Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÌNH NGHĨA THẦY TRÒ 3

2026-03-03 00:55:33
TÌNH NGHĨA THẦY TRÒ 3

-Giáo sư Nguyễn Khuê và Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Kỷ niệm thầy và trò PAGEREF _Toc73340693 \h 1

II.Chia sẻ về “sự học” và “sự dạy” PAGEREF _Toc73340694 \h 6

III.Giữ gìn tình nghĩa thầy trò PAGEREF _Toc73340695 \h 10

IV.Tâm sự nghề giáo PAGEREF _Toc73340696 \h 12

Kỷ niệm thầy và trò

Thầy Minh Thành:

Hôm nay Linh Quy Pháp Ấn chúng ta rất vinh hạnh khi được đón chào Giáo sư Nguyễn Khuê có kinh nghiệm 50 năm đúng trên bục giảng, là bậc thầy của nhiều vị thầy. Chính nhờ Giáo sư mà Minh Thành từ một chú tiểu chưa biết gì về Hán học, nhưng được thầy đã hướng dẫn, chỉ dạy bằng tất cả trái tim của một nhà giáo, bằng tất cả tấm lòng của một người thầy, bằng tất cả bổn phận và trách nhiệm của một ông lái đò. Giờ đây chúng ta có được đạo tràng Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành làm được một chút ít công việc giáo pháp cũng nhờ công ơn rất lớn buổi ban đầu từ giáo sư. Tuy rằng đã 86 tuổi, với một tình thương học trò, Minh Thành cũng đã nhiều lần mời, thỉnh thầy lên đây, nhưng hôm nay mới đủ duyên. Giờ phút này rất thiêng liêng, rất là ấm áp, mặc dù ngoài trời không khí lạnh, nhưng tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa pháp lữ gọi là linh sơn quyến thuộc, cốt nhục bồ đề được nồng ấm ở trong một không gian tĩnh mặc, thanh tịnh giữa thiền đường Linh Quy Pháp Ấn. Con xin mời thầy có đôi lời.

GS. Nguyễn Khuê:

Kính thưa thầy Minh Thành – trụ trì Linh Quy Pháp Ấn, kính thưa quý thầy cô, quý đạo hữu. Từ lâu thầy trụ trì có mời tôi đến lễ bái Linh Quy Pháp Ấn nhưng mà tôi chưa có cơ hội, hôm nay mới có đủ thiện duyên nên tôi cùng gia đình trước hết là đến thăm chùa lễ Phật, sau nữa là để kính thăm thầy trụ trì. Tôi xin cảm ơn những lời tán thán tràn đầy tình cảm chân thành và thân thương đối với cá nhân tôi.

Nhân đây làm cho tôi gợi nhớ lại cách đây mấy chục năm, có lẽ là lần đầu tiên, tôi được gặp thầy là ở chùa Phước Hòa, tại đó có một lớp dạy Hán Văn vào ban đêm. Thầy Minh Thành là một trong số khoảng 100 thầy cô học tại đó. Tôi còn nhớ là thầy ngồi bàn đầu. Sau một thời gian học ở Phước Hòa như vậy thì tôi lại có thêm một thiện duyên nữa để gặp thầy trụ trì tại Trường Cao đẳng Phật Học TP. Hồ Chí Minh, lúc bấy giờ là tại chùa Vĩnh Nghiêm. Phải nói rằng thầy trụ trì là một tấm gương hiếu học. Theo như tôi nhớ là mặc dầu học chính thức ở trường cao đẳng thì không nói, mà học ban đêm ở chùa là không bao giờ thầy vắng mặt. Ở tại chùa Vĩnh Nghiêm, Trường Cao Đẳng Phật Học, lúc bấy giờ thầy đã bắt đầu dịch kinh rồi, có nhiều khi vào giờ chơi, tôi đang ngồi trong văn phòng, thì khi thầy dịch kinh có gặp những chỗ khúc mắc, chưa đủ sáng tỏ là thầy vào văn phòng thầy hỏi. Tôi thấy đó là tinh thần hiếu học và cũng nhờ vậy mà sau này thầy trở thành một nhà phiên dịch kinh Phật và một nhà thuyết giảng giáo lý của Đức Phật.

Thưa thầy trụ trì, tôi đã dạy rất nhiều chùa, dạy Tu viện Huệ Quang của cố Hòa thượng Thích Minh Cảnh rất nhiều năm, rồi Trường Cao đẳng Phật học, Trường Trung cấp Phật học TP. Hồ Chí Minh đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, rồi Học viện Phật giáo từ khóa II, khóa III, khóa IV, khóa V, một khóa như vậy là 4 năm, 5 khóa cũng khoảng 20 năm, xong một khóa 4 năm mới tuyển khóa khác. Thành thật mà nói cho đến giờ phút này, những vị học Hán Văn của tôi ngày xưa, có rất nhiều vị từ lâu đã lên tới hàng Hòa thượng, chẳng hạn như: Hòa thượng Thanh Hùng ở chùa Phổ Quang. Có nhiều vị trụ trì ở những chùa rất lớn, chẳng hạn thầy Thanh Phong – trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm, thầy Minh Hiền trụ trì chùa Hương, đại khái như vậy. Nhiều vị làm lớn lắm, và giữ những chức vị quan trọng trong Giáo hội. Tuy nhiên, còn nghĩ đến những ngày xa xưa đó thì phải nói là rất ít người, thầy trụ trì ở đây là một trong số những vị rất ít ỏi còn nhắc nhở lại những ngày xa xưa bằng những lời rất ân tình. Không biết nói gì hơn, một lần nữa xin cảm tạ ân tình thầy đã dành cho tôi và gia đình trong ngày hôm nay.

Thầy Minh Thành:

Ngày hôm nay mình là những người ở trong nhà cùng tâm sự, chia sẻ về tình thầy trò hơn nữa là về đạo pháp tu học theo con đường của Đức Phật đã dạy. Con xin mời thầy và cô chú trong gia đình chia sẻ những vấn đề mình đã học, đã thực tập trong Phật giáo. Hãy nêu lên và đại chúng sẽ cùng nhau chia sẻ pháp đàm thảo luận và soi sáng những vấn đề tu học trong Phật giáo.

GS. Nguyễn Khuê:

Thưa thầy, thưa quý thầy cô và đạo hữu. Tôi xin bổ sung thêm một vài ý kiến về ân tình, gọi là thầy trò.

Sau thời gian học cùng tôi ở chùa và Trường Cao đẳng Phật Học TP. Hồ Chí Minh thì rất nhiều lần thầy đến thăm tôi tại nhà. Tất nhiên lần nào đến thầy cũng có quà cáp, chuyện vật chất thì tôi không nói và cũng không nên nói để làm gì. Nhưng tôi ghi nhớ một món quà rất đặc biệt. Bấy giờ cố Hòa thượng Quảng Độ vừa mới viên tịch, Ngài có dịch bộ Phật Học Đại Từ Điển, bộ này xuất bản lần đầu tiên tại Đài Loan và thầy trụ trì ở đây đã đặt mua một bộ 8 quyển từ Đài Loan để nguyên thùng đem đến biếu cho tôi. Đó là món quà tinh thần, món quà về tri thức cho đến bây giờ tôi vẫn trân trọng giữ gìn. Khi có gì phải tra cứu là tôi nhớ đến thầy. Đây là một điều tôi muốn bổ sung. Nhân tiện thầy có nói hôm nay là buổi tọa đàm thì tất cả quý vị ai có gì thắc mắc liên quan đến đời sống hàng ngày, liên quan tới lời dạy của Đức Phật thì cứ mạnh dạng nêu lên để mà nhờ thầy giải đáp.

Mở đầu, tôi xin phát biểu ý kiến, vừa rồi tôi có xem một video clip của thầy nói về cái chết, bài thuyết giảng của thầy phải nói rất là rung động, lôi cuốn và thầy dùng những ví dụ rất thực tế để người ta thấy rằng cái thân của chúng ta, cái thân tứ đại này vốn là vô thường. Trong những hình ảnh thầy đưa ra, thầy nói chúng ta nên dán ở trước ngực của mình một tấm bảng có ghi “Hàng dễ vỡ, xin cẩn thận!”, tôi rất là tâm đắc. Thật tình mà nói đến tuổi của tôi thì nó quá dễ vỡ, không biết nó vỡ lúc nào, cho nên phải càng cẩn thận nhiều hơn nữa.

Thầy Minh Thành:

Con thấy hôm nay có nhân duyên rất là đặc biệt, mấy mươi năm thầy trò mới hội ngộ ở tại non thiêng cho nên mình ưu tiên chủ đề “Thầy Trò”. Mình cũng chia sẻ những vấn đề về đạo pháp một cách linh động. Con nhớ cái gì thì con nhắc cái nấy, nếu con quên thì thầy chỉnh lại giùm con.

Ở trong lòng của con, thì thầy Khuê - mình kêu nôm na cho thân thiện, là một nhà giáo mẫu mực, mô phạm, thậm chí cung cách, hành xử, cử chỉ, oai nghi có khi còn vượt hơn cả người xuất gia. Đó là sự cảm nhận của con trong 8 năm học tại mái chùa Vĩnh Nghiêm. Cách làm việc của thầy nghiêm túc, chuẩn mực, trách nhiệm và đầy tâm huyết. Không bao giờ con thấy thầy đi trễ trong suốt 8 năm. Mỗi một bài thầy đứng lớp, dầu cho một chữ thôi, chữ “Chi” chẳng hạn thì thầy khai triển rất tỉ mỉ, tận tường. Đặc biệt, chính chỗ đặc biệt này mà nhiều Tăng Ni sinh, cũng như nhiều thế hệ biết rằng môn chữ Nho là môn rất khô khan, rất là khó nhưng chính sự để tâm, hết lòng, thầy dùng những ví dụ mới để phân tích ngữ pháp, chứ không phải chỉ dùng những ví dụ trong sách cũ trước nay, làm cho người người học không chỉ học chữ, học nghĩa, mà trong đó thầy còn diễn tả một đạo lí làm người hết sức sâu sắc, nhân văn, triết học. Đặc biệt những điều mà thầy trao truyền ở trong Hán học, trong chữ Nho, không chỉ ở trên lý thuyết, trên sách vở, mà những điều đó nó được thể hiện trong đời sống mô phạm mẫu mực của một nhà giáo. Chính điều này làm con ấn tượng mà suốt đời con không quên.Những lời nói, những kinh nghiệm, những bài học của thầy tuy là một vị cư sĩ, một giáo sư không phải là người xuất gia nhưng khiến cho một người xuất gia kính phục không chỉ trên tri thức, trên văn bằng, trên kiến thức, mà còn kính phục trên nhân cách, đạo đức, tư cách. Con có thể nói đây là một bài học vô giá trong cuộc đời. Mỗi buổi thầy lên lớp là soạn bài từng trang, từng trang cầm ở trong tay, học tới đâu là đầy đủ và rõ ràng tới đó.

Cho đến vừa rồi con đi thăm thầy thì biết hiện tại thầy soạn bộ Đại Từ Điển mấy ngàn trang, dự kiến năm, bảy ngàn trang ở tuổi 86. Qua đó thể hiện sự yêu nghề, tâm huyết về giáo dục, về văn hóa, truyền đạt cho thế hệ tương lai. Con thấy đời sống của thầy ý nghĩa, giá trị, lợi ích, là tấm gương cho tất cả nhà giáo trong và ngoài nước. Xin đại chúng cho một tràng pháo tay thật lớn.

Con nhớ rất nhiều kỷ niệm, cho đến sau này lên lớp con vẫn nhắc lại với mấy thầy, mấy cô học trò trong cao đẳng, trung đẳng. Mỗi lẫn thầy lên lớp, cho đến bây giờ cũng vậy, nhìn mái tóc từng hàng, từng hàng, từng cọng tóc nằm sát rạt với nhau hết. Mỗi khi vào lớp thầy đều chắp tay xá mấy thầy mấy cô. Nhưng khi học không được, làm biếng hay nói sai là thầy quở mạnh mẽ đúng cương vị của một người thầy. Ở cương vị của một người Phật tử thì là người Phật tử, nhưng đứng trên bục giảng là cương vị của một người thầy. Ở vai trò nào là đúng chuẩn mực của vai trò đó.

Thật ra là con có thể chỉ hiểu biết, nhìn thấy một phần nhỏ thôi nhưng cuộc đời của thầy là một bài học vô tận cho những thế hệ giáo dục ở trong tương lai. Cách nói chuyện cho tới bây giờ sau mấy chục năm trời, mà vẫn “Kính thưa”, “Dạ, vâng”, thật sự ngay cả một người xuất gia lên tới hàng cao giáo phẩm có khi cũng khó mà sánh được. Chính những điều này là bài học sống động, thân giáo, thân hành, lấy thân của mình ra để thực hành, chuyển tải một tác phẩm vô giá. Con nghĩ sau thầy thì thật sự khó có một nhà giáo Hán học sánh kịp, thậm chí là những học trò của thầy, những thầy cô xuất gia. Chính vì vậy, đây là một cây cổ thụ rất lớn của nền Hán học nước nhà. Suốt 50 năm của thầy ở trong con đường giáo dục, là “Hối nhân bất quyện”, đúng như lời mọi người khen đức Khổng Tử, tức là dạy dỗ học trò không biết mỏi mệt.

Vừa rồi qua thăm, thầy nắm tay, dẫn vào, mở máy lên để coi cách làm việc của thầy, từ chữ tự đánh, tự chú thích, biết bao nhiêu tư liệu nhiều thứ tiếng để mà làm việc. Con thấy đây là một tấm gương sáng. Khi con nhìn thầy làm việc con thấy hổ thẹn lắm, con về con phải cần có một tinh thần làm việc nghiêm túc hơn nữa, chuẩn mực hơn nữa, tâm huyết hơn nữa. Từ Học viện Phật Giáo ở Nguyễn Kiệm, hồi đó gọi là Trường Cao Cấp Phật Học, cho đến Trung Cấp, đến Cao Đẳng, đến Sơ Cấp, rồi hồi xưa học ở văn phòng 2 chùa Phước Hòa, rất nhiều nơi, qua bao nhiêu thế hệ của Tăng Ni là nhờ công đức của thầy. Vừa rồi con đến thăm, thầy cho sách mà xách về không hết, những tác phẩm rất là khó. Chẳng hạn như giáo trình Trung đẳng Phật học giáo khoa thư, những tác phẩm rất khó, khó có người dịch nổi. Thành ra hôm nay là những giây phút rất thiêng liêng, rất tuyệt vời, rất màu nhiệm của tình thầy trò.

“Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, mà thầy cho con biết bao nhiêu là chữ. Sau khi được sự hướng dẫn của thầy, con mới đi vào trong Hán tạng, phiên dịch khoảng 30, 40 tác phẩm của thiền, của Luận tạng. Rồi do có sự yêu cầu, mà dịch 10 tác phẩm của Tịnh Độ, những bảng kinh. Nhờ vốn Hán văn này mà có lợi thế trên nhiều phương diện. Từ cách mình nghiên cứu kinh sách tiếng Việt, ngay cả nghiên cứu kinh sách tiếng Việt mà nếu không có vốn chữ Hán thì mình hiểu không có chính xác và sâu sắc chứ đừng nói chi là đọc kinh chữ Hán. Từ chỗ này là chỗ để con bước vào trong Đại tạng kinh Nikāya, nếu không nắm được Hán văn thì vào Đại tạng kinh Nikāya rất khó khăn. Tại vì trong tạng kinh Nikāya trên 70% là Hán văn và cổ ngữ, thuật ngữ của Phật giáo. Cho nên sự nỗ lực giáo dục, đào tạo, truyền trao phải nói là vĩ đại nhưng mà có được bao nhiêu người cảm nhận và trân trọng thì lại là một chuyện khác.

Chia sẻ về “sự học” và “sự dạy”

Giờ phút này đây với tất cả tấm lòng biết ơn của người học trò gửi đến thầy, mái tóc cũng đã bạc nhiều, da cũng nhăn, chân còng, gối mỏi, nhưng còn thương học trò mấy trăm cây số mà leo lên núi, đường xá xa xôi vất vả. Thậm chí thầy còn nghe bài pháp của học trò mình giảng thì đây lại là một cái đức khiêm cung, hiếu học mà tất cả chúng con phải noi theo. Nhiều khi mình lên tới địa vị là giáo sư rồi thì cũng hơi khó học, giờ chỉ dạy người ta thôi chứ học thì hơi khó. Con mời thầy nói lên cảm xúc.

GS. Nguyễn Khuê:

Trả lời ý của thầy vừa nói là lên giáo sư đại học rồi học hơi khó, chỉ dạy thôi. Thật ra không phải như vậy, “dạy đại học là học suốt đời”, bởi vì nếu mình không học suốt đời thì mình bị lạc hậu, mình không cập nhật được những kiến thức để mình đứng trên bục giảng. Cho nên càng dạy cao chừng nào thì càng học nhiều chừng đó. Thành ra có câu“Học, học nữa, học mãi” của người Nga, còn chữ Hán có câu “Học vô chỉ cận”, tức là sự học không có sự ngừng nghỉ, nghĩa là phải học mãi thôi. Có một câu rất hay “Học như nghịch thủy hành chu. Bất tiến tắc thoái”, sự học giống như mình đi thuyền trên dòng nước ngược, nếu mình không cố sức chèo để vượt qua lực đẩy của nước thì sẽ bị lực đẩy của nước đẩy ngược mình trở lại. Mình muốn tiến trên dòng nước ngược thì mình phải có những tay chèo, tạo được lực đẩy mạnh hơn lực đẩy của nước, nếu yếu hơn lực đẩy của nước thì bị nước đẩy ngược trở lại, sự học cũng là như vậy.

Thưa thầy trong số những vị ngày xưa có học với tôi, tôi không nói người đời, vì người đời nhiều lắm. Riêng quý thầy quý cô thì đến nay phải nói là có rất nhiều vị đỗ tiến sĩ từ Ấn Độ về, từ Đài Loan về, từ Trung Quốc về. Tuy nhiên theo chỗ nhìn thấy của tôi thì tôi nghĩ như thế này. Quý thầy cô là những vị xuất gia nên phải lấy việc hoằng đạo để làm phương châm trên bước đường tu tập của mình. Mình không những tu cho mình mà mình còn phải phát huy giáo lý của Đức Phật cho tất cả mọi người. Riêng về hoằng pháp lợi sinh thì thưa thầy, đây không phải là tôi có ý đề cao thầy trụ trì đâu, nhưng mà phải nói thầy là một trong rất ít những vị hoằng pháp lợi sinh đầy đủ cả về hai phương diện.

Hoằng pháp lợi sinh, thứ nhất là thuyết giảng tư tưởng, giáo lý của Đức Phật và làm thế nào để đem tư tưởng của Đạo Phật đến với mọi người, đem đạo vào đời. Trong công việc này phải nói là thầy đã có nhiều công trình dịch thuật có giá trị và thầy từng được mời thuyết pháp ở nhiều nơi, đó là một phương diện. Phương diện thứ hai là phát triển, làm cho Phật Giáo ngày càng vững mạnh thì thầy có một công rất lớn trong việc khai sơn một nơi như thế này. Không dễ gì mà có thể tạo lập một cơ ngơi về tôn giáo, về Phật giáo được như ở đây. Xét về hai phương diện, một là về phổ biến, truyền bá tư tưởng của Phật Giáo; hai là khai sơn lập tự thì thầy có những công đức rất lớn.

Thầy Minh Thành:

Con xin mời thầy chia sẻ kinh nghiệm học cũng như kinh nghiệm truyền trao trong lĩnh vực giáo dục sau 50 năm thầy đã cống hiến.

GS. Nguyễn Khuê:

Câu hỏi của thầy có 2 vấn đề: 1 là học và 2 là dạy. Thầy muốn biết làm thế nào để học và dạy cho có kết quả. Trước khi trả lời câu hỏi của thầy con xin kể lại một vài kỉ niệm vui.

Có một lần nhân Ngày Nhà Giáo thì trong tờ Văn hóa Phật Giáo có một bài phỏng vấn tôi về giáo dục của Phật Giáo. Trong đó tôi có nhắc các chuyện vui, tôi nói là trong các lớp học tại các Trường Phật học ở các chùa thì lớp không có học trò mà toàn là thầy cô là bởi vì khi tôi bước vào lớp là tôi chắp tay xá “Dạ xin chào quý thầy, quý cô” và trong đó quý thầy, quý cô nên đâu phải học trò.

Thứ hai nữa chắc thầy cũng thấy, lớp học thì đương nhiên bao giờ cũng có cái bục, có cái bàn giáo sư để đó, nhưng khi vào lớp ít khi tôi ngồi lắm, tôi không ngồi và tôi đứng thì có lần tôi nói ở trong lớp là tôi tới đó với 2 tư cách. Thứ nhất là tư cách của một Phật tử. Thứ hai là tư cách của một nhà giáo. Với tư cách nhà giáo, đương nhiên bàn đó là dành cho giáo sư thì tôi ngồi, nhưng với tư cách của Phật tử tôi không ngồi, bởi vì trước mặt tôi là quý thầy cô. Tôi dành cái bàn đó cho các vị giảng viên mà là các vị Thượng Tọa, các vị Hòa Thượng ngồi, còn tôi là Phật tử nên tôi không ngồi. Đó là một vài kỉ niệm thời tôi đi dạy.

Bây giờ trở lại chuyện học và dạy. Sự thật là dù học hay là dạy mà muốn thành công thì bao giờ cũng phải có cái tâm và chí. Cái tâm và chí đối với người học là cái tâm, cái chí cầu học và đối với người dạy là cái tâm, cái chí của người truyền đạt. Dù học bất kì môn gì muốn cho có kết quả thì chúng ta phải có tinh thần cầu học, tinh thần cầu thị thì mới có tiến bộ. Thông thường mình có từ “học hỏi”, học thì phải hỏi, mình học mà có cái gì hiểu chưa thấu đáo thì phải hỏi, phải trao đổi với thầy giáo, cô giáo để bao giờ sáng tỏ vấn đề thì cái biết của mình mới đi tới nơi tới chốn. Chứ nếu thầy nói sao mình học vậy, như vậy giống như học vẹt, học mà không hiểu. Cho nên trong cái học mình phải có sự trao đổi giữa người học và người dạy.

Vì vậy sau này trong phương pháp giáo dục mới, sau phần giảng lý thuyết, bao giờ đến cuối giờ cũng dành 5-10 phút cho sinh viên để cho họ có gì thắc mắc, có gì cần trao đổi, để làm sáng tỏ các vấn đề. Bởi vì môn tôi dạy thuộc về Khoa học Xã hội, không phải thuộc về Khoa học Tự nhiên, nếu thuộc về Khoa học Tự nhiên thì nhiều khi chân lý của nó rất rõ ràng, 2 với 2 phải là 4, điều đó không ai cãi được. Nhưng chân lý về Khoa học Xã hội, về Triết học thì ở góc độ này, ở góc độ khác thì người ta có những cách nhìn, cách suy nghĩ, cách nhận thức khác nhau, gọi là các quan điểm khác nhau. Chính nhờ sự thảo luận, sự trao đổi giữa thầy và trò mà những quan điểm khác nhau, sự bất đồng quan điểm mới có thể giải tỏa được. Tất nhiên qua sự trao đổi mình sẽ hiểu được quan điểm của thầy dạy. Người học có thể không đồng quan điểm với thầy dạy nhưng mình phải chấp nhận thầy có quyền có quan điểm đó và mình cũng có quyền có quan điểm khác,mmiễn là quan điểm của mình và thầy đều có cơ sở, mà từ trên cơ sở đó mà có quan điểm này và quan điểm kia.

Đó là nói về người học, bây giờ nói về người dạy, như tôi đã nói phải có cái tâm, có cái chí. Người dạy phải có một ngọn lửa trong tim. Tôi có thể nói từ ngày bước vào nghề cho đến mãi về sau này, ngọn lửa truyền đạt, tri thức trong tim tôi vẫn không bao giờ tắt. Người đi dạy phải làm sao giữ cho được ngọn lửa đó. Trước đây ở tại các trường sư phạm có một môn học, tôi rất lấy làm tiếc vì sau này, sau năm 75 tôi thấy không còn. Ở những trường đạo tạo ra thầy giáo, cô giáo có một môn học, người ta gọi là môn “Nghệ thầy” hay còn gọi là môn “Luân lý chức nghiệp”. Thật ra nghề nào cũng cần có luân lý chức nghiệp cả, đặc biệt là những nghề như bác sĩ, cô giáo, thầy giáo, thì luân lý chức nghiệp, tức là giáo đức là rất cần thiết. Bởi vì bác sĩ mà không có y đức, nhà giáo mà không có giáo đức thì không thể nào làm hết bổn phận đối với bệnh nhân hay học trò.

Trước năm 75, có môn “Luân lý chức nghiệp”, trong môn đó người ta đưa ra những vấn đề là thầy giáo cần phải như thế nào. Phải như thế nào đối với học trò, phải như thế nào đối với đồng nghiệp, phải như thế nào đối với phụ huynh học sinh..,vv.. Thầy chỉ biết tôi dạy chữ Hán, chữ Nôm, nhưng trước năm 75 tôi còn dạy Văn. Có một thời gian, mặc dù bấy giờ tôi còn rất trẻ nhưng được người ta mời dạy môn “Luân lý chức nghiệp”. Tôi đã tùng dạy môn “Luân lý chức nghiệp” cho Trường Sư Phạm, tức là khi vô đó mình phải như thế này, phải như thế kia, nếu vô đó mà không như vậy thì sao mà được. Nên tôi từng dạy môn “Luân lý chức nghiệp” để đào tạo cho các giáo viên. Nói như vậy có nghĩa là người làm thầy là phải có lương tâm nghề nghiệp.

Có một điều ngộ lắm. Ông thầy dạy võ, bao giờ dạy cho học trò bao giờ cũng để dành một số chiêu thức đề phòng mấy đứa học trò có phản thầy, trở lại đánh mình thì mình có ngón để mình đỡ. Còn ông thầy mà dạy chữ, có bao nhiêu cũng muốn truyền trao, không muốn chừa lại cái gì cả, không giữ gì lại cho mình hết, biết cái gì là truyền trao hết. Ngành sư phạm người ta có câu “Muốn dạy ít phải biết nhiều”, chứ không phải mình dạy 1 là biết 1, phải là biết 10 mà dạy 1. Có như vậy thì những kiến thức mình truyền đạt mới được rõ ràng, có hệ thống, mới làm sáng tỏ vấn đề. Bởi vì người mà biết 1 dạy 1, khi mình nói như thế, học trò không hiểu, thì mình có dạy lại cũng là nói lại như vậy thôi. Còn người dạy ít mà biết nhiều, khi mình nói như vậy mà học trò không hiểu thì mình có cách nói khác, mình đổi cách nói, nói cách này không được,mình nói cách khác, làm thế nào cuối cùng để người học trò có thể tiếp thu được điều mình muốn truyền đạt. Nói chung học và dạy, tự mỗi người phải có sự yêu thích, yêu thích việc học và yêu thích nghề dy, có như vậy thì mới có kết quả được. Nói đến đó rất lấy làm buồn là nên giáo dục của mình trong những năm gần đây có nhiều thành phần trong giới nhà giáo không dùng được tư cách của một ông thầy, do đó họ làm cho sự kính trọng của xã hỗi đối với thầy giáo, cô giáo bị giảm sút. Đó là điều rất đáng buồn. Xin hết.

Thầy Minh Thành:

Mời đại chúng, nhất là gia đình của thầy có chia sẻ gì về tu học Phật pháp không?

Sư Cô:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô, kính thưa Giáo sư Nguyễn Khuê cùng toàn thể gia đình và đại chúng. Con cảm thấy rất là hoan hỷ, cảm xúc dâng trào vì khi con bước vào chùa cách đây 20 năm thì con được quý sư cô cho con học giáo trình Phật Học Giáo Khoa Thư của Giáo sư Nguyễn Khuê soạn. Giáo trình này con rất là thích mặc dù lúc đó con chưa có đủ duyên gặp giáo sư nhưng nhờ những căn bản đầu tiên bước vào chùa được học trong giáo trình. Mặc dù chữ Nho rất khô khan nhưng đặc biệt giáo trình Phật Học Giáo Khoa Thư thì mỗi bài đều có nội dung rất sâu sắc và ý nghĩa. Trong những từ điển con tra, mặc dù những từ điển kia cũng có nhưng con vẫn rất là thích từ điển của giáo sư. Sau này con cũng có một vài lần gặp giáo sư, lúc đó con học Học Viện khóa VI, lúc đó giáo sư chỉ lên trong những ngày khai giảng, những buổi quan trọng vì giáo sư bận nhiều việc, nên con không được trực tiếp học nhưng mà con rất ngưỡng mộ giáo sư từ phong cách, như khi đứng lớp giáo sư không bao giờ ngồi ngay chỗ cái bàn để dành cho giáo sư mà luôn đứng một bên. Lúc đó, mặc dù con rất là nhát và không dám giao tiếp nhưng trong tâm con vẫn còn hình bóng của giáo sư từ cách đây 20 năm. Ngày hôm nay có duyên được gặp giáo sư ngay tại nơi này, con rất tri ân, biết ơn giáo sư. Nhờ những ngày tháng đầu tiên khi con bước vào chùa cho đến giờ này con cảm thấy cần học hỏi rất nhiều từ giáo sư. Con kính xin tri ơn và biết ơn giáo sư. Nguyện cho giáo sư luôn mạnh khỏe và truyền đạt lại cho thế hệ sau. Con thấy giáo sư cống hiến rất là nhiều cho nền giáo dục nhất là nhân cách của một người nhà giáo. Con xin hết.

Xin cảm ơn Sư Cô.

Giữ gìn tình nghĩa thầy trò

Thầy Minh Thành:

Bây giờ mình thấy tình thầy trò hơi hiếm thưa thầy. Trong bản thân của con cũng có nhân duyên với vài chục vị xuất gia, nhưng con thấy người bây giờ không có đặt nặng lắm về ân nghĩa thầy trò. Đó là nói trong người tu, chứ chưa nói đến người đời. Nếu cái này không giữ, không có những nền tảng căn bản về cái tình, cái nghĩa, cái ân, cái đức thì thật sự rất khó để bước lên những bước cao hơn, huống chi là người tu phải bước lên chỗ Hiền Thánh.

Con nghe thầy nói có nhiều vị đã học nhưng bây giờ chỉ còn vài vị nhớ lại tình nghĩa thầy trò mấy mươi năm về trước. Đây cũng là vấn đề nên suy ngẫm, nhất là những Tăng Ni trẻ, những thế hệ học sinh, sinh viên. Con cũng mời thầy có vài lời nhắn gửi đến những người học của thời hiện đại và tương lai. Nên cần có thái độ học tập như thế nào, cũng như nói về tình nghĩa thầy trò để mình làm cho nét đẹp này được tô đậm lên, được tiếp tục lưu truyền, giữ được gia phong của nền giáo dục Phật Giáo nước nhà.

GS. Nguyễn Khuê:

Vấn đề học và dạy thì lúc nãy tôi có trình bày rồi. Còn nói về tình nghĩa thầy trò thì thật ra mà nói không riêng về quan hệ thầy trò mà trong nhiều quan hệ xã hội khác mình cũng cần phải có tình nghĩa. Chẳng hạn như một vị bác sĩ cứu sống được mình thì ơn đó mình cũng phải nhớ. Thành thử ra trong xã hội có những quan hệ và trong mỗi quan hệ đó mình phải giữ tình nghĩa thì mới có tính nhân văn của con người, còn nếu không có tình nghĩa thì phải nói là không phải con người.

Tuy nhiên, nói về tình nghĩa thầy trò thì phải nói từ hai phía. Đương nhiên lúc người học trò còn học với mình, thì người học trò phải kính trọng mình, sợ mình, tại vì sao? Vì quyền sinh sát còn nằm trong tay mình. Nhưng nhiều khi sợ chưa chắc là kính trọng. Bởi vì ông thầy đó không đủ tư cách để làm cho người học trò kính trọng mà chỉ sợ thôi, ông hâm dọa, ông hạch hỏi, đòi hỏi cái này cái kia, đại khái như vậy nếu không thì ông sẽ đánh rớt, như vậy thì người ta sợ nhưng người ta không phục. Thành ra cái sợ và kính phục nó khác nhau. Ông thầy làm cho học sinh sợ thì họ chỉ sợ lúc học còn phải học thôi, nhưng khi họ hết học rồi thì đương nhiên họ hết sợ và cũng không còn kính trọng gì cả. Thành ra khi nói về kính trọng bao cũng phải nói về hai chiều. Ông thầy mà muốn học trò kính trọng mình thì phải thế nào để xứng đáng với sự kình trọng của học trò. Chứ có những thầy không xứng đáng thì sao học trò kính trọng được.

Xứng đáng để để học trò kính trọng là xứng đáng về hai phương diện. Thứ nhất là về kiến thức, mình phải là kiến thức bậc thầy, kiến thức đầy đủ để làm thầy người ta. Có nhiều vị vô trong lớp mình nói họ không phục nhưng họ không biết cãi. Thành thử ra mình phải có kiến thức, có lí luận để truyền đạt và thuyết phục người sinh viên. Thứ hai phải là người thầy có tư cách. Có tri thức mà không có tư cách thì cũng không được. Bởi vì có tri thức mà không có tư cách thì chỉ là người bán chữ, đem chữ ra bán ở chợ vậy thôi. Đó thuộc giới buôn bán chứ không phải là thầy. Thành ra có tri thức để mà truyền đạt, đồng thời phải có đạo đức, tức là phải có tư cách của một người thầy nếu được như vậy thì nhất định sẽ được sự kính trọng của học trò. Từ sự kính trọng đó thì sẽ đưa đến tình nghĩa.

Người làm thầy cũng nên quan niệm khác thời xưa. Thời xưa, nhiều khi ông thầy dạy không có lấy tiền. Ngày xưa ở quê chưa có những ông đồ mở trường, lúc đó có những vị cử nhân, tiến sĩ, sau khi làm quan họ về hưu mở trường họ dạy, họ không lấy tiền. Lâu lâu, có thúng gạo đem tới biếu thầy, rồi đến mùa gặt có thúng nếp đem tới biếu thầy, đến mùa thu hoạch có thúng khoai đem tới biếu thầy, vậy thôi, chứ không có trả tiền hàng tháng cho thầy. Học trò có cái gì thì biếu cho thầy cái đó cho nên giữa thầy với trò có sự ân tình. Còn ngày nay nói chung các thầy đi dạy thì các thầy lãnh lương, đã nói đi dạy mà lãnh lương thì đó là một sự sòng phẳng, đứng về mặt xã thế là công bằng. Thầy dạy mình, thầy lãnh lương rồi thì còn ơn nghĩa để làm gì nữa. Khi nào dạy không, không lấy tiền thì đó mới là ơn nghĩa, còn bây giờ mình dạy mỗi tháng mình ngửa tay của chính phủ coi như là công của mình đã được trả rồi. Thành thử ra, sau khi mình dạy xong, nếu học trò còn nhớ mình, thăm viếng này kia thì tốt, còn nếu không đừng trách móc gì cả. Bởi vì mọi sự thanh toán hết rồi, người học trò đâu nợ gì mình. Cho nên mình phải có cách nhìn vấn đề như vậy, chứ đừng nói ngày xưa học mình, mà giờ thế này thế kia, không thèm thăm viếng mình, cái đó là bậy. Tôi nghĩ như vậy.

Tâm sự nghề giáo

Thầy Pháp Nghĩa:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô, Giáo sư Nguyễn Khuê cùng tất cả đại chúng. Con có một câu hỏi như sau. Mặc dù Giáo sư không phải là vị thầy trong Đạo Phật, nhưng cho con hỏi nhân duyên nào giáo sư được đứng trên bục giảng và dạy cho Tăng Ni Phật tử. Kỉ niệm nào mà Giáo sư thấy đáng nhớ nhất khi thầy dạy cho Tăng Ni Phật tử - những vị rất là cao quý này. Con xin cảm ơn.

GS. Nguyễn Khuê:

Dạ thưa thầy, nói về cơ duyên nào mà tôi có nhiều cơ hội truyền đạt môn Hán Nôm cho quý thầy cô thì nói chung chuyện gì cũng có nhân duyên. Tất cả mọi việc trên đời này mình nghĩ nó ngẫu nhiên thật ra đều là một chuỗi nhân duyên dài lắm, từ sự kiện này đưa đến sự kiện kia, từ sự kiện kia đưa đến sự kiện nọ, cứ liên tục, liên tục như vậy. Trước khi trả lời câu hỏi đó tôi muốn trở lại vấn đề người dạy bao giờ cũng phải có ngọn lửa trong tim và người dạy phải biết rằng nghề dạy là một nghề thanh bạch. Chọn đi vào con đường dạy là phải chấp nhận sự thanh bạch thì mới trụ được. Còn đứng trong nghề dạy mà cứ nghĩ có nhà cao, có xe, có này có kia thì làm sao có được. Từ chuyện không có được đó rồi mình bắt bí học trò, ăn cái này, ăn cái kia để làm khổ sinh viên thì đó là bậy. Cho nên mình đã đi dạy thì mình phải chấp nhận sự thanh bạch, thứ hai là mình phải có một lý tưởng về giáo dục. Chính vì vậy cho nên tôi có một bài thơ nói về người đưa đò. Không nói trong kiếp này, chỉ nói rằng cho đến giờ này, giả sử tôi còn sức khỏe thì tôi vẫn muốn đi dạy, thích đi dạy. Trong bài thơ đó, tôi có nói như thế này.

Về đâu duyên nghiệp minh minh

Luân hồi cõi thế lại xin đưa đò.

Thế thì nếu có luân hồi thì tôi lại muốn làm người thầy giáo nữa. Như vậy, mình thấy người lấy sự giáo dục người khác làm lý tưởng cho mình không những ở đời này mà còn nếu có đời sau. Nếu có lý tưởng như thế thì mới trụ được với nghề, mới yêu nghề.

Bây giờ trở lại câu hỏi của thầy là do cơ duyên nào mà tôi đem chữ Hán, chữ Nôm truyền đạt cho quý thầy cô. Xin thưa là như thế này. Sau năm 75 muốn học chữ Hán, chữ Nôm thì phải thi vô trường đại học có ngành chữ Hán, chữ Nôm thì mới học được. Bây giờ nhiều vị, đặc biệt là quý thầy, quý cô rất thích học tiếng Hán mà không biết học ở đâu. Tôi có nhiều lần nói với quý thầy, quý cô là nhất định phải biết chữ Hán. Linh Quy Pháp Ấn của mình còn mới quá, chứ quý thầy cô đi vào đạo tràng chùa Vĩnh Nghiêm thì thấy toàn chữ Hán, nào là những câu đối, nhưng hoành phi toàn treo chữ Hán, gặp vậy mình không biết nó nói cái gì thì sao được. Thỉnh thoảng có Phật tử đến lễ bái hỏi câu này nói cái gì vậy thì làm sao mình trả lời. Cho nên quý thầy, quý cô bắt buộc phải biết chữ Hán.

Như thầy trụ trì vừa nói, chữ Hán là một phương tiện, công cụ không chỉ để dịch Hán tạng ra Việt văn, mà ngay cả trường hợp mình thuyết giảng bằng Tiếng Việt cũng phải sử dụng đến nó. Vì sự cần thiết như vậy cho nên sau năm 75 quý thầy cô có nhu cầu muốn học chữ Hán mà không biết học ở đâu. Lúc bấy giờ tôi là trưởng bộ môn Hán Nôm thì tôi mới nghĩ ra cách là mở ra lớp bồi dưỡng Hán Nôm. Ban đầu, đặt trường trên đường Trần Quốc Khải, chi nhánh đó bấy giờ thuộc về Trường Đại học Tổng hợp, sau này Đại học Tổng hợp trao cho Đại học Kinh tế. Chúng tôi mở ở đó lớp bồi dưỡng Hán Nôm, lớp đó cũng khoảng 50, 70 vị mà chỉ có 2-3 người ngoài đời thôi, còn bao nhiêu là quý thầy, quý cô hết. Lâu quá tôi không còn nhớ vị nào, nhưng có một vị rất đặc biệt, chỉ nhớ bây giờ làm trụ trì dưới chùa ở Hậu Giang, là thầy Minh Cẩn. Hầu hết những vị đó đều là các thầy, các cô, từ đó các thầy, các cô mới biết tôi. Do đó mời về chùa dạy, từ đó bắt đầu tôi dạy ở các chùa. Cố Hòa thượng Minh Cảnh cũng mời tôi về dạy ở Tu viện Huệ Quang, bồi dưỡng Hán Nôm cho quý thầy, quý cô. Nhiều vị ở đó sau này góp phần rất nhiều trong việc phiên dịch kinh điển, đặc biệt góp phần rất nhiều trong việc dịch và biên soạn bộ Phật Học Đại Từ Điển. Bộ này có hai bộ, một bộ là do cố Hòa thương Thích Quảng Độ vừa mới viên tịch dịch cái bộ ở Đài Loan, còn ở Tu viện Huệ Quang, các vị ở đó cũng dịch nhưng có thêm một số mục liên quan đến Phật Giáo Việt Nam, mà trong bộ Đài Loan không có. Những vị học khi đó về sau giúp cho Hòa thượng Minh Cảnh dịch và soạn được bộ Phật Học Đại Từ Điển.

Thành ra hiện nay chúng ta có hai bộ Phật Học Đại Từ Điển, một bộ là hoàn toàn dịch là bản Đài Loan của ngài Quảng Độ, một bộ là ngoài cái dịch còn thêm một số một mục của Việt Nam mình. Chẳng hạn như các vị cao tăng của Việt năm thì trong bộ của Đài Loan không có, nhưng tra trong bộ Tu viện Huệ Quang thì có. Hay mình tra mấy cái chùa thì toàn các chùa chùa bên Trung Quốc nhiều chứ không có chùa Việt Nam. Bây giờ mình tra ví dụ “Nhất Trụ Tự”, tức là chùa Một Cột thì mình tra trong Huệ Quang Phật Học Đại Từ Điển thì nó có. Cơ duyên nó là như vậy.

Thứ hai nữa là trước năm 75, tôi được mời dạy môn Hán văn tại Viện Đại học Vận hành, sau năm 75 thì mới thôi. Cũng do cơ duyên đó sau khi Trường Cao cấp mở khóa I, xong đến khóa II thì cô Hòa thương Minh Châu mời tôi trở lại dạy Hán văn cho Trương Cao cấp Phật Học sau đổi thành Học Viện Phật Giáo. Từ chỗ đó, Hòa thượng Từ Thông cũng mới qua dạy bên Trường Cao Đẳng và Trung cấp Phật Học. Nhân đây nói về Hòa thượng Từ Thông tôi có nhớ một kỉ niệm. Có lần Hòa thượng Từ Thông có nói với tôi câu như thế này “Tiếc quá, ông Giáo sư Khuê không phải là ông thầy chùa”. Tôi có bạch lại với Hòa thượng “Dạ thưa thầy, con chưa đủ thiện duyên, nhưng biết đâu kiếp sau”. Đi tu khó lắm chứ đâu phải dễ, đâu phải muốn tu là tu đâu. Không có căn cơ, không có sự tu tập trong nhiều kiếp thì làm sao vô chùa mình tu được. Cho nên khó lắm chứ không phải dễ. Đi tu mà còn thương cha, nhớ mẹ thì là cả một chuyện rồi chứ khoan nói đến chuyện khác. Dứt bỏ cuộc đời này khó lắm, đâu phải ai cũng được như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vợ đẹp con ngoan, cung điện vàng son như vậy mà dứt liền bỏ đi đành đoạn. Đâu phải ai cũng như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông bỏ ngôi vua mà đi tu được. Con xin hết.

Chú Trí Hòa:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kinh bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô, kính thưa Giáo sư Nguyễn Khuê và toàn thể đại chúng. Con có một câu hỏi, đối với bản thân con là một người trẻ có sự năng động mà cũng vì những thứ đó mà hành động theo những suy nghĩ bồng bột, không xét nét kỹ trong sự làm việc cũng như tu học. Con mong giáo sư chỉ dạy cho bản thân con cũng như những huynh đệ khác biết được làm sao cho chúng con giữ được tinh thần, ngọn lửa học hỏi, cầu học trong đời sống tu học của chúng con. Lúc nãy khi con lên chỉnh cổ áo cho giáo sư thì con rất xúc động khi mà giáo sư nói lời cảm ơn, con thấy những hành động đó tuy nhỏ nhưng để lại cho con những cảm xúc rất sâu sắc. Mong giáo sư chỉ dạy cho con đôi điều để trở thành một con người thực sự là con người. Bản thân con khi tiếp xúc với giáo sư, nhìn nhận lại bản thân mình thì thấy còn thiếu sót rất nhiều sự tôn trọng, cung kính. Sự khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường của mình còn rất là yếu.

Với những điều nhỏ nhặt như vậy con mong giáo sư chỉ dạy cho con được sáng tỏ và học hỏi thêm trpng sự tu học của mình.

GS. Nguyễn Khuê:

Nếu nói về sự học hỏi ngoài đời thì tôi xin trả lời, còn nếu nói về sự tu học trong chùa của mình thì tôi không dám, phải để sư phụ Minh Thành trả lời.

Nói chung trước hết phải có sự đam mê, có hai loại đam mê, là đam mê những cái thấp hèn và có loại đam mê những cái cao thượng. Mình có đam mê về Đạo Phật và mình sớm thấy cuộc đời này là vô thường nên mình sớm tìm ra con đường để mình đi. Tôi nghĩ thấy được chỗ đó thì tìm một bậc chân sư để được các vị đó truyền trao y bát cho. Theo ý tôi là như vậy, chứ tôi là người thế tục nên không dám nói về chuyện này, vì bản thân của mình tục lụy còn nhiều quá thì đâu dám nói đến chuyện cao xa, nên đó là tôi nghĩ như thế.

Hồi xưa đến bây giờ cũng thế, có nhiều vị vào chùa một thời gian thử thách, thấy được thì mới tiếp tục, còn không được thì ra. Thậm chí có rất nhiều vị đã lên hàng Đại đức rồi, tức là thọ đại giới rồi nhưng rồi vì một phút yếu lòng nên hoàn tục, người ta quen gọi là “Người Việt gốc sư”, tức là những vị đã xuất gia mà hoàn tục, khó khăn đến như thế đấy, đã thọ đại giới rồi mà còn có lúc phải ra. Nhiều vị rất nổi tiếng luôn, chẳng hạn trước năm 75 ở Trường Đại học Vận Hành có thầy Thích Nguyên Hồng, trưởng khoa phân khoa giáo dục của Trường Đại học Vận Hành, thầy học ở bên Nhật về, thầy đã là Thượng tọa rồi. Sau năm 75, vì những khó khăn này kia mà thầy ra đời với tục danh là Lý Kim Hoa.

Vì thế, đường tu hành nhiều thử thách, khó khăn lắm chứ không phải dễ. Cho nên tôi thấy các thầy khoác áo của nhà tu tôi hết sức kính phục, ngưỡng mộ. Khó lắm!

Thầy Pháp Từ:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con đệ tử Thích Pháp Từ bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô, kính thưa Giáo sư Nguyễn Khuê và toàn thể đại chúng.

Buổi tối ngày hôm nay thật là một buổi tối rất đặc biệt đối với riêng bản thân con và con nghĩ đối với tất cả huynh đệ và đại chúng ở Linh Quy cũng rất là hoan hỷ. Riêng bản thân con, tối hôm nay, vì tình đạo, tình cảm thiêng liêng của thầy trò, Giáo sư không quản đường xá xa xôi, sức khỏe, tuổi tác mà lặn lội lên núi đồi xa vắng để thăm sư phụ, thăm đại chúng Linh Quy ở đây, điều đó làm cho con rất xúc động. Xúc động hơn nữa là lần đầu tiên con nghe được những lời chia sẻ của Giáo sư, con thấy trong đó là những tình cảm rất thiêng liêng, sâu sắc và tư cách, đạo đức của Giáo sư thể hiện qua oai nghi, cử chỉ, lời nói, dáng vóc, từ đó thể hiện được thân giáo mà con học được rất nhiều. Hơn 1 tiếng đồng hồ thôi nhưng từng lời của Giáo sư là cả một bài học quý giá đối với người xuất gia cần phải học hỏi. Con cũng không biết nói gì hơn, chỉ biết cần có sự cung kính đối với những lời chia sẻ tận tình, sâu sắc của giáo sư. Con cũng thay mặt cho toàn thể đại chúng Linh Quy kính chúc Giáo sư và toàn thể gia đình Giáo sư luôn được nhiều sức khỏe, bình an, được nhiều lợi lạc, thân tâm thường an lạc trong Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

GS. Nguyễn Khuê:

Kính thưa thầy trụ trì, thưa quý thầy cô và đạo hữu. Trước hết xin cảm ơn thầy đã dành cho tôi một buổi tiếp đón rất trọng đại và ý nghĩa, thấm đượm ân tình thầy trò. Không biết nói gì hơn chỉ xin thành thật cảm tạ thầy. Tiếp theo xin cảm ơn quý thầy cô cũng như quý vị đã dành thời giờ quý báu lắng nghe một số ý kiến trao đổi của tôi.

./.