Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đại Kinh Mãn Nguyệt 5 - Diệt Trừ Ngã Mạn

2026-03-03 00:55:34
Kinh Nikāya Giảng Giải

DIỆT TRỪ NGÃ MẠN

ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 5

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán vô ngã PAGEREF _Toc83652964 \h 1

II.Thiền quán thân trống rỗng PAGEREF _Toc83652965 \h 2

III.Huấn luyện tâm PAGEREF _Toc83652966 \h 10

IV.Thường quán vô thường PAGEREF _Toc83652967 \h 13

Quán vô ngã

Chúng ta học bài “kinh lớn trăng tròn” - Đại kinh Mãn nguyệt, đây gồm những vấn đề căn bản về ngũ uẩn, chúng ta cần phải nắm vững bài kinh này.

"-- Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có mạn tùy miên rằng: 'Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm', đối với tự thân có ý thức, và đối với cả tưởng ở ngoài?". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Do thấy gì, biết gì mà dẹp bỏ được suy nghĩ cho rằng tôi, những cái này thuộc về tôi, cả bên trong lẫn bên ngoài đều bỏ được mạn tùy miên?

"-- Này Tỳ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: "'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Phàm có thọ gì... tưởng gì... hành gì... phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật với trí tuệ là: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Này Tỳ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên không có mạn tùy miên rằng: 'Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm', đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Mấu chốt của tất cả pháp học và pháp hành của kinh tạng Nikāya chính là câu hỏi "Do thấy gì, do biết gì mà không có mạn tùy miên", tức là do thấy, do biết như thế nào để không còn bản ngã nữa, không còn chấp ngã, không còn quan niệm về cái tôi, cái của tôi nữa. Đức Phật giảng phàm đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức bất kể là xưa kia, sau này hay trong hiện tại, đẹp hay xấu, xa hay gần, cao cấp thay thấp kém thì tất cả năm uẩn đó thấy được như thật với trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Câu này là định lý giải thoát, là khẩu quyết của Thánh pháp, của Thánh trí huệ nên cần thường niệm, thường tác ý và thường nhắc nhở bản thân. Phải thường chiêm nghiệm, suy tư, quán chiếu thành đề mục, đề tài, làm thành công án để đối với mỗi suy nghĩ, như vậy mình mới có suy nghĩ đúng "đó là hành uẩn, không phải tôi, không phải của tôi. Vì xúc tập khởi nên hành tập khởi, do tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, hình bóng trong tâm”. Phải thấy rõ từng cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm là pháp duyên sanh, là pháp lắp ráp, là pháp kết hợp, là những móc xích, mở những cái móc đó ra không có gì cả. Mở những bộ phận ra sẽ không thành chiếc xe, phơi bày ra ba mươi hai bộ phận trong cơ thể ra sẽ không thành con người, để riêng hai con mắt, để hai lỗ tai, lỗ mũi, tay chân, phèo, phổi… thì không thành con người. Tuy nhiên, do những thứ này kết hợp lại theo một quy trình vận hành, hoạt động thì tạm gọi là con người trên danh nghĩa là Thích-nữ gì đó chứ thật tế không có một Thích-nữ gì cả.

Thân này là do tứ đại kết hợp, do cơm cháo nuôi dưỡng, là pháp hữu vi, chỉ cần ăn không được là sẽ hoại diệt, tan rã, thở không được, uống không được, ngủ không được cũng hoại diệt, tan rã. Chúng ta phải thường chiêm nghiệm, suy tư, quán chiếu, quán sát để thấy rõ không có tôi và cái của tôi thật sự trong này, đó là phương pháp quán thâm sâu của trí tuệ vô ngã. Điều này đòi hỏi phải tư duy, thẩm thấu, quán chiếu từng giây từng phút cho đến khi nào thể nhập trí tuệ vô ngã đó gọi là chứng đắc. Bằng không, lúc nào nhớ thì thấy, quên thì không thấy; khi suy tư quán chiếu sẽ thấy đúng như thật nhưng lúc không suy tư quán chiếu lại thấy có một cái tôi, một cái của tôi. Cho nên đây là pháp quán rất sâu sắc để hành trì, chúng ta phải thường xuyên thực tập, mỗi ngày phải dành thời gian thiền quán, tư duy tác động tâm ý về vấn đề này. Nếu không quán chiếu, không chiêm nghiệm thường thì không thể thể nhập được trí huệ này.

Thiền quán thân trống rỗng

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương,

Phủ ngoài một lớp da trơn lán,

Che đậy vô vàn thứ nhớp nhơ.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tanh hôi với hôi tanh,

Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu,

Nhìn kĩ bên trong, chẳng có ai.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Thế mà vỗ ngực nói ta đây,

Như một bao rác đầy hôi thối,

Lại vỗ vào bao, nói ta, tôi.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua,

Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu,

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,

Thế mà vỗ ngực ta vầy, khác,

Kẻ mạo danh nhận rác là ta.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,

Chẳng có ai ở trong đây cả,

Hỡi tâm mê, hãy tỉnh ra mau!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi, đây – đống nhớp bọc da,

Chẳng có gì gọi là ta cả,

Tất cả chỉ là nhớp nhơ da.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu để ái, dục, sân,

Ái, dục, sân chi thân trống rỗng,

Để rồi không thoát khỏi trầm luân.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu để thích, muốn, tham,

Thích, muốn, tham chi thân trống rỗng,

Để cho nước mắt chảy cạn dần.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu để nóng, giận, sân,

Nóng, giận, sân chi thân trống rỗng,

Để cho tâm phiền não, khổ đau.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu để khổ vậy tâm,

Có gì đâu để nhốt tâm này,

Trong thân xác tràn đầy hôi thối.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu để đắm tham tâm,

Tâm được cái gì khi tham đắm,

Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Có gì đâu phải khổ vậy tâm,

Để lửa dục đốt thiêu tâm trí,

Tâm được cái gì, vậy hỡi tâm?

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang,

Rày đây mai đó trong lang bạc,

Hết gá thân này, lại thân kia.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tâm lậu hoặc tham lam,

Thèm muốn mãi vẫn không thôi vướng,

Để rồi rong ruổi chốn khổ đau.

Khi nghe thiền quán phải hướng vào cảm giác để nói những lời này cho tâm nghe nhằm thức tỉnh tâm mê. Trên trang linhquyphapan.vn có những bài thiền quán về thân trống rỗng nhớp nhơ, thiền quán về tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, đây là những bài thiền quán để phá chấp ngã và phải thực tập mỗi ngày. Những điều này phải được nhắc nhở thường xuyên, phải được suy tư chiêm nghiệm, nếu không chúng ta sẽ sống theo chấp ngã. Chúng ta đã quen ở trong chấp ngã hơn là ở trong trí vô ngã, chúng ta chỉ mới tiếp xúc trí vô ngã gần đây thôi nhưng chúng ta lại thuần thục, điêu luyện trí chấp ngã trong vô lượng vô biên kiếp. Cho nên, muốn tu để phá chấp ngã, phá thân kiến phải rất nỗ lực, cần nhiều sự thực tập hành trì chứ không đơn giản là nghe giảng rồi về tụng sơ sài là có thể phá được chấp ngã.

Như vậy, sự tu này đòi hỏi mình phải nỗ lực quán chiếu, tác động tâm ý thường xuyên để thức tỉnh tâm u mê, tâm si mê đối với ngũ uẩn, đối với tứ đại, đối với những hình sắc này, chúng ta rất đam mê, chấp chặt trong những thứ này. Nói ra thì rất phũ phàng và đau lòng nên không ai muốn nghe, chúng ta đã quen với sự lòe loẹt nên khi phơi bày sự thật ra rất xót xa nhưng cần phơi bày để đối diện sự thật, vì nếu không đối diện sự thật thì chúng ta chỉ sống trong giả dối mà mình lại không biết điều đó. Ví dụ thấy mũi cao rất đẹp nhưng trong lỗ mũi lại là gỉ mũi thì có gì đẹp trong đó? Rồi đưa đồ giả vào nâng mũi nữa thì đó là đồ giả của đồ giả, chúng ta nói thân này là thật nhưng cũng chỉ là đồ giả mà thôi, nó không bền chắc. Chúng ta bị một cú lừa ngoạn mục mà chúng ta không biết, chúng ta bị sắc lừa gạt, bị thọ lừa gạt, bị tưởng; hành; thức lừa gạt một cách đau đớn, xót xa, đau lòng. Có rất nhiều nước mắt, nỗi buồn, sự khổ đau trong đời sống của tâm mê, tâm vô minh, tham ái, chấp thủ trong cuộc đời này.

Thân trống rỗng, không ai trong đó

Chỉ có tâm xảo trá trong thân

Giả dối, khoe khoang phô bản ngã

Ngụy biện quanh co, giấu lỗi lầm.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chỉ có tâm dục, ái, tham, sân,

Đắm đuối, chấp mê thân trống rỗng,

Không tìm thấy lối để thoát ra.

Thân trống rỗng, không ai trong đó

Tâm vào đây làm tổ chi tâm?

Tâm vào đây làm ổ để làm gì?

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.

Tâm mê này làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt trong thân tứ đại máu mủ này, nó bám chấp, nó nắm chặt, nó buộc chặt vào trong đây, cho đống máu mủ này là nó, là của nó vì nó không biết rằng thân xác này dễ tan vỡ.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm,

Vô dục, ái, tham, sân, bản ngã,

Tiếc xác thân vô ngã, rỗng không.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm,

Đừng để lòng dục, tham thân rỗng,

Nhận chìm tâm trong bể trầm luân.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm,

Tâm đừng sân hận thân trống rỗng,

Để rơi vào địa ngục nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm,

Tâm đừng tham dục thân trống rỗng,

Để rồi làm súc vật nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm,

Tâm đừng mãi lang thang vô định,

Để rồi làm ngạ quỷ nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm,

Tâm đừng tham đắm thân rỗng nữa,

Để trầm luân khổ mãi nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm,

Đất trời rộng lớn, thênh thang lắm,

Dại gì chui vào chỗ tối tăm.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm,

Tâm mau từ bỏ thân trống rỗng,

Tử thần sẽ không bắt được tâm.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm,

Tâm mau thoát khỏi thân trống rỗng,

Tự tại thong dong giữa đất trời.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm?

Tâm còn mê muội thân trống rỗng,

Thì còn than khóc mãi nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó

Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm?

Tâm còn tham đắm thân trống rỗng

Thì còn thống khổ mãi nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm?

Tâm còn đeo bám thân trống rỗng,

Thì còn sanh tử mãi nha tâm!

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm?

Đừng để lòng si mê thân rỗng,

Dẫn tâm lòng vòng trong khổ đau.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm,

Tỉnh lên tâm, thoát khỏi thân này,

Bằng Tám Chánh, Thánh nhân chỉ dạy.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm,

Thoát đi tâm, thoát khỏi thân này,

Đừng tìm lấy khổ đau chi nữa.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm,

Đừng dại gì chui vào trong đấy,

Để rồi chuốt lấy khổ ngàn thu.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm,

Tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc,

Thoát cảnh ngục tù trong tử sanh.

Thân trống rỗng, không ai trong đó,

Tỉnh đi tâm, buông bỏ nha tâm,

Dục, ái, tham, sân tâm khổ lắm,

Bỏ hết tâm yên thật Niết-bàn!

Đó là chúng ta thực tập thiền quán về thân trống rỗng của phương pháp quán vô ngã.

Huấn luyện tâm

Chúng ta cần sự cảm thông, buông bỏ những sự nhỏ nhặt để có được đời sống lục hòa, khi có hòa hợp, an ổn thì tâm mới yên định để tu. Thật ra trong sự bất hòa chúng ta rất khó tu và nhất là khi ở chung mà có sự bất hòa thì rất khó tu cho nên đừng nhìn người khác mà hãy nhìn tâm chính mình. Chúng ta đã học ngũ uẩn, học duyên sanh pháp, học những cách quán chiếu, tác ý thì chúng ta phải quay lại nội tâm để nhiếp phục những cảm giác tham, sân, si, bản ngã, đó là chỗ cốt lõi nhất của Chánh pháp, còn hướng ra ngoài sẽ mãi khổ đau và phiền não.

Không thể khắp mọi nơi trên Trái Đất đều trải thảm cho ta đi nhưng nếu có đôi giày, đôi dép tốt thì chân không bị dẫm đạp lên gai góc, đinh sắt, miểng chai. Cũng vậy, chúng ta trang bị cho mình chiếc giày nội tâm, trang bị cho mình một cái tâm kham nhẫn, nhẫn nại, nhiếp phục cảm thọ chính mình thì ở đâu cũng được bình an dù cho có sóng gió. Còn nếu không biết tu tâm, không biết thực tập tâm, không biết nhìn lại nhiếp phục, chuyển hóa tâm thì mình sẽ mang một nội tâm đầy vết thương.

Trong kinh Đức Phật nói rằng tâm của phàm phu giống như vết thương, có người chạm vào là đau đớn, nhức nhối. Tâm này rất dễ nhận thấy, ai chạm nhẹ vào thôi là bực bội, cau có.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm ví dụ như vết thương? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dầu có bị nói chút ít, cũng tức tối phẫn nộ, sân hận, sừng sộ, biểu lộ sự phẫn nộ, sân hận và bực tức. Ví như một vết thương đang làm mủ, nếu bị cây gậy hay một miếng sành đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người phẫn nộ và bực tức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người được ví dụ với vết thương đang làm mủ". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 25.- Vết Thương Làm Mủ)

Tâm thứ hai là tâm như ánh chớp, lóe sáng nhưng không giữ được lâu, ánh chớp đó ví dụ cho người bắt đầu thấy được pháp.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như chớp sáng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật rõ biết: 'Đây là khổ"'... như thật rõ biết 'Đây là con đường đưa đến khổ diệt'. Ví như một người có mắt, thấy các sắc trong đêm tối mù mịt, khi có chớp sáng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có người như thật rõ biết: 'Ðây là khổ', ... như thật rõ biết: 'Đây là con đường đưa đến khổ diệt'. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là hạng người với tâm được ví như chớp sáng". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 25.- Vết Thương Làm Mủ)

Tâm thứ ba là tâm bất động kim cương, tâm như kim cương là tâm của các bậc Thánh đã đạt đến chỗ bất động, không bị sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp bên ngoài hay bên trong làm cho họ bị dao động, phiền não hay khổ đau.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người với tâm được ví dụ như kim cang? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người, với tâm được ví dụ như kim cang". (Tăng Chi Bộ, chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 25.- Vết Thương Làm Mủ)

Cũng do sự chấp ngã, cái tôi, cái ta mà gặp cái gì cũng khổ, vì một cái nhìn mà ăn không ngon ngủ không yên, người ta quăng đồ trước mặt mà mình chấp thì cũng khổ đau, một lời nói, một hành động mà mình chấp ngã nặng là đau khổ không dứt được, "sao đối xử với tôi như vậy?", "khinh thường tôi hả", "mệt thị, khinh khi tôi hả?". Cứ nghĩ có cái tôi là thấy khổ và khi không có tôi, hạ thấp cái tôi thì hết khổ. Trong Thanh quy đạo tràng Nikāya có “Năm khiêm hai khéo”.

Năm khiêm:

Khiêm cung.

Khiêm hạ.

Khiêm tốn.

Khiêm nhường.

Khiêm nhã.

Hai khéo:

Khéo xét lỗi mình.

Khéo phòng hộ căn.

Khi khéo hộ trì căn, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và khéo nhìn lỗi mình thì mình sẽ bớt khổ đau.

"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)

Cần phải khéo léo hộ trì căn, kiểm soát cảm thọ, khéo nhiếp phục tâm, giải tỏa những cảm xúc bực bội, ta đây, hơn thua, phải tẩy sạch, trừ diệt bằng tâm nhu thuận, khiêm hạ, nhún nhường như đức hạnh ngài Xá-lợi-phất.

"Nguyện tâm an trú như nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt kiêu căng".

"Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân". (Tăng Chi Bộ, chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)

Khi nghĩ về cái tôi của mình thì hãy nghĩ nó như miếng nùi giẻ rách, ai muốn chùi, ai muốn đổ, ai muốn để cái gì lên thì để, nó là cái nùi giẻ chứ không có gì là tôi, là của tôi. Đừng nghĩ có tôi, ta, tao, mi, tớ rồi nhân ngã bỉ thử, tranh đấu, cãi nhau và kết quả cuối cùng là phiền não, khổ đau, tức giận, cho nên hãy tập tâm buông xả, chánh niệm tỉnh giác, trú xả, đó là bí kiếp tu học.

Thường quán vô thường

"Rồi một Tỳ-kheo khác khởi lên sự suy tư như sau: Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?". (Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)

Một vị Tỳ-kheo khởi lên suy nghĩ nếu năm uẩn đều là vô ngã thì đối với những nghiệp mà mình đã tạo ra thì cái tôi, cái bản ngã nào lãnh thọ nó?

"Thế Tôn biết được tâm tư của Tỳ-kheo ấy với tâm tư của mình, liền nói với các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Đạo sư với câu hỏi: 'Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?' Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác.

Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Những gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: 'Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?'

-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, thọ...  tưởng... hành... thức là thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Những gì vô thường, là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?'

-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy, này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại... tất cả loại sắc, cần phải như thật quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại… tất cả loại thức, cần phải như thật quán: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.

Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn trở lại đời sống thế này nữa". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Từ nay trở đi không còn lặp lại đời sống tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh tử luân hồi của ngũ uẩn, đã thoát ra khỏi ngũ uẩn.

"Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự giảng giải này được nói lên, tâm của sáu mươi vị Tỳ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Khi Đức Phật thuyết xong bài kinh này có đến sáu mươi vị chứng Thánh quả A-la-hán. Những câu Đức Phật hỏi "sắc là thường hay vô thường" là định lý, là khẩu quyết, là sự chứng ngộ mà Đức Phật đã lặp tới lặp lui cả ngàn lần trong tạng kinh. Khi các vị Tỳ-kheo trả lời "sắc là vô thường" thì chữ vô thường đó được các ngài thật thấy, thật biết. Chữ vô thường trong kinh để chỉ ngũ uẩn là vô thường, một khi ngũ uẩn là vô thường thì nó là khổ, chịu sự tan nát, hoại diệt, tan vỡ thì tại sao lại xem nó là bản ngã, tự ngã của tôi. Ai thường chiêm nghiệm điều này thì người này rất nhanh chóng thể nhập Thánh quả. Có một số người nói "vì vô thường nên cuộc đời này mới đẹp" là không đúng ý của Phật, không đúng với ý trong kinh.

"Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?

-- Vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Những gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn".

Đức Phật nói tính chất vô thường, khổ não, tan nát, chịu sự biến hoại để chúng sanh không tham muốn, ưa thích nữa nhưng khi giảng vô thường nếu không khéo sẽ làm cho chúng sanh ưa thích, tham muốn, cho nên, cần cẩn trọng điều này nếu không sẽ hiểu sai pháp. Sự chứng ngộ vô thường của Đức Phật nhằm đưa đến ly tham, nhàm chán, xa lìa, đưa đến sự giải thoát, còn mình giảng vô thường một lúc thành "vì vô thường nên hoa mới nở", vì vô thường nên mới có cái này cái kia để người ta hi vọng, ước mơ thì điều này làm phát huy tham ái, nếu không hiểu đúng lời Phật thì "sai một ly đi một dặm". Vì tất cả đều phải chịu sự biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, đau khổ nên mới vô thường, trong khi bây giờ mình lại yêu thích sự tan vỡ, biến hoại đó thì đi không đúng với ý Phật, cho nên đọc kinh phải kĩ lưỡng. Người giảng pháp không đúng mà mình đi theo tư tưởng đó thì mình không có con đường thoát ra, dẫn tâm đi lòng vòng trong tham ái, tham dục.

Vì vậy, cần nhớ định lý quan trọng của Đức Phật trong kinh Nikāya là nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn, đó là Thánh Pháp Ấn của Đức Phật. Những lời Đức Phật dạy đưa đến hiệu năng nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chính chỗ nhàm chán này mới không ưa thích, tham muốn, vì không ưa thích, ham muốn nên mới xa lìa, từ bỏ thì mới giải thoát. Khi quán chiếu thân trống rỗng, không ưa thích thân này mới không tái sanh trở thành cục máu mủ này nữa. Còn giờ chỉ thấy mình đẹp, mình hài lòng với bản thân này thì đời sau chắc chắn phải trở lại nhưng không biết thành thân con gì vì còn tương ứng với cái nghiệp của mình. Giáo pháp Đức Phật hướng đến sự xuất ly, giải thoát, thoát ra nhưng chúng ta tu một thời gian lại thích y đẹp, áo đẹp, thích chùa đẹp, cảnh đẹp là đi không đúng đường Đức Phật dạy nên sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Ở đời vốn khổ, vô chùa thoát khổ nhưng lại khổ hơn. Đúng là:

"Ca-sa vị trước hiềm đa sự,

Trước dĩ Ca-sa sự cánh đa".

Dịch nghĩa:

"Chưa khoác Ca-sa than nhiều việc,

Đã khoác Ca-sa việc lại nhiều".

Điều này rất nguy hiểm, chỉ có đi đúng đường Đức Phật mới có Thánh đạo, Thánh trí và Thánh quả. Nếu không đi đúng đường Đức Phật chỉ có nhân thiên phước báo, chỉ làm được những việc thiện tốt lành nhưng chạm vào vẫn tham, sân, si rất nhiều, cái tôi, bản ngã càng phát triển to lớn. Nếu hông đi đúng Thánh đạo thì không có khả năng nhiếp phục và diệt tận dục, tham ái, vô minh và bản ngã

./.