Thánh Trí Năm Uẩn 7 - Tánh Chất của Năm Uẩn
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 7
TÁNH CHẤT CỦA NĂM UẨN
ĐĐ. Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Hôm nay chúng ta sẽ thực tập tâm vô lượng. Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, tầm nhìn rộng mở, dùng cảm giác, tưởng và thức quán chiếu, phá tung hết tất cả chướng ngại vật ở phía trước. Tâm thức của mình xuyên thủng qua tường vách, bên phải, bên trái, xuyên thủng trần nhà, phía trên và phía dưới, tâm mở ra rộng lớn khắp trời đất này. Mở rộng khắp trời đất này, bao la và thênh thang, nở một nụ cười nhẹ trên môi, cảm nhận một tâm bình an, rộng lớn, yêu thương, hỷ lạc, thấm đượm toàn trong thân bình an, dễ chịu.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là vị Tỳ-kheo quán sát theo ba cách? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo quán sát theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo quán sát theo ba cách.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng nhân (Chương I. Tương Ưng Uẩn, B.Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I.Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ).
Năm uẩn là gì?
Màra, Màra, bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Màra, bạch Thế Tôn?
Sắc, này Ràdha, là Màra. Thọ là Màra. Tưởng là Màra. Hành là Màra. Thức là Màra.
Vô thường, vô thường, vô thường tánh. Khổ, khổ, khổ tánh. Vô ngã, vô ngả tánh, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô thường? Thế nào là vô thường tánh? Thế nào là khổ? Thế nào là khổ tánh? Thế nào là vô ngã? Thế nào là vô ngã tánh?
Sắc, này Ràdha, là vô thường, là vô thường tánh cũng là khổ, khổ tánh, cũng là vô ngã, vô ngã tánh. Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường, vô thường tánh, cũng là khổ, khổ tánh, cũng là vô ngã, vô ngã tánh.
Tập khởi pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là tập khởi pháp?
Sắc, này Ràdha, là tập khởi pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là tập khởi pháp.
Đoạn diệt pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là đoạn diệt pháp?
Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là đoạn diệt pháp.
Do thấy vậy, này Ràdha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"(Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, II.Phẩm Thứ Hai).
Phân biệt giữa năm uẩn và năm thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn, hãy lắng nghe.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là năm uẩn?
Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn.
Này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có các hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức uẩn.
Những cái này, này các Tỳ-kheo, được gọi là năm uẩn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn?
Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có các hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là năm thủ uẩn.
Rất nhiều câu hỏi của một thầy Tỳ-kheo tên là Ràdha. Ngài này hỏi ma là như thế nào, thế nào gọi là ma, thầy hỏi vô thường, hỏi về tánh chất của vô thường, khổ và tánh chất của khổ, hỏi về vô ngã, hỏi về tính chất vô ngã và hỏi về cái pháp tập khởi và pháp đoạn diệt. Tất cả những câu hỏi này Đức Phật đều quy về năm uẩn.
Chữ "Màra" hôm trước chúng ta đã có liên hệ rồi cho nên mình không giải thích lại nữa. Sự đam mê, sự tham ái, sự chấp thủ, sự dính mắc của mình là dính mắc vào trong năm uẩn này, cho nên năm uẩn này là thứ làm người ta mê đắm, Đức Phật gọi đó là ma. Mình nói ma nữ thì đó là sắc uẩn. Cảm giác lâng lâng của ma túy làm cho người ta mê đắm, thì đó là thọ, là ma. Những cái tưởng về dục, về ái, về sân hận cũng là ma nếu mình hành động theo đó, mình sẽ rơi vào các loài ngạ quỷ. Những nhận thức theo ác tri kiến, nhận thức theo chiều ác nghiệp, si mê, vô minh là đưa mình đọa lạc vào luân hồi sanh tử, vào trong đời sống vất vơ vất vưởng không siêu thoát được. Vì vậy chữ ma ở đây được Đức Phật dùng rất thâm sâu, tức là cái gì còn trong luân hồi sanh tử thì cái đó là ma, tại vì còn trong luân hồi sanh từ thì còn rơi vào ngạ quỷ, địa ngục, và còn sống chết, sanh diệt. Thành ra cái pháp của Đức Phật còn gọi là pháp bất tử, pháp Niết-bàn, pháp tối thượng, đi ra khỏi sanh diệt. Cho nên "tập khởi pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là tập khởi pháp?", " Đoạn diệt pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là đoạn diệt pháp?", " Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là sanh khởi pháp, là đoạn diệt pháp", tức là những pháp sanh diệt. Pháp này là những pháp vô thường, biến hoại. Pháp này là những pháp khổ đau. Pháp này là những pháp trống rỗng, vô chủ. Thân này vô chủ, thân này vô ngã, thân này vô thường, thân này làm nô lệ cho dục, bị dục sai khiến. Đây là những đề tài quán chiếu rất thâm sâu có khả năng đưa mình thể nhập vào dòng trí tuệ của Đức Phật. Ý nghĩa trong từng câu kinh rất thâm sâu, rất rõ ràng.
Một người Nga 46 tuổi đi tắm biển một mình ở Nũi Né, tắm một lúc là tự động chỗ đó có nước xoáy, kéo chết. Mình nhìn những đứa trẻ bảy, tám tuổi rủ nhau đi tắm sông là nguyên xóm có đám tang, những bạn học cùng lớp, cùng trường đi viếng thì không biết chuyện gì xảy ra, tới chỗ dòng xoáy của nước nhận chìm tất cả, có rất nhiều trường hợp như vầy. Mới đây bên Pháp có 1500 người chết vì nhiệt độ lên tới 46°C, thời tiết biến đổi khắc nghiệt. Mình nhìn tất cả những cái này để thấy sắc uẩn là vô thường, là biến hoại, tan vỡ và hoại diệt. Mình nhìn ông cố, bà cố ra đi mà mình còn không biết mặt mũi ra sao, kế ông cố là ông nội, bà nội là mình biết, có khi không biết, rồi những người may mắn thì còn cha mẹ, còn những người không may mắn thì khi còn nhỏ mẹ đã mất, cha không còn, sau đó sẽ tới phiên mình chết, nếu mình có con trước khi đi tu thì mai đây con mình cũng chết, con mình đẻ ra cháu rồi cũng chết. Như vậy đây là cái pháp đoạn diệt, tụ tập lại sanh khởi ra rồi đoạn diệt.
Nếu mình chiêm nghiệm thì thật sự xót xa, lo lắng và sợ hãi cho cuộc đời này, mình ngồi đây chứ mình không biết lúc nào mình chết, mình chết ở đâu và chết như thế nào, nhưng mình cứ "thôi kệ, hoàn toàn phó mặc cho số phận", không cần lo lắng, không cần suy nghĩ, không cần sợ hãi, chừng nào chết thì chết. Cho nên Đức Phật nói thân này vô chủ, mình hoàn toàn không làm chủ nó, có một anh chàng chỉ mới hai mươi tuổi mà ung thư giai đoạn cuối, đã dành ra sáu tháng hay tám tháng cuối cùng để lo cho những đứa trẻ. Mình học cái này mà mình chiêm nghiệm thì thấm thía, sâu sắc và rất tuệ giác, mình phải mở rộng tầm nhìn ra cả thế giới này, mình phải có cái nhìn thâm sâu, xuyên thủng và phá vỡ. Chứ còn cái nhìn phất phơ là uổng phí cho một kiếp người, kiếp người đã đi qua mau chóng, nhanh lẹ. Một chiếc xe lọt xuống vực thẳm, chết mấy chục người, mới cách đây không lâu có một bé mới mười ba tuổi, cha mẹ dẫn đi chơi dã ngoại trong rừng, mới phát hiện ra một chiếc xe ở dưới suối, về nhà kể cho người kế bên nhà, thì người này lại là cảnh sát. Người này thấy lạ đã đi điều tra mới phát hiện ra người trong xe mất tích hơn hai mươi năm, đi ăn đám cưới rồi không biết do nguyên nhân nào đã rớt xuống suối, chết không ai biết đến tận hai mươi bảy năm sau. Có rất nhiều chuyện để mình chiêm nghiệm cái sắc uẩn vô thường, biến hoại, vô ngã này, mình nhìn ra để mình thấy rằng thân thể mình không có gì là quan trọng, không có một cái gì là kiên cố, chắc chắn và bền lâu, nó là pháp tập khởi và đoạn diệt. Mình phải làm cho những cái thấy biết, những sự quán chiếu này đi sâu vào trong cảm thọ, những tầng cảm giác sâu sắc làm mình rúng động trong từng tế bào, để mình khai mở một nhận thức mới sâu sắc về thân thể này, về đời sống này, về thế giới này, nếu không là chúng ta sống sai, chết mộng. Quý huynh đệ ơi! Mình mở con mắt vậy chứ mình không thấy gì hết, này các Tỳ-kheo mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa, nhãn thức, sự rõ biết các sắc là mù lòa, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành nhãn xúc là mù lòa, cảm thọ sanh khởi lên, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa, từ cảm thọ sanh ra cái ái là mù lòa. Này các Tỳ-kheo, tất cả là mù lòa.
Minh Thành nghe bài kinh này rồi nước mắt tràn ra hết, thấy quả thật hơn bốn mươi năm nay mình là một kẻ đui mù, chẳng những mù mà còn điên nữa, không thấy đường. Chạy đi tìm dục, tìm tham, tìm ái hoài, không hiểu gì về chính tự thân mình. Không biết cái thân này cấu tạo nên, không biết tại sao đi đến hoại diệt, những cảm giác này, nghĩ tưởng này từ cái gì sanh ra và cái gì đang điều khiển trong này cũng không biết không thấy. Đó là một đời sống vô minh, tăm tối và khổ đau, vậy mà lấy khổ làm vui, suốt ngày lo ăn, lo chơi, lo hưởng thụ rồi tham sân si, bản ngã. Chạy hoài như vậy cho đến cuối cùng vào hòm, nếu mình viết lại tiểu sử thì trong đó đầy rẫy tham sân si, vô minh và bản ngã, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, mưu mô xảo quyệt… đem theo những ác nghiệp đó. Những cái thọ, tưởng, hành, thức cộng với cái ác nghiệp đó lôi đầu mình đi vào trong những đường xấu ác, như thế là bóng đêm tiếp tục đi vào trong bóng đêm, tăm tối tiếp tục đi vào trong tăm tối, đời sống tiếp theo thì vô minh chồng chất vô minh, đau khổ cho chúng ta, cay đắng cho chúng ta là một đời sống không thấy, không biết và vô tri. Vậy mà ăn chơi, vui sướng, không biết lo, không biết nghĩ, không biết sợ hãi và điên loạn trong ngũ dục, suốt ngày mở mắt ra là suy nghĩ, tìm những cái dục, ái, hưởng thụ cho đến tận khi lên gường mà không biết rằng tai họa sắp đến. Quý huynh đệ có thấy bây giờ ra đường toàn những thứ nguy hiểm chực chờ nhắm vào mình, đi tập thể dục ngay đường quốc lộ, phía sau đó là cả một bóng đêm, mình không biết được cái nghiệp của người đó, những cảm giác, nghĩ tưởng huân tập. Phải chiêm nghiệm ngày đêm cái tính chất tan nát, tan vỡ của tấm thân này, nhất định không sớm thì muộn cũng sẽ ra đi. Những cảm giác của mình thay đổi liên tục, sáng thức dậy là khác, chạy xe tới đây là khác, vô ngồi học là khác, ra chơi cũng khác, cảm giác cứ sanh diệt liên tục. Trong cảm giác đó là thúc giục đủ thứ mà mình không nhìn thấy. Khi nhận diện năm uẩn mình phải "đến để mà thấy" chứ không phải nghe, hiểu suông mà mình phải thấy rõ cảm giác đó sanh khởi lên, nó an trú và chấm dứt ra sao. Phải nhìn thấy để thấy được tánh chất "vô thường, vô thường tánh. Khổ, khổ tánh. Vô ngã, vô ngã tánh", thấy được tập khởi pháp, đoạn diệt pháp, thấy được tính chất ma quái của ngũ uẩn. Những trò ma quái của những suy nghĩ này hết sức ranh ma, xảo quyệt, những suy nghĩ bên trong lừa dối mình chứ không phải người nào khác, nó nói "không sao đâu, thử đi cho biết", đó là những con ma, mình phải phát hiện ra đó là ma như Tôn Ngộ Không phát hiện ra yêu tinh, là đánh đuổi ngay rồi hiện ra bộ xương. Chỉ có thánh trí năm uẩn mới phát hiện đó là ma, còn cái thấy của phàm tình thì đó là một con người hiền lương, tội nghiệp. Tội nghiệp rồi bị nó ăn mất xác, tội nghiệp những cái tham ái sân rồi thân thể này bị dục tham ái tàn phá. Càng hưởng dục thì dục càng hăng, muốn hưởng thêm hoài, không bao giờ có thể thỏa mãn được nó. Như thế là đau khổ. Các huynh đệ thấy ngày xưa mình đâu có thuốc kích thích gì đâu mà bây giờ là loạn hết, hết bóng cười rồi tới chất gây nghiện là hàng chục, hàng trăm loại, rồi cứ ra hàng loạt như vậy và mình cứ chạy theo.
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Đức Phật dạy đạo lộ rất rõ vì mình không để ý, để tâm vào để thực tập. Nhặt các loại hoa là các thứ tham dục, trưởng dưỡng, là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Cứ chạy theo sắc đẹp, chạy theo âm thanh, chạy theo mùi, chạy theo vị, chạy theo sự tiếp xúc, đụng chạm. "Các dục chưa thỏa mãn, đã bị chết chinh phục" cho nên mới có chuyện mấy ông già bảy, tám chục tuổi vào tù ngồi. Nhìn được bộ mặt thật sự trong năm uẩn là mình kinh hãi, như thế là đắm chìm, lặn hụp và đau khổ, tất cả chúng sanh đều xuống vực sâu.
Lang thang bao kiếp sống,
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già)
Hôm nay ta đã phát hiện ra rồi, kèo cột đã nát vỡ, tâm ta đã đạt tịch tịnh, tham ái hãy tiêu vong. Đó là bài kệ chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Kẻ làm nhà là tham ái, là khát ái đối với năm thủ uẩn, nó làm ra căn nhà năm uẩn, nó làm ra căn nhà tứ đại, nó làm ra sự đam mê, luyến ái say đắm và chấp thủ vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó là tác giả mà nó có tận một ngàn mặt nạ, phải lộ ra mới nhìn được thật sự bản mặt của dục ái. Chỉ có thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác mới lột ra được hết để hiện nguyên hình là con bạch cốt tinh còn không là chết dài dài, tất cả chúng ta ở đây là chết với bộ xương trắng đó, te tua tơi tả, tan tành và tù tội, phải nhìn ra tính chất ma, tính chất vô thường, khổ, vô ngã, phải nhìn ra tính chất tập khởi và đoạn diệt pháp. Nhìn ra được "do thấy vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc". Đây là đạo lộ tu hành quán chiếu liên tục, thường trực, tác ý như vậy cho nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, hành, thức và do thấy vậy nên "vị ấy ly tham", không còn tham muốn nữa, "do ly tham vị ấy giải thoát". Giải thoát lòng dục và tham đối với năm thủ uẩn, giải thoát như vậy mới cắt đứt sợi dây tái sanh, chặn đứng tái sanh luân hồi và thoát ra năm uẩn. Đó mới là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đạt tới cảnh giới bất động, đó mới là bậc thầy của trời và người, đó là thiên nhân chi đạo sư, tứ sanh chi từ phụ, tất cả các bậc A-la-hán đều là thầy của trời và người, bậc đó là bậc đáng để chư Thiên, loài người và tất cả chúng sanh chắp tay cung kính đảnh lễ cúng dường, tôn trọng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Cho nên người nào nhận thấy được năm uẩn, có tâm tha thiết chân thành để lìa tham thì người đó hướng Dự lưu thánh quả vào trong bốn đôi tám vị của thánh chúng.
Quý huynh đệ nhìn thấy đây là cái chuẩn của thánh phàm. Người đam mê trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức và không thấy được năm uẩn là phàm phu. Bậc đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy năm uẩn và có hướng muốn đi ra khỏi nó, hướng này đã xác lập như vậy gọi là hướng Dự lưu. Hướng này quyết định bất động không còn lay chuyển nữa là Nhập lưu, một khi đã Nhập lưu rồi thì này các Tỳ-kheo ta bảo chứng, xác quyết cho các ông là vị Nhập lưu thẳng tiến đến chánh giác, không bao giờ còn thối đọa nữa, cho nên cái Nhập lưu này Đức Phật gọi là:
Hơn thống lãnh cõi đất.
Hơn được sanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian)
Quý huynh đệ mới thấy đây là bậc thánh chúng, bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy được tánh chất vô thường, khổ não, tan hoại của nó và có một tâm thoát ra để hướng Dự lưu. Một khi tâm này tịnh tính bất động, lòng tin trong sạch đối với thánh trí năm uẩn, không còn bất cứ cái gì có thể lay chuyển vị này thì đây là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Ngài Xá-lợi-phất hỏi Đức Phật "bạch Thế Tôn, dòng sông trong thánh quả là như thế nào?" Đức Phật nói một vị có lòng tin bất động với Phật, pháp, Tăng và thánh giới, thấy rõ năm thủ uẩn là như vậy thì vị này là dòng pháp đưa người về phía trước, chắc chắn là người này sẽ đi đến cứu cánh Niết-bàn, không có con đường khác. Minh Thành mong muốn sau khóa học thì chúng ta nhập Dự lưu và hướng Dự lưu. Đây mới chính thức thật sự là đệ tử của Phật, được gọi là đa văn thánh đệ tử. Các huynh đệ lấy cái này làm chuẩn mực để xác quyết được tất cả người tu trong hiện tại và tương lai. Phải là người nhìn thấy được năm uẩn, nhìn thấy được bản chất của nó và hướng tới sự xuất ly khỏi nó, thì hướng Dự lưu. Lấy chỗ này để mình nói bốn đôi tám vị thì mới biết, hiểu rõ. Mình biết để mình tu mới biết mình tu tới đâu, chứ không biết thì tu mãi cũng không biết mình đang ở đâu, tâm thức mình ở đâu cũng không biết, mình phá được những kiết sử rồi thân kiến phá chưa, hoài nghi phá chưa cũng không biết. Mình phá thân kiến là mình phá năm uẩn, không còn thấy tôi và của tôi, phải thấy xác quyết như vậy là Nhập lưu. Cái này đâu phải mình nghe đơn giản mà phải vừa nghe liên tục vừa quán chiếu, tư duy tu tập cho đến một khi nhập cuộc vào thánh trí thì người này sẽ tới Niết-bàn. Chuẩn mực tu học này không dễ để thấy được cho nên cái chánh pháp không lan tỏa rộng rãi mà người ta chỉ thích cái gì dễ dàng.
Phân biệt giữa năm uẩn và năm thủ uẩn, Trong Tương Ưng bộ tập 3, kinh Các Uẩn. "phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đây được gọi là sắc uẩn", sắc quá khứ, vị lai hay hiện tại, trong ngoài, thô tế, đẹp xấu xa gần tất cả cái đó đều thuộc về sắc uẩn. Các nhà khảo cổ học mở ra những xác ướp Ai Cập hàng ngàn năm thì cái này thuộc về quá khứ, nó cũng là sắc. Người vừa chết tức thì, nói xa là quá khứ, nói gần thì nó là hiện tại. Vừa nói hiện tại đã qua quá khứ, tính sát sao thì nó thuộc quá khứ, nhưng nói gần gần thì nó là hiện tại so với xác ướp hàng ngàn năm kia. Như vậy nó cũng là sắc, nhìn xác ướp thì thấy sợ, nhìn thấy một người đẹp thì thích vì trí huệ về sắc uẩn của mình chưa được nhuần nhuyễn và huân tập thâm sâu trong quán chiếu về bộ xương, quán chín giai chín đoạn của một tử thi và ba mươi hai thể trược, chỉ cần một lớp da đắp lên là nhìn khác. Nhìn cái này bây giờ thì khác, rồi lửa phực lên cháy đen thì mình nhìn lại khác. Nhìn hai cái đó là xúc sẽ khác, thọ sẽ khác. Vị lai nói xa là mình mong đời sau mình tốt hơn, sướng hơn, đẹp hơn, nói gần thì mình mong sau khi học xong sẽ ra làm pháp sư, giảng sư, thiền sư, đó là sắc tương lai cũng là sắc uẩn, đều vô thường như nhau. Mình cứ nuôi dưỡng những cái sắc, mơ mộng tương lai được như vậy nhưng không được là mình khổ, mà mình biết nó là sắc vô thường, cố gắng hết mức thì duyên tới đâu thì tới và mình không khổ, bớt khổ và giảm khổ. Nhìn trên Facebook thì đẹp quá mà tới ngày gặp mặt thì té ngửa, chạy xa, cũng giống như ngày mới gặp nhau thì đẹp như trên Facebook, tới chừng về ở chung thì hiện nguyên hình những thói quen, những xấu xa đều bung ra hết, rồi bỏ cũng không được ở cũng không xong, lỡ cưới rồi, đã ái rồi thêm cái nghiệp, cái xúc, cái thọ chồng chất buộc vào nhau, bây giờ muốn nhảy ra là cả một vấn đề, cho nên đành cam chịu. Vì thế mình không có gia đình là cũng thoát sanh tử gần phân nữa rồi, nếu sanh tử là sanh con thì cũng hơi khó rồi. Tất cả những cái sắc mình phải nhìn thấy bằng con mắt trí huệ, nhìn bằng con mắt thịt là khổ hoài, tất cả cái gì mình đối diện thì đó là sắc uẩn vô thường, quán chiếu tiếp tục, như lý tác ý đánh đuổi những đam mê, ưa thích ra. Từ từ lòng dục, lòng tham, lòng ái với sắc được giảm từ từ, bằng không thì lòng dục tham ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì khổ, mệt mỏi lắm. Chỉ cần một ánh mắt, nụ cười mím nhẹ thì tức tối "tại sao cười tôi bằng nụ cười đó, khinh khi tôi hả, coi tôi không ra gì hay sao?", nó diễn ra tùm lum rồi không ngồi thiền, không ngủ được, cả tuần lễ sau vào nhìn thì bao nhiêu những cảm giác, nghĩ tưởng vận hành chỉ do một nụ cười. Khổ! Đó chính là thọ, tưởng, hành, thức. Trong cái thức cứ biết hoài rồi cái tưởng hiện ra cái mặt cười khinh khi, xem thường như vậy. Khổ! Mình không biết, không hay rằng đây chỉ là cảm giác thọ, tưởng, hành, thức, buông xả ra thì tâm mình giải thoát, nếu không cứ lòng vòng trong đó. Tu cái này thích thú lắm!
Những cảm giác cũng vậy, quá khứ, hiện tại hay vị lai, những cái tưởng, suy nghĩ, các hành. Suy nghĩ hồi lúc trước, suy nghĩ ngay bây giờ, suy nghĩ về sau này rồi cái tưởng sau này mình sẽ trở thành đại lão Hòa Thượng, hoặc trụ trì, hình bóng mập mờ của mình là chống gậy, đắp y hồng hiệp chưởng, thấy mấy vị kinh sư là thích. Mà nhìn người ta là liên tưởng ngay tới mình "mai mốt mình cũng vậy, tìm cái nón Địa Tạng về đội cho đẹp", khủng khiếp như vậy đó! Thấy là bắt chước theo, xúc sanh thọ, thọ sanh tưởng, hành, sanh ra cảm giác và nghĩ tưởng. Ghê gớm lắm! Mà mình không nhìn thấy được, nó khởi lên là mình nhập cuộc và đi theo luôn, khoái dục ái tham trong thọ, tưởng, hành rồi ngồi cười một mình, hay là ngồi một mình rồi tức. Nhớ lại ông nào đó mà mình đã giúp rồi ông đó không ân nghĩa gì hết rồi tức, đó là ý xúc. Các huynh đệ thấy không, ngồi một mình chứ không có một mình. Các thọ, tưởng, hành sanh khởi liên tục nên gọi là chúng sanh, mình không kiểm soát được, không làm cho an tịnh được các tưởng, suy nghĩ.
Khi nãy là năm uẩn, còn bây giờ là năm thủ uẩn. Thủ là các lậu hoặc được chấp thủ, lậu hoặc là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động qua mặt chúng ta, nó vừa ở trong sự tối tăm, u mê vừa hoạt động ngấm ngầm, rồi tạo ra bao nhiêu những thứ mà mình không biết. Đức Phật đã nói chỗ nào có dục và tham thì chỗ ấy có chấp thủ, dục và tham đối với sắc, đối với thọ, tưởng, hành. Dục và tham có trong những cảm giác và nghĩ tưởng thì đó gọi là năm thủ uẩn. Chính vì có "thủ", có tham, có ái bám chấp trong đó nên đi ra không được. Nhiều khi cái cây đó gọi là thần cây, hoặc chỗ đó có gì linh thiêng lắm, đó là có sự chấp thủ trong đó, cho cái đó là mình, là của mình, đi ra không được. Ví dụ lại chỗ đó nói gì bậy bạ là về bệnh, là tại những dạng thức chúng sanh chấp thủ vào trong đó, cho cái đó là họ, là của họ, cho nên ai tới đó nói hay làm gì đó thì người đó sẽ bị những điều không hay, có những người đi tiểu bậy vào chỗ linh thiêng là về cũng bệnh, vì thế đó là sự chấp thủ. Mình cũng vậy, cũng chấp thủ vào vẻ đẹp này, vào con mắt, mũi, miệng này rồi ra không được, đời sau sanh ra là con heo, con gà… rồi cũng chấp thủ vào đó, hễ lọt vào thân nào thì chấp thủ thân đó. Lọt vào con dòi thì thấy phân ngon, cho nên Đức Phật nói trong Tươn Ưng Lợi Đắc cung kính nghe xúc động lắm, một vị Tỳ-kheo được cúng dường nhiều thì khinh khi người kia được cúng ít thì Đức Phật ví dụ giống con dòi ăn đống phân to, ta có đống phân lớn còn những con khác không có. Đức Phật ví dụ sự cúng dường cung kính, lễ bái của hàng Phật tử thì mình phải quán chiếu giống phân, người nào ưa thích những thứ đó là những con dòi, Đức Phật dùng những hình ảnh không còn gì để nói nữa vậy mà còn không nghe được thì hết nói. Mình thấy Đức Phật dạy mình rất hay mà do mình không nghe lời cho nên khổ hoài, không đi ra được. Ví dụ có cái chùa lụp xụp dưới quê, phòng ở được quét dọn, lau chùi kĩ càng, cho rằng "đây là phòng của tôi", vài bữa vào chùa khác thì lại "phòng này là của tôi", cũng lau dọn, mua đồ về trưng, mua đồ đẹp về chất lên rồi chụp hình "đây là chỗ của sư phụ". Mai đây chuyển chỗ khác thì cũng chấp thủ chỗ đó nữa, mua xe này rồi chấp vào chiếc xe này, vài bữa bán mua xe khác thì lại chấp vào xe mới mua nữa, tất cả mọi cái đều chấp thủ, chỗ nào có dục và tham thì có chấp thủ, mà có chấp thủ là có khổ. Cái chấp thủ lớn nhất trong tất cả chấp thủ chính là bản thân mình. Đau đớn và sầu bi khổ ưu não cái đống khổ uẩn này hình thành là chấp thủ vào trong năm uẩn cho đến ngày này các Tỳ-kheo cái gì vô thường các ông hãy đoạn trừ lòng dục, cái gì vô thường các ông hãy đoạn trừ lòng tham, "cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng các ông được an lạc"(Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, V.Phẩm Từ Bỏ, VIII. Không Phải Của Các Ông). Có người bứt nhánh cây leo trên vách tường, rồi quăng xuống đất thì các huynh đệ có nghĩ rằng người đó bứt tôi, nhào nát tôi, chà đạp tôi? Không, vì cây đó không phải của mình, còn cái cây mà mình trồng, mình chăm sóc mà người ta lại bứt, chà đạp thì lúc đó như thế nào? Đó là chấp thủ, đau khổ chỗ này. Cái cây đó Đức Phật gọi là cái bị chấp thủ và lòng tham ái đối với cây đó là cái chấp thủ, thân này là cái bị chấp còn lòng dục ái là cái chấp thủ. Minh Thành ví dụ giống như đòn bánh và sợi dây thì cái nhân ở trong là cái bị chấp thủ, còn sợi dây buộc lại là cái chấp thủ. Cái dục, cái tham, cái ái là cái buộc vào còn cái kia là cái bị buộc, tứ đại thì vô tri. Nữa mét đất là vô tri, không biết gì hết nhưng do cái chấp thủ vào nữa mét đất thì anh em tương tàn, giết chết bốn mạng người, nữa mét đất đâu biết cái gì nhưng do lòng dục, lòng tham, lòng muốn, lòng chiếm hữu miếng đất thì đó là cái chấp thủ, chính cái đó làm sầu bi khổ ưu não, làm ra tù tội. Cho nên phải cẩn thận với cái chấp thủ này, nếu không là mình đau hoài, sầu hoài, ưu não mãi mãi không có ngày cùng tận.
Tự mình kiểm tra lại cái nào chấp thủ, mình chưa mở một lần được mà phải mở từ từ. Nhiều khi chỗ này cũng là chỗ đặc biệt, Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ ai bố thí vật mà mình thân ái, ưa thích thì quả báo của mình là được đồ vật hết sức quý báo, khó tìm, hy hữu. Cái này hết sức khó, tức là mình dám cho những cái mình rất yêu thích, đây là một phương pháp bố thí rất đặc biệt, có khi mình ít nghe mà mình tập được thì mình bớt khổ. Minh Thành gặp cái này hoài, cái nào mình thích nhất, ưa thích nhất mà bị xin hoài, mà xin thì cho, bị hoài như vậy nhưng tập rồi thì quen, sau này mình thấy nhẹ và mình thấy những quả báo đặc biệt là mình được những cái hết sức đặc biệt, thậm chí mình được rồi cũng không dính mắc vào trong đó, tập xả ly cái chấp thủ đó thì khỏe lắm, nếu không thì khó, cái gì mình yêu, mình thích rồi mà đụng chạm rồi trầy xước, hư hao thì khổ lắm. Tập xả ly tâm chấp thủ, nới rộng, thoát ra.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
TÁNH CHẤT CỦA NĂM UẨN
ĐĐ. Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Hôm nay chúng ta sẽ thực tập tâm vô lượng. Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, tầm nhìn rộng mở, dùng cảm giác, tưởng và thức quán chiếu, phá tung hết tất cả chướng ngại vật ở phía trước. Tâm thức của mình xuyên thủng qua tường vách, bên phải, bên trái, xuyên thủng trần nhà, phía trên và phía dưới, tâm mở ra rộng lớn khắp trời đất này. Mở rộng khắp trời đất này, bao la và thênh thang, nở một nụ cười nhẹ trên môi, cảm nhận một tâm bình an, rộng lớn, yêu thương, hỷ lạc, thấm đượm toàn trong thân bình an, dễ chịu.
Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là vị Tỳ-kheo quán sát theo ba cách? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo quán sát theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo quán sát theo ba cách.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng nhân (Chương I. Tương Ưng Uẩn, B.Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I.Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ).
Năm uẩn là gì?
Màra, Màra, bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Màra, bạch Thế Tôn?
Sắc, này Ràdha, là Màra. Thọ là Màra. Tưởng là Màra. Hành là Màra. Thức là Màra.
Vô thường, vô thường, vô thường tánh. Khổ, khổ, khổ tánh. Vô ngã, vô ngả tánh, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô thường? Thế nào là vô thường tánh? Thế nào là khổ? Thế nào là khổ tánh? Thế nào là vô ngã? Thế nào là vô ngã tánh?
Sắc, này Ràdha, là vô thường, là vô thường tánh cũng là khổ, khổ tánh, cũng là vô ngã, vô ngã tánh. Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường, vô thường tánh, cũng là khổ, khổ tánh, cũng là vô ngã, vô ngã tánh.
Tập khởi pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là tập khởi pháp?
Sắc, này Ràdha, là tập khởi pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là tập khởi pháp.
Đoạn diệt pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là đoạn diệt pháp?
Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là đoạn diệt pháp.
Do thấy vậy, này Ràdha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"(Tập III.Thiên Uẩn, Chương II.Tương Ưng Ràdha, II.Phẩm Thứ Hai).
Phân biệt giữa năm uẩn và năm thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn, hãy lắng nghe.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là năm uẩn?
Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn.
Này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có các hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức uẩn.
Những cái này, này các Tỳ-kheo, được gọi là năm uẩn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn?
Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có các hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức thủ uẩn.
Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là năm thủ uẩn.
Rất nhiều câu hỏi của một thầy Tỳ-kheo tên là Ràdha. Ngài này hỏi ma là như thế nào, thế nào gọi là ma, thầy hỏi vô thường, hỏi về tánh chất của vô thường, khổ và tánh chất của khổ, hỏi về vô ngã, hỏi về tính chất vô ngã và hỏi về cái pháp tập khởi và pháp đoạn diệt. Tất cả những câu hỏi này Đức Phật đều quy về năm uẩn.
Chữ "Màra" hôm trước chúng ta đã có liên hệ rồi cho nên mình không giải thích lại nữa. Sự đam mê, sự tham ái, sự chấp thủ, sự dính mắc của mình là dính mắc vào trong năm uẩn này, cho nên năm uẩn này là thứ làm người ta mê đắm, Đức Phật gọi đó là ma. Mình nói ma nữ thì đó là sắc uẩn. Cảm giác lâng lâng của ma túy làm cho người ta mê đắm, thì đó là thọ, là ma. Những cái tưởng về dục, về ái, về sân hận cũng là ma nếu mình hành động theo đó, mình sẽ rơi vào các loài ngạ quỷ. Những nhận thức theo ác tri kiến, nhận thức theo chiều ác nghiệp, si mê, vô minh là đưa mình đọa lạc vào luân hồi sanh tử, vào trong đời sống vất vơ vất vưởng không siêu thoát được. Vì vậy chữ ma ở đây được Đức Phật dùng rất thâm sâu, tức là cái gì còn trong luân hồi sanh tử thì cái đó là ma, tại vì còn trong luân hồi sanh từ thì còn rơi vào ngạ quỷ, địa ngục, và còn sống chết, sanh diệt. Thành ra cái pháp của Đức Phật còn gọi là pháp bất tử, pháp Niết-bàn, pháp tối thượng, đi ra khỏi sanh diệt. Cho nên "tập khởi pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là tập khởi pháp?", " Đoạn diệt pháp, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy, bạch Thế Tôn, thế nào là đoạn diệt pháp?", " Sắc, này Ràdha, là đoạn diệt pháp. Thọ, tưởng, hành, thức là sanh khởi pháp, là đoạn diệt pháp", tức là những pháp sanh diệt. Pháp này là những pháp vô thường, biến hoại. Pháp này là những pháp khổ đau. Pháp này là những pháp trống rỗng, vô chủ. Thân này vô chủ, thân này vô ngã, thân này vô thường, thân này làm nô lệ cho dục, bị dục sai khiến. Đây là những đề tài quán chiếu rất thâm sâu có khả năng đưa mình thể nhập vào dòng trí tuệ của Đức Phật. Ý nghĩa trong từng câu kinh rất thâm sâu, rất rõ ràng.
Một người Nga 46 tuổi đi tắm biển một mình ở Nũi Né, tắm một lúc là tự động chỗ đó có nước xoáy, kéo chết. Mình nhìn những đứa trẻ bảy, tám tuổi rủ nhau đi tắm sông là nguyên xóm có đám tang, những bạn học cùng lớp, cùng trường đi viếng thì không biết chuyện gì xảy ra, tới chỗ dòng xoáy của nước nhận chìm tất cả, có rất nhiều trường hợp như vầy. Mới đây bên Pháp có 1500 người chết vì nhiệt độ lên tới 46°C, thời tiết biến đổi khắc nghiệt. Mình nhìn tất cả những cái này để thấy sắc uẩn là vô thường, là biến hoại, tan vỡ và hoại diệt. Mình nhìn ông cố, bà cố ra đi mà mình còn không biết mặt mũi ra sao, kế ông cố là ông nội, bà nội là mình biết, có khi không biết, rồi những người may mắn thì còn cha mẹ, còn những người không may mắn thì khi còn nhỏ mẹ đã mất, cha không còn, sau đó sẽ tới phiên mình chết, nếu mình có con trước khi đi tu thì mai đây con mình cũng chết, con mình đẻ ra cháu rồi cũng chết. Như vậy đây là cái pháp đoạn diệt, tụ tập lại sanh khởi ra rồi đoạn diệt.
Nếu mình chiêm nghiệm thì thật sự xót xa, lo lắng và sợ hãi cho cuộc đời này, mình ngồi đây chứ mình không biết lúc nào mình chết, mình chết ở đâu và chết như thế nào, nhưng mình cứ "thôi kệ, hoàn toàn phó mặc cho số phận", không cần lo lắng, không cần suy nghĩ, không cần sợ hãi, chừng nào chết thì chết. Cho nên Đức Phật nói thân này vô chủ, mình hoàn toàn không làm chủ nó, có một anh chàng chỉ mới hai mươi tuổi mà ung thư giai đoạn cuối, đã dành ra sáu tháng hay tám tháng cuối cùng để lo cho những đứa trẻ. Mình học cái này mà mình chiêm nghiệm thì thấm thía, sâu sắc và rất tuệ giác, mình phải mở rộng tầm nhìn ra cả thế giới này, mình phải có cái nhìn thâm sâu, xuyên thủng và phá vỡ. Chứ còn cái nhìn phất phơ là uổng phí cho một kiếp người, kiếp người đã đi qua mau chóng, nhanh lẹ. Một chiếc xe lọt xuống vực thẳm, chết mấy chục người, mới cách đây không lâu có một bé mới mười ba tuổi, cha mẹ dẫn đi chơi dã ngoại trong rừng, mới phát hiện ra một chiếc xe ở dưới suối, về nhà kể cho người kế bên nhà, thì người này lại là cảnh sát. Người này thấy lạ đã đi điều tra mới phát hiện ra người trong xe mất tích hơn hai mươi năm, đi ăn đám cưới rồi không biết do nguyên nhân nào đã rớt xuống suối, chết không ai biết đến tận hai mươi bảy năm sau. Có rất nhiều chuyện để mình chiêm nghiệm cái sắc uẩn vô thường, biến hoại, vô ngã này, mình nhìn ra để mình thấy rằng thân thể mình không có gì là quan trọng, không có một cái gì là kiên cố, chắc chắn và bền lâu, nó là pháp tập khởi và đoạn diệt. Mình phải làm cho những cái thấy biết, những sự quán chiếu này đi sâu vào trong cảm thọ, những tầng cảm giác sâu sắc làm mình rúng động trong từng tế bào, để mình khai mở một nhận thức mới sâu sắc về thân thể này, về đời sống này, về thế giới này, nếu không là chúng ta sống sai, chết mộng. Quý huynh đệ ơi! Mình mở con mắt vậy chứ mình không thấy gì hết, này các Tỳ-kheo mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa, nhãn thức, sự rõ biết các sắc là mù lòa, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành nhãn xúc là mù lòa, cảm thọ sanh khởi lên, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa, từ cảm thọ sanh ra cái ái là mù lòa. Này các Tỳ-kheo, tất cả là mù lòa.
Minh Thành nghe bài kinh này rồi nước mắt tràn ra hết, thấy quả thật hơn bốn mươi năm nay mình là một kẻ đui mù, chẳng những mù mà còn điên nữa, không thấy đường. Chạy đi tìm dục, tìm tham, tìm ái hoài, không hiểu gì về chính tự thân mình. Không biết cái thân này cấu tạo nên, không biết tại sao đi đến hoại diệt, những cảm giác này, nghĩ tưởng này từ cái gì sanh ra và cái gì đang điều khiển trong này cũng không biết không thấy. Đó là một đời sống vô minh, tăm tối và khổ đau, vậy mà lấy khổ làm vui, suốt ngày lo ăn, lo chơi, lo hưởng thụ rồi tham sân si, bản ngã. Chạy hoài như vậy cho đến cuối cùng vào hòm, nếu mình viết lại tiểu sử thì trong đó đầy rẫy tham sân si, vô minh và bản ngã, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, mưu mô xảo quyệt… đem theo những ác nghiệp đó. Những cái thọ, tưởng, hành, thức cộng với cái ác nghiệp đó lôi đầu mình đi vào trong những đường xấu ác, như thế là bóng đêm tiếp tục đi vào trong bóng đêm, tăm tối tiếp tục đi vào trong tăm tối, đời sống tiếp theo thì vô minh chồng chất vô minh, đau khổ cho chúng ta, cay đắng cho chúng ta là một đời sống không thấy, không biết và vô tri. Vậy mà ăn chơi, vui sướng, không biết lo, không biết nghĩ, không biết sợ hãi và điên loạn trong ngũ dục, suốt ngày mở mắt ra là suy nghĩ, tìm những cái dục, ái, hưởng thụ cho đến tận khi lên gường mà không biết rằng tai họa sắp đến. Quý huynh đệ có thấy bây giờ ra đường toàn những thứ nguy hiểm chực chờ nhắm vào mình, đi tập thể dục ngay đường quốc lộ, phía sau đó là cả một bóng đêm, mình không biết được cái nghiệp của người đó, những cảm giác, nghĩ tưởng huân tập. Phải chiêm nghiệm ngày đêm cái tính chất tan nát, tan vỡ của tấm thân này, nhất định không sớm thì muộn cũng sẽ ra đi. Những cảm giác của mình thay đổi liên tục, sáng thức dậy là khác, chạy xe tới đây là khác, vô ngồi học là khác, ra chơi cũng khác, cảm giác cứ sanh diệt liên tục. Trong cảm giác đó là thúc giục đủ thứ mà mình không nhìn thấy. Khi nhận diện năm uẩn mình phải "đến để mà thấy" chứ không phải nghe, hiểu suông mà mình phải thấy rõ cảm giác đó sanh khởi lên, nó an trú và chấm dứt ra sao. Phải nhìn thấy để thấy được tánh chất "vô thường, vô thường tánh. Khổ, khổ tánh. Vô ngã, vô ngã tánh", thấy được tập khởi pháp, đoạn diệt pháp, thấy được tính chất ma quái của ngũ uẩn. Những trò ma quái của những suy nghĩ này hết sức ranh ma, xảo quyệt, những suy nghĩ bên trong lừa dối mình chứ không phải người nào khác, nó nói "không sao đâu, thử đi cho biết", đó là những con ma, mình phải phát hiện ra đó là ma như Tôn Ngộ Không phát hiện ra yêu tinh, là đánh đuổi ngay rồi hiện ra bộ xương. Chỉ có thánh trí năm uẩn mới phát hiện đó là ma, còn cái thấy của phàm tình thì đó là một con người hiền lương, tội nghiệp. Tội nghiệp rồi bị nó ăn mất xác, tội nghiệp những cái tham ái sân rồi thân thể này bị dục tham ái tàn phá. Càng hưởng dục thì dục càng hăng, muốn hưởng thêm hoài, không bao giờ có thể thỏa mãn được nó. Như thế là đau khổ. Các huynh đệ thấy ngày xưa mình đâu có thuốc kích thích gì đâu mà bây giờ là loạn hết, hết bóng cười rồi tới chất gây nghiện là hàng chục, hàng trăm loại, rồi cứ ra hàng loạt như vậy và mình cứ chạy theo.
Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa mãn,
Đã bị chết chinh phục.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)
Đức Phật dạy đạo lộ rất rõ vì mình không để ý, để tâm vào để thực tập. Nhặt các loại hoa là các thứ tham dục, trưởng dưỡng, là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Cứ chạy theo sắc đẹp, chạy theo âm thanh, chạy theo mùi, chạy theo vị, chạy theo sự tiếp xúc, đụng chạm. "Các dục chưa thỏa mãn, đã bị chết chinh phục" cho nên mới có chuyện mấy ông già bảy, tám chục tuổi vào tù ngồi. Nhìn được bộ mặt thật sự trong năm uẩn là mình kinh hãi, như thế là đắm chìm, lặn hụp và đau khổ, tất cả chúng sanh đều xuống vực sâu.
Lang thang bao kiếp sống,
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già)
Hôm nay ta đã phát hiện ra rồi, kèo cột đã nát vỡ, tâm ta đã đạt tịch tịnh, tham ái hãy tiêu vong. Đó là bài kệ chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Kẻ làm nhà là tham ái, là khát ái đối với năm thủ uẩn, nó làm ra căn nhà năm uẩn, nó làm ra căn nhà tứ đại, nó làm ra sự đam mê, luyến ái say đắm và chấp thủ vào trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó là tác giả mà nó có tận một ngàn mặt nạ, phải lộ ra mới nhìn được thật sự bản mặt của dục ái. Chỉ có thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác mới lột ra được hết để hiện nguyên hình là con bạch cốt tinh còn không là chết dài dài, tất cả chúng ta ở đây là chết với bộ xương trắng đó, te tua tơi tả, tan tành và tù tội, phải nhìn ra tính chất ma, tính chất vô thường, khổ, vô ngã, phải nhìn ra tính chất tập khởi và đoạn diệt pháp. Nhìn ra được "do thấy vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc". Đây là đạo lộ tu hành quán chiếu liên tục, thường trực, tác ý như vậy cho nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, hành, thức và do thấy vậy nên "vị ấy ly tham", không còn tham muốn nữa, "do ly tham vị ấy giải thoát". Giải thoát lòng dục và tham đối với năm thủ uẩn, giải thoát như vậy mới cắt đứt sợi dây tái sanh, chặn đứng tái sanh luân hồi và thoát ra năm uẩn. Đó mới là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đạt tới cảnh giới bất động, đó mới là bậc thầy của trời và người, đó là thiên nhân chi đạo sư, tứ sanh chi từ phụ, tất cả các bậc A-la-hán đều là thầy của trời và người, bậc đó là bậc đáng để chư Thiên, loài người và tất cả chúng sanh chắp tay cung kính đảnh lễ cúng dường, tôn trọng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Cho nên người nào nhận thấy được năm uẩn, có tâm tha thiết chân thành để lìa tham thì người đó hướng Dự lưu thánh quả vào trong bốn đôi tám vị của thánh chúng.
Quý huynh đệ nhìn thấy đây là cái chuẩn của thánh phàm. Người đam mê trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức và không thấy được năm uẩn là phàm phu. Bậc đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy năm uẩn và có hướng muốn đi ra khỏi nó, hướng này đã xác lập như vậy gọi là hướng Dự lưu. Hướng này quyết định bất động không còn lay chuyển nữa là Nhập lưu, một khi đã Nhập lưu rồi thì này các Tỳ-kheo ta bảo chứng, xác quyết cho các ông là vị Nhập lưu thẳng tiến đến chánh giác, không bao giờ còn thối đọa nữa, cho nên cái Nhập lưu này Đức Phật gọi là:
Hơn thống lãnh cõi đất.
Hơn được sanh cõi trời
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian)
Quý huynh đệ mới thấy đây là bậc thánh chúng, bậc đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy được tánh chất vô thường, khổ não, tan hoại của nó và có một tâm thoát ra để hướng Dự lưu. Một khi tâm này tịnh tính bất động, lòng tin trong sạch đối với thánh trí năm uẩn, không còn bất cứ cái gì có thể lay chuyển vị này thì đây là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Ngài Xá-lợi-phất hỏi Đức Phật "bạch Thế Tôn, dòng sông trong thánh quả là như thế nào?" Đức Phật nói một vị có lòng tin bất động với Phật, pháp, Tăng và thánh giới, thấy rõ năm thủ uẩn là như vậy thì vị này là dòng pháp đưa người về phía trước, chắc chắn là người này sẽ đi đến cứu cánh Niết-bàn, không có con đường khác. Minh Thành mong muốn sau khóa học thì chúng ta nhập Dự lưu và hướng Dự lưu. Đây mới chính thức thật sự là đệ tử của Phật, được gọi là đa văn thánh đệ tử. Các huynh đệ lấy cái này làm chuẩn mực để xác quyết được tất cả người tu trong hiện tại và tương lai. Phải là người nhìn thấy được năm uẩn, nhìn thấy được bản chất của nó và hướng tới sự xuất ly khỏi nó, thì hướng Dự lưu. Lấy chỗ này để mình nói bốn đôi tám vị thì mới biết, hiểu rõ. Mình biết để mình tu mới biết mình tu tới đâu, chứ không biết thì tu mãi cũng không biết mình đang ở đâu, tâm thức mình ở đâu cũng không biết, mình phá được những kiết sử rồi thân kiến phá chưa, hoài nghi phá chưa cũng không biết. Mình phá thân kiến là mình phá năm uẩn, không còn thấy tôi và của tôi, phải thấy xác quyết như vậy là Nhập lưu. Cái này đâu phải mình nghe đơn giản mà phải vừa nghe liên tục vừa quán chiếu, tư duy tu tập cho đến một khi nhập cuộc vào thánh trí thì người này sẽ tới Niết-bàn. Chuẩn mực tu học này không dễ để thấy được cho nên cái chánh pháp không lan tỏa rộng rãi mà người ta chỉ thích cái gì dễ dàng.
Phân biệt giữa năm uẩn và năm thủ uẩn, Trong Tương Ưng bộ tập 3, kinh Các Uẩn. "phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đây được gọi là sắc uẩn", sắc quá khứ, vị lai hay hiện tại, trong ngoài, thô tế, đẹp xấu xa gần tất cả cái đó đều thuộc về sắc uẩn. Các nhà khảo cổ học mở ra những xác ướp Ai Cập hàng ngàn năm thì cái này thuộc về quá khứ, nó cũng là sắc. Người vừa chết tức thì, nói xa là quá khứ, nói gần thì nó là hiện tại. Vừa nói hiện tại đã qua quá khứ, tính sát sao thì nó thuộc quá khứ, nhưng nói gần gần thì nó là hiện tại so với xác ướp hàng ngàn năm kia. Như vậy nó cũng là sắc, nhìn xác ướp thì thấy sợ, nhìn thấy một người đẹp thì thích vì trí huệ về sắc uẩn của mình chưa được nhuần nhuyễn và huân tập thâm sâu trong quán chiếu về bộ xương, quán chín giai chín đoạn của một tử thi và ba mươi hai thể trược, chỉ cần một lớp da đắp lên là nhìn khác. Nhìn cái này bây giờ thì khác, rồi lửa phực lên cháy đen thì mình nhìn lại khác. Nhìn hai cái đó là xúc sẽ khác, thọ sẽ khác. Vị lai nói xa là mình mong đời sau mình tốt hơn, sướng hơn, đẹp hơn, nói gần thì mình mong sau khi học xong sẽ ra làm pháp sư, giảng sư, thiền sư, đó là sắc tương lai cũng là sắc uẩn, đều vô thường như nhau. Mình cứ nuôi dưỡng những cái sắc, mơ mộng tương lai được như vậy nhưng không được là mình khổ, mà mình biết nó là sắc vô thường, cố gắng hết mức thì duyên tới đâu thì tới và mình không khổ, bớt khổ và giảm khổ. Nhìn trên Facebook thì đẹp quá mà tới ngày gặp mặt thì té ngửa, chạy xa, cũng giống như ngày mới gặp nhau thì đẹp như trên Facebook, tới chừng về ở chung thì hiện nguyên hình những thói quen, những xấu xa đều bung ra hết, rồi bỏ cũng không được ở cũng không xong, lỡ cưới rồi, đã ái rồi thêm cái nghiệp, cái xúc, cái thọ chồng chất buộc vào nhau, bây giờ muốn nhảy ra là cả một vấn đề, cho nên đành cam chịu. Vì thế mình không có gia đình là cũng thoát sanh tử gần phân nữa rồi, nếu sanh tử là sanh con thì cũng hơi khó rồi. Tất cả những cái sắc mình phải nhìn thấy bằng con mắt trí huệ, nhìn bằng con mắt thịt là khổ hoài, tất cả cái gì mình đối diện thì đó là sắc uẩn vô thường, quán chiếu tiếp tục, như lý tác ý đánh đuổi những đam mê, ưa thích ra. Từ từ lòng dục, lòng tham, lòng ái với sắc được giảm từ từ, bằng không thì lòng dục tham ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì khổ, mệt mỏi lắm. Chỉ cần một ánh mắt, nụ cười mím nhẹ thì tức tối "tại sao cười tôi bằng nụ cười đó, khinh khi tôi hả, coi tôi không ra gì hay sao?", nó diễn ra tùm lum rồi không ngồi thiền, không ngủ được, cả tuần lễ sau vào nhìn thì bao nhiêu những cảm giác, nghĩ tưởng vận hành chỉ do một nụ cười. Khổ! Đó chính là thọ, tưởng, hành, thức. Trong cái thức cứ biết hoài rồi cái tưởng hiện ra cái mặt cười khinh khi, xem thường như vậy. Khổ! Mình không biết, không hay rằng đây chỉ là cảm giác thọ, tưởng, hành, thức, buông xả ra thì tâm mình giải thoát, nếu không cứ lòng vòng trong đó. Tu cái này thích thú lắm!
Những cảm giác cũng vậy, quá khứ, hiện tại hay vị lai, những cái tưởng, suy nghĩ, các hành. Suy nghĩ hồi lúc trước, suy nghĩ ngay bây giờ, suy nghĩ về sau này rồi cái tưởng sau này mình sẽ trở thành đại lão Hòa Thượng, hoặc trụ trì, hình bóng mập mờ của mình là chống gậy, đắp y hồng hiệp chưởng, thấy mấy vị kinh sư là thích. Mà nhìn người ta là liên tưởng ngay tới mình "mai mốt mình cũng vậy, tìm cái nón Địa Tạng về đội cho đẹp", khủng khiếp như vậy đó! Thấy là bắt chước theo, xúc sanh thọ, thọ sanh tưởng, hành, sanh ra cảm giác và nghĩ tưởng. Ghê gớm lắm! Mà mình không nhìn thấy được, nó khởi lên là mình nhập cuộc và đi theo luôn, khoái dục ái tham trong thọ, tưởng, hành rồi ngồi cười một mình, hay là ngồi một mình rồi tức. Nhớ lại ông nào đó mà mình đã giúp rồi ông đó không ân nghĩa gì hết rồi tức, đó là ý xúc. Các huynh đệ thấy không, ngồi một mình chứ không có một mình. Các thọ, tưởng, hành sanh khởi liên tục nên gọi là chúng sanh, mình không kiểm soát được, không làm cho an tịnh được các tưởng, suy nghĩ.
Khi nãy là năm uẩn, còn bây giờ là năm thủ uẩn. Thủ là các lậu hoặc được chấp thủ, lậu hoặc là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động qua mặt chúng ta, nó vừa ở trong sự tối tăm, u mê vừa hoạt động ngấm ngầm, rồi tạo ra bao nhiêu những thứ mà mình không biết. Đức Phật đã nói chỗ nào có dục và tham thì chỗ ấy có chấp thủ, dục và tham đối với sắc, đối với thọ, tưởng, hành. Dục và tham có trong những cảm giác và nghĩ tưởng thì đó gọi là năm thủ uẩn. Chính vì có "thủ", có tham, có ái bám chấp trong đó nên đi ra không được. Nhiều khi cái cây đó gọi là thần cây, hoặc chỗ đó có gì linh thiêng lắm, đó là có sự chấp thủ trong đó, cho cái đó là mình, là của mình, đi ra không được. Ví dụ lại chỗ đó nói gì bậy bạ là về bệnh, là tại những dạng thức chúng sanh chấp thủ vào trong đó, cho cái đó là họ, là của họ, cho nên ai tới đó nói hay làm gì đó thì người đó sẽ bị những điều không hay, có những người đi tiểu bậy vào chỗ linh thiêng là về cũng bệnh, vì thế đó là sự chấp thủ. Mình cũng vậy, cũng chấp thủ vào vẻ đẹp này, vào con mắt, mũi, miệng này rồi ra không được, đời sau sanh ra là con heo, con gà… rồi cũng chấp thủ vào đó, hễ lọt vào thân nào thì chấp thủ thân đó. Lọt vào con dòi thì thấy phân ngon, cho nên Đức Phật nói trong Tươn Ưng Lợi Đắc cung kính nghe xúc động lắm, một vị Tỳ-kheo được cúng dường nhiều thì khinh khi người kia được cúng ít thì Đức Phật ví dụ giống con dòi ăn đống phân to, ta có đống phân lớn còn những con khác không có. Đức Phật ví dụ sự cúng dường cung kính, lễ bái của hàng Phật tử thì mình phải quán chiếu giống phân, người nào ưa thích những thứ đó là những con dòi, Đức Phật dùng những hình ảnh không còn gì để nói nữa vậy mà còn không nghe được thì hết nói. Mình thấy Đức Phật dạy mình rất hay mà do mình không nghe lời cho nên khổ hoài, không đi ra được. Ví dụ có cái chùa lụp xụp dưới quê, phòng ở được quét dọn, lau chùi kĩ càng, cho rằng "đây là phòng của tôi", vài bữa vào chùa khác thì lại "phòng này là của tôi", cũng lau dọn, mua đồ về trưng, mua đồ đẹp về chất lên rồi chụp hình "đây là chỗ của sư phụ". Mai đây chuyển chỗ khác thì cũng chấp thủ chỗ đó nữa, mua xe này rồi chấp vào chiếc xe này, vài bữa bán mua xe khác thì lại chấp vào xe mới mua nữa, tất cả mọi cái đều chấp thủ, chỗ nào có dục và tham thì có chấp thủ, mà có chấp thủ là có khổ. Cái chấp thủ lớn nhất trong tất cả chấp thủ chính là bản thân mình. Đau đớn và sầu bi khổ ưu não cái đống khổ uẩn này hình thành là chấp thủ vào trong năm uẩn cho đến ngày này các Tỳ-kheo cái gì vô thường các ông hãy đoạn trừ lòng dục, cái gì vô thường các ông hãy đoạn trừ lòng tham, "cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng các ông được an lạc"(Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, V.Phẩm Từ Bỏ, VIII. Không Phải Của Các Ông). Có người bứt nhánh cây leo trên vách tường, rồi quăng xuống đất thì các huynh đệ có nghĩ rằng người đó bứt tôi, nhào nát tôi, chà đạp tôi? Không, vì cây đó không phải của mình, còn cái cây mà mình trồng, mình chăm sóc mà người ta lại bứt, chà đạp thì lúc đó như thế nào? Đó là chấp thủ, đau khổ chỗ này. Cái cây đó Đức Phật gọi là cái bị chấp thủ và lòng tham ái đối với cây đó là cái chấp thủ, thân này là cái bị chấp còn lòng dục ái là cái chấp thủ. Minh Thành ví dụ giống như đòn bánh và sợi dây thì cái nhân ở trong là cái bị chấp thủ, còn sợi dây buộc lại là cái chấp thủ. Cái dục, cái tham, cái ái là cái buộc vào còn cái kia là cái bị buộc, tứ đại thì vô tri. Nữa mét đất là vô tri, không biết gì hết nhưng do cái chấp thủ vào nữa mét đất thì anh em tương tàn, giết chết bốn mạng người, nữa mét đất đâu biết cái gì nhưng do lòng dục, lòng tham, lòng muốn, lòng chiếm hữu miếng đất thì đó là cái chấp thủ, chính cái đó làm sầu bi khổ ưu não, làm ra tù tội. Cho nên phải cẩn thận với cái chấp thủ này, nếu không là mình đau hoài, sầu hoài, ưu não mãi mãi không có ngày cùng tận.
Tự mình kiểm tra lại cái nào chấp thủ, mình chưa mở một lần được mà phải mở từ từ. Nhiều khi chỗ này cũng là chỗ đặc biệt, Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ ai bố thí vật mà mình thân ái, ưa thích thì quả báo của mình là được đồ vật hết sức quý báo, khó tìm, hy hữu. Cái này hết sức khó, tức là mình dám cho những cái mình rất yêu thích, đây là một phương pháp bố thí rất đặc biệt, có khi mình ít nghe mà mình tập được thì mình bớt khổ. Minh Thành gặp cái này hoài, cái nào mình thích nhất, ưa thích nhất mà bị xin hoài, mà xin thì cho, bị hoài như vậy nhưng tập rồi thì quen, sau này mình thấy nhẹ và mình thấy những quả báo đặc biệt là mình được những cái hết sức đặc biệt, thậm chí mình được rồi cũng không dính mắc vào trong đó, tập xả ly cái chấp thủ đó thì khỏe lắm, nếu không thì khó, cái gì mình yêu, mình thích rồi mà đụng chạm rồi trầy xước, hư hao thì khổ lắm. Tập xả ly tâm chấp thủ, nới rộng, thoát ra.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.