Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa NIKAYA- Trình Pháp Tâm Hiền Trí Cao Thượng 1

2026-03-03 00:55:33
Tinh Hoa Nikāya

Trình Pháp

TÂM HIỀN TRÍ CAO THƯỢNG 1

Thích Minh Thành

***

Những lúc thực tập thiền tâm hiền thì mình có cảm xúc gì, suy nghĩ gì? Sau buổi thiền tập thì độ ngấm, sự chuyển biến, chuyển hướng tâm mình như thế nào? Để ý xem những tâm ương ngạnh, cứng cỏi, ngang ngược, xấc xược, hơn thua có bị tác động bởi sự thực tập này không và mức độ tác động như thế nào? Nhờ thấy được những sự thay đổi của mình thông qua quá trình hành trì, từ đó chúng ta tiếp tục sự hành trì, thực tập tâm hiền trí trong thời gian tới.

Đầu tiên, đối với tất cả mọi động tác, cử chỉ đều phải thực tập sự chánh niệm, đồng thời phải có nội hàm trong từng lời nói. Mỗi khi trình bày với đại chúng, Minh Thành đều dùng câu: “Kính thưa các bậc Hiền trí, Tăng, Ni và quý Phật tử” là để tác ý, thực tập sự kính lễ, điều phục tâm mình, đồng thời nhắc nhở đại chúng về tâm hiền trí. Những khi nói lên câu đó, một phần giúp Minh Thành nhiếp phục cảm thọ của tự thân, chế ngự cảm xúc khó chịu nhẹ lúc đang giảng pháp nhưng micro hoạt động không tốt. Một phần là thực hành sự cung kính, kính lễ, tưới tẩm sự ngọt ngào, thấm đẫm, thấm đượm, dạt dào, ngọt ngào trong sự hiền lành, cung kính đối với đại chúng hiền thiện. Nhờ vậy, bên trong Minh Thành có một cảm giác mát mẻ, dạt dào, ngọt ngào, thấm đượm lan toả. Quan trọng nhất là Minh Thành dùng câu này để khơi gợi cảm thọ hiền thiện, cung kính của đại chúng.

Cũng vậy, mỗi câu niệm Phật, mỗi câu thưa gửi hay hành động như bưng cơm, rót trà cho thầy cô, cha mẹ đều cần có sự cung kính trong đó. Đọc từng câu kinh, niệm từng danh hiệu Phật thì bên trong mình là sự thấm nhuần, dào dạt giống như trong chúng ta là một kho chứa đựng đầy những cảm giác hiền thiện, bất cứ chỗ nào cũng có thể lan toả ra. Nếu không ngồi nghe pháp thì chúng ta có thể tác ý để sanh khởi được cảm giác hiền thiện này và an trú trong đó. “Tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, do vậy cần khéo léo, siêng năng, thường xuyên tác ý trong sự tu tập. Giờ thiền quán là giờ chúng ta được hướng dẫn thực tập tác ý và sau đó phải tự tác ý, suy nghĩ, tác động tâm ý. Nếu chỉ ngồi nghe thì sau khi hết giờ tu chúng ta không nhớ gì, không có sự thực hành thì sự học của chúng ta sẽ không sâu sắc, không thể thành tài, thành công, thành tựu được.

Cái hiền ở ngoài đời là cái hiền khờ khạo, ngu dốt của kẻ phàm phu; còn hiền trong Thánh pháp là hiền trí. Cần thực tập tâm hiền của bậc trí, sự hiền của các bậc Thánh nhân, bậc Hiền thánh trong Thánh pháp. Mỗi ngày thực tâp theo chín pháp an trú tâm của Ngài Xá-Lợi-Phất. Đồng thời luôn thực tập nhận diện ngũ uẩn, vì nhớ đó chúng ta mới nhận ra được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức của chính mình. Còn nếu không nhận biết chính mình thì sự hiền của chúng ta chỉ là hiền ngoài da, hiền ở miệng, hiền ở hình thức, tướng mạo chứ không phải sự hiền trí của bậc Thánh.

Minh Thành vẫn luôn hướng dẫn sự thực tập tối quan trọng, xuyên suốt khi quý Phật tử về Linh Quy Pháp Ấn tu học là thực tập tâm hiền trí. Khi xuống núi là đem tâm hiền trí trở về nhà. Qua sự nhận diện ngũ uẩn, thực tập tâm hiền trí, chúng ta thấy từ hột đậu nành làm ra được miếng đậu hũ, rồi từ đậu hũ làm thành chao. Tâm hiền của chúng ta cũng phải nhừ được như chao vậy. Phải được thẫm đẫm, thấm nhuần, thấm đượm. Tất cả ý niệm, cảm xúc, nhận thức của hung hăng, phẫn nộ, chống đối, phản nghịch, phản trắc, nổi loạn, hung tàn, hơn thua phải được rã ra, rữa ra, mục ra, nát ra, vỡ ra, trở thành nát nhừ như tương, như chao. Mình phải thấy được những cảm giác bất thiện đó được vỡ nát, đổ nát, tan nát bởi tâm hiền trí.

Có Phật tử gọi điện trình pháp với Minh Thành, mà do sóng yếu nên kết nối kém, gọi mấy lần không được, vậy là tâm sân hận, khó chịu nổi lên. Mà đó là Phật tử đã thực tập nghe pháp mười năm. Qua đó chúng ta thấy được tâm của chúng ta ghê gớm như thế nào, nó có thể nổi lên sự phản phúc bất cứ lúc nào. Do vậy việc thực hành nhận diện ngũ uẩn giúp chúng ta nhìn ra được những cảm giác bất thiện ngay khi nó vừa sanh khởi để nhiếp phục, đánh tan đi. Những tâm dữ, tâm hung hăng, dữ tợn, phẫn nộ, xấc xược, chống đối, phản nghịch, phản trắc, là những tâm của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn chất chứa những tâm đó là chúng ta còn nguy hiểm, tai hoạ, mầm mống của cô hồn, thú vật, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Vậy nên sự tu tập tâm hiền giúp chúng ta diệt tận đi những mầm mống của ác nghiệp. Tâm hiền là gốc rễ của tất cả các thiện pháp, giúp chặn đứng được ba nghiệp của ý, ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng. Tâm hiền giúp chúng ta diệt tận ba đường ác. Công dụng của tâm hiền phổ quát nhân thiên cho tới bậc Hiền Thánh, chứ không hề bình thường. Chúng ta phải thành tựu được tâm hiền thì mới có thể thể nhập được vào dòng Thánh pháp Nikāya này.

Tại sao chúng ta hay sân hận, thấy đồ là muốn ăn cắp, cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau, sanh khởi bản ngã? Đó là do tâm không hiền. Cho nên tâm hiền là gốc của tất cả các công đức thiện pháp, là nền tảng của tất cả Thánh chúng, là căn bản của bốn Thánh quả. Chúng ta phải thực chứng, dày công, lão luyện, khổ luyện, công phu, rèn luyện, tinh luyện, ôn luyện, huấn luyện tâm này bằng cả tâm tư, nguyện vọng, thao thức, khát ngưỡng, mong mỏi, tu tập, thực hiện. Bởi lẽ, tham, sân, si trong chúng ta là ngủ ngầm từ trong xương, tuỷ, chúng sanh ra chung với mình từ vô lượng kiếp rồi, chúng chỉ đợi hoàn cảnh để phát tác, thể hiện ra thôi. Không nên chỉ mới tu tập được một thời gian ngắn mà chúng ta cho rằng như thế là được rồi, tâm mình đã hiền rồi và thoả mãn với một chút ít thiện pháp đó. Mà tu là phải nát nhừ được như tương! Tức là dù bị người khác chửi, mắng nhưng bên trong chúng ta vẫn là một sự an tịnh, êm dịu; không muốn, không thích, không thèm phản ứng; nhàm chán cảm giác hung hăng; gớm ghiếc cảm giác sân hận; ói mửa với những cảm giác hung tợn, dữ dằn; thấy phát ngán, phát chán; hoàn toàn chấm dứt, từ bỏ, diệt tận chúng.

Để được như vậy, tâm hiền cần phải được chứng thực, chứng đắc, an trú, thể nhập, làm thành căn cứ địa, làm thành cỗ xe, vững trú. Trong tâm mình lúc nào cũng là một cảm thọ thật là ngọt ngào, dạt dào, êm dịu; không còn bất cứ một ý niệm tranh giành ở cuộc đời, thế gian này với ngũ uẩn nào khác nữa, bởi mình nhìn thấy được tất cả chỉ là khổ mà thôi. Tu tâm hiền trí là đặt tâm hiền trên nền tảng của trí tuệ. Sự song kiếm hợp bích, nội công ngoại kích, trong ngoài phối hợp, phước huệ trang nghiêm, định huệ đồng tu, chỉ quán cùng thực hiện. Sau một thời gian công phu tu tập, khi ở trong tâm hiền, chúng ta sẽ thấy được sự ngọt ngào, dễ thương, dễ chịu, mát dịu, nhẹ nhàng, êm ái, từ hoà, hiền hậu, hiền thiện, hiền đức, hiền lương, hiền lành, hiền dịu, hiền trí.

Sau đó, phải làm cho rệu rã, mục nát ra tất cả những tâm chống đối, phản nghịch, phản trắc, phản phúc, nổi loạn, bạo loạn, phiến loạn. Để làm được điều này, chúng ta phải nhận diện được ngũ uẩn thật sâu sắc, nếu không tu cho đến chết cũng không thể thành tựu. Khi ai đó vừa góp ý là chúng ta đã vội vàng phản ứng lại ngay, thì đó là cái tâm chống đối, hung dữ; và cũng bởi do không nhận diện ngũ uẩn, nên không thấy, không biết những cảm xúc, cảm giác đó. Tâm mà hiền thiện rồi thì an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng lắm. Dù cho ai có vu oan thì cũng nhẹ nhàng, từ từ. Tập dần dần sẽ đạt được sự an tịnh, lắng dịu và rồi chúng ta sẽ tới được chỗ Bất động tâm giải thoát!

Tâm hiền thiện không bén nhạy với sự hơn thua; không nhanh lẹ với những lý luận, ngụy biện, quanh co, chối lỗi; có lỗi là chấp nhận, thừa nhận lỗi lầm, nhận tội liền. Có những người lên núi, xin học đạo với Minh Thành, mà khi Minh Thành chỉ lỗi, dạy bảo thì không chấp nhận, còn lý lẽ lại. Chúng ta mang những tâm ương ngạnh, cứng cỏi như vậy thì làm sao có thể học đạo, tu hành được. Minh Thành không hề giận, mà thương lắm. Tất cả hữu tình chúng sanh nếu không được tiếp cận với dòng Thánh pháp này thì cũng vô minh, u mê. Không tu tâm hiền thì ai nói gì, chạm nhẹ vào là chúng ta nhảy dựng lên. Đức Phật gọi đây là “tâm vết thương”. Do vết thương nên đụng tới, chạm vào là chúng ta la hét lên, phản ứng liền.

Minh Thành bây giờ chấp nhận mình khờ khạo, ngu dại lắm, không muốn tranh giành với bất cứ ai trên cuộc đời này. Minh Thành sẵn sàng quỳ lạy bất cứ người nào chỉ dạy cho mình. Ngày trước, khi chưa tu tập trong dòng Thánh pháp Nikāya, Minh Thành nghĩ mình tu cũng tốt lắm, giỏi lắm rồi; cũng như suy nghĩ của nhiều vị lên núi xin học đạo với Minh Thành vậy. Do không biết, không thấy được nên chúng ta có suy nghĩ, xử sự như vậy. Tâm hiền trí được tu tập, giúp chúng ta có được cái thấy, biết đúng đắn, thấu hiểu tâm tư người khác. Khi nhìn vào tâm, chúng ta mới thấy thương mình, thương người thật nhiều. Và sự tu tập tâm hiền cũng là kết hợp tu tập Tứ Niệm Xứ thông qua đi, đứng, nói chuyện, ăn uống, hành động. Sự tuyệt diệu của dòng pháp này đó là tất cả nhất quán, liên hệ, liên kết, móc xích, tương trợ, tương tác, hỗ tương, tương thành. Một pháp mà chúng ta tu đúng mức thì nó tự động gắn kết Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ trong đó. Và khi thực tập tâm hiền, chúng ta cũng quán chiếu cảm thọ, nhìn lại nội tâm mình, thấy được các pháp cấu nhiễm, thanh tịnh đang sanh khởi trong tâm. Đó chính là tu tập Thân, Thọ, Tâm, Pháp trong Tứ Niệm Xứ.

Học Căn bản trí 1 và Căn bản trí 2 trong Quyển Nghi thức tu học Nikāya, kết hợp sự thực hành nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp, an trú được trong tâm hiền trí, thì chúng ta sẽ thấy tuyệt diệu lắm! Sự vi diệu, thần diệu, thắng diệu, thánh diệu, thượng diệu, thù diệu. Chúng ta sẽ thấy thích thú, vui vẻ, hoan hỷ, phấn khởi, an lạc trong tâm hiền. Chỉ cần quay về nội tâm, tác ý là khởi lên được sự dạt dào, sung mãn, hỷ lạc. Cũng như để ngồi đây tu học thì chúng ta cần có sự mát mẻ do tán tre, cơn gió đem lại. Tu tập tâm hiền cũng giống như bụi tre, làn gió mát, khóm trúc xanh vậy. Mỗi người là một cành trúc, một khóm tre, một làn gió mát, thì khi tiếp xúc với nhau chúng ta đem gió mát của tâm hiền thiện, bóng mát của tâm hiền hoà, hiền từ đến với nhau. Ngay khi đang ngồi thiền, mà có những tiếng động ồn ào như tiếng nhạc đến, thì chúng ta cũng có thể trải tâm từ liền. Tập ở mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, chúng ta đưa tâm hiền vào. Như khi bị bệnh, thì tâm hiền sẽ giúp bệnh nặng thành nhẹ, bệnh nhẹ thành không; thân bệnh nhưng tâm không bệnh, thân có thể chết nhưng tâm bất tử.

Thế giới hiện tại thì chìm đắm trong pháo đạn, lửa đạn, hiểm nạn, lũ lụt, núi lửa, sóng thần, mưa đá; bệnh tật, chiến tranh, chết chóc, thiên tai, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm hạn, nguy nan; sống trong lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu, tai hoạ, thảm hoạ, hiểm hoạ, đại hoạ. Chúng ta được ngồi tu học ở đây mát mẻ dưới vườn trúc xanh biếc là phước báo, hạnh phúc còn hơn Chư thiên; với tâm hiền thiện, lắng dịu, ngọt ngào, dạt dào, an tịnh, hiền hoà, hiền trí, hiền hậu, hiền đức. Phải thấy được vui sướng, khoan khoái, thích thú, hân hoan, hoan hỷ, thù thắng, phấn khởi, yêu thích, hạnh phúc, tuyệt vời trong sự tu học, như vậy là tu tập có hương vị chứ không phải sự nhàm chán. Trong thời thiền, chúng ta muốn tu tâm hỷ là hỷ, tu tâm từ là từ, tu tâm bi là bi, tu tâm xả là xả, tu tâm hiền là hiền. Cảm giác tràn ngập từ đảnh tóc đến gót chân, ra khắp thiền đường, khắp không gian trời đất. Chúng ta tu đến mức làm chủ được tâm như vậy, muốn tâm nào là chọn tâm đó. Ví như, chúng ta có áo màu lam, màu trắng, màu đỏ, muốn mặc áo màu nào là lấy áo màu đó mặc. Đức Phật ví Ngài chọn các tầng thiền, giống như mặc áo vậy. Người muốn tầng thiền nào thì trú ở trong tầng đó. Người làm chủ, an trú, điều phục tâm. Còn phàm phu là không hiểu tâm, không thấy tâm, không biết tâm thì không thể an trú, điều phục, chế ngự tâm. Cho nên, chúng ta bắt đầu nhìn thấy, nhận diện, biết được tâm thì tập an trú tâm, nhiếp phục, an tịnh tâm. Tâm an tịnh, lắng dịu là gốc để chúng ta tu tập tứ vô lượng tâm, tứ thiền, bát định mới bắt đầu được thành tựu.

Với tình hình dịch bệnh hiện nay, một ngày có gần một trăm năm chục ngàn ca nhiễm. Mà chúng ta được ngồi đây khỏe khoắn, an bình, thảnh thơi nghe pháp, tâm an lành, an lạc như vậy mà không thấy hạnh phúc, thì tác ý “Thật khổ thay cho mày”, “Tội nghiệp cho mày quá”, “Hèn hạ thay cho mày”. Không để cảm giác si xâm chiếm, phải tác ý liên tục, để sanh khởi được cảm thọ; nếu không là bên trong nó ngấm ngầm theo dục, theo ái, theo tham, theo chiều hướng tầm, tứ của thế gian, chứ không muốn đi theo Pháp. Hãy cảm nhận tâm hiền đang lan toả dào dạt, mát mẻ, tràn ngập không gian, khắp trời đất này. Cảm nhận sự ngọt ngào của tâm hiền, sự thấm đượm, dễ chịu và bình yên này. Chúng ta tác ý “Cảm ơn tâm hiền! Tâm hiền này dễ thương quá. Biết ơn tâm hiền, nhờ ơn tâm hiền mà mình có những cảm giác dễ chịu như vậy. Ân đức của tâm hiền thật là sung mãn, dào dạt. Thật là tuyệt vời!”. Mỗi ngày, hãy lễ lạy tâm hiền. Tâm hiền của Đức Thế Tôn, của các bậc Thánh, các bậc Hiền giả trong đại chúng và của chính mình. Tu tập tâm hiền thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành quách trong tâm, kiên trú, vững chắc, bất động, dầu cho trời long, đất lở; dầu cho bất cứ tai nạn nào đến, chúng ta vẫn giữ được tâm hiền, không giận, không sân. Quán tưởng, đưa mình vào những trường hợp bất như ý để huấn luyện tâm mình, để tâm hiền được thấm nhuần. Tâm hiền, tâm trí tuệ sẽ dần dần đưa đến sự an tịnh, lắng dịu cho tất cả ngũ uẩn.

./.