Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Biết Ơn & Nhớ Ơn

2026-03-03 00:52:10
Tinh Hoa Nikāya

Biết Ơn & Nhớ Ơn

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thỉnh thượng tọa thuyết pháp PAGEREF _Toc201584096 \h 1

II. Những người con bất hiếu PAGEREF _Toc201584097 \h 1

III. Cung kính PAGEREF _Toc201584098 \h 6

IV. Tỷ Kheo Ni thời Đức Phật PAGEREF _Toc201584099 \h 9

V. Người con được cảm hóa PAGEREF _Toc201584100 \h 12

VI. Lời kết PAGEREF _Toc201584101 \h 15

I. Thỉnh thượng tọa thuyết pháp

Ni sư: Chúng con kính đảnh lễ giảng sư đã quang lâm lớp học chúng con tối hôm nay. Lời đầu tiên chúng con kính vấn an sức khỏe chư tôn đức Tăng Ni cùng giảng sư, kính chúc quý ngài luôn luôn được thân an tâm lạc, Phật sự viên thành, trên con đường hoằng pháp luôn luôn có những bài pháp để hướng dẫn nam nữ Phật tử tại diễn đàn chúng con cùng tu học có nhiều lời lạc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Kính bạch trên Thượng Tọa giảng sư, kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử, rất vui và chào mừng quý Phật tử đang tham dự trong diễn đàn học Phật Online cũng như quý Phật tử đang xem trực tiếp kênh YouTube và Facebook của Phật sự Online. Chúng ta đến với chương trình học Phật Online do ban hoằng pháp trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với kênh thông tin tổng hợp Phật sự online tổ chức, nằm trong chữ chương trình được phát sóng vào các ngày thứ ba, thứ năm và thứ Bảy hằng tuần và tối hôm nay, thứ năm 17 tháng 8 năm 2023 nhằm ngày mùng 2 tháng 7 năm Quý Mão, tại diễn đàn học Phật Online chúng con được hân hoan đón bước chân của thượng tọa giảng sư quang lâm diễn đàn có một thời thuyết giảng cho chúng con với một đề tài đó là tinh hoa kinh Nikāya đồng biết ơn và nhớ ơn. Một đề tài rất là ý nghĩa, nhất là trong tháng 7 mùa Vu Lan này, đây là một đề tài rất là có ý nghĩa và nhất là trong kinh tạng Nikāya. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Kính thưa quý Phật tử, một đề tài rất là có ý nghĩa và rất là quan trọng, nhất là giới Phật tử tại gia chúng ta, trong mùa tháng 7 Vu Lan chúng ta đầy đủ phước duyên được tham dự thời khóa tối hôm nay của thượng tọa giảng sư. Kính mời quý Phật tử chúng ta đồng lắng tâm thanh tịnh để thính dự thời pháp hôm nay để được có nhiều lời lạc tâm sự tu tập của mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thượng tọa giảng sư, giờ đây đạo tràng chúng con đã trang nghiêm, thanh tịnh như pháp, thành kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi niệm hồng danh đức bổn sư cầu gia bì cho thời pháp thoại tối hôm nay. Kính mời quý phật tử tại diễn đàn chúng ta đồng chắp tay trang nghiêm thanh tịnh đồng niệm danh hiệu của đức bổn sư cho thời pháp hôm nay được thành tựu viên mãn. Kính chúc quý phật tử có một buổi thính pháp được nhiều lời lạc, con thành kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi niệm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

II. Những người con bất hiếu

Sư Phụ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni và kính thưa chư hiền trí, nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta học bài kinh Mahàsàla trong Tương Ưng Bộ, tập I, đại phú giả hay y choàng thô. Đây là một sự kiện có thật thời Đức Phật còn tại thế.

"Nhân duyên ở Sàvatthi.

Rồi một Bà-la-môn đại phú, dáng bộ tiều tụy, đắp y thô xấu, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với vị Bà-la-môn đại phú đang ngồi xuống một bên:

-- Này Bà-la-môn, sao dáng bộ ông tiều tụy? Sao ông đắp y thô xấu?

-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây bốn đứa con trai của con, chúng âm mưu với vợ của chúng, trục xuất con ra khỏi nhà" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Tôi không thể ngờ chính những đứa con do mình sanh ra, nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục, đem cả trái tim, tấm lòng, đem cả cuộc đời cho chúng nó mà bây giờ tôi phải nhận lấy kết quả cay đắng, kết quả thật là xót xa, kết quả không thể tưởng tượng được, đó là chúng nó đưa tôi ra vỉa hè, ra gầm cầu, ngoài công viên làm kẻ hành khất, kẻ ăn xin rày đây mai đó chìa tay ăn xin từng đồng bạc cắt của những người qua đường. Tôi thật là đau khổ, thật là đau lòng, thật là buồn đau, không thể ngờ được những đứa con chính mình lại có thể đối xử với mình như vậy. Ông vừa nói vừa tuôn những dòng lệ, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau mà bị chính những người mình yêu thương nhất đối xử với mình bằng cách đại nghịch bất đạo, tráo trở, lật lọng, bất hiếu, vô tình vô nghĩa, trong sự đau xót, đau khổ, ràng rụa nước mắt thì ông trình bày cho Đức Phật nghe. Chúng ta phải hiểu trong kinh Nikāya nói rất vắn tắt, mình phải dùng tuệ quán của mình, phải có sự chiêm nghiệm, suy tư mới hiểu ra vấn đề, còn đọc phất phơ là không hiểu gì cả.

Đọc kinh Nikāya cần sự tĩnh tâm, cần có sự chiêm nghiệm, quán chiếu, liên hệ đến thực tế trong đời sống thì chúng ta sẽ hiểu được kinh rất thậm thâm vi diệu, rất sâu sắc và rất rộng lớn. Nếu có thể diễn giải ra thì có thể hết cả buổi về sự đau khổ, đau đớn tột độ, cùng cực, còn có ai đau khổ hơn, trái tim này tan nát vì phải chi người dưng ngoài đường lật lộng, hại mình, hủy nhục, khinh khi mình cỡ nào cũng không sao nhưng đằng này lại chính con ruột là những người mình đã đem hết tấm lòng, tất cả trái tim, mình vắt óc, lấy tủy, dùng xương máu của mình nhưng cuối cùng mình lại bị chúng đẩy ra ngoài đường để cướp đoạt tài sản. Từ một người triệu phú, đại gia mà giờ trở thành kẻ ăn mày, chúng ta có thể tưởng tượng ra nổi cảnh đó không? Mình đặt bản thân vào trong trường hợp này để thiền quán.

Bây giờ con đang nói mà tim con đau nhói cả lên, đặt mình vào tình cảnh đó sẽ thấy đau khổ như thế nào, đau lòng như thế nào, đau nhức như thế nào, đau nhói như thế nào. Thế Tôn rất thương xót, với lòng đại từ đại bi của ngài khi thấy vị đại gia này.

"-- Vậy này Bà-la-môn, hãy đọc thuộc bài kệ này, và khi nào quần chúng hội họp trong thính đường và cả các người con cùng ngồi họp, hãy đọc lên bài kệ:

Khi chúng sanh, tôi mừng

Tôi muốn chúng sinh thành.

Cùng vợ, chúng âm mưu,

Chống tôi và đuổi tôi,

Chẳng khác gì con chó,

Xua đuổi bầy heo lợn,

Ác độc và lỗ mãng,

Chúng gọi tôi: "Cha thân".

Chúng thật quỷ Dạ-xoa,

Đội lốt là con tôi,

Và chúng trục xuất tôi,

Khi tôi đến tuổi già,

Như ngựa già suy nhược,

Bị tẩn xuất chuồng ăn.

Nay cha già bọn trẻ,

Phải ăn xin nhà người,

Thà cho tôi cái gậy,

Hơn lũ con bất hiếu.

Với gậy, chận bò dữ,

Chận được loại chó dữ,

Chỗ tối dò an toàn,

Chỗ sâu, tìm chân đứng,

Với sức mạnh chiếc gậy,

Vấp ngã đứng dậy được" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Đây là một bài kệ của Đức Phật, bài này chúng ta thiền quán là rơi lệ. Khi chúng vừa tiếng cất tiếng khóc chào đời oa oa là lòng của tôi hân hoan, vui sướng, hạnh phúc, tôi mong rằng những đứa con này sẽ được sinh ra và được thành nhân chi mỹ, thành gia lập thất, tôi đã đem hết tất cả đầu óc, huyết lệ, xương tủy để nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dưỡng, dưỡng dục, cho ăn học, thành gia lập thất, dựng vợ gả chồng, thế mà chúng cùng với vợ chúng âm mưu chống đối tôi và xua đuổi tôi ra khỏi nhà chẳng khác gì con chó xua đuổi bầy heo.

Thật là đau xót!

Thật là xót xa!

Chúng gọi tôi là cha thân, cha yêu nhưng chúng lại đối đãi với tôi giống như một con chó xua đuổi bầy heo. Chúng co những lời đó, những hành động thật là thô ác, thật là cay độc, thật là lỗ mãng. Đây là cảnh tưởng của hai ngàn sáu trăm năm trước và ngay bây giờ chúng ta coi có khác không, bà mẹ tám mươi, chín mươi tuổi ăn cơm rơi rớt ra ngoài thì đứa con gái lấy chổi đập lên đầu mẹ, đó là người thật việc thật ngay bây giờ. Cô chửi mắng, hủy nhục, dùng những lời ác độc, cay độc, lỗ mãng, xem clip mà không cầm được nước mắt, tim nhói lên đau tan nát, đây là đạo đức sụp đổ, hiếu nghĩa suy tàn, cái cội gốc, cái căn bản của nhân loại sắp sửa đổ vỡ, đại nghịch bất đạo, bất hiếu, trong tất cả các tội bất hiếu là tội nặng nhất, trong tất cả các phước hiếu thảo là phước đứng đầu.

Vì thế bài kinh này là cả một thông điệp trải qua hai ngàn sáu trăm năm mà giá trị của nó là bất hủ, bất diệt, bất hoại, bất di bất dịch. Hình ảnh này cho chúng ta thấy những đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu trên cuộc đời này rất nhiều, bài kinh này để cho tất cả chúng ta thiền quán, để cho tất cả chúng ta nhìn nhận lại, để cho tất cả chúng ta nội soi, nội quán, nội chiếu, rọi vào bên trong tâm thức của mình. Trong đại dịch chúng ta thấy có nhiều hình ảnh những đứa con bỏ cha mẹ ra ngoài đường vì nhiễm bệnh bên Ấn Độ, ngay cả trong nước có rất nhiều cụ già, bà cả ngày xưa giàu khét tiếng mà giờ phải ở ngoài vỉa hè, con không cho ở trong nhà, bốn, năm, bảy đứa con chứ không phải không có con, khá giả chứ không phải nghèo khổ.

"Chống tôi và đuổi tôi,

Chẳng khác gì con chó,

Xua đuổi bầy heo lợn,

Ác độc và lỗ mãng,

Chúng gọi tôi: 'Cha thân'." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Chúng ta đọc những câu này thật là đau xót, đau đớn về đạo đức của con người, hiếu nghĩa, hiếu đạo. Đây là thánh chuông, là tiếng đại hồng chung, đức giả, bổn dã nghĩa là đạo đức là cội gốc của nhân loại, nếu mà mất cái gốc này là con chứ không còn là người, như là cầm thú, thành ra tiếng thánh chuông của Đức Phật vang lên hai ngàn sáu trăm mấy chục năm trước mà tới ngày hôm là hai mươi sáu thế kỷ mà đạo lý, cái sự thật là bất di bất dịch, bất hoại, bất hủ, bất diệt. Đây là bài kệ của Đức Thế Tôn, là bài kệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là lời nói của bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người.

Chúng nó là ma, là quỷ chứ không phải là người, chết đi thì đời sau không thể làm người được nữa. Chúng nó đuổi tôi ra khỏi nhà khi tôi đến tuổi già, suy lão, ngay cả trong chúng Linh Quy đang ngồi đây có những vị lớn tuổi thấm thía những câu kệ này. Khi mình đã đến tuổi già, nhiều khi không bị đuổi nhưng lại bị nhìn giống như phế vật vô dụng, vô ích, vô giá trị đối với những đứa con bất hiếu, ngay cả trong đạo tràng chúng ta có những vị phải ra sám hối, bây giờ cha mẹ chết rồi mới quỳ lên trào dâng nước mắt sám hối. Ngày cha mẹ còn sống thì mình lại không hiểu chánh pháp, khi cho ăn thì đem ra để vậy, bên nhà Nho người ta nói cho cha mẹ ăn mà không cung kính thì chẳng khác gì cho súc vật ăn, cách người ta cho những con vật mà họ thương sẽ khác với cách cho những con vật không thương.

Đối với cha mẹ, ông bà, những bậc ân đức, ân nghĩa, ân nhân nhiều khi mình lại có thái độ không cung kính, không biết ơn, cho ăn giống như tới cũ thì đem lại vậy thôi cho nên con người khác với con vật ở chỗ lễ kính, sự phân biệt giữa con người với con vật là sự lễ kính, cung kính, tôn kính, nếu mà không có cái đó thì không có người, chỉ có con. Vì thế chỗ này cũng cần phải học, đối với cha mẹ, ông bà, đối với bậc trưởng thượng mà đem món ăn lên bàn để không cung kính, lúc trước có một vị để con nghe đứa con mà đem đồ lên để như vậy là ba mẹ không ăn, chừng nào có mời, để nhẹ nhàng lên thì mới ăn, con thấy cái này là bài học rất hay.

III. Cung kính

Các Phật tử online ở đây thường tụng câu "Nhất giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như Lai", thành ra trong sự tu của chúng ta thì chữ lễ kính, cung kính, tôn trọng, tri ân, biết ơn, nhớ ơn là tối thượng, là lõi cây, là gốc cây, mất cái đó là mất gốc, cái cây không có gốc thì làm sao sống được. Ở trong đạo mà những người học trò nào có sự lễ kính với thầy thì những người đó mới có tương lai, những người học trò mà vô lễ, bất kính thì những người đó tu bao lâu cũng không có tương lai. Những người Phật tử đi tới học đạo cũng vậy, đối với chư Tăng Ni mà không có lễ kính, không có sự cung kính thì cái sự học của mình là học hoài cũng học ở trên chữ nghĩa thôi, không có học được pháp vì cúng kính là cái pháp chính Đức Thế Tôn mới vừa thành Chánh Đẳng Chánh Giác đã biểu hiện.

Khi ngài mới vừa chứng ngộ ngài dùng thiên nhãn của ngài nhìn hết tất cả ở trong tam thiên đại thiên thế giới thì đầu tiên ngài nói là tìm một vị thầy để cung kính, để đảnh lễ, để y chỉ, nương tựa tu học nhưng mà ngài dùng thiên nhãn nhìn trong tam thiên đại thiên thế giới không có một người đầy đủ thánh giới uẩn viên mãn như ngài, ngài không thấy có một người đầy đủ thánh định uẩn như ngài, ngài tìm hết mà cũng không thấy có một người thành tựu thánh tuệ uẩn tròn đầy cứu cánh như ngài. Cho nên ngài mới nói bây giờ không có một người nào thành tựu mà tam thánh học, tam vô lậu học viên mãn như vậy thì ngài lấy pháp làm thầy. Đây là điều đầu tiên khi Đức Phật mới thành Chánh Đẳng Chánh Giác đã thể hiện cái pháp cung kính cho nên con xin thưa là con rất quan trọng cái này, rất là quan trọng. Con nhìn trong chúng hay Phật tử đến mà có điều này là người đó tu học được, mất cái này thì người đó làm gì cũng là con số 0, đây là những cái đặc chất, những cái đức tính, những cái tố chất mà một người tu học phải có dù cho Tăng tục, xuất gia hay là tại gia.

Trở lại vấn đề ở trong gia đình mà không có sự tôn ti trật tự, không có thượng hạ gì hết thì loạn cho nên phải để ý trong sự giáo dục. Nền giáo dục của chúng ta bây giờ nghiêng nặng về vấn đề đi kiếm tiền, cái này không khéo làm hư cho lớp trẻ, đạo đức bây giờ đã báo động, từ nhỏ phải hướng dẫn những tố chất của một người đạo đức vì ông bà đã nói "có đức mặc sức mà ăn".

Người trồng cây hạnh người chơi

Ta trồng cây đức để đời mai sau.

(Ca dao Việt Nam)

Chỗ này rất quan trọng, vì không có những điều này nên sụp đổ hết tất cả. Bây giờ là ông cha đại gia này bị những đứa con đánh đuổi đi ra ngoài đường để ăn xin, ở đây Đức Phật dùng hình ảnh cây gậy rất hay.

"Thà cho tôi cái gậy,

Hơn lũ con bất hiếu

Với gậy, chận bò dữ,

Chận được loại chó dữ" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Cây gậy đó còn hơn lũ con bất hiếu vì cây gậy chặn được bò dữ, chó dữ, dò an toàn trong chỗ sâu tối. Những người già cả yếu ớt hay những người mù khiếm thị thường cầm cây gậy để dò đường phía trước, xem chỗ đó có sình lầy, có hố sâu trơn trợt không, nếu có thì đi chầm chậm, né qua một bên, nếu có té thì nhờ cây gậy chống lên để đi được. Như vậy thà cho cây gậy còn hơn lũ con bất hiếu, ít nhất cây gậy cũng chặn được bò dữ, chó dữ, dò được chỗ tối, cho mình chỗ an toàn, nếu chỗ sâu thì mình có chân đứng, lỡ có té cũng có cái chống lên để đứng được. Có thể chúng ta học nhiều kinh nhưng mới nghe bài kinh này đầu tiên.

"Bà-la-môn đại phú ấy học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi quần chúng tụ hội tại thính đường và giữa các người con đang ngồi họp, vị ấy đọc lên bài kệ:

Khi chúng sanh, tôi mừng

Tôi muốn chúng sinh thành.

Cùng vợ, chúng âm mưu,

Chống tôi và đuổi tôi,

Chẳng khác gì con chó,

Xua đuổi bầy heo lợn,

Ác độc và lỗ mãng,

Chúng gọi tôi: "Cha thân".

Chúng thật quỷ Dạ-xoa,

Đội lốt là con tôi,

Và chúng trục xuất tôi,

Khi tôi đến tuổi già,

Như ngựa già suy nhược,

Bị tẩn xuất chuồng ăn.

Nay cha già bọn trẻ,

Phải ăn xin nhà người,

Thà cho tôi cái gậy,

Hơn lũ con bất hiếu.

Với gậy, chận bò dữ,

Chận được loại chó dữ,

Chỗ tối dò an toàn,

Chỗ sâu, tìm chân đứng,

Với sức mạnh chiếc gậy,

Vấp ngã đứng dậy được" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Khi vị Bà-la-môn già này đọc là đọc bằng trái tim của ông ấy, đọc bằng huyết lệ, đọc bằng cả tấm lòng, cả một cái cảm xúc, cảm thọ thấu tận tim gan. Khi con qua bồ đề đạo tràng đang đảnh lễ Đức Phật rất xúc động thì bỗng nhiên khoảng năm mươi vị áo trắng, quấn khăn trắng đi đến đọc bài kệ tiếng Pali nghe rất tuyệt diệu, vi diệu, giống như mình mở bài quy y bằng tiếng Pali. Vị Bà-la-môn già này đọc lên bài kệ này ở giữa hội chúng thì mọi người đều khóc, nhất là những đứa con là khóc đầu tiên, người cha già có biết bao đứa con mà bây giờ phải trở thành một kẻ ăn xin lang thang đầu đường xó chợ, chìa tay ra để xin từng đồng bạc cắt, "lạy ông đi qua lạy bà đi lại bố thí cho tôi đồng bạc" trong dòng nước mắt nghẹn ngào, đau đớn, tức tưởi. Chúng ta có đặt bản thân mình vào hoàn cảnh này được không? Mình dùng những thọ; tưởng; hành của mình đặt mình vào đó để cảm thọ nỗi khổ đó, cảm nhận được cảm xúc đó, cảm giác trọn vẹn được nỗi khổ niềm đau của một đại gia mà trở thành kẻ ăn xin.

IV. Tỷ Kheo Ni thời Đức Phật

Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật cũng có vị ăn xin bảy năm sau đó chứng thánh quả A-la-hán.

"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn, ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên trong điều kiện rất thiếu thốn.

Trong gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ. Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỳ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này vừa ăn xong. Các Tỳ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn. Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỳ-kheo-ni, nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời giáo giới của vị Tỳ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:

Trước ta sống bất hạnh,

Không chồng và không con,

Không bè bạn, bà con,

Không có cơm, có áo.

Ta cầm gậy bình bát

Ði ăn xin từng nhà,

Bị lạnh nóng đày đọa,

Bảy năm ta sống vậy.

Thấy được Tỳ-kheo-ni,

Ta nhận đồ ăn uống,

Sau khi đến, ta xin,

Được xuất gia không nhà.

Nàng Patàcàarà,

Thương ta, cho xuất gia,

Rồi giảng dạy cho ta,

Hướng dẫn đến chân đế.

Nghe xong lời nàng giảng.

Ta làm theo lời dạy,

Lời giảng bậc tôn Ni,

Không phải lời trống không,

Ta chứng được Ba minh,

Ta không còn lậu hoặc" (Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (XLIX) Candà (Therì. 135))

Chúng ta đọc kinh phải cảm thọ được, cảm xúc được, cảm nhận được, phải chạm tới trái tim những hình ảnh đó, những cảm xúc đó, những suy nghĩ đó thì chúng ta muốn thấy được nỗi khổ ở trong thế gian này, nỗi khổ trong đời sống này, nỗi khổ trong hình hài này, nỗi khổ trong thế giới này, nỗi khổ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nỗi khổ trong tứ đại này. Chúng ta phải thấm thía, thẩm thấu cái khổ của dòng luân hồi đầy oan nghiệt này nhưng cái này cũng chưa thê thảm, trong kinh Nikāya ghi lại thời Đức Phật có trường hợp vợ chồng phân xác nhau chứ không phải chỉ có thời bây giờ. Tham, sân, si là đại thảm họa, là tổng đạo diễn của hành tinh này.

Những đứa con vì cái gì mà đuổi người cha là đại gia ra khỏi nhà? Có phải vì lòng tham tài sản không? Có phải tham quyền làm chủ nhà không? Lòng tham nổi lên là mất đạo nghĩa, không còn tình cha con gì nữa, không còn hiếu thảo gì nữa, lòng tham nổi lên sẽ làm những chuyện đại nghịch bất đạo, khốn nạn, súc sanh, súc vật, đưa người vào địa ngục, ngạ quỷ, cô hồn, đưa con người trở thành thú vật. Cái sân cũng giống vậy, bản ngã cũng vậy, chúng ta phải thọ được cái pháp. Sau khi vị Bà-la-môn già đó đọc lên bài thánh kệ, bài kệ của bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, bài kệ này là thánh chỉ, thánh pháp, thánh đạo, bài kệ này chạm vô tới tim của những người con đại nghịch bất đạo, bất hiếu, ngỗ nghịch.

Đức Phật dùng những lời nói rất từ ái, ngọt ngào nhưng chạm tới tim, đó là thánh ngữ, là chánh ngữ, là đạo ngữ, thiện ngữ, trí ngữ, là từ bi ngữ, là tế độ ngữ, là hiếu ngữ. Khi những lời này phát ra từ trái tim, tấm lòng, từ một hình hài tiều tụy, quần áo tả tơi, lem luốt, đầu bù tóc rối, trong những dòng lệ của người cha thì những người con sẽ như thế nào? Chúng ta có thể tưởng tượng ra được cảnh đó không?

"Rồi những người con Bà-la-môn đại phú ấy, dắt người cha về nhà, tắm rửa và mỗi người đắp cho cha một bộ áo" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Chúng ta phải tưởng tượng ra cảnh đó là những đứa con quỳ dưới chân cha mà òa khóc "cha ơi… cha ơi… con xin lỗi cha… con tạ tội với cha, con biết lỗi của con rồi, con biết tội của con rồi, con biết con sai rồi, xin cha tha lỗi cho con". Bốn đứa con quỳ xuống dưới chân người cha già ăn xin, mặt mày lem luốt, đầu bù tóc rối, nhơ nhớp, bẩn thỉu, nước mắt ràng rụa đọc lên những lời thấu tận tim gan, không những bốn người con đều khóc mà những người ở đó đều chứng kiến cảnh tượng này, cả một hội chúng đều xúc động, chấn động. Đó là tình phụ tử thiêng liêng, cao cả, mỗi lần trên Linh Quy có thiền biết ơn khi nói về cha mẹ là trào dâng nước mắt, đó là thiên luân, là tình cảm thiêng liêng trong máu, trong xương, trong tủy não của mình, chạm đến là trào ra, làm gì có tình nghĩa nào trên thế gian này có thể so sánh nổi với tình cảm thiêng liêng mẫu tử tình thâm cho nên lúc này chúng ta phải thấy được toàn hội trường khi đó nước mắt trào dâng còn hơn cả lúc trên Linh Quy thực tập thiền biết ơn.

V. Người con được cảm hóa

Những người con này dẫn cha già về nhà thay quần áo mới cho cha. Như vậy trong niềm ấm áp, hạnh phúc, ngọt ngào thì những người con nhận lỗi, hối hận, xin lỗi cha và đem cha về phụng dưỡng. Sau khi được con rước về nhà thì vị Bà-la-môn này cầm bộ áo đi đến Đức Thế Tôn.

"Rồi Bà-la-môn đại phú ấy cầm một bộ áo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, chúng con Bà-la-môn, có dâng cúng sở phí cho bậc Đạo Sư. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận sở phí cho bậc Đạo Sư của con.

Và Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Ý của vị Bà-la-môn này là gia đình chúng con rất là biết ơn ngài, rất là cảm ơn ngài, rất là đội ơn ngài vì lời dạy của ngài đã làm thay đổi cuộc đời của con, làm thay đổi cuộc đời những đứa con của con và làm thay đổi cuộc đời những người quen biết gia đình. Trong kinh nói rất đơn giản nhưng mình phải hiểu được vì không thể giống như ghi âm bây giờ, nói một ngàn lời là ghi lại hết một ngàn lời, người ta chỉ ghi lại ý chính thôi cho nên nhiều khi mình thấy Đức Phật nói "đây là khổ" thì tưởng Đức Phật chỉ nói bao nhiêu đó thôi là không phải, mình nghe nói "đây là sắc khổ, thọ khổ, tưởng khổ, hành khổ, thức khổ" rồi chứng ngộ A-la-hán là không phải, Đức Phật chỉ ra rất nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn nhưng khi tóm lại thì các bậc thánh giả chỉ lấy ý chính thôi. Thật sự rất tiếc là lúc đó không có máy ghi âm, không có máy quay phim, nếu giống như giờ mà có thì biết bao nhiêu người được độ.

Người cha già này đến cảm ơn Đức Phật rồi cúi lạy dưới chân ngài mà khóc, ông trào dâng hạnh phúc vì đây là bậc tôn kính, bậc cải tử hoàn sinh cho ông và cả gia đình ông, đúng ra giờ này ông làm kẻ ăn xin, làm gì được quần là áo lụa như bây giờ, làm gì gia đình được hạnh phúc, êm ấm, con cái hiếu thảo như bây giờ. Nhờ bậc đạo sư, nhờ Đức Thế Tôn, nhờ lòng đại từ đại bi của ngài, nhờ bài kệ của ngài mà làm thay đổi tâm tư của những đứa con, Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận cái áo mới của ông đem lại.

"Rồi Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, IV. Mahàsàla: Đại phú giả hay y choàng thô)

Đó là pháp tam quy ngày xưa của Đức Phật mà bây giờ ở Linh Quy chúng ta khi làm lễ quy y là đọc bài này. Bài này là tự những người thọ nhận được lợi ích, giá trị, sự an lạc từ trong những lời dạy của Đức Phật, họ cảm thọ, cảm nhận, cảm xúc rồi họ nói lên lòng biết ơn của họ, họ nói lên cái tâm quay về, hướng theo Đức Phật tựa theo Đức Phật, nương theo Đức Phật để tu thì cái đó thành pháp quy y, là do cái tâm của người ta muốn quay về nương tựa. Đây là bài nghi thức quy y của Linh Quy Pháp Ấn chứ không phải là Đức Phật soạn ra bài này để cho họ đọc quy y, do họ tự động cảm nhận được giá trị, lợi ích thiết thực, hiệu quả của chánh pháp nên họ nói lên công năng, tác dụng, lợi ích của những lời dạy của Đức Phật và họ muốn quay về nương tựa với Phật, với pháp, với Tăng nên có ra những câu quy y này.

Tại sao mình ta dám đem cả một cái sinh mạng của họ "từ đây cho đến mạng chung con trọn đời quy ngưỡng"? Do họ tin tưởng Đức Phật, lời dạy của Đức Phật làm cho họ đổi đời, làm cho con họ thay đổi vận mệnh thì làm sao họ không tin được, làm sao mà không kính được, làm sao họ không nương tựa Phật được cho nên họ trở thành đệ tử của Đức Phật. Khi mọi người vừa bước lên Cổng Trời thì lập tức thấy một câu mà câu này là con dịch từ trong kinh Nikāya ra tiếng việt cho mọi người dễ hiểu, đó là "biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn mới là một con người", câu đó thôi có thể đủ để độ cho người ta đời sau có thể được làm người, không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu hiểu được câu đó có khi được sanh thiên giới.

Ở đây chưa nói đến báo ơn mà chỉ là biết ơn và nhớ ơn người có ơn với mình thì người đó mới thật sự là con người, gọi là chân nhân. Chân nhân là một người thật sự là người, cha mẹ mình mà mình bắt lỗi đủ chuyện, cô bác, chú dì của mình mà mình toàn kể xấu họ, mình nói một hồi lại thành thầy mình dở, đó là cái tâm vô ơn bội nghĩa, bất hiếu. Vợ chồng cũng vậy, nói chuyện một hồi là chê cái xấu của nhau không thôi, vậy thì mình bệnh ai lo, mình đau ai lo, ai cho mình uống thuốc, tại sao không nhớ những chuyện này, khi giận lên rồi chỉ lôi những chuyện xấu của nhau ra để chỉ trích, như vậy là tâm vô ơn, là tâm của phàm phu chúng sanh, còn tâm của bậc hiền trí, hiền giả, hiền thiện là cái tâm lúc nào cũng nhớ ơn đối với người có ơn dù cho cái ơn rất nhỏ, đó là tâm của bậc hiền trí, hiền thánh.

Người có tu tâm hiền, là hiền giả, hiền nhân, hiền chí là thọ một cái ơn rất là nhỏ, thiệt là nhỏ cũng không bao giờ quên. Bây giờ Đức Thế Tôn phần lớn đa số chúng sanh là những kẻ không có nhớ ơn, không có biết ơn, nói một hồi là hờn trách cha mẹ chia cho ít đất quá, chia người kia nhiều hơn, thậm chí là đốt cha mẹ rồi tự thiêu mình luôn. Cuộc đời này bây giờ thật là khủng khiếp, bài kinh này là tiếng thánh chuông ngân lên gần ba ngàn năm mà âm vang của nó cũng chưa tan hết để nhắc nhở, để thức tỉnh những người con bất nhân bất nghĩa, bất hiếu, quên ơn, vô ơn đối với cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị, đối với thầy tổ, huynh đệ, con cái, vợ chồng. Mình phải biết ơn con mình, cháu mình chứ không phải kêu nó biết ơn mình không, mình đau ai cho mình uống thuốc, con mình có ơn với mình không hay mình chỉ biết mình là ân nhân của nó, con mình cũng là ân nhân của mình, vợ chồng cũng là ân nhân của nhau, thầy trò lại càng là ân nhân của nhau.

Mình phải thấy được những sự ân nghĩa, ân đức, ân tình thì đời sống của mình mới có hương vị ngọt ngào. Mình nhìn ai cũng là ân nhân của mình thì thấy vui lắm, dễ chịu lắm, hiền hòa lắm, còn nhìn mặt ai cũng thấy họ hại mình, lấy đồ mình, lợi dụng mình thì mình có nhờ họ không, có lợi dụng họ không. Mình phải tập sống trong thế giới biết ơn, trong cảm thọ biết ơn, trong cảm xúc tri ân, trong cảm giác luôn luôn thọ cái ơn, cái này tuyệt vời lắm, mình uống chung trà cũng cảm ơn từ cái hạt trà, từ cái cây trà, từ cái lá trà đem vô trong bếp nấu lên, bưng lên bàn rót ra cho mình để uống. Bên Đài Loan có Từ Tế Hội chỗ sư bà Chứng Nghiêm dạy cho những đứa trẻ, những đứa tiểu học về tâm biết ơn từ lá trà, uống chung trà phải biết được trải qua biết bao công đoạn để khi uống mình nâng niu chung trà, uống không dám bỏ một giọt nào.

Mình ăn cái chén cơm cũng vậy, mặc cái chiếc áo cũng vậy, mang cái đôi dép cũng vậy, đó là mình nói những cái vô tình mình còn như vậy thì huống hồ gì đối với những bậc ân đức, ân nhân, ân nghĩa cho nên phải học từ nhỏ, phải tập cái sự như lý tác ý của mình thường xuyên thì mình sẽ không có những hành động, những cử chỉ, những lời nói, những suy nghĩ vong ơn bội nghĩa mọi người thì đời sau mình còn cơ hội được làm người, được tu học chánh pháp. Hôm nay con chia sẻ cho chúng ta chủ đề biết ơn và nhớ ơn.

VI. Lời kết

Ni sư: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, xin được thay lời cho ban tổ chức lớp học cũng như quý Phật tử đang có mặt trong diễn đàn học Phật Online tối hôm nay chúng con thành kính niệm ân thượng tọa giảng sư đã có một thời pháp thoại chia sẻ đến với lớp học cho chúng con một bài pháp rất là thực tế, rất là ý nghĩa, nhất là lòng biết ơn và nhớ ơn.

Kính bạch trên thượng tọa nhân mùa tháng 7 Vu Lan đã có một bài kinh vô cùng ý nghĩa giúp cho Phật tử chúng con hiểu được trong cái sự tu học của mình, nhất là các vị các vị Phật tử tại gia chúng ta có thể giáo dục con của mình, gia đình từ lúc nhỏ có lòng biết ơn và nhớ ơn. Một người có lòng biết ơn và nhớ ơn thì chúng ta mới có thể trở thành những bậc chân nhân như lời của thượng tọa đã chia sẻ, quý Phật tử chúng ta sau khi học bài này rồi chúng ta phải có cái sự tu tập nhiều hơn nữa, nhất là những lời kinh từ thượng tọa chia sẻ lại trong bản kinh Nikāya từ thời Đức Phật, một bài pháp rất là ý nghĩa, từng lời Đức Phật để lại và chúng ta hôm nay đầy đủ duyên lành để được nghe thượng tọa chia sẻ. Chúng ta chỉ đọc những cái bản kinh ở bên Bắc Truyền, chúng ta thường tụng nói về kinh Vu Lan báo hiếu nhưng mà trong bản kinh Nikāya nói về lòng biết ơn, lòng nhớ ơn ở đây rất là sâu sắc.

Quý vị Phật tử phải biết ơn, nhớ ơn từng người, từng vị, những người xung quanh mình và như thượng tọa đã chia sẻ, ngay từ lúc nhỏ đã giáo dục cho các em lòng biết ơn, nhớ ơn. Quý Phật tử tại gia chúng ta đây là một bài học rất là thực tế, quý vị có thể giáo dục các con em của mình ngay từ lúc này để lớn lên các em, các con trở thành những người có ích cho xã hội, trở thành những bậc doanh nhân để sau này làm những việc gì chúng ta phải biết đến lòng biết ơn và nhớ ơn các vị đã cho mình được cái kiến thức, cho mình được giới thân huệ mạng, cho mình được cuộc sống ngày hôm nay trở thành các bậc hiền trí, hiền giả và chúng ta cố gắng tu tập để thực hành trong cái sự tu tập của mình nó nhiều lợi lạc hơn.

Kính bạch trên thượng tọa một bài pháp giúp cho lớp học chúng con cũng như chư tôn đức Tăng Ni cùng được dự thính trong buổi pháp thoại hôm nay nhân mùa Vu Lan trong tiết tháng 7 này. Chúng con thành kính niệm ân trên thượng tọa cũng như chư tôn đức Tăng Ni đã đồng hành cùng chúng con, qua những lời chia sẻ, những lời pháp thoại của thượng tọa giảng sư giúp cho phật tử chúng con trên con đường tu học của mình có nhiều lợi lạc và thêm nhiều năng lượng để chúng con tu tập càng ngày càng tinh tấn hơn. Giờ đây lớp học đã đến thời viên mãn, chúng con kính thỉnh trên thượng tọa giảng sư khởi niệm hồi hướng và kính mời quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta cùng chắp tay trang nghiêm hồi hướng cho thời pháp hôm nay đã được thành tựu viên mãn. Kính chúc quý Phật tử tại diễn đàn học Phật Online luôn luôn được đầy đủ thắng duyên, gia đình an vui, hạnh phúc và luôn luôn gặp nhiều thuận duyên trên con đường tu học của mình, giữ vững tâm bồ đề. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, chúng con kính cung thỉnh thượng tọa giảng sư khởi niệm hồi hướng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Hôm nay chúng ta đọc bài mới.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.