Thứ Tự Tu Tập 10 - Kinh GANAKA MOGGALLANA - Trung Bộ
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
THỨ TỰ TU TẬP 10
KINH GANAKA MOGGALLANA
TRUNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Đầu tiên mình quán chiếu về vấn đề giàu nghèo, nghèo thì ham muốn, giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân, nghèo thì thiếu thốn, giàu thì muốn thêm, giàu nghèo gì thì trong tâm cũng chìm ngập những sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình nhìn người giàu là những ngũ uẩn và ngũ uẩn này có phước, còn người nghèo cũng là ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn này ít phước, vô phước. Mình tập nhìn tất cả là ngũ uẩn, tập nhìn người tu cũng là ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn này hướng đến từ bỏ đối với cả phước báo vì đây là ngũ uẩn đi tu, ngũ uẩn xuất gia, xuất thế, xuất ly, mình không quan tâm đến vấn đề giàu nghèo mà mình quan tâm đến khổ vì giàu hay nghèo cũng là khổ. Những người giàu có phải vào tù ra khám, có thể tai bay họa gửi, có thể chết bất đắc kì tử vì cái giàu có đó cho nên chưa chắc giàu có là hạnh phúc, cái đó chỉ là ảo tưởng của mình thôi.
Sanh ra đã khổ lắm rồi,
Lại còn bao nổi trành trồi hơn thua,
Giàu nghèo, được mất chen đua,
Thua người chẳng chịu, người thua mới vừa
Say sưa giữa cảnh vô thường,
Lãng quên sanh tử vẫn thường một bên.
Nghèo thì có khổ của nghèo,
Giàu thì có khổ của người giàu sang,
Nghèo muốn có, giàu muốn thêm,
Giàu nghèo gì cũng chẳng ai vừa lòng,
Giàu sanh tật, nghèo sanh phiền,
Giàu nghèo gì cũng luân hồi triền miên.
Nghiệp duyên tạo cảnh giàu nghèo,
Giàu cười, nghèo khóc, khóc cười đều mê,
Nghèo thèm muốn, giàu hả hê,
Giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân…
Đây là đoạn để chúng ta quán chiếu về cái giàu nghèo, một người giàu nhất thế giới nhưng hôm nay bị tụt xuống còn đứng thứ 5 thì có khổ không? Phải làm sao để lên được số 1 mới vừa lòng nhưng không phải giàu rồi là vừa lòng, lúc đầu làm 1 tháng được 500, sau lại muốn lên 5 triệu, lên 5 tỷ cũng chưa vừa lòng, bản chất của thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, tham là muốn thêm nữa nhưng thêm bao nhiêu cũng không vừa lòng. Giàu lên thì sanh tật, ở ngoài đời có câu "giàu đổi bạn, sang đổi vợ", đó là sự sanh tật, lúc nghèo thì chơi thân với nhau, anh em, huynh đệ, tỉ muội sống chết có nhau, đồng cam cộng khổ nhưng đến khi trúng số có tiền thì sanh tật đổi bạn rồi đổi vợ. Nghèo thì thiếu thốn đủ thứ, vợ bệnh con đau, nhà dột cột xiêu, đủ chứ chuyện nên sanh ra phiền hà.
"Giàu cười, nghèo khóc, khóc cười đều mê", câu này xuyên thủng hết tất cả hình tướng, giàu thì cười lên chửi người ta, nghèo thì khóc nhưng khóc hay cười đều mê, vào tù ra khám, tự mình hại mình, mình ỷ mình giàu, khinh khi người khác, không xem ai ra gì, trong khi nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay.
Nghiệp như hình với bóng,
Theo đuổi sát gót ta,
Công bằng và chính xác,
Chẳng vị nể, buông tha.
Lúc nào nghiệp duyên cũng rình rập mình, chờ đợi thời cơ để ra tay vậy mà chúng ta cứ nghĩ mình sống an ổn rồi, khỏe re rồi, đó chính là vô minh. Tất cả những ác nghiệp trong quá khứ rình rập mình khắp mọi chỗ mọi nơi, chỉ cần mình sơ hở là nó nhảy ra hại mình ngay, nó chờ sẵn, núp sẵn để chờ một thời điểm nào đó đúng duyên hội ngộ, hội tụ chín muồi là lúc đó nó ra tay hạ thủ mình. Cho nên khi mình được an ổn thì đừng tưởng vậy là bền chắc, tất cả những nghiệp chướng của mình nói rằng "hãy đợi đấy, ta ở đây, ngươi đừng hỷ hả", nó ở đó chờ đợi cơ hội để ra tay vì thế cần cẩn thận, điếc thì không sợ súng nên cứ tiến tới, mù không thấy vực thẳm trước mặt nên cứ xông lên rồi cuối cùng rơi xuống vực, chúng sanh – những kẻ vô văn phàm phu không nhìn thấy nhân quả, không nhìn thấy nghiệp quả, không nhìn thấy ác nghiệp, không nhìn thấy sự chín muồi của ác nghiệp cho nên giống như điếc không sợ súng, mù không thấy vực sâu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc luôn luôn quán xét các nghiệp, cẩn thận trong từng suy nghĩ, từng lời nói, từng hành động để kiểm tra, kiểm điểm, canh chừng mọi ý nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình.
Nghèo thì thèm cái này muốn cái kia, giàu thì hả hê, sung sướng, khoái chí nhưng giàu nghèo gì cũng đầy rẫy tham muốn, tức giận, bản ngã thì có gì mà tự hào với cái giàu đó, có gì để ngưỡng mộ cái giàu đó. Mình quán chiếu như vậy để từ bỏ tâm phân biệt giàu nghèo, hình thức bên ngoài và nhìn sâu vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã thôi chứ không có gì khác, tất cả những tấm thân dù giàu nhất thế giới cũng là một cái toilet di động, dù là hoa hậu hoàn vũ, nam vương thế giới cũng là toilet di động, không hơn không kém, cũng chỉ là cứt đái, phân và nước tiểu, mủ máu, ruột gan, phèo phổi nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi. Hãy quán chiếu như vậy, thể nhập trí tuệ như vậy để nhìn xuyên thủng qua tất cả những hình tướng lòe loẹt của thế gian này, để không bị dính mắc vào hình thức bề ngoài đó, nhìn sâu vào bên trong là những sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã, có gì để ham thích, có gì để ngưỡng mộ. Chẳng những mình thương những người bần cùng, ăn xin ngoài đầu đường xó chợ mà mình thương luôn những người nổi tiếng, giàu có, họ cũng là những kẻ đáng thương.
Trước dịch có vài vị minh tinh điện ảnh nổi tiếng đến thăm con ở chùa Bửu Liên, bước vào nói với con "thầy giờ nổi tiếng còn hơn nghệ sĩ nữa", con nói "đúng rồi, ca sĩ làm sao bằng tu sĩ, nghệ sĩ làm sao bằng khất sĩ. Tu sĩ, khất sĩ là những bậc vượt ra khỏi những dục ái thấp hèn của thế gian, làm sao những cái sĩ khác lại có thể so sánh với tu sĩ, khất sĩ được". Mình đi theo bậc vô thượng sĩ, mình bỏ những cái giàu sang, hơn thua ngoài đời thì làm sao có thể đem những cái giàu sang, sự nổi tiếng để so sánh được. Mình thoát ra khỏi tài, sắc, danh, thực, thùy, cái ngũ dục, cái tham, sân, si nên không thể so sánh với mình được, họ bất ngờ:
Thầy nói đúng ha.
Dạ, đây là lời Phật dạy.
Mình phải xác định vị trí của một người tu hành, có nổi tiếng gì cũng không quan tâm, đến đây chỉ có chánh pháp thôi, anh đang phiền não, anh đang khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não nên đến đây để được chỉ cho phương pháp diệt khổ, muốn thì đến, còn muốn danh lợi, hơn thua thì đi tìm chỗ khác. Đừng vì hình dáng bên ngoài, đừng vì cái giàu nghèo đó mà tâm mình cong quẹo, không ngay thẳng, tuy nhiên nhân quả phước đức của mỗi người khác nhau chứ không phải ai đến cũng có ly trà. Cha mẹ mình đến thì mình chỉ đem ly trà ra hay sao? Cho nên nhân quả bình đẳng là đối với cái công, cái ơn, cái nghĩa, với tình, người ta tình nghĩa đóng góp cho chùa từ khi chùa chưa có gì cho đến bây giờ thành tựu tam bảo thì phải khác với khách vãng lai thập phương vào thăm nhưng mình đừng vì cái giàu nghèo, hình thức bên ngoài là tâm mình khác, hãy nhìn tất cả chúng sanh đều bị dục, ái, tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não bằng một tâm tình thương, từ bi rộng lớn bình đẳng, tuy nhiên trong bình đẳng có sai biệt vì những người đóng góp, nghĩa tình ân đức thì phải có sự tiếp đón tương xứng với công lao ân nghĩa, công đức của họ.
Nếu không hiểu sẽ thấy sao người này đến thì nhiệt thành lo lắng, còn người kia thì sơ sài, cái đó chỉ có người trong cuộc mới biết, bên ngoài nhìn vào chỉ biết phần nào thôi, mình lo cho mình chứ đừng nhìn người khác, không nhìn lỗi người, khéo hộ trì căn, nhận diện ngũ uẩn, khéo quán xét mình. Ngay đó mình quay trở lại nhìn tâm có bị như vậy không, "cười người hôm trước, hôm sau người cười", hãy cẩn thận vì nếu không mình sẽ đi theo lối đó. Khi nhìn thấy lỗi của ai thì lập tức phải quay trở lại xem mình có vậy hay không, nếu mình có thì phải sửa chỉnh, nếu chưa có thì phải đề phòng, canh chừng, dặn dò mình phải cẩn thận, chánh niệm. Khi Thế Tôn thuyết pháp, những điều gì quan trọng là ngài thường lặp tới lặp lui để người nghe sanh khởi cảm thọ nhớ luôn không quên cho nên tạng kinh Nikāya mới tồn tại đến bây giờ. Những vấn đề gì quan trọng ngài thường lặp lại ít nhất ba lần, chúng ta cũng phải như vậy, nói từ đâu đến đuôi quá nhiều mà không có điểm nhấn, không có điểm quan trọng, nổi bật để người nghe nhớ được mình nói cái gì.
Vấn đề thứ hai là không biết tại sao người ta giận mình, tôi làm gì mà giận tôi, tôi làm gì không vừa lòng, tôi làm gì mà khó chịu với tôi? Coi chừng mình không có chánh niệm tỉnh giác, có khi vô tình, khi mình còn nhiều không thấy không biết, mình còn dày đặc vô minh nhưng cứ cho là thông minh.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Mình phải biết rằng mình còn vô minh thì lúc đó bắt đầu minh trí bắt đầu sanh khởi, mình phải thấy được cái vô minh của mình thì lúc đó minh bắt đầu sanh, các pháp do duyên sanh cho nên không bao giờ tự nhiên nó sanh ra sân si, phải có nhân có duyên chứ không có tự nhiên. Tại sao người đó khó chịu, tại sao người đó không chấp nhận, tại sao người đó không muốn nhìn mặt mình, thấy là đi đường khác? Mình phải thưa hỏi người đó chứ đừng tự suy diễn, hãy gặp trực tiếp "thưa sư tỉ/sư muội, không biết em có lỗi gì không? Nếu có thì chị chỉ giùm cho em tại em không biết, tại sao em thấy chị không vui với em", người đó nói ra thì mình mới biết. Khi có một thầy Tỳ-khoe nói lỗi của thầy Tỳ-kheo khác thì Đức Thế Tôn không bao giờ nghe một chiều, Thế Tôn sẽ mời vị Tỳ-kheo đó lên:
Có người nói ông như vầy, sự việc có phải như vậy hay không?
Bạch Thế Tôn, có.
Sau đó Thế Tôn mới dạy pháp, đây là điều chúng ta cần phải học tập, tất cả mọi thứ đều phải hỏi trực tiếp chứ không được suy diễn vì cái suy tư, suy tưởng, cảm tính đều sai trật. Mình tu là tu với hiện thực, sự thật ngay trong hiện tại, muốn vậy phải gặp người kia, nếu nghiêm trọng thì đắp y đảnh lễ, phải diệt bản ngã của mình. Mình muốn hòa giải, muốn tháo gỡ nội kết, muốn hòa kính thì phải dập bản ngã mình xuống thì người kia sẽ tha thứ, muốn được vậy cần phải sám hối diệt ngã mỗi ngày. Mình phải gặp trực tiếp họ để hỏi "Không biết con có lỗi lầm gì không, xin cô chỉ cho con, có khi con không có chánh niệm, con không để ý hay vô tình nên con làm lỗi nên cô chỉ lỗi cho con", lễ tự tứ không phải đợi đến an cư kiết hạ làm cho có hình thức, máy móc mà cần phải làm thường xuyên trong chúng, khi có chuyện gì lấy cái pháp đó ra tự tứ. Đức Phật truyền cho mình những nghệ thuật sống hạnh phúc, hòa hợp, cung kính, thương yêu nhưng mình lại không dùng vì bản ngã "tôi vầy mà phải quỳ xuống hả", "tôi là Ni sư, là đại đức mà phải quỳ xuống hả". Tất cả là do bản ngã ác độc làm mình không tu được, chính bản ngã làm cho thầy trò không hiểu nhau, huynh đệ tan rã hoặc tập thể bị bất hòa, tất cả do bản ngã thâm sâu bên trong con người mình làm cho mình không hạ thấp, không lắng nghe, không cung kính, không thấu hiểu, cảm thông, tha thứ, yêu thương cho nên hằng ngày phải lạy sám hối diệt ngã, nó là con rắn độc, nó là kẻ thù muôn đời ngàn kiếp của chúng sanh.
Đừng nghĩ người kia làm tôi khổ, người nọ kiếm chuyện với tôi, mà do bản ngã, một khi mình diệt được bản ngã thì cái tu của mình ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, dào dạt một tình thương. Sau đó tu tâm từ rất an lạc, sung sướng cho nên đạo tràng Nikāya của chúng con là chuyên tu diệt bản ngã, trong chúng một người có lỗi ngay cả người xuất gia cũng quỳ xuống trước cư sĩ để xin lỗi, nếu người xuất gia tự thấy mình có bản ngã với người cư sĩ thì quỳ xuống lạy sám hối trước cư sĩ và đương nhiên người kia cũng sụp xuống lạy lại, người cư sĩ kia bị sự đánh đổ bản ngã của người tu nên nhìn lại xấu hổ, nhục nhã, vì thế họ càng cung kính người tu hơn, đây là pháp thực hành hằng ngày của đạo tràng Nikāya.
Điều đặc biệt trong đạo tràng Nikāya là ai thấy mình có bản ngã thì tự ra sám hối vì có bản ngã là có tội dù cho là người tu nhưng có bản ngã là sai, có khi không cần chỉ mà tự người đó ý thức được, cái đó mới gọi là tự tứ. Tự mình bày tỏ, tự mình phát lộ những cái tâm bất chánh, nhiều khi không cần là suy nghĩ, hành động mà chỉ có ý thôi là cũng sám hối "con có ý nghĩ như vậy, con thấy cái này xấu, con có khởi bản ngã nên con xin lạy sám hối", đương nhiên người cư sĩ kia cũng hốt hoảng quỳ xuống lạy lại "con mới thấy con có lỗi", thế là hai bên lạy khóc với nhau, giải tỏa cảm thọ ngay lập tức, bứng tận gốc rễ nên rất ngọt ngào, dễ thương. Nếu không thì cảm thọ cứ để trong người, vài ngày thấy nhau thì cảm thọ ghét lại chồng lên thêm, lâu ngày thành nội kết, thắt gút bên trong nên rất nguy hiểm, tới một lúc sẽ bung ra lời nói, hành động nên hư chuyện hết vì thế mọi chuyện phải giải quyết trong cảm thọ, muốn như vậy thì hai pháp cực kì quan trọng trong đạo tràng Nikāya là diệt ngã và tu tâm hiền, ít nhất phải tu hai cái này 8 tháng, sau đó phải tu ba năm, phải trình pháp thường xuyên để xem bản ngã hoạt động thế nào, tâm hiền tu như thế nào, thiền quán tâm hiền mỗi ngày trong suốt 8 tháng. Trước nay chúng ta thường nghe tâm từ chứ ít nghe tâm hiền nhưng nếu không tu tâm hiền thì không thể tu tâm từ được, tâm hiền là nền tảng tiền phương tiện của tâm từ.
Tâm hiền sẽ giúp cho chúng ta lắng dịu xuống, khi xê dịch bàn ghế không ồn ào, đóng cửa nhẹ nhàng, bưng tô chén có sự an tịnh, lắng dịu, có khi chuyện đó đúng ra khó chịu nhưng mình phải cố gắng nhiếp phục cảm thọ, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, phải tu tâm hiền xuyên suốt 8 tháng như vậy. Con có trình bày 9 buổi về tầm quan trọng của tâm hiền trí, trong đó con giải thích bài kinh "Sau khi an cư" về 9 pháp an trú tâm của bậc tướng quân chánh pháp, chí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất, 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất là cách tu tập tâm hiền trí. Hiền ở đây không phải là hiền ngu mà là hiền trí, hiền ngu là thấy hiền nhưng không biết gì cả, ngơ ngơ ngáo ngáo, khờ khạo, còn hiền trí là mình thấy mình biết nên mình chủ động làm cho tâm mình lắng dịu, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền lương để đi theo các bậc hiền Thánh.
Khi tu tập tâm hiền sẽ làm thay đổi hoàn toàn con người mình, khi tâm hiền đã có thì chúng ta bước vào tâm từ giống như mở cửa bước vào không có chìa khóa, còn không có tâm hiền mà muốn tu tâm từ sẽ rất khó vì trong người mình còn những cảm thọ sân hận, bản ngã mà kêu thương người kia sẽ rất khó, họ kiếm chuyện, gây sự với mình thì làm sao thương nổi. Mình tu tâm hiền lành, hiền dịu, hiền hòa, hiền đức thì đi đến chỗ hiền trí, từ cái hiền này bước qua cái từ mới có kết quả. Tu tâm hiền hay ở chỗ sắc diện của người đó cũng hiền, âm thanh cũng hiền, cử chỉ, hành động cũng hiền, khi tiếp xúc cũng cảm nhận được cảm thọ ngọt ngào thì cái này đã thành tựu phần nào trong tâm hiền, còn có những người mới nhìn mặt đã thấy hung hăng, hung bạo, hung tàn cho nên tu tâm hiền và diệt bản ngã là cánh cửa để đi vào đạo tràng Nikāya cũng là cánh cửa để Nhập Lưu đi vào dòng trí huệ của Đức Phật.
Ngoài ra còn thêm một khía cạnh nữa là oan gia trái chủ của mình, mình không làm gì mà người ta cũng khó chịu, tự động gặp nhau là thấy ghét, mình đi, mình nói, mình làm cái gì người ta cũng thấy ghét và mình gặp người ta cũng giống vậy hoặc là lâu lâu gặp một người là thấy thương, người ta chưa làm gì cả, chưa nói gì cả nhưng chỉ nhìn mặt đã thấy thương, đó chính là oan gia. Mình phải ý thức được quả dị thục của nghiệp và phải cẩn thận, nếu không sẽ rất nguy hiểm, một là tham ái nặng nề và hai là sân hận khủng khiếp.
Thương hữu tình lệ thuộc,
Bị các nghiệp buộc ràng,
Mang các thân tạm bợ,
Vừa trả nợ, vừa vay.
Đó là mình trả nợ cũ chưa hết vậy mà còn vay thêm nợ mới vì người đó là chủ nợ của mình, người ta tới với chủ đích là đòi nợ mình, bây giờ mình không biết người đó là chủ nợ, người ta nhớ nợ thì người ta tới đòi còn mình không nhớ mình là con nợ rồi lại vay thêm nợ mới, nợ chồng chất lên vậy là sanh tử luân hồi, oan oan tương báo đầy nước mắt và khổ đau. Chúng ta phải cực kì cẩn thận vì oan gia trái chủ rất khủng khiếp, mình giúp đỡ họ mà họ quay lại đòi chém mình, đòi đốt chùa thì mình biết cái này không phải bình thường nên phải trải tâm từ để hóa giải, cần phải rất chánh niệm và tỉnh giác, bên cạnh đó cần quán chiếu nhân quả, quán chiếu nghiệp báo để trải tâm từ bao phủ lấy họ thì mới hóa giải được oan gia khủng khiếp này, đây là công phu tu tập rất lớn chứ không phải vừa.
Oan gia có hai hạng, một là dục ái của đời trước, hai là sân hận, hận thù của quá khứ, chính là yêu và hận, thương và ghét. Có nhiều vị Ni sư lớn tâm sự trong nước mắt như một bộ phim nhiều tập đau khổ, đi tu với nhau mà oan trái, hành hạ nhau khủng khiếp, những cái này mà mình không biết là chết dài dài vì nợ cũ chưa trả xong lại chồng thêm nợ mới. Nếu mình vô minh, không thấy không biết là mình cứ oán người, trách đời, hận trời, thật sự không oán ai cả, quay lại mình nhận diện là biết hết, chìa khóa tháo mở nằm ngay ở nơi mình thì mới giải quyết được, nếu không thì hận thù chồng chất không có ngày kết thúc.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
THỨ TỰ TU TẬP 10
KINH GANAKA MOGGALLANA
TRUNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Đầu tiên mình quán chiếu về vấn đề giàu nghèo, nghèo thì ham muốn, giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân, nghèo thì thiếu thốn, giàu thì muốn thêm, giàu nghèo gì thì trong tâm cũng chìm ngập những sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình nhìn người giàu là những ngũ uẩn và ngũ uẩn này có phước, còn người nghèo cũng là ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn này ít phước, vô phước. Mình tập nhìn tất cả là ngũ uẩn, tập nhìn người tu cũng là ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn này hướng đến từ bỏ đối với cả phước báo vì đây là ngũ uẩn đi tu, ngũ uẩn xuất gia, xuất thế, xuất ly, mình không quan tâm đến vấn đề giàu nghèo mà mình quan tâm đến khổ vì giàu hay nghèo cũng là khổ. Những người giàu có phải vào tù ra khám, có thể tai bay họa gửi, có thể chết bất đắc kì tử vì cái giàu có đó cho nên chưa chắc giàu có là hạnh phúc, cái đó chỉ là ảo tưởng của mình thôi.
Sanh ra đã khổ lắm rồi,
Lại còn bao nổi trành trồi hơn thua,
Giàu nghèo, được mất chen đua,
Thua người chẳng chịu, người thua mới vừa
Say sưa giữa cảnh vô thường,
Lãng quên sanh tử vẫn thường một bên.
Nghèo thì có khổ của nghèo,
Giàu thì có khổ của người giàu sang,
Nghèo muốn có, giàu muốn thêm,
Giàu nghèo gì cũng chẳng ai vừa lòng,
Giàu sanh tật, nghèo sanh phiền,
Giàu nghèo gì cũng luân hồi triền miên.
Nghiệp duyên tạo cảnh giàu nghèo,
Giàu cười, nghèo khóc, khóc cười đều mê,
Nghèo thèm muốn, giàu hả hê,
Giàu nghèo gì cũng ê chề tham sân…
Đây là đoạn để chúng ta quán chiếu về cái giàu nghèo, một người giàu nhất thế giới nhưng hôm nay bị tụt xuống còn đứng thứ 5 thì có khổ không? Phải làm sao để lên được số 1 mới vừa lòng nhưng không phải giàu rồi là vừa lòng, lúc đầu làm 1 tháng được 500, sau lại muốn lên 5 triệu, lên 5 tỷ cũng chưa vừa lòng, bản chất của thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, tham là muốn thêm nữa nhưng thêm bao nhiêu cũng không vừa lòng. Giàu lên thì sanh tật, ở ngoài đời có câu "giàu đổi bạn, sang đổi vợ", đó là sự sanh tật, lúc nghèo thì chơi thân với nhau, anh em, huynh đệ, tỉ muội sống chết có nhau, đồng cam cộng khổ nhưng đến khi trúng số có tiền thì sanh tật đổi bạn rồi đổi vợ. Nghèo thì thiếu thốn đủ thứ, vợ bệnh con đau, nhà dột cột xiêu, đủ chứ chuyện nên sanh ra phiền hà.
"Giàu cười, nghèo khóc, khóc cười đều mê", câu này xuyên thủng hết tất cả hình tướng, giàu thì cười lên chửi người ta, nghèo thì khóc nhưng khóc hay cười đều mê, vào tù ra khám, tự mình hại mình, mình ỷ mình giàu, khinh khi người khác, không xem ai ra gì, trong khi nghiệp như hình với bóng, chờ thời để ra tay.
Nghiệp như hình với bóng,
Theo đuổi sát gót ta,
Công bằng và chính xác,
Chẳng vị nể, buông tha.
Lúc nào nghiệp duyên cũng rình rập mình, chờ đợi thời cơ để ra tay vậy mà chúng ta cứ nghĩ mình sống an ổn rồi, khỏe re rồi, đó chính là vô minh. Tất cả những ác nghiệp trong quá khứ rình rập mình khắp mọi chỗ mọi nơi, chỉ cần mình sơ hở là nó nhảy ra hại mình ngay, nó chờ sẵn, núp sẵn để chờ một thời điểm nào đó đúng duyên hội ngộ, hội tụ chín muồi là lúc đó nó ra tay hạ thủ mình. Cho nên khi mình được an ổn thì đừng tưởng vậy là bền chắc, tất cả những nghiệp chướng của mình nói rằng "hãy đợi đấy, ta ở đây, ngươi đừng hỷ hả", nó ở đó chờ đợi cơ hội để ra tay vì thế cần cẩn thận, điếc thì không sợ súng nên cứ tiến tới, mù không thấy vực thẳm trước mặt nên cứ xông lên rồi cuối cùng rơi xuống vực, chúng sanh – những kẻ vô văn phàm phu không nhìn thấy nhân quả, không nhìn thấy nghiệp quả, không nhìn thấy ác nghiệp, không nhìn thấy sự chín muồi của ác nghiệp cho nên giống như điếc không sợ súng, mù không thấy vực sâu, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc luôn luôn quán xét các nghiệp, cẩn thận trong từng suy nghĩ, từng lời nói, từng hành động để kiểm tra, kiểm điểm, canh chừng mọi ý nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình.
Nghèo thì thèm cái này muốn cái kia, giàu thì hả hê, sung sướng, khoái chí nhưng giàu nghèo gì cũng đầy rẫy tham muốn, tức giận, bản ngã thì có gì mà tự hào với cái giàu đó, có gì để ngưỡng mộ cái giàu đó. Mình quán chiếu như vậy để từ bỏ tâm phân biệt giàu nghèo, hình thức bên ngoài và nhìn sâu vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã thôi chứ không có gì khác, tất cả những tấm thân dù giàu nhất thế giới cũng là một cái toilet di động, dù là hoa hậu hoàn vũ, nam vương thế giới cũng là toilet di động, không hơn không kém, cũng chỉ là cứt đái, phân và nước tiểu, mủ máu, ruột gan, phèo phổi nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi. Hãy quán chiếu như vậy, thể nhập trí tuệ như vậy để nhìn xuyên thủng qua tất cả những hình tướng lòe loẹt của thế gian này, để không bị dính mắc vào hình thức bề ngoài đó, nhìn sâu vào bên trong là những sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã, có gì để ham thích, có gì để ngưỡng mộ. Chẳng những mình thương những người bần cùng, ăn xin ngoài đầu đường xó chợ mà mình thương luôn những người nổi tiếng, giàu có, họ cũng là những kẻ đáng thương.
Trước dịch có vài vị minh tinh điện ảnh nổi tiếng đến thăm con ở chùa Bửu Liên, bước vào nói với con "thầy giờ nổi tiếng còn hơn nghệ sĩ nữa", con nói "đúng rồi, ca sĩ làm sao bằng tu sĩ, nghệ sĩ làm sao bằng khất sĩ. Tu sĩ, khất sĩ là những bậc vượt ra khỏi những dục ái thấp hèn của thế gian, làm sao những cái sĩ khác lại có thể so sánh với tu sĩ, khất sĩ được". Mình đi theo bậc vô thượng sĩ, mình bỏ những cái giàu sang, hơn thua ngoài đời thì làm sao có thể đem những cái giàu sang, sự nổi tiếng để so sánh được. Mình thoát ra khỏi tài, sắc, danh, thực, thùy, cái ngũ dục, cái tham, sân, si nên không thể so sánh với mình được, họ bất ngờ:
Thầy nói đúng ha.
Dạ, đây là lời Phật dạy.
Mình phải xác định vị trí của một người tu hành, có nổi tiếng gì cũng không quan tâm, đến đây chỉ có chánh pháp thôi, anh đang phiền não, anh đang khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não nên đến đây để được chỉ cho phương pháp diệt khổ, muốn thì đến, còn muốn danh lợi, hơn thua thì đi tìm chỗ khác. Đừng vì hình dáng bên ngoài, đừng vì cái giàu nghèo đó mà tâm mình cong quẹo, không ngay thẳng, tuy nhiên nhân quả phước đức của mỗi người khác nhau chứ không phải ai đến cũng có ly trà. Cha mẹ mình đến thì mình chỉ đem ly trà ra hay sao? Cho nên nhân quả bình đẳng là đối với cái công, cái ơn, cái nghĩa, với tình, người ta tình nghĩa đóng góp cho chùa từ khi chùa chưa có gì cho đến bây giờ thành tựu tam bảo thì phải khác với khách vãng lai thập phương vào thăm nhưng mình đừng vì cái giàu nghèo, hình thức bên ngoài là tâm mình khác, hãy nhìn tất cả chúng sanh đều bị dục, ái, tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não bằng một tâm tình thương, từ bi rộng lớn bình đẳng, tuy nhiên trong bình đẳng có sai biệt vì những người đóng góp, nghĩa tình ân đức thì phải có sự tiếp đón tương xứng với công lao ân nghĩa, công đức của họ.
Nếu không hiểu sẽ thấy sao người này đến thì nhiệt thành lo lắng, còn người kia thì sơ sài, cái đó chỉ có người trong cuộc mới biết, bên ngoài nhìn vào chỉ biết phần nào thôi, mình lo cho mình chứ đừng nhìn người khác, không nhìn lỗi người, khéo hộ trì căn, nhận diện ngũ uẩn, khéo quán xét mình. Ngay đó mình quay trở lại nhìn tâm có bị như vậy không, "cười người hôm trước, hôm sau người cười", hãy cẩn thận vì nếu không mình sẽ đi theo lối đó. Khi nhìn thấy lỗi của ai thì lập tức phải quay trở lại xem mình có vậy hay không, nếu mình có thì phải sửa chỉnh, nếu chưa có thì phải đề phòng, canh chừng, dặn dò mình phải cẩn thận, chánh niệm. Khi Thế Tôn thuyết pháp, những điều gì quan trọng là ngài thường lặp tới lặp lui để người nghe sanh khởi cảm thọ nhớ luôn không quên cho nên tạng kinh Nikāya mới tồn tại đến bây giờ. Những vấn đề gì quan trọng ngài thường lặp lại ít nhất ba lần, chúng ta cũng phải như vậy, nói từ đâu đến đuôi quá nhiều mà không có điểm nhấn, không có điểm quan trọng, nổi bật để người nghe nhớ được mình nói cái gì.
Vấn đề thứ hai là không biết tại sao người ta giận mình, tôi làm gì mà giận tôi, tôi làm gì không vừa lòng, tôi làm gì mà khó chịu với tôi? Coi chừng mình không có chánh niệm tỉnh giác, có khi vô tình, khi mình còn nhiều không thấy không biết, mình còn dày đặc vô minh nhưng cứ cho là thông minh.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Mình phải biết rằng mình còn vô minh thì lúc đó bắt đầu minh trí bắt đầu sanh khởi, mình phải thấy được cái vô minh của mình thì lúc đó minh bắt đầu sanh, các pháp do duyên sanh cho nên không bao giờ tự nhiên nó sanh ra sân si, phải có nhân có duyên chứ không có tự nhiên. Tại sao người đó khó chịu, tại sao người đó không chấp nhận, tại sao người đó không muốn nhìn mặt mình, thấy là đi đường khác? Mình phải thưa hỏi người đó chứ đừng tự suy diễn, hãy gặp trực tiếp "thưa sư tỉ/sư muội, không biết em có lỗi gì không? Nếu có thì chị chỉ giùm cho em tại em không biết, tại sao em thấy chị không vui với em", người đó nói ra thì mình mới biết. Khi có một thầy Tỳ-khoe nói lỗi của thầy Tỳ-kheo khác thì Đức Thế Tôn không bao giờ nghe một chiều, Thế Tôn sẽ mời vị Tỳ-kheo đó lên:
Có người nói ông như vầy, sự việc có phải như vậy hay không?
Bạch Thế Tôn, có.
Sau đó Thế Tôn mới dạy pháp, đây là điều chúng ta cần phải học tập, tất cả mọi thứ đều phải hỏi trực tiếp chứ không được suy diễn vì cái suy tư, suy tưởng, cảm tính đều sai trật. Mình tu là tu với hiện thực, sự thật ngay trong hiện tại, muốn vậy phải gặp người kia, nếu nghiêm trọng thì đắp y đảnh lễ, phải diệt bản ngã của mình. Mình muốn hòa giải, muốn tháo gỡ nội kết, muốn hòa kính thì phải dập bản ngã mình xuống thì người kia sẽ tha thứ, muốn được vậy cần phải sám hối diệt ngã mỗi ngày. Mình phải gặp trực tiếp họ để hỏi "Không biết con có lỗi lầm gì không, xin cô chỉ cho con, có khi con không có chánh niệm, con không để ý hay vô tình nên con làm lỗi nên cô chỉ lỗi cho con", lễ tự tứ không phải đợi đến an cư kiết hạ làm cho có hình thức, máy móc mà cần phải làm thường xuyên trong chúng, khi có chuyện gì lấy cái pháp đó ra tự tứ. Đức Phật truyền cho mình những nghệ thuật sống hạnh phúc, hòa hợp, cung kính, thương yêu nhưng mình lại không dùng vì bản ngã "tôi vầy mà phải quỳ xuống hả", "tôi là Ni sư, là đại đức mà phải quỳ xuống hả". Tất cả là do bản ngã ác độc làm mình không tu được, chính bản ngã làm cho thầy trò không hiểu nhau, huynh đệ tan rã hoặc tập thể bị bất hòa, tất cả do bản ngã thâm sâu bên trong con người mình làm cho mình không hạ thấp, không lắng nghe, không cung kính, không thấu hiểu, cảm thông, tha thứ, yêu thương cho nên hằng ngày phải lạy sám hối diệt ngã, nó là con rắn độc, nó là kẻ thù muôn đời ngàn kiếp của chúng sanh.
Đừng nghĩ người kia làm tôi khổ, người nọ kiếm chuyện với tôi, mà do bản ngã, một khi mình diệt được bản ngã thì cái tu của mình ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, dào dạt một tình thương. Sau đó tu tâm từ rất an lạc, sung sướng cho nên đạo tràng Nikāya của chúng con là chuyên tu diệt bản ngã, trong chúng một người có lỗi ngay cả người xuất gia cũng quỳ xuống trước cư sĩ để xin lỗi, nếu người xuất gia tự thấy mình có bản ngã với người cư sĩ thì quỳ xuống lạy sám hối trước cư sĩ và đương nhiên người kia cũng sụp xuống lạy lại, người cư sĩ kia bị sự đánh đổ bản ngã của người tu nên nhìn lại xấu hổ, nhục nhã, vì thế họ càng cung kính người tu hơn, đây là pháp thực hành hằng ngày của đạo tràng Nikāya.
Điều đặc biệt trong đạo tràng Nikāya là ai thấy mình có bản ngã thì tự ra sám hối vì có bản ngã là có tội dù cho là người tu nhưng có bản ngã là sai, có khi không cần chỉ mà tự người đó ý thức được, cái đó mới gọi là tự tứ. Tự mình bày tỏ, tự mình phát lộ những cái tâm bất chánh, nhiều khi không cần là suy nghĩ, hành động mà chỉ có ý thôi là cũng sám hối "con có ý nghĩ như vậy, con thấy cái này xấu, con có khởi bản ngã nên con xin lạy sám hối", đương nhiên người cư sĩ kia cũng hốt hoảng quỳ xuống lạy lại "con mới thấy con có lỗi", thế là hai bên lạy khóc với nhau, giải tỏa cảm thọ ngay lập tức, bứng tận gốc rễ nên rất ngọt ngào, dễ thương. Nếu không thì cảm thọ cứ để trong người, vài ngày thấy nhau thì cảm thọ ghét lại chồng lên thêm, lâu ngày thành nội kết, thắt gút bên trong nên rất nguy hiểm, tới một lúc sẽ bung ra lời nói, hành động nên hư chuyện hết vì thế mọi chuyện phải giải quyết trong cảm thọ, muốn như vậy thì hai pháp cực kì quan trọng trong đạo tràng Nikāya là diệt ngã và tu tâm hiền, ít nhất phải tu hai cái này 8 tháng, sau đó phải tu ba năm, phải trình pháp thường xuyên để xem bản ngã hoạt động thế nào, tâm hiền tu như thế nào, thiền quán tâm hiền mỗi ngày trong suốt 8 tháng. Trước nay chúng ta thường nghe tâm từ chứ ít nghe tâm hiền nhưng nếu không tu tâm hiền thì không thể tu tâm từ được, tâm hiền là nền tảng tiền phương tiện của tâm từ.
Tâm hiền sẽ giúp cho chúng ta lắng dịu xuống, khi xê dịch bàn ghế không ồn ào, đóng cửa nhẹ nhàng, bưng tô chén có sự an tịnh, lắng dịu, có khi chuyện đó đúng ra khó chịu nhưng mình phải cố gắng nhiếp phục cảm thọ, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, phải tu tâm hiền xuyên suốt 8 tháng như vậy. Con có trình bày 9 buổi về tầm quan trọng của tâm hiền trí, trong đó con giải thích bài kinh "Sau khi an cư" về 9 pháp an trú tâm của bậc tướng quân chánh pháp, chí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất, 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất là cách tu tập tâm hiền trí. Hiền ở đây không phải là hiền ngu mà là hiền trí, hiền ngu là thấy hiền nhưng không biết gì cả, ngơ ngơ ngáo ngáo, khờ khạo, còn hiền trí là mình thấy mình biết nên mình chủ động làm cho tâm mình lắng dịu, hiền hòa, hiền lành, hiền đức, hiền lương để đi theo các bậc hiền Thánh.
Khi tu tập tâm hiền sẽ làm thay đổi hoàn toàn con người mình, khi tâm hiền đã có thì chúng ta bước vào tâm từ giống như mở cửa bước vào không có chìa khóa, còn không có tâm hiền mà muốn tu tâm từ sẽ rất khó vì trong người mình còn những cảm thọ sân hận, bản ngã mà kêu thương người kia sẽ rất khó, họ kiếm chuyện, gây sự với mình thì làm sao thương nổi. Mình tu tâm hiền lành, hiền dịu, hiền hòa, hiền đức thì đi đến chỗ hiền trí, từ cái hiền này bước qua cái từ mới có kết quả. Tu tâm hiền hay ở chỗ sắc diện của người đó cũng hiền, âm thanh cũng hiền, cử chỉ, hành động cũng hiền, khi tiếp xúc cũng cảm nhận được cảm thọ ngọt ngào thì cái này đã thành tựu phần nào trong tâm hiền, còn có những người mới nhìn mặt đã thấy hung hăng, hung bạo, hung tàn cho nên tu tâm hiền và diệt bản ngã là cánh cửa để đi vào đạo tràng Nikāya cũng là cánh cửa để Nhập Lưu đi vào dòng trí huệ của Đức Phật.
Ngoài ra còn thêm một khía cạnh nữa là oan gia trái chủ của mình, mình không làm gì mà người ta cũng khó chịu, tự động gặp nhau là thấy ghét, mình đi, mình nói, mình làm cái gì người ta cũng thấy ghét và mình gặp người ta cũng giống vậy hoặc là lâu lâu gặp một người là thấy thương, người ta chưa làm gì cả, chưa nói gì cả nhưng chỉ nhìn mặt đã thấy thương, đó chính là oan gia. Mình phải ý thức được quả dị thục của nghiệp và phải cẩn thận, nếu không sẽ rất nguy hiểm, một là tham ái nặng nề và hai là sân hận khủng khiếp.
Thương hữu tình lệ thuộc,
Bị các nghiệp buộc ràng,
Mang các thân tạm bợ,
Vừa trả nợ, vừa vay.
Đó là mình trả nợ cũ chưa hết vậy mà còn vay thêm nợ mới vì người đó là chủ nợ của mình, người ta tới với chủ đích là đòi nợ mình, bây giờ mình không biết người đó là chủ nợ, người ta nhớ nợ thì người ta tới đòi còn mình không nhớ mình là con nợ rồi lại vay thêm nợ mới, nợ chồng chất lên vậy là sanh tử luân hồi, oan oan tương báo đầy nước mắt và khổ đau. Chúng ta phải cực kì cẩn thận vì oan gia trái chủ rất khủng khiếp, mình giúp đỡ họ mà họ quay lại đòi chém mình, đòi đốt chùa thì mình biết cái này không phải bình thường nên phải trải tâm từ để hóa giải, cần phải rất chánh niệm và tỉnh giác, bên cạnh đó cần quán chiếu nhân quả, quán chiếu nghiệp báo để trải tâm từ bao phủ lấy họ thì mới hóa giải được oan gia khủng khiếp này, đây là công phu tu tập rất lớn chứ không phải vừa.
Oan gia có hai hạng, một là dục ái của đời trước, hai là sân hận, hận thù của quá khứ, chính là yêu và hận, thương và ghét. Có nhiều vị Ni sư lớn tâm sự trong nước mắt như một bộ phim nhiều tập đau khổ, đi tu với nhau mà oan trái, hành hạ nhau khủng khiếp, những cái này mà mình không biết là chết dài dài vì nợ cũ chưa trả xong lại chồng thêm nợ mới. Nếu mình vô minh, không thấy không biết là mình cứ oán người, trách đời, hận trời, thật sự không oán ai cả, quay lại mình nhận diện là biết hết, chìa khóa tháo mở nằm ngay ở nơi mình thì mới giải quyết được, nếu không thì hận thù chồng chất không có ngày kết thúc.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.