúng ta thật sự là những nạn nhân của thế kỷ, chúng ta bị dục này nó hành hạ bao nhiêu ngàn vạn kiếp rồi, bị cái này trói cột tỷ tỷ năm rồi, bị những cảm giác sân hận, hơn thua này, nó thiêu đốt mình từ vô thủy, vòng luân hồi này rồi.

Chúng ta đã bị đốt cháy bao nhiêu lần? Tù tội bao nhiêu lần? Chém giết bao nhiêu lần trong địa ngục, trong lửa này rồi? Đốt như vậy là vừa đủ rồi, đốt như vậy là quá nhàm chán, phải dập tắt hết tất cả những ngọn lửa ấy đi. Ta thật sự là nạn nhân của bản ngã ác độc, tồi bại, xấu xa, thối tha, bẩn thỉu này. Những bản ngã này, có thể làm xảy ra chiến tranh khắp toàn thế giới. Chỉ cần một cuộc sân hận, một cảm giác bừng lên, tất cả chúng ta sẽ thành tro bụi. Hãy nhìn đi, hãy nhìn thật sâu sắc đời sống vô nghĩa, trống rỗng này, có cái gì thật sự bền chắc ở trong đây.

Chúng ta thấy không? Có hai người công nhân đang làm, với nói một câu nói thôi là nhào vô đánh lộn. Nó đang đốt cháy đó, những cảm thọ sân hận nó đang đốt hết tất cả chúng sanh trên hành tinh này. Nếu chúng ta không tu tập, chúng ta ở trong biển lửa này, cùng đốt nhau, thiêu nhau, cháy nhau, làm khổ với nhau. Chúng ta thật sự là những nạn nhân của thế kỷ, nạn nhân của lòng dục, lòng tham, lòng ái. Nạn nhân của dục đối với sắc, đối với cảm giác, suy tưởng này. Lòng dục, ái, tham, chấp thủ, đối với nhận thức, kiến thức, rõ biết này. Thật là đau khổ cho chúng ta, tội nghiệp cho chúng ta. Chúng ta là những kẻ đáng thương hại nhất trên hành tinh này, hãy thương mình, hãy thật sự thương mình đi, hãy thật sự thương mình thật nhiều. 

III. Bài kinh “Tùy pháp”:

“Này các Tỳ-kheo, với vị Tỳ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt. Vị ấy sống tùy quán, vô ngã ở trong sanh, vị ấy sống luôn luôn quán, luôn luôn nhìn, luôn luôn thấy sự trống rỗng, sự trống không, sự trống trơn, sự trống trải, ở trong sắc uẩn này.

Vị ấy sống luôn luôn quán, luôn luôn xét, luôn luôn suy nghĩ, luôn luôn tác ý sự trống rỗng trống, sự trống không, sự trống trơn ở trong cảm thọ, ở trong những dòng cảm giác này.

Vị ấy luôn luôn quán, luôn luôn xét, luôn luôn tác ý, luôn luôn tư duy, luôn luôn suy nghĩ, sự trống rỗng, sự trống không, sự trống trơn ở trong những hình bóng nội tâm này.

Vị ấy sống luôn luôn quán, luôn luôn xét, luôn luôn suy nghĩ, luôn luôn tư duy, luôn luôn tác ý sự vô ngã, trong tất cả các suy nghĩ này. Trống rỗng là những suy nghĩ, suy tư, suy tính này, trống rỗng, trống không, trống trơn ở trong nhận thức, rõ biết, kiến thức này.

Vị ấy luôn luôn quán chiếu, luôn luôn quán xét, vị ấy sống tùy quán, vô ngã ở trong thức. Vô ngã nhận thức này, hiểu biết này, thấy biết này, cảm xúc này, cái suy tưởng là trống rỗng, trống không, trống trơn, vô ngã.

Này các Tỳ-kheo, ai sống tùy quán, vô ngã trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ai sống luôn luôn quán, luôn luôn xét, luôn luôn suy nghĩ, luôn luôn tư duy, luôn luôn tác ý ngũ uẩn này là vô ngã, vị ấy sẽ liễu tri sắc. Vị ấy sẽ biết sắc này một cách thấu đạt, thấu minh, thấu suốt, thấu hiểu, một cách tường tận tất cả mọi phương diện, góc cạnh, vị ấy sẽ liễu tri sanh. Vị ấy sẽ liễu tri những cảm giác này, thấy biết tất cả mọi phương diện, góc cạnh, vô thường, đau khổ, hủy hoại, hoại diệt.

Vị ấy sẽ nhìn thấy được những bản chất của dục, tham, những cái này là những thứ phiền não, khổ đau, những thứ trống rỗng này. Vị ấy sẽ biết một cách thấu suốt, tường tận. 

Vị ấy sẽ biết một cách thấu suốt, trọn vẹn, liễu tri, tất cả những hình bóng nội tâm, tất cả những suy nghĩ, tất cả sự rõ biết sáu thức này. Vị ấy hoàn toàn thấy biết một cách trọn vẹn, thấu đạt, thấu suốt, chúng là vô thường, là đau khổ, là trống rỗng, là phiền não.

Vị ấy giải thoát khỏi sanh, vị ấy sẽ thoát ra khỏi sanh, vị ấy sẽ thoát ra khỏi cảm giác, vị ấy sẽ thoát ra khỏi những hình bóng nội tâm, vị ấy sẽ không còn bị ám ảnh nữa. Vị ấy sẽ thoát ra những cảm giác, những hình bóng, suy tưởng, vị ấy sẽ không còn bị ám ảnh trong tâm trí nữa, vị ấy sẽ thoát ra, sẽ giải thoát, sẽ thoát ly, sẽ xuất ly, xả ly. Thoát ra khỏi kiến chấp, nhận thức, ngũ uẩn này, vị ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Vị ấy thường quán chiếu như vậy, vị ấy sẽ biết rõ, vị ấy sẽ thoát ra, thoát ra khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Này các Tỳ-kheo, ta nói vị ấy giải thoát khỏi khổ đau”.

Đây là bài kinh “Tùy Pháp”, trong Tương Ưng Bộ, tập 3

IV. Phật tử chia sẻ:

“Mời Tâm Như chia sẻ thực hành thiền quán”

Phật tử Tâm Như

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch Đức Thế Tôn, con kính bạch sư phụ, con kính bạch cô Toàn, con kính bạch quý thầy, con kính bạch quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin được trình pháp trong buổi nghe sư phụ giảng pháp sáng hôm nay.

Con xin tri ân sự từ bi, từ mẫn trong việc thuyết giảng của sư phụ, để dẫn dắt con nhìn nhận được cái khổ của thế gian này, dẫn dắt những dòng cảm xúc của chúng con trong quá trình thiền quán. Ở đầu buổi thiền quán, là những dòng cảm xúc xót thương, thống khổ và nhàm chán. Khi nghĩ về cảnh phía bên ngoài, thật sự con có những dòng tác ý phải thoát ly, phải thoát khỏi thế giới vô ngã, vô nghĩa, đầy đau khổ, bị nhân quả chi phối mà ngu si, không biết được những hành nghiệp mình làm.

Sau đó khi sư phụ dẫn vào bài kinh “Tùy Pháp”, lúc đó con thực hành nhận diện ngũ uẩn, để có thể tác ý theo lời sư phụ, tác ý về năm uẩn. Khi nghe những lời kinh sư phụ dẫn để con tác ý sự vô ngã, sắc, hình bóng của thọ, tưởng con cũng hướng đến sự rỗng không. Các dòng suy nghĩ lúc này, con chưa có sự tác ý trước đó về hành để rỗng không, nhưng con cũng hướng đến phân tách hình ảnh của từng chữ, trong kinh và suy nghĩ trong đầu hướng đến sự rỗng không. Về thức con chưa tác ý được, nhưng khi hướng nó là rỗng không, thì dòng cảm thọ này nó không giống dòng cảm thọ trước. Dòng cảm thọ trước là nó không chịu, là không có gì hết. Nhưng dòng cảm thọ hôm nay là nó đau khổ, nỗi đau khổ tột cùng, bởi vì lâu nay nó sống trong một sự vô ngã, vô nghĩa và ngu si. Chấp thủ từ những đồ mượn, giả tạm này, rồi tạo nghiệp, gây đau khổ cho người, đau khổ cho mình. Chính giờ này đang ngồi nghe giảng pháp, nhưng bị những dòng suy nghĩ, cảm thọ tham, ái chi phối.

Con xin tri ân dòng Thánh Pháp của Đức Phật. Nếu không có dòng pháp này, thì mãi mãi con chìm nổi trong sinh tử, để phục vụ, để làm nô lệ cho dục ái, bản ngã, sân hận, mà không biết mình đang làm nô lệ.

Con xin tri ân đến sư phụ, vì tâm cầu pháp của ngài mới có thể dẫn dắt con đến dòng pháp này. Bằng cả sức khỏe, tinh thần của mình mới có thể phát hiện ra bí mật về năm uẩn này.

Con xin thành kính tri ân tấm lòng nhiệt huyết của các vị trong việc truyền bá giáo pháp, để con có thể dần dần nhận ra được sự thật về thân tâm, về cuộc sống đau khổ này. Con nguyện dấn thân để nhìn ra cho rõ hơn nữa, về sự thật mà con cần phải nhìn cho ra.

Con cũng xin tri ân quý sư cô, quý thầy và đạo tràng. Bởi vì nếu không có đạo tràng, sẽ không có nhân duyên con ngồi ở đây ngày hôm nay. Con cũng cúi xin sư phụ cho phép con được ở lại đây để tu tập thêm, có thể nhìn nhận ra những sự thật mà bấy lâu nay con không nhìn thấy.

Dạ con xin hết phần trình bày của con”.

“Mời cô Phật tử kế bên Tâm Như”

Phật tử 2

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đạo tràng.

Sáng hôm nay, con được nghe thầy giảng pháp. Khi thầy giảng về con người trên thế giới, đang có những biến động, con hình dung ra những cảnh nước cuốn trôi nhà, người và con vật cũng chảy theo dòng nước. Khi nói đến dịch bệnh, thì con tưởng ra cảnh con người đang quằn quại trên giường bệnh, hơi thở thì thào, bác sĩ chạy qua, chạy lại. Con thử đặt mình vào trong những trường hợp đó, con rất khổ, rất mệt và con rất sợ. Con đặt trong trường hợp như vậy, con sợ, con thấy khổ lắm, con nghĩ đến những người thân trong gia đình của con. Khi thầy giảng về vô ngã, vô thường, con nhận ra bao lâu nay con chấp thủ vào sắc, thọ, tưởng, hành thức rất nhiều. Trong đầu con miên man những thọ, tưởng, hành, của ái, của sân, mà con chưa thoát ra được.

Con xin cảm ơn sư phụ rất nhiều, con xin cảm ơn cô Toàn. Khi vào vòng pháp này, con nhận ra mình có nhiều cấu uế, con thấy mình làm khổ mình thật nhiều, và đi làm khổ người khác nữa.

Con cảm ơn Đức Phật đã truyền lại giáo pháp, vì thương cho tất cả chúng sanh.

Con cảm ơn sư phụ, quý sư cô ở đây, trong thời gian qua đã tạo cho con cơ hội được học tập. Con cảm ơn các bạn đồng tu”.

“Mời cô khác ngồi kế Tâm Như”

Phật tử 3

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và trên toàn thể đại chúng.

Pháp danh con tên Diệu Oanh, con xin chia sẻ ngũ uẩn của con, khi được lắng tai nghe bài thiền quán của sư phụ.

Đầu tiên sư phụ có nhắc nhở, bước đầu sự tu học trong dòng pháp này, là quay lại thân tâm của mình, nhận diện ngũ uẩn. Nhận diện đầy đủ rồi, thì mới thể nhập được, thấy được về lậu hoặc, thấy được tưởng, rác bẩn, cấu uế, sân si, rắn rết, yêu tinh, quỷ quái của nội tâm này. Luôn luôn quay lại thân tâm, không được hướng ngoại, để nhìn lại ngũ uẩn của mình. Nếu mình không thường xuyên quay lại nhận diện thân tâm, nhìn ra bên ngoài, thì toàn là tiếp nhận những rác bẩn, cấu uế bên ngoài. Cho nên trong sự tu học này, phải luôn quay lại thân tâm, nhận diện ngũ uẩn, luôn luôn, thường trực, thường xuyên, từng giây, từng phút, tinh tấn, nỗ lực nhận diện tham, sân, si, dục, tham như thế nào, để mình thấy xấu hổ, bản ngã.

Lúc đó con cảm thấy sự xấu hổ, nhục nhã, khi mà còn tham, sân, si, không biết xấu hổ, bản ngã, không biết thẹn thùng khi bản ngã to lớn, che giấu lỗi lầm. Một cảm giác xấu hổ, nhục nhã khởi lên trong con. Khi sư phụ quán đến thực tại của thế giới diễn ra xung quanh, những cảnh khổ, con cũng quán theo và liên hệ đến cảm thọ khi đó của con là cảm thọ khổ, thân và tâm của mình, cảm xúc dâng trào theo lời quán của sư phụ. Sư phụ liên hệ đến thân tâm của chính mình, là phải biết thương yêu chính mình, phải thương mình thật nhiều, cố gắng tu tập, tinh tấn để nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã của mình. Tiếp theo, sư phụ có trích bài kinh “Tùy Quán”, sắc là trống rỗng, trống không, vô nghĩa. Thọ, tưởng, hành, thức là trống không, vô nghĩa, con cũng quán theo sư phụ, hướng đến sự ly tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, giải thoát khỏi những sắc, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, rõ biết này.

Cuối cùng, con xin cung kính chân thành tri ân bài pháp của sư phụ, đã dành nhiều tâm huyết cho con có một buổi thiền quán, con được thêm nhiều trí tuệ, có những cảm thọ sâu sắc. Và con xin tri ân đến quý thầy cô và toàn thể đại chúng, đã luôn sống hòa ái với tinh thần lịch hòa trong thời gian con tu tập ở đây. Con xin hết”.

Phật tử 4

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên đức Tăng, đức Ni và đức Phật tử

Con xin trình pháp trong buổi thiền quán sáng nay

Thật sự cảm xúc dâng tràn khi nghe về bốn Thánh Trí về ngũ uẩn, bốn Thánh Trí về lậu hoặc mà sự phụ đã chỉ chúng con thực hành tâm từ, hướng dẫn cho chúng ta thấy được thân tâm của chính mình. Biết được sự Như lý tác ý về sự nhận diện ngũ uẩn, nhìn lại chính mình, quán xét thế giới, quán xét cuộc sống, quán xét thân tâm, những cấu bẩn, rác bẩn của dục, ái, vô minh, tham, sân, si, bản ngã, bởi tâm ích kỷ, hẹp hòi. Tất cả nhận thức đó, con thấy con xấu hổ và nhục nhã, thật sự đau khổ, vô cùng thương xót cho chính mình, thương xót cho cuộc đời này, thế giới này, đang chìm ngập trong biển khổ luân hồi như vậy. Khi sự phụ hướng dẫn tác ý thì con tác ý theo để xả bỏ, con thấy mình quá ngu si, quá vô minh, sống trong sự sai xử của ngũ uẩn, dục ái, khát vọng. Mình là một nạn nhân, bị nô lệ, đã bị tham, sân, si, vô minh và bản ngã chiếm đóng. Hành xử hàng ngày trong từng thân, khẩu hành và ý hành, trong từng cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức của con, thấy vô cùng thương xót. Vì mình đang ở tù, đang là những nạn nhân, bị trói buộc, bị hành hạ.

Khi sư phụ tác ý bài “Tùy Pháp”, sắc, thọ, tưởng, hành, thức trống không. Con liên tưởng đến bài “Bọt Nước” và con tác ý, nhìn rõ từng phần một, thấy cái đống sắc này như đống bọt do duyên tập nó cấu thành bởi bất tịnh. Cái cảm giác này như bong bóng nước. Cái hình bóng này như ánh mặt trời, hiện lên những suy nghĩ trống rỗng, trống không như cây chuối và nhận thức, rõ biết này như ảo thuật. Và con tác ý, để nhàm chán, xả ly, yểm ly sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và tác ý thoát ra khỏi vô minh, ngu si, khát ái, bản ngã, dục, tham này. Lúc đầu cảm giác của con nóng lên, nhưng khi con tác ý liên tục, thì có sự lắng dịu, nhẹ nhàng, có một cảm giác rất dễ chịu. Thấy rằng “sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không phải của mình, chỉ là vô nghĩa, vô minh. Tại sao mình lại ngu si như vậy? Phải sáng ra, phải tỉnh ra, phải thoát ra”. Con tác ý đến đâu, thì có một dòng cảm thọ hỷ lạc dâng tràn đến đó.

Con xin gửi lời tri ân đến sư phụ, cô Toàn và dòng Thánh Pháp tuyệt vời này đã xả ly trí tuệ ngũ uẩn, trí tuệ lậu hoặc, một chân lý tuyệt vời, một sự thật tuyệt vời, mà trong mấy ngàn năm. Đến thế kỷ này, chưa bao giờ có một chân lý khổ hiện bày rõ ràng như hiện bây giờ. Con quán xét lại, con thấy hạnh phúc, dâng tràn hỷ lạc.

Vô cùng tri ơn và biết ơn đến sư phụ, cô Toàn và Thánh Pháp này. Con xin thành kính tri ân đến quý thầy, quý sư cô và đại chúng, đã tạo cho con duyên lành, để chúng con có cơ hội tu tập và lắng nghe dòng Thánh Pháp tuyệt vời này.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Phật tử 5

“- Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con cung kính trên sư phụ, con cung kính trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đạo tràng. Con xin được trình bày, chia sẻ về tâm của con trong buổi thiền sáng hôm nay.

Con xét thấy, con nhìn có sự rõ biết về hai vấn đề con đang gặp phải rắc rối. Thứ nhất là một cảm giác thương xót, yểm ly, chán ngán rất rõ. Cái thứ hai là gặp phải vấn đề tâm từ (hôm qua con có thưa sư phụ về vấn đề con gặp), hôm nay nhờ bài này, con cảm nhận được cảm thọ, sự trải rộng, con vô cùng hạnh phúc. Thật sự trong buổi thiền quán cảm thọ của con rất nhiều.

Đến cuối bài, khi nghe bài “Tùy Pháp”, con như tỉnh ra, con chỉ nói “phải bước ra khỏi cái này, phải ra khỏi nó, phải thật sự thấy được và thành tựu được Thánh Trí năm uẩn này, mới thoát ra được sinh tử tái sanh này”. Cảm thọ lúc tâm bình thì con không biết trạng thái này như thế nào nữa, con tự nghĩ “có phải khi đã rõ, thấy được đường rồi, có bình tĩnh để đi hay không?” Vì thường trong mỗi bài pháp của sư phụ có động lực rất mạnh, riêng bài pháp này con thấy tâm rất bình. Cho nên, con mong sự phụ chỉ ra để con hiểu rõ quá trình tâm của con như thế nào? Bởi vì con vẫn còn ngu si, vô minh, xin sư phụ từ bi chỉ dạy cho con.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

- Thầy: Lúc nói thì mình hân hoan, cảm giác của mình rất là xúc động, rung động, chấn động. Từ từ dần những chấn động mạnh đó sẽ giảm lại, nó ở trong một trạng thái sáng tỏ, tỉnh thức sâu sắc, thì nó trầm hơn, cái đó là bình thường”

“ Có vị nào muốn chia sẻ thực tập thiền quán không?”

Phật tử 6

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng. Con xin phép trình bày về thiền quán buổi sáng hôm nay, mà sư phụ đã dẫn dắt cho chúng con.

Đầu tiên, sư phụ giảng cho chúng con thấy được sự thật khổ của cuộc đời này, một sự thật thực tế, hiện tại trong cuộc sống này. Một cuộc sống đầy những bất an, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, đấu tranh, lọc lừa, lừa dối lẫn nhau. Khi sư phụ dẫn dắt đến cảnh những người đang bệnh tật, thì con tưởng đến hình bóng những người đang nằm trên giường bệnh, những cơn hấp hối. Và con thấy được những sự đau khổ, sự chết chóc, chia ly, sự đau đớn, quằn quại, khổ đau, khốc liệt, la lối. Khi Sư phụ nói về một người Phật tử ở bên Mỹ, vì cuộc sống mưu sinh, vì kiếm tiền để cúng dường, để cho quý thầy, quý sư cô lo cho chùa xứ, thì con nhìn nhận, con xét lại, con cảm thấy mình thật là xấu hổ, mình chưa xứng đáng là một người tu, một người thọ nhận, thọ dụng những tứ vật phẩm một cách đúng pháp.

Mình vẫn còn trong sự không biết đủ, vẫn còn sống trong sự phung phí, lãng quên, sống quên mình. Không nghĩ đến những giọt mồ hôi, nước mắt, những sự hết lòng, hết tâm của quý Phật tử cúng dường, để trợ duyên cho chúng con tu học. Con cảm thấy thật nhục nhã, xấu hổ, hổ thẹn, trong thâm tâm của mình. Con cảm thọ được sự hết lòng, hết tâm của sư phụ, của cô Toàn, của những bậc đạo sư đã hết lòng chỉ dạy cho chúng con. Vậy mà con vẫn còn sự buông lung, sự phóng tâm ra ngoài, không nhìn rõ về thân tâm của mình, không nhìn rõ được ngũ uẩn, không nắm bắt được. Không Như lý tác ý để diệt trừ những dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh, nó đã âm thầm, ngấm ngầm trong thâm tâm con, trong từ bao đời, bao kiếp, những cấu uế, rác bẩn trong tâm.

Sư phụ nói đến rằng “mình không chịu nhìn những rác bẩn của mình, những cấu uế, những ô nhiễm tâm, mà quét, mà hốt, mà tẩy sạch. Lại nhìn ra bên ngoài, đã chất chứa vào những cảm thọ khổ đau, làm cho mình phiền não, đau khổ thêm”. Thì con nhìn lại, đúng quả thật là do mình chấp thủ, dính mắc vào những mẫu vật, cảnh sắc xung quanh, tạo cho mình thêm khổ, nó chất chồng thêm. Mình đã khổ rồi, mà làm cho người khác khổ vì mình, cũng vì cái thân kiến này.

Khi sư phụ giảng bài pháp “Tùy Pháp”, vì chấp thủ ngũ uẩn này, chấp thủ những sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không thoát ra được, còn bám víu, dính chặt, vào cái xác thân này. Con cảm thấy mình vẫn còn bám víu vào thân kiến này, vẫn còn bám chặt vào những cái thọ, những cái tưởng, những hình bóng này trong tâm. Nó chưa có sự dứt khoát mạnh mẽ, để đoạn diệt những cảm thọ, những cái tưởng, những hình bóng, suy nghĩ bất thiện, những cái cấu uế. Con cũng nhìn lại, hồi sáng trong quá trình làm việc, thì con cũng thấy được sự bản ngã của mình, thấy được sự thiếu tâm từ, khi sư phụ dạy mấy ngày hôm trước “mình phải an trú trong làm từ, lời nói từ, ý nghĩ từ”. Thì con xét lại, con chưa an trú thường xuyên được cái thân làm từ, lời nói từ, ý nghĩ từ, con đã hành động một điều bất thiện.

Con xin thành tâm kính trình lên sư phụ, và con xin thành kính cảm ơn sư phụ đã hết lòng vì lòng thương tưởng, lo lắng vì hạnh phúc, sự an lạc cho chúng con. Đã dùng hết tâm trí, hết lòng chân thành, chân thật, của sư phụ để truyền trao giáo pháp Bổn Sư cho chúng con, được thấu hiểu và cảm thọ được những nỗi khổ, mà thoát ly, nhàm chán, đối với cuộc sống vô thường, vô nghĩa, tạm bợ, rỗng không này. Con xin nguyện sẽ cố gắng tu tập, diệt trừ những bản ngã, vô minh, tham ái, để không phụ lòng của Đức Phật Bổn Sư, của sư phụ, của quý sư cô, quý Phật tử và những bậc thiện hữu tri thức, đã chỉ dạy cho con.

Con xin sám hối với sư phụ, với thầy, với sư cô. Con xin sám hối với sư cô Liên Thuận và 2 sư cô mới vô. Vì trong quá trình mời quý cô ngồi, thì con cảm thấy trong đó không có sự an trú tâm từ trong lời nói, hành động, con thấy trong đó có sự bản ngã. Con xin cúi đầu sám hối cùng quý sư cô, xin quý sư cô từ bi hoan hỷ, tha thứ cho con. Xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng, chứng minh cho con một tội lỗi này là một tội lỗi, để con ngăn ngừa không cho tái phạm trong tương lai.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Mời Hồng Tuệ”

Sư cô Hồng Tuệ

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thầy, trên quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin được trình pháp trong quá trình thiền quán sáng hôm nay.

Đầu tiên khi con nghe sư phụ dạy đến câu là: Hôm nay đừng hỏi đại chúng là “chị có khỏe không?” mà hãy hỏi đại chúng “chị có thấy lậu hoặc chưa?” Thì trong con tưởng lên lại hình bóng về câu kinh “ngày giờ trôi qua bên ta, nay ta đã là người như thế nào?” Con thấy thật là xót thương cho chính mình, hay nhiều người khác, vì đã làm nô lệ cho tham, sân, si, mà chưa bao giờ nhìn lại chính mình, chưa bao giờ quét tuyết trên sân mình, mà lại đi ngó sương trên mái nhà người khác. Xót thương cho mình khi cứ mãi làm nô lệ và chạy theo nó. Để cho tâm hướng ngoài, luôn tìm mọi cách để trốn sư phụ đi chơi, đi chỗ này, chỗ kia, để được thỏa lòng dục của mình, mà không biết dừng lại để tu tập. Con thấy thương cho chính bản thân con, khi cứ mãi làm nô lệ cho chúng.

Tiếp đó, khi sư phụ giảng đến vị Phật tử ở Mỹ để đi làm kiếm tiền, để lo cho Tăng chúng, thì con thấy rất là có lỗi, có lỗi với chính sư phụ của con, đã hy sinh để cho con được đi học, mà con lại không chịu học cho đến nơi đến chốn, cứ vào chơi, oai nghi thì không giữ. Những gì mà sư phụ đã dạy cho con từ lúc trước đến giờ, hầu như con đã bỏ quên hết chúng, mà không chịu nhìn lại, dừng lại. Tiếp đó con thấy có lỗi với chính cha mẹ của con, lúc nào cũng tự hào là có một người con xuất gia, lúc nào cũng khoe với hàng xóm là có con đi tu. Vậy mà, về chính môi trường tu tập thì con lại không tu, không nghiêm túc trong công việc tu học của mình. Con thấy có lỗi với ba mẹ rất nhiều, vì chữ hiếu ở ngoài đời đã không trả được, mà khi đi tu thì không làm được gì cả, lỡ mai mốt ba mẹ có mất, thì con không biết mang gì về để đền đáp cho ba mẹ.

Con có lỗi với chính đàn na tín thí, vì phải luôn chắt chiu những đồng tiền của mình, để cúng dường cho quý thầy, quý cô tu tập, mà chính bản thân con lại không tụ tập. Thật sự con thấy con như là một con lừa đi sau lưng một đàn bò, mượn đạo tạo đời, ở trong Tăng chúng, mà không chịu nghiêm túc. Sau đó sư phụ dạy đến bài kinh “Tùy Pháp”, thì trong con lại không tác ý theo lời dạy của sư phụ, sắc này là trống rỗng, thọ, tưởng, hành, thức là trống rỗng. Con lại nhớ đến bài kinh “Niệm Thân Vô Chủ”, “cái thân này khi ra đi thì không có cái gì đi theo ta cả, thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ, cho tham ái”, thấy được rồi mà con lại chưa thật sự tu tập. Con lại nhớ đến hình ảnh mà lúc tối sư cô Hạnh Đức cho con được xem để thiền tập. Con thấy những chú tiểu còn rất là nhỏ, nhưng mà đã cố gắng thực tập, dù khóc, dù mồ hôi, nước mắt, nhưng mà vẫn cố gắng luyện tập. Thì con tác ý “người ta nhỏ như vậy nhưng mà người ta đã xác định được mục tiêu, dù khổ như thế nào, người ta cũng cố gắng đạt được mục tiêu ấy”, vậy mà “con khi xuất ra con đã bỏ quên cái mục tiêu của chính mình, cứ chạy, rong ruổi ở ngoài. Cái tâm hướng ngoại không bao giờ biết dừng, con thấy rất là xấu hổ và có lỗi với tất cả mọi người”.

Sau cái tâm xấu hổ đó, duy trì được một lúc thì cái tâm xấu hổ đó làm cho con có động lực để tu tập, tự nhũ với bản thân là “hãy dừng lại, đừng có chạy theo cái tâm hướng ngoại nữa, hãy biết quay lại hộ trì các căn, nhìn thấy lâu hoặc của mình”. Con không thể để cho nó cứ làm nô lệ hoài, mà cũng không thể phụ công ơn mà thầy đã dạy cho con, thầy dạy cho con rất nhiều, con không muốn phụ ơn của thầy. Và con sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, để tri ân đến thầy.

Con rất cảm ơn thầy về bài pháp sáng hôm nay, đã tạo cho con thêm động lực, để con có thể tu tập nhiều hơn, biết mình phải làm gì, và không để mình mang hình tướng của người xuất gia “thân xuất gia mà tâm không xuất gia”. Con rất tri ân riêng thầy.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

(Mấy vị nào mới thuộc bài “Tâm Từ”, mình đọc. Có ai thuộc bài chưa? Ngoài mấy vị thường ngày đọc rồi đó. 

- Dạ con thuộc sơ sơ

- Phải thuộc mới được, thuộc sơ sơ thì đưa người khác)

Phật tử 7

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính mời sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng, chắp tay rải tâm từ.

Bằng tình thương, bằng từ tâm bằng tấm lòng chân thành, luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn của chính mình.

Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe, hiểu được âm thanh này, cùng chư vị hữu tình trong khắp trời đất rộng lớn này.

Mong tất cả đều được tâm thương này, thấm nhuần mà dễ chịu,

tìm được hạnh phúc cho mình.

Lòng yêu thương tự thân mình thật nhiều,

và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ để hiểu được sự vô thường của đời sống này,

mà thân tâm chán ngán.

Từ bỏ những xác thân ngũ uẩn, vô thường này,

để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch và trầm lặng,

giải thoát khỏi biển sanh tử, chấm dứt hết mọi khổ đau.

Lòng chân thành tha thiết cầu nguyện sự an lạc, an ổn, bình an, trí tuệ và giải thoát,

đến với cùng khắp tất cả”.

Thầy: “Nguyện đem công đức buổi pháp thâm sâu, vi diệu này, hồi hướng cho mẹ già là bà Võ Thị Sáu, pháp danh Diệu Hiền, được an lạc, thành tựu Chánh Kiến, giải thoát khổ đau.

Con nguyện mỗi ngày giảng pháp, tu học, đem công đức này hồi hướng cho mẹ già sự an lạc, thành tựu Chánh Kiến, giải thoát khổ đau”.

Mỗi ngày chúng ta bắt đầu bằng đọc tụng Thánh Pháp, im lặng của bậc Thánh trong thiền định, và sau đó tuyên dương Thánh Trí, đại chúng có hạnh phúc không? Một ngày của chúng ta phải xứng đáng.

Mời đại chúng nghỉ.