Tinh Hoa Nikāya - Phóng Dật Và Địa Ngục
Tinh Hoa Nikāya
Phóng Dật Và Địa Ngục
Thích Minh Thành
Ngày 29 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tàm quý – Chánh niệm PAGEREF _Toc122353858 \h 1
II. Hộ trì căn PAGEREF _Toc122353859 \h 5
III. Trình pháp PAGEREF _Toc122353860 \h 13
IV. Tâm từ PAGEREF _Toc122353861 \h 22
I. Tàm quý – Chánh niệm
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí. Từ hôm qua tới giờ, trong chúng ta có chiêm nghiệm về phóng dật và địa ngục không ạ? Đó là hai đề mục quán chiếu. Phóng dật đi kèm theo là địa ngục, hai cái pháp đó là tương ứng với nhau. Chúng ta nhìn ngoài thế gian chúng ta thấy, nói qua nói lại là có thể cự cải, đấu đá, giết hại và sau đó là vô tù hoặc là thảm sát. Đó là phóng dật đi chung với địa ngục đó. Chúng ta nhìn thấy người ta chạy xe ẩu tả, không có cẩn thận, và cuối cùng gây ra tai nạn giao thông, gãy chân, bể đầu, què giò, hoạt nát nhừ. Và người tài xế kia phải chịu một cái án tù 18 năm, 20 năm, thậm chí là chung thân, tử hình. Đèn xanh, đèn đỏ người ta đang dừng đèn đỏ mà tung như vậy, càng quét mấy chục người, chết với bị thương. Vậy có phải buông lung phóng dật là dẫn đến địa ngục không?
Vừa đi vừa cười, vừa đi vừa chạy, vừa đi vừa nhảy, vừa đi vừa nói, trượt chân, đập đầu xuống nằm một chỗ 25 năm. Có phải buông lung phóng dật là tai họa, là khổ đau, là chết chóc, là bệnh tật không? Muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn ăn là ăn, muốn đi là đi, thì đưa đến tai họa, đưa đến ách nạn, đưa đến khổ đau. Cho nên học phóng dật đi chung với nó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Anh em nói qua nói lại với nhau một hồi là đâm chết, anh em ruột đó, ngay ngày giỗ của cha, trước bàn thờ. Sự phóng dật, buông lung này làm cho huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu đổ. Vì không có cẩn thận, vì không lo sợ, vì không thâu nhiếp, thì bất cứ một cái gì cũng có thể xảy ra.
Ở trong tâm của một người buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, từ cái chuyện nhỏ rồi sẽ đi đến cái chuyện vừa, từ cái chuyện vừa rồi sẽ đưa đến chuyện lớn, chắc chắn là như vậy, sự kiện đó có thể xảy ra. Cho nên mình phải khiếp sợ, hãi sợ, kinh sợ với buông lung phóng dật này, đó là kẻ thù của người tu. Khi nó xuất hiện mình phải khiếp sợ, mình phải gớm ghiếc, ghê sợ, lo lắng, sợ hãi cái buông lung phóng dật trong con người, trong cảm thọ, trong suy nghĩ của mình. “Lễ Nghiêm lên đây ngồi nè. Tấn Hòa, Tấn Khiêm nữa”. Phải tập cho mình nhận diện cái pháp ác này, còn nếu mình không nhận diện thì sẽ đẩy mình xuống địa ngục bất cứ lúc nào. Cái pháp này nó nguy hiểm lắm, nó tràn ngập khắp thế gian này.
Người chân tu khổ tâm lắm, chỉ có người không có chân tu thì người ta mới vui sướng, người ta mới hỉ hả. Người chân tu lúc nào cũng lo sợ hết, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén, trượt chân xuống một cái là lọt xuống liền ngay lập tức. Điếc thì không có sợ súng, mù thì không có thấy vực thẳm ngay trước mắt. Người mù thì vực thẳm ngay trước mặt họ cứ sấn tới, họ lọt xuống. Người điếc thì súng đạn kế bên, chiến tranh đang xảy ra họ cứ sấn tới. Còn người có mắt, có tai thì người ta sợ, cho nên là người chân tu khổ tâm lắm. Cái gì người đó cũng lo lắng, cũng cẩn thận hết. Cái gì cái bậc chân nhân, chân tu cũng e dè hết. Chúng ta đã học rồi mà “trước mặt là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, sau lưng là gai”, chúng ta còn nhớ không? Hay học xong rồi là bỏ đó thôi?
Nếu mà chúng ta thấy được như vậy, thì làm sao chúng ta dám buông lung phóng dật, phải lo lắng rất là nhiều. Nhiều khi mình cũng lo, nhưng mà lo một lúc nào đó rồi buông ra, rồi mình không lo nữa. Cái nhớ nó không có thường trực, đa phần là quên nhiều hơn nhớ. “Mẹ của Pháp Lực về chưa? Chú có thương mẹ chú không?” Phải lấy hình ảnh đó làm đề tài quán chiếu suốt cuộc đời tu, tu phải biết thương cha mẹ mình. Thật sự là phải lo lắng nhiều lắm, không thể nào mà sống vất vơ vất vưởng, sống vô cảm đối với các Thánh pháp như vậy. Nghe thì nghe, học thì học, buông ra rồi thì mèo cũng hoàn mèo, chuột cũng hoàn chuột. Trong thiền đường thì còn trang nghiêm một chút, nhưng nhiều khi buông ra rồi là thành một người khác.
Chứ đừng nói chi mà gặp cái chuyện đến, gặp tai nạn đến, thì không còn nhớ mình là người tu nữa. Thật là lo lắng vô cùng, địa ngục ở trước mặt, bên phải, bên trái, sau lưng. Một ý niệm thôi cũng đủ sức để chúng ta xuống địa ngục, một cảm giác cũng đủ sức đưa chúng ta vào súc sanh. Người chân tu là thường thường trong trạng thái canh chừng và đề phòng thân tâm của mình, lúc nào cũng vậy hết. Cho nên sẵn dịp này, chúng ta học các bài kinh về địa ngục. Đức Phật định nghĩa như vầy: “Không phóng dật thường không sân, Chánh niệm, nội tâm khéo định tĩnh, tham nhiếp phục, học tập, được gọi không phóng dật”, trong bài kinh Phóng Dật. Những pháp này phải rèn luyện, công phu rất là nhiều mới đạt được chứ đâu phải đơn giản.
Mà thường không sân, Chánh niệm, nội tâm khéo định tĩnh, nhiếp phục tham và lo học tập (học và tập tức là pháp học, pháp hành đó), được gọi là không phóng dật. “Ta không thấy một pháp nào khác có thể đưa đến bất lợi lớn như là phóng dật. Này các Tỳ-kheo, buông lung phóng dật đưa đến bất lợi lớn”. Cho nên cái này nó sâu sắc lắm, phải nhận việc ngũ uẩn thôi. Kể cả người đọc kinh Trùng Tiên Pháp Bảo mỗi buổi sáng, đọc có Chánh niệm là cái giọng nó khác, cung kính là cái giọng nó khác, nghe là biết à. Nó vi tế tới vậy, nghe cái tiếng nó biết cái tâm cung kính ở mức độ nào. Mình đọc lẹ lẹ, gấp gáp, nhanh nhanh, lộn xộn, nhảy chữ, đọc cho lẹ, đọc cho nhanh. Đánh cái tiếng chuông mình cũng biết nữa, hôm trước con có nhắc mấy chú mới xuất gia đó, cái này nhắc rất là nhiều.
Khi mà chúng con kính lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì đánh tiếng chuông xuống, để người ta lạy, người ta quán tưởng, người ta ngấm cái cảm thọ của câu pháp đó. Chưa gì trơn, mới chấm xuống, là đánh chuông quý khánh cái “boong”. Mà nhắc rồi, đứng ngay tại chỗ trong chúng nói luôn, nhắc rồi cũng đánh tiếp tục như vậy nữa, thấy không? Mà đó là con đứng ngoài sau con nhắc luôn, mà vẫn đánh. Thì nếu không có con thì không biết làm sao, đó là cái tâm buông lung phóng dật. Thành ra cái tâm buông lung phóng dật này không phải chỉ có giết người, đốt nhà, không phải chỉ những lỗi lớn đâu, mà nó nhỏ nhiệm như vậy. Tự thân của mình không có Chánh niệm, cho nên mình không có dẫn chúng cho người ta Chánh niệm được.
Khi mà “chúng con kính lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”, thì cái chữ Ni đó mình đánh tiếng chuông. Mà tiếng chuông đó không được đánh quá lớn, không được đánh quá nhỏ, đánh vừa phải. Cho nên cái này mà con chỉ chúng ta học, thì thật sự không biết mấy người học được. Thì khi mà lạy xuống như vậy, ít nhất tiếng chuông đó phải ngân lâu hơn nữa, tức là hơn 3/4 tiếng chuông đó. Chứ không phải để nằm quá lâu, mà cũng không phải nhanh mà xuống rồi đánh lên liền. Mà đủ để cho người đó, họ thọ được cái pháp của câu kinh mới đọc. Nó ngấm vô chưa có kịp thì mình đã đánh cái “boong” như vậy. Bởi vì cầm là pháp khí, là nhân thiên hiệu lệnh, không phải muốn đánh sao thì đánh. Mà khi mình đánh, ở trong cái pháp khí đó nó thể hiện cái bản ngã mình ở trong, nó ghê gớm như vậy đó.
Mình đánh pháp khí đó mà không có Chánh niệm, cái bản ngã của mình nó chình ình ở trong tiếng chuông quý khánh mình đánh đó. Cái này là những cái pháp sâu sắc, cho nên khi lạy chạm đầu xuống rồi, để cho cảm thọ nó ngấm vô những lời kinh mới vừa đọc. Cái này phải có một buổi học riêng, còn trong khi mình đọc mình phải đọc bằng thiền quán. Cho nên có những vị đọc bài, đọc kinh rất là tốt. Mình đọc như vậy thì mình thọ pháp, người nghe họ được thọ pháp, họ nhận được pháp. Còn có những người tuy là thuộc nhiều, dài, nhưng mà đọc nhanh nhanh, mau mau, lẹ lẹ cho hết chữ, đọc giống như là chạy vậy đó. Mình không cần đọc nhiều, không cần đọc dài, mà đọc phải có cái thần, phải có trái tim, phải có máu, phải có cái hồn trong câu câu kinh đó.
Vì đọc như vậy là mình lợi, người nghe cũng được lợi ích. Đọc cho nó dài, đọc cho nó lẹ, mình sợ nó dài quá mình đọc không kịp, người ta chờ lâu. Mà mình tham lam đọc muốn hết 1/4, 1/5 của buổi tụng Pháp Bảo rồi. Nó nhiều cái pháp trong đó lắm, thành ra chúng ta khi mà đi vào trong nhận diện ngũ uẩn nó vi tế lắm. Mình tham, mình muốn thể hiện, mình đọc cho nó dài. Rồi sau đó mình sợ là người ta chờ lâu, mình phải đọc cho nó nhanh, cái dục, cái tôi ở trong đó. Còn có người lại đọc quá ngắn, thành ra đọc quá ngắn hay quá dài cũng trật luôn, mình đọc vừa phải. Còn nếu như phải chọn thì thà đọc ngắn mà nó trong chân thành, ngọt ngào, bằng trái tim, bằng máu, bằng cả tấm lòng, sự cung kính Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng.
Đến lạy Phật, mà khi mình xá nó có Chánh niệm hay không, có buông lung phóng dật hay không, là nhìn vô cũng biết nữa. Gặp xá lia lịa hết, đó là cái sự buông lung phóng dật đó. Một cái pháp nhỏ nhiệm mà không thành tựu, thì làm sao thành tựu được pháp lớn. Cái tiểu hạnh nó mới thành cái đại đức, cái hạnh nhỏ nó tích lũy từ từ thì nó thành cái đức lớn. Mình không có chịu cái hạnh nhỏ, mình nói: “Cái này mà tu cái gì, kỹ quá, khó khăn quá, nhỏ nhặt, nhỏ nhiệm quá. Tôi là đại trượng phu mà, tôi là đàn ông tôi phải làm cái gì lớn”, mình đánh lộn hả? (Cười). Mình thấy hội chúng của Đức Phật, bất cứ người nào tới quỳ xuống lạy Đức Phật, lấy cái đầu đặt dưới chân Ngài.
Tất cả những người đó toàn là vương tử, toàn là hoàng thất, đại gia, hào phú Bà-la-môn chứ đâu phải mấy người ăn mày, mấy người thất học không đâu. Tất cả đều phải được học từ những cái pháp, về tụng 1.000 lần bài kinh “Xóm Ngựa”, kinh “Pháp Tác Thành Sa-Môn”, thứ tự, trật tự tu học người xuất gia. Phải đưa mình vào trong phép tắc, oai nghi, nề nếp của một người tu. Không có thể tự cho mình ở trong chùa lâu năm, mà lăn xăn phóng dật thua người đời tri thức nữa. Cái dáng vẻ của mình, mình không có chấp nhận như vậy, mình phải diệt tận nó.
II. Hộ trì căn
Kinh “Sống Phóng Dật”, trong Tương Ưng Bộ tập 4.
“Nhân duyên ở Sàvatthi...
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn...
Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn...
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – kinh Sống Phóng Dật)
Trong bài kinh chữ “khổ” này không phải dễ hiểu, năm triền cái nó là khổ. Không có năm triền cái thì tâm nó an trú, nó khinh an, nó định tĩnh, nó Chánh niệm. Còn người bị năm triền cái thì cái tâm bị ô nhiễm, tác thành không mắt, tác thành si ám, mù lòa, trí huệ bị yếu ớt. Vì cái tâm ô nhiễm như vậy, cái tâm nó lăn xăng, khổ an trú. Chính vì khổ an trú, cho nên người này dễ giận, dễ buồn, dễ sân, dễ tự ái không? Có tâm khinh an là làm cho người này khó bị dao động, còn một cái tâm bất an, tâm ô nhiễm, tâm có năm triền cái bao phủ, thì chỉ vừa chạm tới một cái là người này trừng trộ lên liền. Đó là cái tâm của người khổ đau, chứ không phải hạnh phúc. Tâm của người hạnh phúc là không có dễ gì làm cho người này bị sân si, phiền não. Thành ra cái chữ “khổ” ở đây là không phải dễ hiểu đâu.
“Người không có giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cho nên người này khi mắt thấy sắc. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, nhìn lại bên trong thì nó bị ô nhiễm”. Khi mà bị ô nhiễm rồi thì tâm không có hân hoan, tâm nó buồn buồn, chán chán, ở một mình không có vui, ở yên không được. Nó phải tìm cái này cái nọ cái kia, kiếm người nói chuyện, kiếm chuyện gì làm, bày ra cái này cái nọ. Bởi vì cái tâm này nó bị ô nhiễm, nó không có hân hoan với sự độc cư, nó không có thấy vui với sự tĩnh lặng. Mà nó thấy vui với sự dao động, với sự hướng ngoại với các đối tượng. Tại vì cái tâm ô nhiễm như vậy, không có hân hoan như vậy, cho nên không có hỷ ở trong thiền, không có hỷ trong pháp. Không có hỷ cho nên nó không có được nhẹ nhàng, khinh an, chính như vậy mà khổ nó an trú. Với một người đau khổ như vậy, tâm không có thể định tĩnh. Chúng ta thấy Đức Phật dùng chữ này rất là xót xa cho những người đau khổ.
Người đau khổ là người trong tâm mình cứ xâm chiếm bởi năm triền cái. Chúng ta đã nhìn thấy con chó nó chạy lăn xăn, lính quýnh như vậy đó, chúng ta thấy nó đang rất là mệt, rồi một hồi nó nằm xuống nó thở khì khì. Thì người mà lăn xăn, trạo cử, phóng dật thì cũng giống như vậy đó, Lúc nào cũng lính quýnh, lúc nào cũng lăn xăn, tất bật, lúc nào cũng giống như là bận rộn vậy đó. Đó là người khổ đau, không phải người hạnh phúc ở trong đạo. Có cái gì mà mình lăn xăn vậy? Có gì mình bận rộn vậy? Có gì mình phải lính quýnh như vậy? Cái gì đang ở trong người mình? Cái gì nó đang ở trong đó điều khiển đó có nhìn ra cái đó không? “Chính vì mình khổ như vậy đó, tâm không thể định tĩnh. Do tâm không thể định tĩnh, các pháp không thể hiển lộ.”
Vì người này không nhìn thấy tự thân, nội tâm của mình, nó đâu có hiển lộ đâu mà thấy. “Do các pháp không hiển lộ, nên người ấy được gọi là người an trú phóng dật”. Người này không nhìn thấy năm triền cái trong thân tâm, tự thân của mình. Chúng ta thấy sự tu hành nó sâu sắc, vi tế, nhỏ nhiệm, và các pháp không có hiển lộ vì tâm không có định tĩnh. Cho nên đại kỵ ở trong nhà thiền là một thân lăn xăn, dao động, đó là đại kỵ, cấm kỵ, kẻ thù. Rồi một thái cực thứ hai là lúc nào cũng rề rề hết, lúc nào cần nhanh cũng không nhanh được, thì cũng là một cái bệnh đó. Lúc nào cũng rề rề, lúc cần công chuyện gấp cũng rề rề luôn. Đi giống như là lê cái thân đi không nổi mặc dù chuyện gấp, thì cũng là bệnh nữa.
“Sao mà Pháp Cần cười quá vậy, có trúng bệnh không?” Đó là hai trạng thái, hai cái thái cực. Người mà tu đúng Chánh pháp, khéo sử dụng, thì khi định là khi trời rầm, địa chấn, động đất thì tâm cũng yên, cũng an tịnh. Ở nhà thiền người ta dung: “Khi dùng thì muôn cảnh toàn bày, buông đi thì mảy bụi chẳng lập”. Khi cần nhanh không ai nhìn lại hết, cái độ sắc bén đó, khi cần yên tĩnh rồi đất thì trời sụp đổ tâm cũng bất động. Mà có những cái hiểu làm khổ lắm, cái tà kiến này nó khổ lắm. Cứ hỏi tới cái gì cũng “không biết, không biết”, mà cho cái không biết nó là hay, nó ngáo như vậy đó. Không phải không biết như vậy là hay, không phải tu thì cái gì cũng không biết hay cái gì cũng biết hết. Mình biết cái cần biết, đừng có biết cái không cần biết.
Như giờ người ta hỏi: “Nghe nói là Ni cô này sân si lắm phải không?” Thì trả lời: “Dạ tôi không biết, cô lại có hỏi người khác, tôi lo biết cái sân si của tôi thôi”, thì cái đó là mình không biết. Hay người ta hỏi: “Ờ, hình như là chuẩn bị có cái khóa tu gì đó phải không?” Thì trả lời: “Đúng rồi, ngày đó, tháng đó đó, cô về cô tu tốt lắm”. Chứ đừng có trả lời: “Tôi không biết, không phải của tôi nên không biết, hỏi mấy người có trách nhiệm đó, có tu hay không tôi không biết”. Mà khổ cái như vậy đó, hễ nó nắm là nó nắm hết, mà bỏ là nó bỏ hết, cái tâm vậy đó. Người ta đưa cục đá, cục đất, cục sình cho mình thì mình bỏ, mà đưa cục vàng mình có nắm không ạ? Có tùy cái, trong lúc mình đang tu tập, thì mình vẫn cần phải phân biệt được. Như con nói đó, lâu lắm mới kêu ra làm cỏ dùm, ra coi như là cắt bông hết sạch, phát sạch hết.
Vậy đó, nói là làm y như vậy đó. Tu làm sao, học làm sao thì làm việc y chang như vậy à. Thành ra là tâm không định tĩnh thì các pháp không có hiện hữu, không có hiển lộ, cho nên mình không biết cái chuyện đó làm như thế nào. Và thêm một cái nữa là không thèm hỏi, không biết mà không hỏi, cái đó mới độc đó chứ. Mình tự ý, không biết cái nào là quan trọng cái nào là thứ yếu, cái nào là nặng cái nào là nhẹ, cái nào là việc lớn việc nhỏ không biết hết, nhưng mà thích chủ trương, thích toàn quyền. Cho nên Ấn Hoà lúc mới lên chùa đó, gặp ai cũng dạy hết, gặp ai cũng chỉ hết phải không? Lúc mà mới lên đó. “Tôi thương người ta lắm, cái này tôi thương, tôi từ bi mà”, ai cũng chỉ hết rồi xong phiền não, tối ngủ không được, chỉ người ta mà người ta xạc trở lại.
Như vậy đó là mình làm thiện pháp trong vô minh, chỉ đưa đến khổ đau. Mình nghĩ đó là tốt, nhưng người ta đâu có cần, “tôi đâu có cần cô chỉ tôi, cô là ai mà cô chỉ tôi, sư phụ chỉ tôi còn chưa được nữa, chứ đừng nói mà cô chỉ tôi”. Thấy chưa? Nó vậy đó. Cho nên cái tâm mình không định tĩnh, không thấy đúng thì mình làm trật lất hết trơn. Mà mình làm là mình nghĩ là tốt, nhưng mà nó lại là xấu, vì các pháp không có hiển lộ. Tại vì lúc đó mình không biết cái gì nó đang chỉ, cái tôi đó thể hiện hơn, “anh đừng chỉ, tôi ở đây nè. Anh mới lên biết cái gì mà đòi tôi chỉ tôi”. Vì các pháp đó không có hiển lộ, mình đâu có thấy cái bản ngã đó đâu. Cho nên là cái pháp phóng dật này nó khủng khiếp, nó từ thô đến tế. Tất cả sự tu của mình lấy ba chữ “không phóng dật” làm thành tựu.
Niệm ba chữ đó hoài: “Không phóng dật, không phóng dật, hộ trì”. Niệm hoài như hồi xưa mình niệm Phật vậy đó. Niệm hoài: “Nhớ nha, giữ gìn nha, hộ trì nha, phải nhớ nha”, niệm hoài chừng nào nó nhớ thì thôi. Cho nên mỗi người có một tập khí, nó huân tập tính tình, thói quen. Có người từ khi sanh ra đã trầm tĩnh, có người từ sanh ra đã hiếu động, dao động. Mà bây giờ muốn chiến đấu với tập khí này, nó trần ai khoai củ chứ không phải chuyện dễ. Phải là cả một sự gọi là nội chiến, quyết chiến, cả một sự tranh sáng, tranh tối, cả một sự chiến thắng chính mình. Cho nên Đức Phật mới nói: “Dù tại bãi chiến trường thắng hàng ngàn quân địch, cũng không bằng tự chiến thắng được mình. Chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”
Tất cả toàn là chiến thắng mình không, mà mình không thể chiến thắng mình thì thôi, mình đầu hàng với tập khí đó luôn, suốt đời mình như vậy luôn. Cứ leo lên ngồi nghe pháp là bắt đầu ngủ, leo lên ngồi thiền là ngủ, cái nghiệp nó như vậy, cứ leo lên ngồi là ngủ. Mà những cái đó là toàn buông lung phóng dật không à. Cái tâm mình cũng vậy nữa, tại sao mình hay quên cái pháp? Mình học rồi mình quên hết à. Tại vì lúc đó mình buông lung cái ý thức, ý căn của mình. Mình không có để ý, mình không có ghi nhận, không có thọ nhận, không có cẩn thận trong sự thpj trì pháp nên mình quên. Cái buông lung ở trong mình không có để tâm, thì cái pháp qua rồi nó như gió thoảng, từ lỗ tai ở bên đây bây qua qua bên kia mất tiêu. Buông lung mắt, tai, mũi lưỡi thân ý, buông lung sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Buông lung xong rồi gặp Diêm Vương.
Như cái ông hồi hôm đó, bởi vì cái thời gian hết với lại cái nhóm đó mới, nên đánh bao nhiêu là thấm thía rồi, chứ đánh nữa là văng luôn. Chứ cái bài đó là mạnh lắm, cái bài đó là phải bầm dập hết trơn, đập cho nó phải bầm dập hết. Địa ngục như vậy là cho chúng ta thiền quán, vô cảnh địa ngục như vậy mà còn chưa thức tỉnh nữa. Câu tuyệt vời là ông Diêm Vương ổng phát nguyện. “Diêm Vương là một thời xưa lắm ông suy nghĩ là Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác. Như vậy mong rằng ta được làm người, được bậc Như Lai, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta và ta có thể thông hiểu pháp mà Thế Tôn thuyết giảng”. Diêm Vương mà mong chờ được lúc mà Đức Phật ra đời, được đi theo hầu, được nghe pháp.
Cho nên là mình lấy không buông lung phóng dật, này làm đề mục mình tu, đó là một cái Thánh pháp, một cái thiện pháp. Đừng có để mất pháp trong con người mình, dù cho chuyện gì có thể xảy ra đừng cho để pháp biến mất. Mình không thương mình, cho nên mình mới bỏ pháp, mình mới rời pháp, mình mới xa pháp. Nếu mình thương mình, mình không có xa pháp. Làm sao để pháp lúc nào cũng sống trong con người mình. Không phải ở trên pháp đường, thì lúc đó mới có pháp. Ngay cả trong những lúc dầu sôi lửa bỏng, trong những lúc bận rộn làm việc, pháp phải hiện hữu trong ta. Mình cứ niệm: “Trong ta có pháp, pháp đang ở trong ta. Ta đang hiện hữu trong pháp, pháp đang hiện hữu trong ta”.
Mình nhắc hoài như vậy, mình coi cả một đời sống này không có việc gì quan trọng bằng việc mình nắm giữ được pháp hết. Tất cả những cái khác mình có thể bỏ bất cứ lúc nào, mình coi không có cái gì quan trọng bằng pháp, đó mới gọi là quy y pháp tối thượng. Mình ngã ra chết ngay chỗ này cũng được, không có gì phải hối hận, chỉ hối tiếc có hối tiếc là chưa thành tựu pháp. Mình có nhìn thấy một cái gì quan trọng hơn pháp, là mình chưa có tịnh tính đối với pháp. Mình còn thấy một cái gì quan trọng hơn Chánh pháp của Phật, thì mình chưa có thành tựu quy y pháp rồi. Mình tập đi những bước đi an trú, tại sao giờ thiền hành mình đi được, mà ngoài giờ thiền hành mình không đi được? Tại vì mình không tập. Phải không? Tại vì mình không tập đi thiền hành ở ngoài thiền đường, mình tập riết rồi nó được.
Tại sao phải đợi lúc nào, giờ nào thì đi thiền hành thì lúc đó mình đi thiền, còn ngoài lúc đó thì mình đi thoải mái, tại sao vậy? Mình hỏi mình: “Tại sao vậy?” Thân, hành, niệm mình ở đâu? Niệm thân ở đâu? Niệm kinh Tứ Niệm Xứ làm cái gì mà tại sao mình không ứng dụng? Cho nên lúc đó mình phải niệm. Mình tu là tu giây phút hiện tại thôi, không cần tu nhiều. Không cần tu 3 năm, 10 năm, 30 năm gì hết trơn. Tu ngay giờ phút hiện tại đó thôi, tu vào lúc đó thôi à. Mà nếu mình tu được như vậy, thì lỡ có bất thình lình tai nạn tới thì mình cũng an trú được pháp, mình không có bị mất pháp.
Tại vì nó đến là nó đến ở giây phút nào? Nó đến ở ngay giây phút hiện tại đó. Chúng ta thấy không? Như chúng ta nói ngay buổi lễ xuất gia hay là khóa tu, nó cũng thành mây khói rồi có gì nữa đâu. Chỉ còn mấy tấm hình lâu lâu mở ra coi, hoài niệm. Còn ngay bây giờ có tu không? Mình trả lời: “Bây giờ tôi hết tu, tôi xuất gia rồi”. Tu ngay giây phút hiện tại, lúc nào thân nó chưa xuất gia nhưng mà tâm nó xuất gia. Cái bài hôm bữa xuống núi con đọc đó, “thân ở tại gia, tâm xuất gia. Thân đang làm chuyện nhưng mà tâm đang ở trong pháp”. Phải tu được như vậy, thân bệnh nhưng mà tâm không bị bệnh, thân làm việc nhưng mà tâm ở trong pháp, phải tập được như vậy. Chứ mà con tối ngày bao nhiêu công chuyện thì làm sao con tu? Con mới là người nhiều chuyện nhất ở đây, có ai nhiều chuyện bằng con không ạ?
“Thầy nghĩa nhiều chuyện hơn con không? Pháp Lực nhiều chuyện hơn không?” Nếu công chuyện nhiều như vậy thì rồi làm sao mà tu? Đừng có thấy chuyện mà thấy pháp, chuyện đó chính là pháp, pháp đó chính là chuyện. Chúng ta nhớ cái bữa mình ngồi ngoài bụi trúc, rồi cuối cùng có cô cổ lên quỳ kể cuộc đời của cổ đầm đìa nước mắt, chúng ta nhớ không ạ? Thì lúc đó con ngồi đây con nói trong bụng: “Đang nghe kinh Nikāya thế kỷ 21 nè, đang nghe khổ Thánh đế, khổ Thánh trí nè, cứ để cho cổ nói”. Thì ngay cái chỗ người ta nói chuyện mình nghe đó, nhưng mà cái đó là nghe pháp, nghe Thánh trí, nghe khổ Thánh đế, chứ đâu phải nghe kẻ chuyện đâu. “Trời bà này dài dòng quá, lên kể tiểu sử bả chi vậy?” Mình tác ý sai thì nó trật đi.
Mình phải tác ý: “Ngồi đó nghe khổ Thánh trí, khổ Thánh đế Nikāya thế kỷ 21 đó. Sự thật ngay trước mắt mình đó, người thật, sự thật, việc thật, lẽ thật, chuyện thật”. Cái gì mình nhìn mình cũng nhìn bằng con mắt pháp hết trơn, đừng có nhìn bằng con mắt thường tình. Chúng ta có nhớ mấy bữa con lấy nghiêng trầm, lấy chiếc lá, lấy ly nước ra con nói không ạ? Thì cái gì mà không phải pháp? Thì tại sao mình mở kinh ra mình mới thấy pháp, mà tới chừng mình ra làm việc thì mình ra nói chuyện không phải pháp nữa. Thì tại sao chúng ta không tập? Tại sao mình đưa cái pháp đó tách rời với cuộc sống của mình? Đưa pháp đi vào cuộc sống, vào sinh hoạt, vào hơi thở của mình.
Mình đang thở như vậy là có pháp không ạ, có không? “Dạ có, pháp vay trả”, và pháp gì nữa ạ? “Pháp niệm thân, pháp an trú, pháp sanh diệt”. Nhiều pháp dữ vậy mà sao không nhớ? Một hồi ra ngoài không nhớ nữa. Một hồi ra ngoài mình có thở không? “Có”. Có mà sao không nhớ? Nói thì đủ pháp hết trơn, mà sao một hồi ra ngoài thì không nhớ? Phải “nhớ, nhớ, nhớ”. Nhớ tức là niệm, niệm tức là niệm xứ, là Tứ Niệm Xứ. Cho nên ngồi không nói gì hết, từ đầu tới cuối thời niệm: “Nhớ, nhớ”, rồi xong xuống pháp toạ không nói gì nữa hết. Phải để tâm vào trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Phải nhìn cho ra được ngũ uẩn, nhìn cho ra được bản chất của nó, nhìn cho ra được những gì nó đang thúc giục, sai khiến, điều khiển, dẫn dắt, áp đảo bên trong. Chúng ta thấy cái khoá tu vừa rồi sao ạ?
III. Trình pháp
“Con mời Ni sư đi, khóa tu vừa rồi Ni sư cảm nhận ra sao? Mọi người có hộ trì, có tinh tấn không?”
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch thầy, kính thưa quý thầy, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con thấy khoá tu vừa rồi rất là vui. Sư phụ, đại chúng, những người huynh đệ về đây tu tập ai cũng tinh tấn hết. Lúc nào con cũng thấy người ta lên 15, 20 phút trước giờ tụng kinh.
- Thầy: Cô có hoan hỉ không?
- Dạ thưa hoan hỉ ạ!
- Thầy: Ni Sư có cho khóa tu nữa được không? Mấy Phật tử trực tuyến đang ngồi chờ.
- Dạ mô Phật, con rất là hoan hỉ mọi người về tu tập. Trong đó con cũng có một bài kiểm tra, mà hồi bữa con cũng nói cho mọi người nghe bài kiểm tra của con là như vậy.
- Thầy: “Bây giờ Ni sư đọc bài kiểm tra đi, con chưa có nghe.
- Dạ thưa sư phụ, bài kiểm tra đó là hồi bữa con cũng nói cho đại chúng, ai học cũng biết. Sư phụ cho con trình pháp sáng hôm nay nha sư phụ.
- Thầy: Dạ mời cô.
Dạ thưa sư phụ, sáng nay con nghe sư phụ nói về tâm phóng dật với địa ngục. Trong lòng con rất là hoan hỉ, nó hoan hỉ là như vầy. Con đọc một bài kệ Pháp Cú thì là: “Không phóng dật đường sống, phóng dật là đường chết. Không phóng dật không chết, phóng dật như chết rồi. Hoan hỉ, không phóng dật, an vui hạnh bậc Thánh”, con đem bài kệ này về con thiền quán. Sư phụ thường dạy: “Thế giới này là ngũ uẩn, mà thân này thân xác con người cũng là ngũ uẩn”. Thì con chiêm nghiệm: “Vì con là ngũ uẩn, con cũng ở trong thế giới và thế giới ở trong tâm con”. Không ngờ con thiền quán như vậy, thì trong tâm con cũng là thế giới, thì trong tâm có đủ loại cây cối, hoa lá, súc vật ..v..v..
Thì con thiền quán là bây giờ có người ta chửi con đó là: “Mày mà tu cái gì? Mày tu mà cái tâm mày như một con chó”. Con nghĩ tới đó thì con coi thử cái cảm thọ của con. Nếu như mà cảm thọ của con nó thật sự là con chó, thì nó nhảy lên cắn người ta, nó sủa người ta, nó hành hung người ta, thì họ nói là đúng rồi. Như vậy là đúng, thì cái đó là cái tâm phóng dật của con suy nghĩ như vậy. Còn nếu như con không có cái tâm đó, thì cái tâm con an lạc, thì con đã bước lên một bậc thang tinh tấn. Con cũng theo Đức Như Lai tu tập, cũng được bước lên được một bước, thì trong lòng con rất là hoan hỉ. Không biết con nói như vậy sư phụ có thấy đúng không con cũng không biết nữa, nhưng mà con thiền quán thì con thấy cũng như vậy.
Hoặc là ai nói: “Mày mà tu cái gì, mày ngu như một con bò”, thì con nghĩ là: “Nếu như mà con nhảy ra, con lấy cái sừng của con hút người ta, thì họ nói như vậy là đúng rồi đó, họ nói đâu có sai đâu, mày là con bò”. Nhưng mà nếu con nhìn lại cái cảm thọ của con, con thấy không có thì con vui vẻ. Con bước thêm một bước nữa, thì cái tâm con rất an lạc. Thì cái tâm lúc đó thì con biết được cái tâm con đang phòng hộ. Thưa sư phụ về pháp sáng nay con thiền quán như vậy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con tri ân sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng.”
Người ta nói con chó, mà mình nhảy lên mình sủa thì mình thành con chó. Người ta nói con bò, mà mình nhảy lên mình húc thì mình thành con bò phải không? Người ta nói gì thì nói, mình lo nhiếp phục cảm thọ mình thôi. Cái sự tu tập chúng ta nó rút lại nó nằm trong cảm thọ, tưởng, hành của chúng ta, nhiếp phục chỗ đó là được. “Mời Tấn Hoà”
Phật tử Tấn Hoà:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con mất Chánh niệm 2 lần, lần 1 micro mà con quên xem nó đã lên đèn chưa. Con kính lạy Phật xong con lại quên kính lễ sư phụ và đại chúng, con xin sám hối. Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý Ni sư, cùng toàn thể đại chúng. Trong quá trình khóa tu diễn ra, thì con nhận diện cái cảm thọ của mình trong những lúc mà tiếp xúc với các vị Phật tử. Sư phụ có thể cho con kể 2 câu chuyện, trong các pháp hành nó được không ạ? “Được”. Con biết là các vị Phật tử về thì chuyện xảy ra những cái vấn đề qua lại với nhau, thì nó không thể tránh khỏi. Nên trong những lúc mà nghe, nhìn thấy, thì con quay về nhìn lại cảm giác của mình, để tránh những trường hợp mà như lúc đầu con mới lên, đó là thật đáng tiếc cho con.
Nên khi có một trường hợp của một vị Phật tử, vị đó mới vô 1, 2 ngày gì đó. Thì theo con đoán là vị đó mới tu tập thôi mới lên đây, chứ không có tu tập lâu. Thì vị đó để quên chiếc áo ở đâu đó, mà con không có biết. Mà thường lúc trước vị đó có chuyện gì không biết cũng gọi con hết. Thì con cũng chỉ dẫn, nhưng cái này con nói là không phải con khoe con. Mà vị đó cũng có thể là thấy con cũng chỉ dẫn nhiệt tình này kia, thì cái gì cũng kêu con. Thì thấy con đi qua thì cô Phật tử đó đến gọi con và nói là: “Cô ơi, con để quên chiếc áo ở đâu rồi mà con tìm hoài không ra, cô coi thử”. Khi cổ nói như vậy, thì cái tâm ý con cũng là hiểu là cổ muốn con đi tìm chiếc áo đó.
Lúc con nghe câu nói đó thì ở trong con nhận diện, cảm giác nó không sân nhiều như hồi con mới lên, nhưng mà nó cũng có chút vì đó gợn, bởi vì trường hợp đó con cũng rất là khó xử lý. Nếu như lúc hồi đó con mới tu tập, thì con nói lại ngay: “Của cô thì cô biết, chứ còn nhiều việc sao biết cái áo cô để đâu”. Bây giờ con cũng tu tập sự an tịnh, thì con cũng nhìn lại, con cũng ngần ngừ xem con sẽ trả lời như thế nào. Con mới nói cô là: “Thôi cô bây giờ an tịnh, điềm tĩnh lại thì cô sẽ nhớ là cái áo cô để đâu. Chứ con cũng không biết sao mà kiếm được nữa, cô cố gắng an tịnh thì cô sẽ nhớ”. Thì cổ cũng làm thinh, hai bên vui vẻ không có việc gì hết. Thì con kể câu chuyện đây là kể pháp hành thôi, chứ còn con với cổ không có gì làm mâu thuẫn, rất là vui.
Tối lại thì cổ nhớ lại, cổ lại xuống nói với con, chiếc áo đó là cô đó để ở đó đó. Con mới nói là: Dạ cô bình tĩnh, từ từ xong rồi cô thử hỏi người mà người ở đó xem người ta biết cái áo ở đâu không? Bây giờ con đi tìm cái đó nữa là con không biết, rồi bây giờ phải đi tìm cô nữa thì 2, 3 vòng, cố gắng nha cô”. Cổ cũng vui, xong rồi cổ đi tìm người mà biết cái áo ở đó, thì cổ mới lấy được cái áo đó. Con nghĩ là cái đó cũng có sự an tịnh. Mình an tịnh thì mình nhắc nhở được người bạn đạo an tịnh, bình tĩnh, thì kết quả rất là viên mãn, vui vẻ trọn vẹn.”
Mình phải tu tập cái tâm từ của mình nhiều, trong người mình mới mát mẻ, ngọt ngào nó rất là khó sanh ra cảm giác khó chịu. Người mình không có cái tâm từ sung mãn, thì mình dễ cáu gắt lắm. Cho nên là mình tu tập tâm từ nhiều, mình chất chứa tâm từ nhiều, tình thương rộng lớn, cái tâm bao dung, rộng lượng, thì cái chuyện mà người ta có quên người ta hỏi mình, thì chuyện đó cũng bình thường, không có gì là khó chịu. Tuy là mình đã tốt hơn lúc trước rồi, nhưng mà mình muốn tốt hơn nữa. Tức là ý con là cô bước đi thêm một bậc thang rồi, thì bây giờ cô bước lên một bước nữa, chứ không dừng lại ở đó, được không ạ? Người ta đang khó khăn, người ta muốn tìm được một người trợ giúp, mà mình là người mà người ta quen, là chỗ dựa, mình là người tu, cho nên điều đó là rất là phù hợp. Tâm mình tu tâm từ, tâm hiền nhiều, thì mình gặp những trường hợp đó mình sẽ rất là ngọt ngào. “Ni sư mỉm cười hả Ni sư, Ni sư có chia sẻ gì không ạ?”
Phật tử 1:
“Dạ hồi nãy sư phụ có kêu con chia sẻ hồi bữa, nhưng mà lúc nãy con đang có cảm thọ về địa ngục với cái tâm phóng dật, cho nên con chưa có thưa sư phụ. Bây giờ con chia sẻ, hồi bữa con tu tập trong khóa tu. Dạ thưa sư phụ, lúc nào sư phụ cũng kêu tụi con quán chiếu ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn, thì con đứng lên giơ tay dang ngang, chỉ từ nơi sắc là đầu, tới thọ là cánh tay bên trái, tưởng là chân bên trái, hành là chân bên phải, thức là tay bên phái, nó vận hành xung quanh thân con theo vòng tròn, con thường quán chiếu ngũ uẩn như vậy. Thì trong khóa tu con đưa cho mình mục tiêu, đề mục là bây giờ mình quán chiếu ngũ uẩn, mình vận hành ngũ uẩn, thì mình phải có bài kiểm tra cho chính mình, để mình tập để mình thi trong trường thi Phật.
Thì tài liệu của con đã chuẩn bị làm bài kiểm tra, là con cũng chuẩn bị gồm có gồm năm căn và năm trần. Mà năm căn như vậy là năm cái cội nguồn, năm căn nguyên để cho con cố gắng, nhiệt tâm, nhiệt tình, để mà nỗ lực, đó là “Tính, Tấn, Niệm, Định, Tuệ”. Mà tiếc khi mà con đã bước lên bậc thang thứ nhất là Tính, như là có tịnh tính với Phật, với Pháp, với Tăng. Rồi thì con cần phải tinh tấn khi mà con tin tấn, nhận diện ngũ uẩn, rồi tới Niệm.
- Thầy: Là cái này cô có chia sẻ hôm “Tâm đắc tu học Nikāya đó hả?”
- Dạ!
- Thầy: Bữa đó con có nghe.
- Dạ mô Phật, con xin hết ạ”
Mình nói mình thi vô trường của hiền Thánh, chứ đừng có nói thi vô trường Phật. Chữ “Phật” đó chỉ có mình Đức Thế Tôn thôi, cho nên bây giờ người ta dùng nó quen rồi, nhưng không phải. Chữ “Phật” đó chỉ dùng một mình bậc Chánh đẳng Chánh giác thôi, chứ mình tu đến tận cùng thì mình trở thành Thánh đệ tử. Trong dòng Nikāya chúng ta phải biết nghĩ cái này, người ta hay nói: “Bao giờ bằng Phật, mới vừa lòng con” phải không? Ngày xưa mình nghe thấy hay ha, nhưng mà trong Nikāya không phải vậy, mình tu tận cùng của mình là Thánh đệ tử. Ở đây không có tuyển Phật trường, cho nên người mà thấy đúng về Nikāya thì có sự cung kính đối với Đức Phật tuyệt đối. Mình không có nghe ai ngoài bậc Chánh đẳng giác đâu. Đó là sẳn dịp con chia sẻ, để trong đạo tràng nhớ.
Chúng ta niệm Phật là niệm: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Những người mới mình nhắc nhở cho họ, nhớ trong lớp học không ạ? Chúng ta có nghe không ạ? Mình đang học pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà mình không có nhớ bậc đạo sư của mình. Thành ra chúng ta có duyên tới đâu, thì chúng ta sẽ học tới đó, chứ không có nhớ hết được mà nói. Chúng ta sẽ tu học, để bước lên con đường của các bậc hiền Thánh. Như hồi nãy con nghe chia sẻ, thì chúng ta học thầy Pháp Nghĩa, tuy là thầy bận rộn rất là nhiều, con nể phục thầy cái này. Con không có thấy thầy nổi giận, mà công chuyện rất là nhiều, dồn dập 5, 7 hay cả chục chuyện một lúc. Mà thậm chí đi xuống rửa chén rồi này kia, mấy cái đó con làm không được rồi đó. Ngồi rửa chén rồi cười vui, hoan hỉ.
Cái gì cũng vô làm được hết, chúng ta thấy cái hạnh của thầy tuyệt vời không ạ? Thì cái đó là chúng ta học cái tâm hỷ xả, cái tâm bao dung, rộng lượng. Cái điều đó rất quan trọng, khi tâm mình bên trong nó dạt dào, ngọt ngào, sung mãn tình thương lắm. Một người mà đau khổ mà đến với mình, thì mình dang cánh tay rộng ra, giống như người ta khổ quá, cần một vòng tay, họ khổ đau họ tới, mình thấy mình dễ chịu lắm, vì chúng ta có cái tâm từ. Tại vì người ta khổ lắm người ta mới lên đây, người ta đã rất là khổ, người ta khổ không thể nào mà nói nổi người ta mới lên đây. Người ta lên đây mà cần một sự nương dựa, mà nếu mình không có một chút gì đó, thì tội nghiệp người ta và cũng tội nghiệp cho mình, mình cũng khổ.
“Hiền Hạnh đang cảm thọ như thế nào?” Cái tâm từ của mình mà dạt dào như vậy, mình thấy mình thương lắm. Dù người đó họ tới họ muốn làm khó mình, mình cũng thương nữa, huống gì mà người ta đang cần trợ giúp.
Phật tử Hiền Hạnh:
“Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đệ tử con pháp danh Hiền Hạnh, xin được cung kính đảnh lễ sư phụ, con xin cung kính đảnh lễ trên chư Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hành giả. Hiện tại thì cảm thọ của con rất là xúc động trước câu nói của bậc ân sư, là: “Tất cả mọi người khi mà đến với Linh Quy thường là họ mang một trạng thái tâm rất là đau khổ”. Thì khi mà họ đến được với môi trường thiện lành, họ được sự chở che, họ được sự cảm thông, thấu hiểu, thì thật sự mình đang giúp cho họ vượt khỏi niềm đau, nỗi khổ. Vì vậy khi mà con sư phụ nói đến câu đó, thì con rất là chấn động thân con, vì con cũng trong hoàn cảnh là khi con đến Linh Quy thật sự con rất là buồn khổ. Nhưng chính môi trường của Linh Quy Pháp Ấn, là con chỉ đến được 3 lần, nhưng thật sự là đã cứu được cuộc đời của con.
Vì vậy con mang cái tâm trạng đó, mà khi con được sống những ngày ở Linh Quy, thì con lúc nào cũng trân quý. Con luôn cố gắng học theo hạnh của bậc ân sư, cùng với quý thầy, quý Ni Sư cùng toàn thể các bậc hiền giả. Thì con luôn luôn dạy tâm của mình tri ân sâu sắc, khi mà trạng thái của một con người lạc lỏng, đau khổ, thì họ rất cần điểm tựa của tình thương. Hơn ai hết con là người đã trải nghiệm, nên con có thể cảm nhận được nỗi khổ đó. Và con chỉ mong muốn rằng là được chữa trị lành tâm bệnh, mình cũng mong mang tình thương đó để giúp cho những vị mà mình có duyên gặp mặt. Con chỉ biết cố gắng và cố gắng, lúc nào cũng nhắc nhở tâm mình, cái môi trường và thiện lành của Linh Quy, những bậc thiện trí thức, những vị có tâm đức rất là cao rộng, đã che chở, bảo bọc để chữa trị tâm bệnh cho mình.
Để ngày hôm nay mình như được tái sanh một lần nữa, trong cuộc đời này thì cái điều tri ân đó mình phải luôn khắc sâu trong tâm mình. Phải luôn cố gắng để có thể lan tỏa tình thương ấy rộng lớn hơn, để có thể giúp được thật nhiều những con người còn đau khổ. Với sự tận tâm, tận lực của mình, theo những gương sáng của các vị đã đi trước. Lúc nào trong tâm con cũng luôn hướng về các bậc tôn đức, và cung kính để học, để hành những hạnh đức cao quý ấy trong từng ngày. Con chỉ biết cố gắng và cố gắng, đó là những cảm thọ mà sáng nay con được trải nghiệm. Con xin được cung kính tri ân trên bậc ân sư tôn kính, cùng với chư Tăng Ni và các bậc hiền giả có mặt ngay đây. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Chú Thắng chia sẻ đi.
Phật tử Thắng:
“Con kính bạch sư phụ ở trên, các chư vị thầy, sư cô và toàn thể các vị hiền giả trong đạo tràng Nikāya. Con bạch sư phụ, kể từ ngày con được bước chân lên Linh Quy Pháp Ấn, từ cái sờ đầu của sư phụ, nụ cười thiện lành của sư phụ đối với con. Sâu trong tâm của con, mỗi lúc mà con chán nản, con đã nhớ đến nụ cười ấy, cái sờ đầu ấy chưa bao giờ xảy ra trong con. Vì con cũng là một con người cũng khá khổ, từ bé bố mẹ bỏ nhau, nên con không có tình thương của cha. Đến khi sư phụ sờ đầu con, cũng coi như là lần đầu tiên của con trong đời được người cha sờ đầu cho con. Con đến thì 1, 2 ngày cũng may mắn được trong đạo tràng có khóa tu 2 ngày, con nghe được rất nhiều điều. Lúc đó con chưa cảm nhận sâu sắc, con chưa biết ngũ uẩn nhiều.
Ở nhà con cũng nghe pháp của sư phụ, nhưng mà con chưa pháp hành. Lên đây lúc sư phụ đi rồi, thì tâm con lúc đấy tâm trạng, ý hành của con nghĩ: “Sư phụ đi rồi, chết rồi. Không biết là ai chỉ bảo cho mình đây”. Mấy lần con đi thiền viện mà cũng với tâm trạng lo lắng. Một phần cũng nhớ nhà, nó khuyên mình bỏ về, không tu được, thế là một cái tâm của con nó lo lắng. Sau khi sư phụ đi rồi, thầy Pháp Lực lên, thầy gọi con ra thầy chia sẻ những điều tâm đắc và những cái pháp hành của thầy cho con. Thầy mỉm cười thật tươi, thầy nói với con thầy chia sẻ với con, thầy hướng dẫn từ từ, từ dễ đến trung bình, rồi đến khó cho con. Con cũng hỏi thì thầy rất hiền hòa, thầy hướng dẫn cho con. Trước khi thầy Pháp Lực chỉ pháp cho con, thì con bắt đầu chiến đấu với hình ảnh gia đình.
Cái hành con nó bảo: “Mày đi lên đây thì ở nhà mẹ mày làm sao? Con mày nhỏ tí mà mày đi lên đây, rồi vợ mày làm sao?” Con cũng nghĩ đến, con có chiến đấu cả đêm. Rồi sáng hôm sau cũng nhờ cái duyên lành trên đây, con cảm nhận các vị Phật Pháp Tăng gia hộ cho con hay sao, mà thầy Pháp Lực lên ở trên Pháp chỉ dẫn cho con. Con mới bảo: “Thưa thầy, bạch thầy Pháp Lực, là ôm nay là có ân đức của thầy, con như cởi được một cái mắc xích. Từ đó con suy nghĩ và những nỗi nhớ nhà con hành có một cái ý khác, nó ôm về trong con thì con sẽ tác ý: “Mày lên đây là mày tu tập để tốt cho sau này. Thứ nhất là cho mày bớt khổ, mày khổ bao nhiêu lâu rồi.
Một năm trước khi biết sư phụ, mày đã khổ mày mới vào tận trong đây. Mà mày không đến được đích mà mày đi về. Bây giờ mày vào trong đây mày lại xúi tao như thế nữa”, con tác ý thì nó cũng bớt. Tối hôm được thầy Pháp Lực chỉ pháp, những cái ý nghĩ, những cái hình ảnh ấy về cho con thấy là con mới nhờ thầy Pháp Lực chỉ dẫn, và nhớ lời thầy hướng dẫn. “Mày lên đây, mày ở nhà mày nuôi mẹ mày thì ăn sung mặc sướng, ăn toàn thịt, cá, gà, vào nghiệp sát sanh. Nuôi con mày có lo được cho nó không? Ở nhà mọi người càng khổ đau hơn hay là mọi người lại mệt hơn”, con đã tác ý như thế đó. Và như thế tâm con có an tịnh lại một chút.”
IV. Tâm từ
Thôi được rồi, mỗi ngày mấy thầy luân phiên với nhau, để hướng dẫn cho các chú mới. Bốn thầy luân phiên, mỗi thầy một ngày giành ra một tiếng, một tiếng rưỡi hướng dẫn cho các chú mới. Rồi ở bên quý cô cũng vậy, hiện tại mình ba vị lớn, thì luân phiên hướng dẫn, nhất là mấy vị mới. Những vị mới mình phải chăm sóc thật là kỹ. Nhớ là phải chăm sóc thật là kỹ những vị mới. Chúng ta luôn nhớ rằng, phải thường quán chiếu bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng. Mình trải tâm từ đến những người mới đến, những người ở chung với mình, phải bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng ngọt ngào. Vì chúng ta cùng là những kẻ cùng khổ, khổ đau nhất trong thế gian này. Chúng ta không được quên mình là người đau khổ nhất, không được quên điều đó.
Mình phải khắc ghi mãi mãi trong tim của mình, mình là người đau khổ nhất mình phải đi tu, mình phải lên núi, đừng bao giờ cho mình quên. Những người đến đây là những người đau khổ tận cùng, người nào nói lên cũng bằng dòng nước mắt tận cùng thương đau. Mình phải nhớ là người ta khổ lắm, và mình quán chiếu lúc nào mình cũng phải ngọt ngào, cũng bằng tình thương, bằng từ tâm thật sự, bằng tấm lòng thương tưởng giúp đỡ. Khi mình có được tình thương rồi, mọi việc nó nhẹ nhàng, nó êm ái lắm, không còn là vấn đề nữa. Khi mình không có tình thương, thì chuyện gì dù một chút nó cũng bực bội, sân si, gắt gỏng. Khi mình có tình thương rồi, tất cả không còn là vấn đề nữa. Giờ Hiền Hạnh nhớ là mình đang được điều trị, chứ không phải mình được chữa lành.
Mình đang được điều trị, mình có bớt bệnh cho nên mình sẽ chăm sóc cho những người còn bệnh nặng, còn hết bệnh là A-la-hán rồi đó. Con cũng chưa hết bệnh, còn bệnh nhiều lắm. Thành ra thương mình hơn, mình là một bệnh viện tinh thần, và những người xuất gia ở đây là những điều dưỡng, những y bác sĩ, những dược sĩ. Và ngày hôm nay có một đoàn 45 vị bác sĩ, dược sĩ, y sĩ lên đây để chữa bệnh cho 800 người. Mười hai giờ trưa này là bắt đầu trị bệnh và lên đây xin pháp, đồng thời trị bệnh cho 800 người. Chúng ta hãy đón mọi người, dù cho người đó là bác sĩ, kỹ sư, hay là một người ăn xin, cũng đón bằng tình thương, bằng cả tất cả tấm lòng của mình.
Tất cả chúng sanh, hữu tình, cái tâm thức của người ta nghèo thiếu, tiều tụy lắm, cái tâm thức của người ta là một tâm thức suy dinh dưỡng. Tất cả chúng sanh bất kể người giàu, người nghèo, bất kể đẳng cấp nào. Ở ngoài nhìn vậy đó, nhưng bên trong là một nội tâm tiều tụy, suy nhược, thiếu thốn, nghèo khó. Mình phải là một người tu có một nội tâm giàu có. Mình giàu cái gì? Mình giàu tâm hiền thiện, giàu những cảm giác ngọt ngào, giàu tình thương. Mà khi những người đang thiếu thốn, đang nghèo khó, đang tiều tụy, mà họ được vào trong một nơi mà đầy ấp tình thương, ngọt ngào, thì chúng ta thấy như thế nào? Tự động người ta thấy dễ chịu, tự động người ta thấy thích à.
Tại vì mình đưa cái mà người ta rất là cần, rất là thiếu, mà mình phải có mình mới đưa cái đó được. Cho nên trong đạo tràng chúng ta là sau một năm trời tu tập tâm hiền rồi, thì tiếp tục tu tập suốt một năm về tâm từ. Khi mình có một cái tình thương rộng lớn rồi, thì tất cả mọi việc không còn là vấn đề nữa. Mình nghĩ đi, bây giờ bóng tối vậy, mình thấp bao nhiêu ngọn đèn để cho ngọn núi này nó sáng? Hay chỉ cần một cái mặt trời lên thôi là nó sáng hết tất cả. Cho nên khi mình không có tâm từ, mình có gắng gượng mình làm bề ngoài gì đi nữa, thì cũng được lóm đóm, hay mình có được như đèn cầy, đèn dầu, đèn pin vậy thôi. Nhưng mà mình có được tâm từ, thì nó giống như mặt trời ấm áp, sáng ngời, tự động người ta sẽ cảm nhận được.
Những tâm hồn tiều tụy, suy nhược, thiếu thốn, khó khăn, nghèo túng sẽ được tưới tẩm, lan tỏa, thấm đẫm những cảm thọ ngọt ngào, dạt dào yêu thương chưa từng có, vô điều kiện. Thì chúng ta nghĩ rằng, đạo tràng chúng ta ấm áp và ngọt ngào biết chừng nào, những người đến đây hạnh phúc biết bao nhiêu. Mà tất cả mỗi thành viên chúng ta phải tu tập tâm hiền, phải được tâm này, phải chứng đạt được cái này. Phải chứng đắc được cái tâm từ, cái gì chưa được nó khó, chứ tâm từ này nó không có khó. Phải không? Nhất trí không? Tình thương này nó đâu có khó, người ta đang khó khổ, người ta tìm mình, mình sẵn sàng. Mình giúp được người ta nói: “Ờ có cái vị này biết nè, vị này sẽ giúp cho”. Mỗi người của mình phải làm một cái cây từ bi có một bóng mát, một cái mùi hương lan tỏa ra, có sắc, có hương.
Mình chưa có được lan tỏa nhiều hết cái núi, nhưng ít nhất là lan tỏa trong khu vực của mình ở, tối thiểu mình lan tỏa được đối tượng đang khổ đau. Hổm nay có ai giận nhau không? Giận đi lên sám hối đi, giải tỏa cảm thọ đó liền. Phải chăm sóc thật là kỹ cho các cô bệnh, ngồi sau lưng đó bệnh nặng, “có bệnh không Hiền Đông?” “Hiền Hằng bớt bệnh chưa?” Đỡ đỡ rồi thì tiếp tục uống thuốc nữa, uống thuốc cho đúng giờ, điều độ và những cữ kiêng phải đúng với cái toa của bác sĩ ra. Có giữ toa thuốc không? Có nhớ toa thuốc không? Cầm toa thuốc, đọc và uống đúng liều lượng. Chăm sóc cho nhau, ở đây toàn là những người bệnh không à, bao gồm cả con cũng đang bị tâm bệnh. Mà mình không thương nhau, mình không có nấu cháo cho, không đem thuốc cho, thì tội nghiệp quá.
Bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em, bà con cô bác, bỏ hết trơn. Mà vô đây ghim gút với nhau, hắt hủi với nhau, châm chọc nhau thì thật là tội quá, thật là đáng thương xót. Ở nhà có cha mẹ, có chồng con, có vợ, có anh em lo, vô đây có huynh đệ. Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng sự thấu hiểu nỗi khổ, niềm đau với nhau. Thương quý, kính trọng, hỗ trợ với nhau, để mà thoát khổ. Mình nghĩ được như vậy hoài, thì mình sống vui, sống khỏe, sống bình an, sống an ổn, sống ngọt ngào, sống tình thương. Chúng ta thấy không? Những vị cư sĩ người ta về người ta tu, mình thấy mình ngưỡng mộ không? Thấy tuyệt vời không? Cho một tràng pháo tay cho khóa tu xuất gia gieo duyên. Con cũng đang suy nghĩ, vì có rất nhiều Phật tử cũng đang hỏi chừng nào có khóa tu xuất gia gieo duyên nữa.
Sẵn dịp con thông báo luôn, là khóa tu tới của chúng ta là ngày 18 âm lịch tháng 11. Hôm nay ngày âm lịch là bao nhiêu rồi? Không ai biết hết hả? “Mùng 5 tháng 10”, thì mình còn 1 tháng, 13 ngày nữa phải không? Coi như gần một tháng rưỡi nữa. Chúng ta có khóa tu 7 ngày, vào 11 tháng 12 năm 2022, số 1 với số 2 không dễ nhớ, đó là ngày tây. Chúng ta phải có khóa tu nhiều lên, để cho các vị hôm trước đi không được thì hôm nay cố gắng đi về nhà, về uống sữa pháp cho mau lớn, để suy dinh dưỡng. Tức là chúng ta còn khoảng 1 tháng rưỡi nữa, chúng ta có khóa tu 7 ngày. Tết thì chúng ta sẽ có khóa từ mùng 3 tết cho tới mùng 9 tết. Thay vì tết để đi chơi, thì cho tết đi tu, chịu không? Tết vậy mới vui, vậy là vui lắm.
Mùa xuân bất tử, mùa xuân Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh trí. Tết tới đây là vui lắm, tu không sao không vui cho được. Để coi nhân duyên làm sao, con thì không có mở khóa nào hết trơn, mà nhân duyên mấy người về mà tâm muốn xuất gia gieo duyên quá, thì cho xuất gia gieo duyên luôn, không tính trước đâu. Có sẵn hết trơn rồi, y bát có sẵn hết, mà về mà ham xuất gia gieo duyên quá là cho. Cho nên là mình làm sao phải cho một tình thương mình rộng, tâm mình độ lượng, rộng lớn hơn. Nhiều khi không cần nói nữa, mới nhìn lên mặt là người ta cảm nhận được. Mình vừa cất tiếng lên mà cái ngọt thấm vô da, vô thịt, vô xương, vô tủy, vô não người ta. Người ta tuôn trào nước mắt, mình mới cất tiếng lên thôi tình thương ở trong miệng của mình, tình thương trong ánh mắt của mình, tình thương trong nụ cười của mình, tình thương trong những cử chỉ quan tâm của mình.
Con kể cái chuyện nhỏ cho đại chúng nghe, cô Phật tử mà hay về đây đi thăm Thánh Pháp Viện đó, con kể người thật, việc thật nha, chứ không phải con nói kinh, nói lý thuyết. Bây giờ kể chuyện thiệt cho nghe, để kết thúc sáng này. Cô này nói là Phật tử, nhưng thật ra cổ đạo Chúa mà thích đi chùa. Rồi cô có một người con là tiến sĩ bên Mỹ. Thì lúc đó đang mùa dịch, mà trời đang mưa bão, hai mẹ con đi lên thăm con. Thì bây giờ người ta đi nửa vòng trái đất về, cả một tấm lòng lên thăm, mùa dịch thì dịch, kệ luôn, mình vẫn tiếp. Mà cái tật con thì có bệnh, ai lên mà có bao nhiêu đồ ăn là con cho hết, con móc hết trơn, không còn cái gì hết. Sau khi uống nước trà xong, rồi con đưa xuống nhà bếp.
Con mang đồ ăn ra, lúc đó có mình con thôi chứ không có ai hết trơn. Cái bếp lúc đó chưa sửa, che mấy tấm tôn sợ thấm thôi, đi vô phải cúi cái đầu xuống, không thôi đụng đầu. Vô trong bếp con coi có cái gì, tại lúc đó là 2:00 trưa rồi không phải giờ ăn cơm. Con mang hết đồ ăn ra, rồi cuối cùng móc luôn tủ lạnh, mở tủ lạnh coi còn cái gì bưng hết ra. Sau đó người con tiến sĩ ở Mỹ đó, chú rất là xúc động. Chú mới nhìn cái bếp chú mới hỏi: “Thầy ơi bây giờ con muốn làm lại cái bếp này cho chùa”, mà chú khóc. Chú hỏi làm khoảng bao nhiêu tiền? Con nói: “Con cũng không có biết, từ ngày con đi tu tới giờ con không biết cái giá bây giờ. Ví dụ gia đình phát tâm 2 đồng thì con làm 2 đồng, 3 đồng thì con làm 3 đồng, 5 đồng thì làm 5 đồng”. Thì như vậy là gia đình về mới gửi tiền về để là sửa cái bếp đó.
Cô này là đạo Chúa, mà cô đi chùa rất là nhiều, chùa nào cũng đi. Mà cổ nói cổ chưa có cảm giác nào mà nó ấm áp, nó ngọt ngào, nó dễ chịu như ở đây. Cổ cũng không biết kinh sách gì bao nhiêu hết á, chỉ biết làm phước thôi. “Về đây thấy ấm áp, thân thương, thầy cho con coi ngôi chùa này là ngôi nhà thứ hai của con”. Con nói: “Dạ được, bất cứ lúc nào cô về cũng được, cứ về”. Rồi lâu lâu cứ lên, để dành được bao nhiêu tiền rồi lên phụ làm Thánh Pháp Viện. Con chỉ tiếp có một lần ở dưới nhà bếp thôi, mà cả gia đình bây giờ chị em là có chuyện gì là điện thoại: “Thầy ơi thầy cứu con, giờ con khổ quá”, con đang khổ chuyện này này vậy đó. Con thì con có biết gì đâu mà cứu, con thì con kêu: “Trải tâm từ, trải tâm từ”, vậy thôi, nhưng mà sao mọi việc nó cũng tạm ổn.
Thì cái bếp đó đâu phải xây bằng tiền, mà xây bằng tâm từ. Cái Thánh Pháp Viện đó cũng không phải xây bằng tiền, không phải xây bằng xi măng, không phải xây bằng gỗ đâu, mà bằng tâm từ, bằng tình thương. Con không thấy có tiền, có đất, có vườn, có gỗ gì hết, con chỉ thấy: “Tâm từ ở trong con, tâm từ có trong con, tâm từ đang ở trong con, tình thương ở trong con, sự ngọt ngào đang ở trong con”. Chỉ cần tâm từ là đủ, tình thương là đầy, tất cả được dựng lên bằng tình thương, bằng từ tâm. Và cô đó qua nhìn cái Chánh điện xập xệ, con của cô cũng hỏi muốn sửa cái Chánh điện lại, con nói tùy duyên. Nếu Chánh điện có làm thì cũng làm bằng tâm từ, bằng tình thương, chứ không phải làm bằng tiền. Con không có một lời nào mở lên mà kêu gọi người ta, tất cả chúng ta đang ở trong nhà bếp ăn cơm, đang ở trong Ni xá, đang ở trong Thánh Pháp Viện, là đang ở trong tâm từ của con và của trong tâm từ của những người thí chủ. Và con mong tất cả chúng ta phải thực tập và sống được với cái tâm từ.
Phóng Dật Và Địa Ngục
Thích Minh Thành
Ngày 29 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tàm quý – Chánh niệm PAGEREF _Toc122353858 \h 1
II. Hộ trì căn PAGEREF _Toc122353859 \h 5
III. Trình pháp PAGEREF _Toc122353860 \h 13
IV. Tâm từ PAGEREF _Toc122353861 \h 22
I. Tàm quý – Chánh niệm
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí. Từ hôm qua tới giờ, trong chúng ta có chiêm nghiệm về phóng dật và địa ngục không ạ? Đó là hai đề mục quán chiếu. Phóng dật đi kèm theo là địa ngục, hai cái pháp đó là tương ứng với nhau. Chúng ta nhìn ngoài thế gian chúng ta thấy, nói qua nói lại là có thể cự cải, đấu đá, giết hại và sau đó là vô tù hoặc là thảm sát. Đó là phóng dật đi chung với địa ngục đó. Chúng ta nhìn thấy người ta chạy xe ẩu tả, không có cẩn thận, và cuối cùng gây ra tai nạn giao thông, gãy chân, bể đầu, què giò, hoạt nát nhừ. Và người tài xế kia phải chịu một cái án tù 18 năm, 20 năm, thậm chí là chung thân, tử hình. Đèn xanh, đèn đỏ người ta đang dừng đèn đỏ mà tung như vậy, càng quét mấy chục người, chết với bị thương. Vậy có phải buông lung phóng dật là dẫn đến địa ngục không?
Vừa đi vừa cười, vừa đi vừa chạy, vừa đi vừa nhảy, vừa đi vừa nói, trượt chân, đập đầu xuống nằm một chỗ 25 năm. Có phải buông lung phóng dật là tai họa, là khổ đau, là chết chóc, là bệnh tật không? Muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn ăn là ăn, muốn đi là đi, thì đưa đến tai họa, đưa đến ách nạn, đưa đến khổ đau. Cho nên học phóng dật đi chung với nó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Anh em nói qua nói lại với nhau một hồi là đâm chết, anh em ruột đó, ngay ngày giỗ của cha, trước bàn thờ. Sự phóng dật, buông lung này làm cho huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu đổ. Vì không có cẩn thận, vì không lo sợ, vì không thâu nhiếp, thì bất cứ một cái gì cũng có thể xảy ra.
Ở trong tâm của một người buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, từ cái chuyện nhỏ rồi sẽ đi đến cái chuyện vừa, từ cái chuyện vừa rồi sẽ đưa đến chuyện lớn, chắc chắn là như vậy, sự kiện đó có thể xảy ra. Cho nên mình phải khiếp sợ, hãi sợ, kinh sợ với buông lung phóng dật này, đó là kẻ thù của người tu. Khi nó xuất hiện mình phải khiếp sợ, mình phải gớm ghiếc, ghê sợ, lo lắng, sợ hãi cái buông lung phóng dật trong con người, trong cảm thọ, trong suy nghĩ của mình. “Lễ Nghiêm lên đây ngồi nè. Tấn Hòa, Tấn Khiêm nữa”. Phải tập cho mình nhận diện cái pháp ác này, còn nếu mình không nhận diện thì sẽ đẩy mình xuống địa ngục bất cứ lúc nào. Cái pháp này nó nguy hiểm lắm, nó tràn ngập khắp thế gian này.
Người chân tu khổ tâm lắm, chỉ có người không có chân tu thì người ta mới vui sướng, người ta mới hỉ hả. Người chân tu lúc nào cũng lo sợ hết, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén, trượt chân xuống một cái là lọt xuống liền ngay lập tức. Điếc thì không có sợ súng, mù thì không có thấy vực thẳm ngay trước mắt. Người mù thì vực thẳm ngay trước mặt họ cứ sấn tới, họ lọt xuống. Người điếc thì súng đạn kế bên, chiến tranh đang xảy ra họ cứ sấn tới. Còn người có mắt, có tai thì người ta sợ, cho nên là người chân tu khổ tâm lắm. Cái gì người đó cũng lo lắng, cũng cẩn thận hết. Cái gì cái bậc chân nhân, chân tu cũng e dè hết. Chúng ta đã học rồi mà “trước mặt là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, sau lưng là gai”, chúng ta còn nhớ không? Hay học xong rồi là bỏ đó thôi?
Nếu mà chúng ta thấy được như vậy, thì làm sao chúng ta dám buông lung phóng dật, phải lo lắng rất là nhiều. Nhiều khi mình cũng lo, nhưng mà lo một lúc nào đó rồi buông ra, rồi mình không lo nữa. Cái nhớ nó không có thường trực, đa phần là quên nhiều hơn nhớ. “Mẹ của Pháp Lực về chưa? Chú có thương mẹ chú không?” Phải lấy hình ảnh đó làm đề tài quán chiếu suốt cuộc đời tu, tu phải biết thương cha mẹ mình. Thật sự là phải lo lắng nhiều lắm, không thể nào mà sống vất vơ vất vưởng, sống vô cảm đối với các Thánh pháp như vậy. Nghe thì nghe, học thì học, buông ra rồi thì mèo cũng hoàn mèo, chuột cũng hoàn chuột. Trong thiền đường thì còn trang nghiêm một chút, nhưng nhiều khi buông ra rồi là thành một người khác.
Chứ đừng nói chi mà gặp cái chuyện đến, gặp tai nạn đến, thì không còn nhớ mình là người tu nữa. Thật là lo lắng vô cùng, địa ngục ở trước mặt, bên phải, bên trái, sau lưng. Một ý niệm thôi cũng đủ sức để chúng ta xuống địa ngục, một cảm giác cũng đủ sức đưa chúng ta vào súc sanh. Người chân tu là thường thường trong trạng thái canh chừng và đề phòng thân tâm của mình, lúc nào cũng vậy hết. Cho nên sẵn dịp này, chúng ta học các bài kinh về địa ngục. Đức Phật định nghĩa như vầy: “Không phóng dật thường không sân, Chánh niệm, nội tâm khéo định tĩnh, tham nhiếp phục, học tập, được gọi không phóng dật”, trong bài kinh Phóng Dật. Những pháp này phải rèn luyện, công phu rất là nhiều mới đạt được chứ đâu phải đơn giản.
Mà thường không sân, Chánh niệm, nội tâm khéo định tĩnh, nhiếp phục tham và lo học tập (học và tập tức là pháp học, pháp hành đó), được gọi là không phóng dật. “Ta không thấy một pháp nào khác có thể đưa đến bất lợi lớn như là phóng dật. Này các Tỳ-kheo, buông lung phóng dật đưa đến bất lợi lớn”. Cho nên cái này nó sâu sắc lắm, phải nhận việc ngũ uẩn thôi. Kể cả người đọc kinh Trùng Tiên Pháp Bảo mỗi buổi sáng, đọc có Chánh niệm là cái giọng nó khác, cung kính là cái giọng nó khác, nghe là biết à. Nó vi tế tới vậy, nghe cái tiếng nó biết cái tâm cung kính ở mức độ nào. Mình đọc lẹ lẹ, gấp gáp, nhanh nhanh, lộn xộn, nhảy chữ, đọc cho lẹ, đọc cho nhanh. Đánh cái tiếng chuông mình cũng biết nữa, hôm trước con có nhắc mấy chú mới xuất gia đó, cái này nhắc rất là nhiều.
Khi mà chúng con kính lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì đánh tiếng chuông xuống, để người ta lạy, người ta quán tưởng, người ta ngấm cái cảm thọ của câu pháp đó. Chưa gì trơn, mới chấm xuống, là đánh chuông quý khánh cái “boong”. Mà nhắc rồi, đứng ngay tại chỗ trong chúng nói luôn, nhắc rồi cũng đánh tiếp tục như vậy nữa, thấy không? Mà đó là con đứng ngoài sau con nhắc luôn, mà vẫn đánh. Thì nếu không có con thì không biết làm sao, đó là cái tâm buông lung phóng dật. Thành ra cái tâm buông lung phóng dật này không phải chỉ có giết người, đốt nhà, không phải chỉ những lỗi lớn đâu, mà nó nhỏ nhiệm như vậy. Tự thân của mình không có Chánh niệm, cho nên mình không có dẫn chúng cho người ta Chánh niệm được.
Khi mà “chúng con kính lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”, thì cái chữ Ni đó mình đánh tiếng chuông. Mà tiếng chuông đó không được đánh quá lớn, không được đánh quá nhỏ, đánh vừa phải. Cho nên cái này mà con chỉ chúng ta học, thì thật sự không biết mấy người học được. Thì khi mà lạy xuống như vậy, ít nhất tiếng chuông đó phải ngân lâu hơn nữa, tức là hơn 3/4 tiếng chuông đó. Chứ không phải để nằm quá lâu, mà cũng không phải nhanh mà xuống rồi đánh lên liền. Mà đủ để cho người đó, họ thọ được cái pháp của câu kinh mới đọc. Nó ngấm vô chưa có kịp thì mình đã đánh cái “boong” như vậy. Bởi vì cầm là pháp khí, là nhân thiên hiệu lệnh, không phải muốn đánh sao thì đánh. Mà khi mình đánh, ở trong cái pháp khí đó nó thể hiện cái bản ngã mình ở trong, nó ghê gớm như vậy đó.
Mình đánh pháp khí đó mà không có Chánh niệm, cái bản ngã của mình nó chình ình ở trong tiếng chuông quý khánh mình đánh đó. Cái này là những cái pháp sâu sắc, cho nên khi lạy chạm đầu xuống rồi, để cho cảm thọ nó ngấm vô những lời kinh mới vừa đọc. Cái này phải có một buổi học riêng, còn trong khi mình đọc mình phải đọc bằng thiền quán. Cho nên có những vị đọc bài, đọc kinh rất là tốt. Mình đọc như vậy thì mình thọ pháp, người nghe họ được thọ pháp, họ nhận được pháp. Còn có những người tuy là thuộc nhiều, dài, nhưng mà đọc nhanh nhanh, mau mau, lẹ lẹ cho hết chữ, đọc giống như là chạy vậy đó. Mình không cần đọc nhiều, không cần đọc dài, mà đọc phải có cái thần, phải có trái tim, phải có máu, phải có cái hồn trong câu câu kinh đó.
Vì đọc như vậy là mình lợi, người nghe cũng được lợi ích. Đọc cho nó dài, đọc cho nó lẹ, mình sợ nó dài quá mình đọc không kịp, người ta chờ lâu. Mà mình tham lam đọc muốn hết 1/4, 1/5 của buổi tụng Pháp Bảo rồi. Nó nhiều cái pháp trong đó lắm, thành ra chúng ta khi mà đi vào trong nhận diện ngũ uẩn nó vi tế lắm. Mình tham, mình muốn thể hiện, mình đọc cho nó dài. Rồi sau đó mình sợ là người ta chờ lâu, mình phải đọc cho nó nhanh, cái dục, cái tôi ở trong đó. Còn có người lại đọc quá ngắn, thành ra đọc quá ngắn hay quá dài cũng trật luôn, mình đọc vừa phải. Còn nếu như phải chọn thì thà đọc ngắn mà nó trong chân thành, ngọt ngào, bằng trái tim, bằng máu, bằng cả tấm lòng, sự cung kính Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng.
Đến lạy Phật, mà khi mình xá nó có Chánh niệm hay không, có buông lung phóng dật hay không, là nhìn vô cũng biết nữa. Gặp xá lia lịa hết, đó là cái sự buông lung phóng dật đó. Một cái pháp nhỏ nhiệm mà không thành tựu, thì làm sao thành tựu được pháp lớn. Cái tiểu hạnh nó mới thành cái đại đức, cái hạnh nhỏ nó tích lũy từ từ thì nó thành cái đức lớn. Mình không có chịu cái hạnh nhỏ, mình nói: “Cái này mà tu cái gì, kỹ quá, khó khăn quá, nhỏ nhặt, nhỏ nhiệm quá. Tôi là đại trượng phu mà, tôi là đàn ông tôi phải làm cái gì lớn”, mình đánh lộn hả? (Cười). Mình thấy hội chúng của Đức Phật, bất cứ người nào tới quỳ xuống lạy Đức Phật, lấy cái đầu đặt dưới chân Ngài.
Tất cả những người đó toàn là vương tử, toàn là hoàng thất, đại gia, hào phú Bà-la-môn chứ đâu phải mấy người ăn mày, mấy người thất học không đâu. Tất cả đều phải được học từ những cái pháp, về tụng 1.000 lần bài kinh “Xóm Ngựa”, kinh “Pháp Tác Thành Sa-Môn”, thứ tự, trật tự tu học người xuất gia. Phải đưa mình vào trong phép tắc, oai nghi, nề nếp của một người tu. Không có thể tự cho mình ở trong chùa lâu năm, mà lăn xăn phóng dật thua người đời tri thức nữa. Cái dáng vẻ của mình, mình không có chấp nhận như vậy, mình phải diệt tận nó.
II. Hộ trì căn
Kinh “Sống Phóng Dật”, trong Tương Ưng Bộ tập 4.
“Nhân duyên ở Sàvatthi...
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn...
Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn...
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – kinh Sống Phóng Dật)
Trong bài kinh chữ “khổ” này không phải dễ hiểu, năm triền cái nó là khổ. Không có năm triền cái thì tâm nó an trú, nó khinh an, nó định tĩnh, nó Chánh niệm. Còn người bị năm triền cái thì cái tâm bị ô nhiễm, tác thành không mắt, tác thành si ám, mù lòa, trí huệ bị yếu ớt. Vì cái tâm ô nhiễm như vậy, cái tâm nó lăn xăng, khổ an trú. Chính vì khổ an trú, cho nên người này dễ giận, dễ buồn, dễ sân, dễ tự ái không? Có tâm khinh an là làm cho người này khó bị dao động, còn một cái tâm bất an, tâm ô nhiễm, tâm có năm triền cái bao phủ, thì chỉ vừa chạm tới một cái là người này trừng trộ lên liền. Đó là cái tâm của người khổ đau, chứ không phải hạnh phúc. Tâm của người hạnh phúc là không có dễ gì làm cho người này bị sân si, phiền não. Thành ra cái chữ “khổ” ở đây là không phải dễ hiểu đâu.
“Người không có giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cho nên người này khi mắt thấy sắc. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, nhìn lại bên trong thì nó bị ô nhiễm”. Khi mà bị ô nhiễm rồi thì tâm không có hân hoan, tâm nó buồn buồn, chán chán, ở một mình không có vui, ở yên không được. Nó phải tìm cái này cái nọ cái kia, kiếm người nói chuyện, kiếm chuyện gì làm, bày ra cái này cái nọ. Bởi vì cái tâm này nó bị ô nhiễm, nó không có hân hoan với sự độc cư, nó không có thấy vui với sự tĩnh lặng. Mà nó thấy vui với sự dao động, với sự hướng ngoại với các đối tượng. Tại vì cái tâm ô nhiễm như vậy, không có hân hoan như vậy, cho nên không có hỷ ở trong thiền, không có hỷ trong pháp. Không có hỷ cho nên nó không có được nhẹ nhàng, khinh an, chính như vậy mà khổ nó an trú. Với một người đau khổ như vậy, tâm không có thể định tĩnh. Chúng ta thấy Đức Phật dùng chữ này rất là xót xa cho những người đau khổ.
Người đau khổ là người trong tâm mình cứ xâm chiếm bởi năm triền cái. Chúng ta đã nhìn thấy con chó nó chạy lăn xăn, lính quýnh như vậy đó, chúng ta thấy nó đang rất là mệt, rồi một hồi nó nằm xuống nó thở khì khì. Thì người mà lăn xăn, trạo cử, phóng dật thì cũng giống như vậy đó, Lúc nào cũng lính quýnh, lúc nào cũng lăn xăn, tất bật, lúc nào cũng giống như là bận rộn vậy đó. Đó là người khổ đau, không phải người hạnh phúc ở trong đạo. Có cái gì mà mình lăn xăn vậy? Có gì mình bận rộn vậy? Có gì mình phải lính quýnh như vậy? Cái gì đang ở trong người mình? Cái gì nó đang ở trong đó điều khiển đó có nhìn ra cái đó không? “Chính vì mình khổ như vậy đó, tâm không thể định tĩnh. Do tâm không thể định tĩnh, các pháp không thể hiển lộ.”
Vì người này không nhìn thấy tự thân, nội tâm của mình, nó đâu có hiển lộ đâu mà thấy. “Do các pháp không hiển lộ, nên người ấy được gọi là người an trú phóng dật”. Người này không nhìn thấy năm triền cái trong thân tâm, tự thân của mình. Chúng ta thấy sự tu hành nó sâu sắc, vi tế, nhỏ nhiệm, và các pháp không có hiển lộ vì tâm không có định tĩnh. Cho nên đại kỵ ở trong nhà thiền là một thân lăn xăn, dao động, đó là đại kỵ, cấm kỵ, kẻ thù. Rồi một thái cực thứ hai là lúc nào cũng rề rề hết, lúc nào cần nhanh cũng không nhanh được, thì cũng là một cái bệnh đó. Lúc nào cũng rề rề, lúc cần công chuyện gấp cũng rề rề luôn. Đi giống như là lê cái thân đi không nổi mặc dù chuyện gấp, thì cũng là bệnh nữa.
“Sao mà Pháp Cần cười quá vậy, có trúng bệnh không?” Đó là hai trạng thái, hai cái thái cực. Người mà tu đúng Chánh pháp, khéo sử dụng, thì khi định là khi trời rầm, địa chấn, động đất thì tâm cũng yên, cũng an tịnh. Ở nhà thiền người ta dung: “Khi dùng thì muôn cảnh toàn bày, buông đi thì mảy bụi chẳng lập”. Khi cần nhanh không ai nhìn lại hết, cái độ sắc bén đó, khi cần yên tĩnh rồi đất thì trời sụp đổ tâm cũng bất động. Mà có những cái hiểu làm khổ lắm, cái tà kiến này nó khổ lắm. Cứ hỏi tới cái gì cũng “không biết, không biết”, mà cho cái không biết nó là hay, nó ngáo như vậy đó. Không phải không biết như vậy là hay, không phải tu thì cái gì cũng không biết hay cái gì cũng biết hết. Mình biết cái cần biết, đừng có biết cái không cần biết.
Như giờ người ta hỏi: “Nghe nói là Ni cô này sân si lắm phải không?” Thì trả lời: “Dạ tôi không biết, cô lại có hỏi người khác, tôi lo biết cái sân si của tôi thôi”, thì cái đó là mình không biết. Hay người ta hỏi: “Ờ, hình như là chuẩn bị có cái khóa tu gì đó phải không?” Thì trả lời: “Đúng rồi, ngày đó, tháng đó đó, cô về cô tu tốt lắm”. Chứ đừng có trả lời: “Tôi không biết, không phải của tôi nên không biết, hỏi mấy người có trách nhiệm đó, có tu hay không tôi không biết”. Mà khổ cái như vậy đó, hễ nó nắm là nó nắm hết, mà bỏ là nó bỏ hết, cái tâm vậy đó. Người ta đưa cục đá, cục đất, cục sình cho mình thì mình bỏ, mà đưa cục vàng mình có nắm không ạ? Có tùy cái, trong lúc mình đang tu tập, thì mình vẫn cần phải phân biệt được. Như con nói đó, lâu lắm mới kêu ra làm cỏ dùm, ra coi như là cắt bông hết sạch, phát sạch hết.
Vậy đó, nói là làm y như vậy đó. Tu làm sao, học làm sao thì làm việc y chang như vậy à. Thành ra là tâm không định tĩnh thì các pháp không có hiện hữu, không có hiển lộ, cho nên mình không biết cái chuyện đó làm như thế nào. Và thêm một cái nữa là không thèm hỏi, không biết mà không hỏi, cái đó mới độc đó chứ. Mình tự ý, không biết cái nào là quan trọng cái nào là thứ yếu, cái nào là nặng cái nào là nhẹ, cái nào là việc lớn việc nhỏ không biết hết, nhưng mà thích chủ trương, thích toàn quyền. Cho nên Ấn Hoà lúc mới lên chùa đó, gặp ai cũng dạy hết, gặp ai cũng chỉ hết phải không? Lúc mà mới lên đó. “Tôi thương người ta lắm, cái này tôi thương, tôi từ bi mà”, ai cũng chỉ hết rồi xong phiền não, tối ngủ không được, chỉ người ta mà người ta xạc trở lại.
Như vậy đó là mình làm thiện pháp trong vô minh, chỉ đưa đến khổ đau. Mình nghĩ đó là tốt, nhưng người ta đâu có cần, “tôi đâu có cần cô chỉ tôi, cô là ai mà cô chỉ tôi, sư phụ chỉ tôi còn chưa được nữa, chứ đừng nói mà cô chỉ tôi”. Thấy chưa? Nó vậy đó. Cho nên cái tâm mình không định tĩnh, không thấy đúng thì mình làm trật lất hết trơn. Mà mình làm là mình nghĩ là tốt, nhưng mà nó lại là xấu, vì các pháp không có hiển lộ. Tại vì lúc đó mình không biết cái gì nó đang chỉ, cái tôi đó thể hiện hơn, “anh đừng chỉ, tôi ở đây nè. Anh mới lên biết cái gì mà đòi tôi chỉ tôi”. Vì các pháp đó không có hiển lộ, mình đâu có thấy cái bản ngã đó đâu. Cho nên là cái pháp phóng dật này nó khủng khiếp, nó từ thô đến tế. Tất cả sự tu của mình lấy ba chữ “không phóng dật” làm thành tựu.
Niệm ba chữ đó hoài: “Không phóng dật, không phóng dật, hộ trì”. Niệm hoài như hồi xưa mình niệm Phật vậy đó. Niệm hoài: “Nhớ nha, giữ gìn nha, hộ trì nha, phải nhớ nha”, niệm hoài chừng nào nó nhớ thì thôi. Cho nên mỗi người có một tập khí, nó huân tập tính tình, thói quen. Có người từ khi sanh ra đã trầm tĩnh, có người từ sanh ra đã hiếu động, dao động. Mà bây giờ muốn chiến đấu với tập khí này, nó trần ai khoai củ chứ không phải chuyện dễ. Phải là cả một sự gọi là nội chiến, quyết chiến, cả một sự tranh sáng, tranh tối, cả một sự chiến thắng chính mình. Cho nên Đức Phật mới nói: “Dù tại bãi chiến trường thắng hàng ngàn quân địch, cũng không bằng tự chiến thắng được mình. Chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”
Tất cả toàn là chiến thắng mình không, mà mình không thể chiến thắng mình thì thôi, mình đầu hàng với tập khí đó luôn, suốt đời mình như vậy luôn. Cứ leo lên ngồi nghe pháp là bắt đầu ngủ, leo lên ngồi thiền là ngủ, cái nghiệp nó như vậy, cứ leo lên ngồi là ngủ. Mà những cái đó là toàn buông lung phóng dật không à. Cái tâm mình cũng vậy nữa, tại sao mình hay quên cái pháp? Mình học rồi mình quên hết à. Tại vì lúc đó mình buông lung cái ý thức, ý căn của mình. Mình không có để ý, mình không có ghi nhận, không có thọ nhận, không có cẩn thận trong sự thpj trì pháp nên mình quên. Cái buông lung ở trong mình không có để tâm, thì cái pháp qua rồi nó như gió thoảng, từ lỗ tai ở bên đây bây qua qua bên kia mất tiêu. Buông lung mắt, tai, mũi lưỡi thân ý, buông lung sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Buông lung xong rồi gặp Diêm Vương.
Như cái ông hồi hôm đó, bởi vì cái thời gian hết với lại cái nhóm đó mới, nên đánh bao nhiêu là thấm thía rồi, chứ đánh nữa là văng luôn. Chứ cái bài đó là mạnh lắm, cái bài đó là phải bầm dập hết trơn, đập cho nó phải bầm dập hết. Địa ngục như vậy là cho chúng ta thiền quán, vô cảnh địa ngục như vậy mà còn chưa thức tỉnh nữa. Câu tuyệt vời là ông Diêm Vương ổng phát nguyện. “Diêm Vương là một thời xưa lắm ông suy nghĩ là Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác. Như vậy mong rằng ta được làm người, được bậc Như Lai, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho ta và ta có thể thông hiểu pháp mà Thế Tôn thuyết giảng”. Diêm Vương mà mong chờ được lúc mà Đức Phật ra đời, được đi theo hầu, được nghe pháp.
Cho nên là mình lấy không buông lung phóng dật, này làm đề mục mình tu, đó là một cái Thánh pháp, một cái thiện pháp. Đừng có để mất pháp trong con người mình, dù cho chuyện gì có thể xảy ra đừng cho để pháp biến mất. Mình không thương mình, cho nên mình mới bỏ pháp, mình mới rời pháp, mình mới xa pháp. Nếu mình thương mình, mình không có xa pháp. Làm sao để pháp lúc nào cũng sống trong con người mình. Không phải ở trên pháp đường, thì lúc đó mới có pháp. Ngay cả trong những lúc dầu sôi lửa bỏng, trong những lúc bận rộn làm việc, pháp phải hiện hữu trong ta. Mình cứ niệm: “Trong ta có pháp, pháp đang ở trong ta. Ta đang hiện hữu trong pháp, pháp đang hiện hữu trong ta”.
Mình nhắc hoài như vậy, mình coi cả một đời sống này không có việc gì quan trọng bằng việc mình nắm giữ được pháp hết. Tất cả những cái khác mình có thể bỏ bất cứ lúc nào, mình coi không có cái gì quan trọng bằng pháp, đó mới gọi là quy y pháp tối thượng. Mình ngã ra chết ngay chỗ này cũng được, không có gì phải hối hận, chỉ hối tiếc có hối tiếc là chưa thành tựu pháp. Mình có nhìn thấy một cái gì quan trọng hơn pháp, là mình chưa có tịnh tính đối với pháp. Mình còn thấy một cái gì quan trọng hơn Chánh pháp của Phật, thì mình chưa có thành tựu quy y pháp rồi. Mình tập đi những bước đi an trú, tại sao giờ thiền hành mình đi được, mà ngoài giờ thiền hành mình không đi được? Tại vì mình không tập. Phải không? Tại vì mình không tập đi thiền hành ở ngoài thiền đường, mình tập riết rồi nó được.
Tại sao phải đợi lúc nào, giờ nào thì đi thiền hành thì lúc đó mình đi thiền, còn ngoài lúc đó thì mình đi thoải mái, tại sao vậy? Mình hỏi mình: “Tại sao vậy?” Thân, hành, niệm mình ở đâu? Niệm thân ở đâu? Niệm kinh Tứ Niệm Xứ làm cái gì mà tại sao mình không ứng dụng? Cho nên lúc đó mình phải niệm. Mình tu là tu giây phút hiện tại thôi, không cần tu nhiều. Không cần tu 3 năm, 10 năm, 30 năm gì hết trơn. Tu ngay giờ phút hiện tại đó thôi, tu vào lúc đó thôi à. Mà nếu mình tu được như vậy, thì lỡ có bất thình lình tai nạn tới thì mình cũng an trú được pháp, mình không có bị mất pháp.
Tại vì nó đến là nó đến ở giây phút nào? Nó đến ở ngay giây phút hiện tại đó. Chúng ta thấy không? Như chúng ta nói ngay buổi lễ xuất gia hay là khóa tu, nó cũng thành mây khói rồi có gì nữa đâu. Chỉ còn mấy tấm hình lâu lâu mở ra coi, hoài niệm. Còn ngay bây giờ có tu không? Mình trả lời: “Bây giờ tôi hết tu, tôi xuất gia rồi”. Tu ngay giây phút hiện tại, lúc nào thân nó chưa xuất gia nhưng mà tâm nó xuất gia. Cái bài hôm bữa xuống núi con đọc đó, “thân ở tại gia, tâm xuất gia. Thân đang làm chuyện nhưng mà tâm đang ở trong pháp”. Phải tu được như vậy, thân bệnh nhưng mà tâm không bị bệnh, thân làm việc nhưng mà tâm ở trong pháp, phải tập được như vậy. Chứ mà con tối ngày bao nhiêu công chuyện thì làm sao con tu? Con mới là người nhiều chuyện nhất ở đây, có ai nhiều chuyện bằng con không ạ?
“Thầy nghĩa nhiều chuyện hơn con không? Pháp Lực nhiều chuyện hơn không?” Nếu công chuyện nhiều như vậy thì rồi làm sao mà tu? Đừng có thấy chuyện mà thấy pháp, chuyện đó chính là pháp, pháp đó chính là chuyện. Chúng ta nhớ cái bữa mình ngồi ngoài bụi trúc, rồi cuối cùng có cô cổ lên quỳ kể cuộc đời của cổ đầm đìa nước mắt, chúng ta nhớ không ạ? Thì lúc đó con ngồi đây con nói trong bụng: “Đang nghe kinh Nikāya thế kỷ 21 nè, đang nghe khổ Thánh đế, khổ Thánh trí nè, cứ để cho cổ nói”. Thì ngay cái chỗ người ta nói chuyện mình nghe đó, nhưng mà cái đó là nghe pháp, nghe Thánh trí, nghe khổ Thánh đế, chứ đâu phải nghe kẻ chuyện đâu. “Trời bà này dài dòng quá, lên kể tiểu sử bả chi vậy?” Mình tác ý sai thì nó trật đi.
Mình phải tác ý: “Ngồi đó nghe khổ Thánh trí, khổ Thánh đế Nikāya thế kỷ 21 đó. Sự thật ngay trước mắt mình đó, người thật, sự thật, việc thật, lẽ thật, chuyện thật”. Cái gì mình nhìn mình cũng nhìn bằng con mắt pháp hết trơn, đừng có nhìn bằng con mắt thường tình. Chúng ta có nhớ mấy bữa con lấy nghiêng trầm, lấy chiếc lá, lấy ly nước ra con nói không ạ? Thì cái gì mà không phải pháp? Thì tại sao mình mở kinh ra mình mới thấy pháp, mà tới chừng mình ra làm việc thì mình ra nói chuyện không phải pháp nữa. Thì tại sao chúng ta không tập? Tại sao mình đưa cái pháp đó tách rời với cuộc sống của mình? Đưa pháp đi vào cuộc sống, vào sinh hoạt, vào hơi thở của mình.
Mình đang thở như vậy là có pháp không ạ, có không? “Dạ có, pháp vay trả”, và pháp gì nữa ạ? “Pháp niệm thân, pháp an trú, pháp sanh diệt”. Nhiều pháp dữ vậy mà sao không nhớ? Một hồi ra ngoài không nhớ nữa. Một hồi ra ngoài mình có thở không? “Có”. Có mà sao không nhớ? Nói thì đủ pháp hết trơn, mà sao một hồi ra ngoài thì không nhớ? Phải “nhớ, nhớ, nhớ”. Nhớ tức là niệm, niệm tức là niệm xứ, là Tứ Niệm Xứ. Cho nên ngồi không nói gì hết, từ đầu tới cuối thời niệm: “Nhớ, nhớ”, rồi xong xuống pháp toạ không nói gì nữa hết. Phải để tâm vào trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Phải nhìn cho ra được ngũ uẩn, nhìn cho ra được bản chất của nó, nhìn cho ra được những gì nó đang thúc giục, sai khiến, điều khiển, dẫn dắt, áp đảo bên trong. Chúng ta thấy cái khoá tu vừa rồi sao ạ?
III. Trình pháp
“Con mời Ni sư đi, khóa tu vừa rồi Ni sư cảm nhận ra sao? Mọi người có hộ trì, có tinh tấn không?”
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch thầy, kính thưa quý thầy, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con thấy khoá tu vừa rồi rất là vui. Sư phụ, đại chúng, những người huynh đệ về đây tu tập ai cũng tinh tấn hết. Lúc nào con cũng thấy người ta lên 15, 20 phút trước giờ tụng kinh.
- Thầy: Cô có hoan hỉ không?
- Dạ thưa hoan hỉ ạ!
- Thầy: Ni Sư có cho khóa tu nữa được không? Mấy Phật tử trực tuyến đang ngồi chờ.
- Dạ mô Phật, con rất là hoan hỉ mọi người về tu tập. Trong đó con cũng có một bài kiểm tra, mà hồi bữa con cũng nói cho mọi người nghe bài kiểm tra của con là như vậy.
- Thầy: “Bây giờ Ni sư đọc bài kiểm tra đi, con chưa có nghe.
- Dạ thưa sư phụ, bài kiểm tra đó là hồi bữa con cũng nói cho đại chúng, ai học cũng biết. Sư phụ cho con trình pháp sáng hôm nay nha sư phụ.
- Thầy: Dạ mời cô.
Dạ thưa sư phụ, sáng nay con nghe sư phụ nói về tâm phóng dật với địa ngục. Trong lòng con rất là hoan hỉ, nó hoan hỉ là như vầy. Con đọc một bài kệ Pháp Cú thì là: “Không phóng dật đường sống, phóng dật là đường chết. Không phóng dật không chết, phóng dật như chết rồi. Hoan hỉ, không phóng dật, an vui hạnh bậc Thánh”, con đem bài kệ này về con thiền quán. Sư phụ thường dạy: “Thế giới này là ngũ uẩn, mà thân này thân xác con người cũng là ngũ uẩn”. Thì con chiêm nghiệm: “Vì con là ngũ uẩn, con cũng ở trong thế giới và thế giới ở trong tâm con”. Không ngờ con thiền quán như vậy, thì trong tâm con cũng là thế giới, thì trong tâm có đủ loại cây cối, hoa lá, súc vật ..v..v..
Thì con thiền quán là bây giờ có người ta chửi con đó là: “Mày mà tu cái gì? Mày tu mà cái tâm mày như một con chó”. Con nghĩ tới đó thì con coi thử cái cảm thọ của con. Nếu như mà cảm thọ của con nó thật sự là con chó, thì nó nhảy lên cắn người ta, nó sủa người ta, nó hành hung người ta, thì họ nói là đúng rồi. Như vậy là đúng, thì cái đó là cái tâm phóng dật của con suy nghĩ như vậy. Còn nếu như con không có cái tâm đó, thì cái tâm con an lạc, thì con đã bước lên một bậc thang tinh tấn. Con cũng theo Đức Như Lai tu tập, cũng được bước lên được một bước, thì trong lòng con rất là hoan hỉ. Không biết con nói như vậy sư phụ có thấy đúng không con cũng không biết nữa, nhưng mà con thiền quán thì con thấy cũng như vậy.
Hoặc là ai nói: “Mày mà tu cái gì, mày ngu như một con bò”, thì con nghĩ là: “Nếu như mà con nhảy ra, con lấy cái sừng của con hút người ta, thì họ nói như vậy là đúng rồi đó, họ nói đâu có sai đâu, mày là con bò”. Nhưng mà nếu con nhìn lại cái cảm thọ của con, con thấy không có thì con vui vẻ. Con bước thêm một bước nữa, thì cái tâm con rất an lạc. Thì cái tâm lúc đó thì con biết được cái tâm con đang phòng hộ. Thưa sư phụ về pháp sáng nay con thiền quán như vậy. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con tri ân sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng.”
Người ta nói con chó, mà mình nhảy lên mình sủa thì mình thành con chó. Người ta nói con bò, mà mình nhảy lên mình húc thì mình thành con bò phải không? Người ta nói gì thì nói, mình lo nhiếp phục cảm thọ mình thôi. Cái sự tu tập chúng ta nó rút lại nó nằm trong cảm thọ, tưởng, hành của chúng ta, nhiếp phục chỗ đó là được. “Mời Tấn Hoà”
Phật tử Tấn Hoà:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con mất Chánh niệm 2 lần, lần 1 micro mà con quên xem nó đã lên đèn chưa. Con kính lạy Phật xong con lại quên kính lễ sư phụ và đại chúng, con xin sám hối. Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý Ni sư, cùng toàn thể đại chúng. Trong quá trình khóa tu diễn ra, thì con nhận diện cái cảm thọ của mình trong những lúc mà tiếp xúc với các vị Phật tử. Sư phụ có thể cho con kể 2 câu chuyện, trong các pháp hành nó được không ạ? “Được”. Con biết là các vị Phật tử về thì chuyện xảy ra những cái vấn đề qua lại với nhau, thì nó không thể tránh khỏi. Nên trong những lúc mà nghe, nhìn thấy, thì con quay về nhìn lại cảm giác của mình, để tránh những trường hợp mà như lúc đầu con mới lên, đó là thật đáng tiếc cho con.
Nên khi có một trường hợp của một vị Phật tử, vị đó mới vô 1, 2 ngày gì đó. Thì theo con đoán là vị đó mới tu tập thôi mới lên đây, chứ không có tu tập lâu. Thì vị đó để quên chiếc áo ở đâu đó, mà con không có biết. Mà thường lúc trước vị đó có chuyện gì không biết cũng gọi con hết. Thì con cũng chỉ dẫn, nhưng cái này con nói là không phải con khoe con. Mà vị đó cũng có thể là thấy con cũng chỉ dẫn nhiệt tình này kia, thì cái gì cũng kêu con. Thì thấy con đi qua thì cô Phật tử đó đến gọi con và nói là: “Cô ơi, con để quên chiếc áo ở đâu rồi mà con tìm hoài không ra, cô coi thử”. Khi cổ nói như vậy, thì cái tâm ý con cũng là hiểu là cổ muốn con đi tìm chiếc áo đó.
Lúc con nghe câu nói đó thì ở trong con nhận diện, cảm giác nó không sân nhiều như hồi con mới lên, nhưng mà nó cũng có chút vì đó gợn, bởi vì trường hợp đó con cũng rất là khó xử lý. Nếu như lúc hồi đó con mới tu tập, thì con nói lại ngay: “Của cô thì cô biết, chứ còn nhiều việc sao biết cái áo cô để đâu”. Bây giờ con cũng tu tập sự an tịnh, thì con cũng nhìn lại, con cũng ngần ngừ xem con sẽ trả lời như thế nào. Con mới nói cô là: “Thôi cô bây giờ an tịnh, điềm tĩnh lại thì cô sẽ nhớ là cái áo cô để đâu. Chứ con cũng không biết sao mà kiếm được nữa, cô cố gắng an tịnh thì cô sẽ nhớ”. Thì cổ cũng làm thinh, hai bên vui vẻ không có việc gì hết. Thì con kể câu chuyện đây là kể pháp hành thôi, chứ còn con với cổ không có gì làm mâu thuẫn, rất là vui.
Tối lại thì cổ nhớ lại, cổ lại xuống nói với con, chiếc áo đó là cô đó để ở đó đó. Con mới nói là: Dạ cô bình tĩnh, từ từ xong rồi cô thử hỏi người mà người ở đó xem người ta biết cái áo ở đâu không? Bây giờ con đi tìm cái đó nữa là con không biết, rồi bây giờ phải đi tìm cô nữa thì 2, 3 vòng, cố gắng nha cô”. Cổ cũng vui, xong rồi cổ đi tìm người mà biết cái áo ở đó, thì cổ mới lấy được cái áo đó. Con nghĩ là cái đó cũng có sự an tịnh. Mình an tịnh thì mình nhắc nhở được người bạn đạo an tịnh, bình tĩnh, thì kết quả rất là viên mãn, vui vẻ trọn vẹn.”
Mình phải tu tập cái tâm từ của mình nhiều, trong người mình mới mát mẻ, ngọt ngào nó rất là khó sanh ra cảm giác khó chịu. Người mình không có cái tâm từ sung mãn, thì mình dễ cáu gắt lắm. Cho nên là mình tu tập tâm từ nhiều, mình chất chứa tâm từ nhiều, tình thương rộng lớn, cái tâm bao dung, rộng lượng, thì cái chuyện mà người ta có quên người ta hỏi mình, thì chuyện đó cũng bình thường, không có gì là khó chịu. Tuy là mình đã tốt hơn lúc trước rồi, nhưng mà mình muốn tốt hơn nữa. Tức là ý con là cô bước đi thêm một bậc thang rồi, thì bây giờ cô bước lên một bước nữa, chứ không dừng lại ở đó, được không ạ? Người ta đang khó khăn, người ta muốn tìm được một người trợ giúp, mà mình là người mà người ta quen, là chỗ dựa, mình là người tu, cho nên điều đó là rất là phù hợp. Tâm mình tu tâm từ, tâm hiền nhiều, thì mình gặp những trường hợp đó mình sẽ rất là ngọt ngào. “Ni sư mỉm cười hả Ni sư, Ni sư có chia sẻ gì không ạ?”
Phật tử 1:
“Dạ hồi nãy sư phụ có kêu con chia sẻ hồi bữa, nhưng mà lúc nãy con đang có cảm thọ về địa ngục với cái tâm phóng dật, cho nên con chưa có thưa sư phụ. Bây giờ con chia sẻ, hồi bữa con tu tập trong khóa tu. Dạ thưa sư phụ, lúc nào sư phụ cũng kêu tụi con quán chiếu ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn, thì con đứng lên giơ tay dang ngang, chỉ từ nơi sắc là đầu, tới thọ là cánh tay bên trái, tưởng là chân bên trái, hành là chân bên phải, thức là tay bên phái, nó vận hành xung quanh thân con theo vòng tròn, con thường quán chiếu ngũ uẩn như vậy. Thì trong khóa tu con đưa cho mình mục tiêu, đề mục là bây giờ mình quán chiếu ngũ uẩn, mình vận hành ngũ uẩn, thì mình phải có bài kiểm tra cho chính mình, để mình tập để mình thi trong trường thi Phật.
Thì tài liệu của con đã chuẩn bị làm bài kiểm tra, là con cũng chuẩn bị gồm có gồm năm căn và năm trần. Mà năm căn như vậy là năm cái cội nguồn, năm căn nguyên để cho con cố gắng, nhiệt tâm, nhiệt tình, để mà nỗ lực, đó là “Tính, Tấn, Niệm, Định, Tuệ”. Mà tiếc khi mà con đã bước lên bậc thang thứ nhất là Tính, như là có tịnh tính với Phật, với Pháp, với Tăng. Rồi thì con cần phải tinh tấn khi mà con tin tấn, nhận diện ngũ uẩn, rồi tới Niệm.
- Thầy: Là cái này cô có chia sẻ hôm “Tâm đắc tu học Nikāya đó hả?”
- Dạ!
- Thầy: Bữa đó con có nghe.
- Dạ mô Phật, con xin hết ạ”
Mình nói mình thi vô trường của hiền Thánh, chứ đừng có nói thi vô trường Phật. Chữ “Phật” đó chỉ có mình Đức Thế Tôn thôi, cho nên bây giờ người ta dùng nó quen rồi, nhưng không phải. Chữ “Phật” đó chỉ dùng một mình bậc Chánh đẳng Chánh giác thôi, chứ mình tu đến tận cùng thì mình trở thành Thánh đệ tử. Trong dòng Nikāya chúng ta phải biết nghĩ cái này, người ta hay nói: “Bao giờ bằng Phật, mới vừa lòng con” phải không? Ngày xưa mình nghe thấy hay ha, nhưng mà trong Nikāya không phải vậy, mình tu tận cùng của mình là Thánh đệ tử. Ở đây không có tuyển Phật trường, cho nên người mà thấy đúng về Nikāya thì có sự cung kính đối với Đức Phật tuyệt đối. Mình không có nghe ai ngoài bậc Chánh đẳng giác đâu. Đó là sẳn dịp con chia sẻ, để trong đạo tràng nhớ.
Chúng ta niệm Phật là niệm: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Những người mới mình nhắc nhở cho họ, nhớ trong lớp học không ạ? Chúng ta có nghe không ạ? Mình đang học pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà mình không có nhớ bậc đạo sư của mình. Thành ra chúng ta có duyên tới đâu, thì chúng ta sẽ học tới đó, chứ không có nhớ hết được mà nói. Chúng ta sẽ tu học, để bước lên con đường của các bậc hiền Thánh. Như hồi nãy con nghe chia sẻ, thì chúng ta học thầy Pháp Nghĩa, tuy là thầy bận rộn rất là nhiều, con nể phục thầy cái này. Con không có thấy thầy nổi giận, mà công chuyện rất là nhiều, dồn dập 5, 7 hay cả chục chuyện một lúc. Mà thậm chí đi xuống rửa chén rồi này kia, mấy cái đó con làm không được rồi đó. Ngồi rửa chén rồi cười vui, hoan hỉ.
Cái gì cũng vô làm được hết, chúng ta thấy cái hạnh của thầy tuyệt vời không ạ? Thì cái đó là chúng ta học cái tâm hỷ xả, cái tâm bao dung, rộng lượng. Cái điều đó rất quan trọng, khi tâm mình bên trong nó dạt dào, ngọt ngào, sung mãn tình thương lắm. Một người mà đau khổ mà đến với mình, thì mình dang cánh tay rộng ra, giống như người ta khổ quá, cần một vòng tay, họ khổ đau họ tới, mình thấy mình dễ chịu lắm, vì chúng ta có cái tâm từ. Tại vì người ta khổ lắm người ta mới lên đây, người ta đã rất là khổ, người ta khổ không thể nào mà nói nổi người ta mới lên đây. Người ta lên đây mà cần một sự nương dựa, mà nếu mình không có một chút gì đó, thì tội nghiệp người ta và cũng tội nghiệp cho mình, mình cũng khổ.
“Hiền Hạnh đang cảm thọ như thế nào?” Cái tâm từ của mình mà dạt dào như vậy, mình thấy mình thương lắm. Dù người đó họ tới họ muốn làm khó mình, mình cũng thương nữa, huống gì mà người ta đang cần trợ giúp.
Phật tử Hiền Hạnh:
“Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đệ tử con pháp danh Hiền Hạnh, xin được cung kính đảnh lễ sư phụ, con xin cung kính đảnh lễ trên chư Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hành giả. Hiện tại thì cảm thọ của con rất là xúc động trước câu nói của bậc ân sư, là: “Tất cả mọi người khi mà đến với Linh Quy thường là họ mang một trạng thái tâm rất là đau khổ”. Thì khi mà họ đến được với môi trường thiện lành, họ được sự chở che, họ được sự cảm thông, thấu hiểu, thì thật sự mình đang giúp cho họ vượt khỏi niềm đau, nỗi khổ. Vì vậy khi mà con sư phụ nói đến câu đó, thì con rất là chấn động thân con, vì con cũng trong hoàn cảnh là khi con đến Linh Quy thật sự con rất là buồn khổ. Nhưng chính môi trường của Linh Quy Pháp Ấn, là con chỉ đến được 3 lần, nhưng thật sự là đã cứu được cuộc đời của con.
Vì vậy con mang cái tâm trạng đó, mà khi con được sống những ngày ở Linh Quy, thì con lúc nào cũng trân quý. Con luôn cố gắng học theo hạnh của bậc ân sư, cùng với quý thầy, quý Ni Sư cùng toàn thể các bậc hiền giả. Thì con luôn luôn dạy tâm của mình tri ân sâu sắc, khi mà trạng thái của một con người lạc lỏng, đau khổ, thì họ rất cần điểm tựa của tình thương. Hơn ai hết con là người đã trải nghiệm, nên con có thể cảm nhận được nỗi khổ đó. Và con chỉ mong muốn rằng là được chữa trị lành tâm bệnh, mình cũng mong mang tình thương đó để giúp cho những vị mà mình có duyên gặp mặt. Con chỉ biết cố gắng và cố gắng, lúc nào cũng nhắc nhở tâm mình, cái môi trường và thiện lành của Linh Quy, những bậc thiện trí thức, những vị có tâm đức rất là cao rộng, đã che chở, bảo bọc để chữa trị tâm bệnh cho mình.
Để ngày hôm nay mình như được tái sanh một lần nữa, trong cuộc đời này thì cái điều tri ân đó mình phải luôn khắc sâu trong tâm mình. Phải luôn cố gắng để có thể lan tỏa tình thương ấy rộng lớn hơn, để có thể giúp được thật nhiều những con người còn đau khổ. Với sự tận tâm, tận lực của mình, theo những gương sáng của các vị đã đi trước. Lúc nào trong tâm con cũng luôn hướng về các bậc tôn đức, và cung kính để học, để hành những hạnh đức cao quý ấy trong từng ngày. Con chỉ biết cố gắng và cố gắng, đó là những cảm thọ mà sáng nay con được trải nghiệm. Con xin được cung kính tri ân trên bậc ân sư tôn kính, cùng với chư Tăng Ni và các bậc hiền giả có mặt ngay đây. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Chú Thắng chia sẻ đi.
Phật tử Thắng:
“Con kính bạch sư phụ ở trên, các chư vị thầy, sư cô và toàn thể các vị hiền giả trong đạo tràng Nikāya. Con bạch sư phụ, kể từ ngày con được bước chân lên Linh Quy Pháp Ấn, từ cái sờ đầu của sư phụ, nụ cười thiện lành của sư phụ đối với con. Sâu trong tâm của con, mỗi lúc mà con chán nản, con đã nhớ đến nụ cười ấy, cái sờ đầu ấy chưa bao giờ xảy ra trong con. Vì con cũng là một con người cũng khá khổ, từ bé bố mẹ bỏ nhau, nên con không có tình thương của cha. Đến khi sư phụ sờ đầu con, cũng coi như là lần đầu tiên của con trong đời được người cha sờ đầu cho con. Con đến thì 1, 2 ngày cũng may mắn được trong đạo tràng có khóa tu 2 ngày, con nghe được rất nhiều điều. Lúc đó con chưa cảm nhận sâu sắc, con chưa biết ngũ uẩn nhiều.
Ở nhà con cũng nghe pháp của sư phụ, nhưng mà con chưa pháp hành. Lên đây lúc sư phụ đi rồi, thì tâm con lúc đấy tâm trạng, ý hành của con nghĩ: “Sư phụ đi rồi, chết rồi. Không biết là ai chỉ bảo cho mình đây”. Mấy lần con đi thiền viện mà cũng với tâm trạng lo lắng. Một phần cũng nhớ nhà, nó khuyên mình bỏ về, không tu được, thế là một cái tâm của con nó lo lắng. Sau khi sư phụ đi rồi, thầy Pháp Lực lên, thầy gọi con ra thầy chia sẻ những điều tâm đắc và những cái pháp hành của thầy cho con. Thầy mỉm cười thật tươi, thầy nói với con thầy chia sẻ với con, thầy hướng dẫn từ từ, từ dễ đến trung bình, rồi đến khó cho con. Con cũng hỏi thì thầy rất hiền hòa, thầy hướng dẫn cho con. Trước khi thầy Pháp Lực chỉ pháp cho con, thì con bắt đầu chiến đấu với hình ảnh gia đình.
Cái hành con nó bảo: “Mày đi lên đây thì ở nhà mẹ mày làm sao? Con mày nhỏ tí mà mày đi lên đây, rồi vợ mày làm sao?” Con cũng nghĩ đến, con có chiến đấu cả đêm. Rồi sáng hôm sau cũng nhờ cái duyên lành trên đây, con cảm nhận các vị Phật Pháp Tăng gia hộ cho con hay sao, mà thầy Pháp Lực lên ở trên Pháp chỉ dẫn cho con. Con mới bảo: “Thưa thầy, bạch thầy Pháp Lực, là ôm nay là có ân đức của thầy, con như cởi được một cái mắc xích. Từ đó con suy nghĩ và những nỗi nhớ nhà con hành có một cái ý khác, nó ôm về trong con thì con sẽ tác ý: “Mày lên đây là mày tu tập để tốt cho sau này. Thứ nhất là cho mày bớt khổ, mày khổ bao nhiêu lâu rồi.
Một năm trước khi biết sư phụ, mày đã khổ mày mới vào tận trong đây. Mà mày không đến được đích mà mày đi về. Bây giờ mày vào trong đây mày lại xúi tao như thế nữa”, con tác ý thì nó cũng bớt. Tối hôm được thầy Pháp Lực chỉ pháp, những cái ý nghĩ, những cái hình ảnh ấy về cho con thấy là con mới nhờ thầy Pháp Lực chỉ dẫn, và nhớ lời thầy hướng dẫn. “Mày lên đây, mày ở nhà mày nuôi mẹ mày thì ăn sung mặc sướng, ăn toàn thịt, cá, gà, vào nghiệp sát sanh. Nuôi con mày có lo được cho nó không? Ở nhà mọi người càng khổ đau hơn hay là mọi người lại mệt hơn”, con đã tác ý như thế đó. Và như thế tâm con có an tịnh lại một chút.”
IV. Tâm từ
Thôi được rồi, mỗi ngày mấy thầy luân phiên với nhau, để hướng dẫn cho các chú mới. Bốn thầy luân phiên, mỗi thầy một ngày giành ra một tiếng, một tiếng rưỡi hướng dẫn cho các chú mới. Rồi ở bên quý cô cũng vậy, hiện tại mình ba vị lớn, thì luân phiên hướng dẫn, nhất là mấy vị mới. Những vị mới mình phải chăm sóc thật là kỹ. Nhớ là phải chăm sóc thật là kỹ những vị mới. Chúng ta luôn nhớ rằng, phải thường quán chiếu bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng. Mình trải tâm từ đến những người mới đến, những người ở chung với mình, phải bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng ngọt ngào. Vì chúng ta cùng là những kẻ cùng khổ, khổ đau nhất trong thế gian này. Chúng ta không được quên mình là người đau khổ nhất, không được quên điều đó.
Mình phải khắc ghi mãi mãi trong tim của mình, mình là người đau khổ nhất mình phải đi tu, mình phải lên núi, đừng bao giờ cho mình quên. Những người đến đây là những người đau khổ tận cùng, người nào nói lên cũng bằng dòng nước mắt tận cùng thương đau. Mình phải nhớ là người ta khổ lắm, và mình quán chiếu lúc nào mình cũng phải ngọt ngào, cũng bằng tình thương, bằng từ tâm thật sự, bằng tấm lòng thương tưởng giúp đỡ. Khi mình có được tình thương rồi, mọi việc nó nhẹ nhàng, nó êm ái lắm, không còn là vấn đề nữa. Khi mình không có tình thương, thì chuyện gì dù một chút nó cũng bực bội, sân si, gắt gỏng. Khi mình có tình thương rồi, tất cả không còn là vấn đề nữa. Giờ Hiền Hạnh nhớ là mình đang được điều trị, chứ không phải mình được chữa lành.
Mình đang được điều trị, mình có bớt bệnh cho nên mình sẽ chăm sóc cho những người còn bệnh nặng, còn hết bệnh là A-la-hán rồi đó. Con cũng chưa hết bệnh, còn bệnh nhiều lắm. Thành ra thương mình hơn, mình là một bệnh viện tinh thần, và những người xuất gia ở đây là những điều dưỡng, những y bác sĩ, những dược sĩ. Và ngày hôm nay có một đoàn 45 vị bác sĩ, dược sĩ, y sĩ lên đây để chữa bệnh cho 800 người. Mười hai giờ trưa này là bắt đầu trị bệnh và lên đây xin pháp, đồng thời trị bệnh cho 800 người. Chúng ta hãy đón mọi người, dù cho người đó là bác sĩ, kỹ sư, hay là một người ăn xin, cũng đón bằng tình thương, bằng cả tất cả tấm lòng của mình.
Tất cả chúng sanh, hữu tình, cái tâm thức của người ta nghèo thiếu, tiều tụy lắm, cái tâm thức của người ta là một tâm thức suy dinh dưỡng. Tất cả chúng sanh bất kể người giàu, người nghèo, bất kể đẳng cấp nào. Ở ngoài nhìn vậy đó, nhưng bên trong là một nội tâm tiều tụy, suy nhược, thiếu thốn, nghèo khó. Mình phải là một người tu có một nội tâm giàu có. Mình giàu cái gì? Mình giàu tâm hiền thiện, giàu những cảm giác ngọt ngào, giàu tình thương. Mà khi những người đang thiếu thốn, đang nghèo khó, đang tiều tụy, mà họ được vào trong một nơi mà đầy ấp tình thương, ngọt ngào, thì chúng ta thấy như thế nào? Tự động người ta thấy dễ chịu, tự động người ta thấy thích à.
Tại vì mình đưa cái mà người ta rất là cần, rất là thiếu, mà mình phải có mình mới đưa cái đó được. Cho nên trong đạo tràng chúng ta là sau một năm trời tu tập tâm hiền rồi, thì tiếp tục tu tập suốt một năm về tâm từ. Khi mình có một cái tình thương rộng lớn rồi, thì tất cả mọi việc không còn là vấn đề nữa. Mình nghĩ đi, bây giờ bóng tối vậy, mình thấp bao nhiêu ngọn đèn để cho ngọn núi này nó sáng? Hay chỉ cần một cái mặt trời lên thôi là nó sáng hết tất cả. Cho nên khi mình không có tâm từ, mình có gắng gượng mình làm bề ngoài gì đi nữa, thì cũng được lóm đóm, hay mình có được như đèn cầy, đèn dầu, đèn pin vậy thôi. Nhưng mà mình có được tâm từ, thì nó giống như mặt trời ấm áp, sáng ngời, tự động người ta sẽ cảm nhận được.
Những tâm hồn tiều tụy, suy nhược, thiếu thốn, khó khăn, nghèo túng sẽ được tưới tẩm, lan tỏa, thấm đẫm những cảm thọ ngọt ngào, dạt dào yêu thương chưa từng có, vô điều kiện. Thì chúng ta nghĩ rằng, đạo tràng chúng ta ấm áp và ngọt ngào biết chừng nào, những người đến đây hạnh phúc biết bao nhiêu. Mà tất cả mỗi thành viên chúng ta phải tu tập tâm hiền, phải được tâm này, phải chứng đạt được cái này. Phải chứng đắc được cái tâm từ, cái gì chưa được nó khó, chứ tâm từ này nó không có khó. Phải không? Nhất trí không? Tình thương này nó đâu có khó, người ta đang khó khổ, người ta tìm mình, mình sẵn sàng. Mình giúp được người ta nói: “Ờ có cái vị này biết nè, vị này sẽ giúp cho”. Mỗi người của mình phải làm một cái cây từ bi có một bóng mát, một cái mùi hương lan tỏa ra, có sắc, có hương.
Mình chưa có được lan tỏa nhiều hết cái núi, nhưng ít nhất là lan tỏa trong khu vực của mình ở, tối thiểu mình lan tỏa được đối tượng đang khổ đau. Hổm nay có ai giận nhau không? Giận đi lên sám hối đi, giải tỏa cảm thọ đó liền. Phải chăm sóc thật là kỹ cho các cô bệnh, ngồi sau lưng đó bệnh nặng, “có bệnh không Hiền Đông?” “Hiền Hằng bớt bệnh chưa?” Đỡ đỡ rồi thì tiếp tục uống thuốc nữa, uống thuốc cho đúng giờ, điều độ và những cữ kiêng phải đúng với cái toa của bác sĩ ra. Có giữ toa thuốc không? Có nhớ toa thuốc không? Cầm toa thuốc, đọc và uống đúng liều lượng. Chăm sóc cho nhau, ở đây toàn là những người bệnh không à, bao gồm cả con cũng đang bị tâm bệnh. Mà mình không thương nhau, mình không có nấu cháo cho, không đem thuốc cho, thì tội nghiệp quá.
Bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em, bà con cô bác, bỏ hết trơn. Mà vô đây ghim gút với nhau, hắt hủi với nhau, châm chọc nhau thì thật là tội quá, thật là đáng thương xót. Ở nhà có cha mẹ, có chồng con, có vợ, có anh em lo, vô đây có huynh đệ. Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng sự thấu hiểu nỗi khổ, niềm đau với nhau. Thương quý, kính trọng, hỗ trợ với nhau, để mà thoát khổ. Mình nghĩ được như vậy hoài, thì mình sống vui, sống khỏe, sống bình an, sống an ổn, sống ngọt ngào, sống tình thương. Chúng ta thấy không? Những vị cư sĩ người ta về người ta tu, mình thấy mình ngưỡng mộ không? Thấy tuyệt vời không? Cho một tràng pháo tay cho khóa tu xuất gia gieo duyên. Con cũng đang suy nghĩ, vì có rất nhiều Phật tử cũng đang hỏi chừng nào có khóa tu xuất gia gieo duyên nữa.
Sẵn dịp con thông báo luôn, là khóa tu tới của chúng ta là ngày 18 âm lịch tháng 11. Hôm nay ngày âm lịch là bao nhiêu rồi? Không ai biết hết hả? “Mùng 5 tháng 10”, thì mình còn 1 tháng, 13 ngày nữa phải không? Coi như gần một tháng rưỡi nữa. Chúng ta có khóa tu 7 ngày, vào 11 tháng 12 năm 2022, số 1 với số 2 không dễ nhớ, đó là ngày tây. Chúng ta phải có khóa tu nhiều lên, để cho các vị hôm trước đi không được thì hôm nay cố gắng đi về nhà, về uống sữa pháp cho mau lớn, để suy dinh dưỡng. Tức là chúng ta còn khoảng 1 tháng rưỡi nữa, chúng ta có khóa tu 7 ngày. Tết thì chúng ta sẽ có khóa từ mùng 3 tết cho tới mùng 9 tết. Thay vì tết để đi chơi, thì cho tết đi tu, chịu không? Tết vậy mới vui, vậy là vui lắm.
Mùa xuân bất tử, mùa xuân Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh trí. Tết tới đây là vui lắm, tu không sao không vui cho được. Để coi nhân duyên làm sao, con thì không có mở khóa nào hết trơn, mà nhân duyên mấy người về mà tâm muốn xuất gia gieo duyên quá, thì cho xuất gia gieo duyên luôn, không tính trước đâu. Có sẵn hết trơn rồi, y bát có sẵn hết, mà về mà ham xuất gia gieo duyên quá là cho. Cho nên là mình làm sao phải cho một tình thương mình rộng, tâm mình độ lượng, rộng lớn hơn. Nhiều khi không cần nói nữa, mới nhìn lên mặt là người ta cảm nhận được. Mình vừa cất tiếng lên mà cái ngọt thấm vô da, vô thịt, vô xương, vô tủy, vô não người ta. Người ta tuôn trào nước mắt, mình mới cất tiếng lên thôi tình thương ở trong miệng của mình, tình thương trong ánh mắt của mình, tình thương trong nụ cười của mình, tình thương trong những cử chỉ quan tâm của mình.
Con kể cái chuyện nhỏ cho đại chúng nghe, cô Phật tử mà hay về đây đi thăm Thánh Pháp Viện đó, con kể người thật, việc thật nha, chứ không phải con nói kinh, nói lý thuyết. Bây giờ kể chuyện thiệt cho nghe, để kết thúc sáng này. Cô này nói là Phật tử, nhưng thật ra cổ đạo Chúa mà thích đi chùa. Rồi cô có một người con là tiến sĩ bên Mỹ. Thì lúc đó đang mùa dịch, mà trời đang mưa bão, hai mẹ con đi lên thăm con. Thì bây giờ người ta đi nửa vòng trái đất về, cả một tấm lòng lên thăm, mùa dịch thì dịch, kệ luôn, mình vẫn tiếp. Mà cái tật con thì có bệnh, ai lên mà có bao nhiêu đồ ăn là con cho hết, con móc hết trơn, không còn cái gì hết. Sau khi uống nước trà xong, rồi con đưa xuống nhà bếp.
Con mang đồ ăn ra, lúc đó có mình con thôi chứ không có ai hết trơn. Cái bếp lúc đó chưa sửa, che mấy tấm tôn sợ thấm thôi, đi vô phải cúi cái đầu xuống, không thôi đụng đầu. Vô trong bếp con coi có cái gì, tại lúc đó là 2:00 trưa rồi không phải giờ ăn cơm. Con mang hết đồ ăn ra, rồi cuối cùng móc luôn tủ lạnh, mở tủ lạnh coi còn cái gì bưng hết ra. Sau đó người con tiến sĩ ở Mỹ đó, chú rất là xúc động. Chú mới nhìn cái bếp chú mới hỏi: “Thầy ơi bây giờ con muốn làm lại cái bếp này cho chùa”, mà chú khóc. Chú hỏi làm khoảng bao nhiêu tiền? Con nói: “Con cũng không có biết, từ ngày con đi tu tới giờ con không biết cái giá bây giờ. Ví dụ gia đình phát tâm 2 đồng thì con làm 2 đồng, 3 đồng thì con làm 3 đồng, 5 đồng thì làm 5 đồng”. Thì như vậy là gia đình về mới gửi tiền về để là sửa cái bếp đó.
Cô này là đạo Chúa, mà cô đi chùa rất là nhiều, chùa nào cũng đi. Mà cổ nói cổ chưa có cảm giác nào mà nó ấm áp, nó ngọt ngào, nó dễ chịu như ở đây. Cổ cũng không biết kinh sách gì bao nhiêu hết á, chỉ biết làm phước thôi. “Về đây thấy ấm áp, thân thương, thầy cho con coi ngôi chùa này là ngôi nhà thứ hai của con”. Con nói: “Dạ được, bất cứ lúc nào cô về cũng được, cứ về”. Rồi lâu lâu cứ lên, để dành được bao nhiêu tiền rồi lên phụ làm Thánh Pháp Viện. Con chỉ tiếp có một lần ở dưới nhà bếp thôi, mà cả gia đình bây giờ chị em là có chuyện gì là điện thoại: “Thầy ơi thầy cứu con, giờ con khổ quá”, con đang khổ chuyện này này vậy đó. Con thì con có biết gì đâu mà cứu, con thì con kêu: “Trải tâm từ, trải tâm từ”, vậy thôi, nhưng mà sao mọi việc nó cũng tạm ổn.
Thì cái bếp đó đâu phải xây bằng tiền, mà xây bằng tâm từ. Cái Thánh Pháp Viện đó cũng không phải xây bằng tiền, không phải xây bằng xi măng, không phải xây bằng gỗ đâu, mà bằng tâm từ, bằng tình thương. Con không thấy có tiền, có đất, có vườn, có gỗ gì hết, con chỉ thấy: “Tâm từ ở trong con, tâm từ có trong con, tâm từ đang ở trong con, tình thương ở trong con, sự ngọt ngào đang ở trong con”. Chỉ cần tâm từ là đủ, tình thương là đầy, tất cả được dựng lên bằng tình thương, bằng từ tâm. Và cô đó qua nhìn cái Chánh điện xập xệ, con của cô cũng hỏi muốn sửa cái Chánh điện lại, con nói tùy duyên. Nếu Chánh điện có làm thì cũng làm bằng tâm từ, bằng tình thương, chứ không phải làm bằng tiền. Con không có một lời nào mở lên mà kêu gọi người ta, tất cả chúng ta đang ở trong nhà bếp ăn cơm, đang ở trong Ni xá, đang ở trong Thánh Pháp Viện, là đang ở trong tâm từ của con và của trong tâm từ của những người thí chủ. Và con mong tất cả chúng ta phải thực tập và sống được với cái tâm từ.