Sơn Cư Pháp Ngữ 2 - Con Đường Chứng Đắc
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - SƠN CƯ PHÁP NGỮ 2
CON ĐƯỜNG CHỨNG ĐẮC
THÍCH MINH THÀNH
Lúc 3h sáng chuông báo thức reo thì nhận diện năm uẩn như thế nào?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Khi ngủ con có giật mình thức vài lần, lúc đó con có xem đồng hồ, cho tới khi có chuông báo thức thì con lại không nghe.
Chú Nghĩa cảm thấy ra sao?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Lúc đó cái thọ của con thấy khó chịu, tưởng uẩn là con hình dung ra điện thoại ở chỗ nào, lúc đầu con nghĩ tới hình ảnh điện thoại ở trên gác, lúc sau lại hiện ra hình ảnh dưới gối, con xem điện thoại của mình là 3h thì con mới đi xuống để tắt điện thoại. Thức của con rõ biết tưởng và hành.
Trước khi phát hiện ra đó là điện thoại của mình thì thọ; tưởng; hành như thế nào?
Dạ trước đó thì con khó chịu, cái tưởng hiện lên hình ảnh điện thoại của ai đó đang báo thức.
Tiếng chuông điện thoại của mình mà nghe cũng không nhận ra?
Dạ lúc đầu con nghe rõ nhưng con không nghĩ là của mình vì thấy nó lạ, bình thường con cài tiếng chuông khác sao hôm nay lại là tiếng chuông khác nên không hình dung ra của mình. Khi con xem điện thoại mới biết là mình cài báo thức lúc 3h để thức dậy.
Thầy Pháp Từ lúc đó thọ; tưởng; hành hoạt động ra sao?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch sư huynh cùng các huynh đệ. Lúc đó con còn ngủ vẫn không biết gì hết. Đến 4h sáng thì chuông báo thức điện thoại của con reo lên thì lúc đó con mới tỉnh giác, còn trước đó lúc 3h thì con không hay biết.
Khi nói nhìn lại tâm mình là chỉ nói chung chung, còn khi nhận diện năm uẩn là một cách nhìn tâm rõ ràng, đầy đủ, trọn vẹn. Từ những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng, nhận thức thường nhìn rõ là mình rõ biết được tâm của mình. Cho nên người có tỉnh giác chánh niệm và có cái nhìn sâu sắc sẽ thấy rõ từng chi tiết, từng hoạt động, những người không tu là không nói đến. Mình phải tập nhìn thật rõ ràng, chi tiết mọi sự hoạt động của tâm, đời sống của người tu sĩ luôn luôn cầu pháp, học pháp, tôn kính pháp, suy tư pháp, thực hành pháp, thậm chí là xem pháp còn hơn sinh mạng của mình, nếu vậy người đó chắc chắn sẽ chứng đạt được pháp.
Đức Thế Tôn đã nhập diệt và trao truyền lại cho chư Tăng. Trao tuyền giáo pháp vô thượng, sự bỏ hết tất cả để ra đi là cuộc xả ly vĩ đại của mình, đó là cả một sự dấn thân để cầu pháp nên lúc mình chưa tìm được pháp, chưa thấy được pháp, chưa biết pháp thì lúc đó mình phải bôn ba truy tầm, tìm kiếm. Ngày xưa các vị cao Tăng vì cầu pháp có thể bỏ sinh mạng, bị tàn tật và không biết bao nhiêu bộ xương người là bộ xương của các vị xuất gia đã bỏ mạng trên con đường thỉnh kinh cầu pháp, từ đường bộ đến đường biển, từ sa mạc đến núi rừng. Cũng có những vị không thấy được pháp nên chỉ tu một cách mày mò, có khi các vị rơi vào trong tà kiến mê tín. Khi nhìn hiện tại và quá khứ sẽ thấy rất nhiều trường hợp này, từ cư sĩ cho đến người xuất gia, không phải dễ để thành tựu chánh tri kiến, đây là điều cực kì khó khăn. Khi nhìn lại công cuộc xuất gia của mình phải xem giá trị của pháp là tối thượng, mỗi tối đứng trước hình tượng Đức Thế Tôn cùng tuyên đọc lại những lời dạy trong tạng kinh Nikāya một cách chân thành, cung kính, cẩn trọng. Từng cái lạy xuống là để nuôi dưỡng, để làm cho lớn mạnh cái tâm cung kính cầu pháp, tôn trọng, thiết tha. Đó là sự quy y pháp bảo, nếu có được tâm thái như vậy thì mới đắc pháp, mới kiến pháp, mới hộ pháp rồi mới chứng pháp. Nếu mình xem pháp một cách bình thường thì không thể nào thành tựu được. Trước kia mình nghĩ xuất gia là phải đi học trong trường để có bằng cấp, sau đó ra làm bên nghi lễ, giảng sư hay xây dựng chùa, bao nhiêu khoa trong trường để làm này làm kia. Nhưng hôm nay chúng ta được học hiểu bổn phận, công việc quan trọng nhất của người xuất gia là diệt tận nhiễm ô. Như vậy tất cả những cái học hỏi, tụng đọc, hành trì và làm việc của mình chỉ nhằm một mục đích duy nhất là soi rọi, luôn thường trực nhìn lại tâm của mình để phát hiện, xử lý, dọn dẹp, tẩy sạch, diệt tận những gì làm cho tâm mình cấu bẩn, mờ tối, không sáng tỏa, nó làm mình thành người mù, không có mắt, không có trí. Khi mình đang ngồi, đang nằm, khi đang đi kinh hành mà những chướng ngại pháp sanh khởi lên thì Đức Phật dạy mình phải biết, phải thấy rồi từ đó ngăn chặn, chấm dứt, từ bỏ. Khi tiếng chuông báo thức vang lên thì bình thường sẽ thấy khó chịu nhưng mình dùng Như lý tác ý "nhờ tiếng chuông này mà mình thức sớm hơn để được ngồi thiền", trong kinh Đức Phật cũng dạy đầu hôm và cuối đêm là đi kinh hành và ngồi thiền, thậm chí giữa hôm cũng làm như vậy. Thành ra cuộc đời các vị thánh Tăng, cao Tăng mà giật mình thức giấc giữa đêm là các ngài sẽ tu, bất cứ lúc nào thức dậy cũng tu. Còn mình bây giờ đúng giờ mới thức, còn trước đó mà có tiếng động là thấy khó chịu rồi bực mình, vậy thì đó không phải là bản chất, sự thù thắng của người tu. Thành ra những việc ác nào chưa sanh thì đừng làm cho nó sanh, còn khi đã sanh thì trừ diệt.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa các huynh đệ, Tứ Chánh Cần mà Đức Phật đã dạy trong kinh Nikāya là:
Này các Tỳ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được diệt trừ, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; này các Tỳ-kheo, đây là bốn chánh cần (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (III) (13) Chánh Cần).
Này các Tỳ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi nếm vị ... thâm cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) (14) Chế Ngự).
Cho nên mình phải nhớ vận dụng chứ không phải học xong là xếp sách lại, sự tinh cần, tinh tấn này phải được diễn ra trong sinh hoạt thường ngày, trong suy nghĩ, cái tưởng, nhận thức của mình. Tối hôm qua mình ngồi quây quần bên ngọn lửa hồng để chia sẻ kinh nghiệm từ bước đi, ly nước chung trà, mỗi cử chỉ động tác mà mình không làm cho nó thô tháo, không làm cho nó thô lỗ, bất cần thì đó là tinh cần. Trong 37 phẩm trợ đạo thì cái này bổ túc cho cái kia, cái kia hỗ trợ cho cái nọ và 37 phẩm trợ đạo đó là mắc xích, hỗ trợ, tác thành như một chuỗi ngọc, phải biết vận dụng nó chứ nó không phải rời rạc, riêng lẻ mà trong cái này có cái kia. Đó là sự để tâm, tinh tấn, cho nên Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần có một sự liên hệ chặt chẽ trong sự tu tập. Mình thường siêng năng, tinh tấn, để tâm suy xét thì mình mới chế ngự được các căn, như khi mình mở cửa mạnh tay thì đó là mình không chế ngự được nó, trong đó cũng không có chánh niệm tỉnh giác cũng không có niệm thân, trong chế ngự các căn có niệm thân, niệm oai nghi hành động, nó cũng có sự nhận diện năm uẩn, vì lúc đó mình không thấy năm uẩn thì các tưởng, suy nghĩ mộng mơ nơi nào thì làm sao hộ trì căn được? Cho nên nó liên hệ với nhau để vận hành nhỏ nhiệm tinh vi, niệm – định – tuệ của mình phải được sáng tỏa thì mới thấy rõ, mình có sự vận dụng pháp học và pháp hành kết hợp thì rất tuyệt vời. Lúc Minh Thành đang nói chuyện với thầy Pháp Sơn thì thầy Pháp Sơn bước lùi xuống 1 bậc, đứng thấp hơn Minh Thành, Minh Thành thấy đó là một sự chánh niệm tỉnh giác và có sự tôn trọng cung kính. Thầy Pháp Sơn khi để nải đồ cũng để thấp hơn Minh Thành vì đó là chỗ Minh Thành nằm nghỉ nhưng khi Minh Thành lên vừa mới đây thì thấy có người để cái nải lên đồ của Minh Thành. Cho nên nếu có chánh niệm tỉnh giác, hộ trì các căn, có oai nghi, có học pháp sẽ rất khác biệt, một người kêu để lên nhưng không để còn người kia là để lên trên đồ của thầy luôn. Những cái nhỏ nhiệm sâu sắc đó là từ việc hộ trì căn, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm thân của Thân Hành Niệm, đó là hương vị của bất tử, là cảnh giới của bất tử. Thành ra sinh mạng của người xuất gia là niệm thân, luôn quán niệm những hành động của thân, cho nên thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp rất quan trọng oai nghi, chính vì chỗ nhỏ nhiệm này mà khi thầy tổ chức những buổi lễ mấy chục ngàn người tham dự vẫn không có một tiếng động, đó là từ một giọt nước mà trở thành đại dương biển cả. Mình không có những cái hạnh nhỏ nhiệm, không tích lũy nhiều giọt thì làm sao đầy lu, đầy hồ, đầy sông biển, chính vì thế tu không phải là khó khăn, đây là phi Như lý tác ý "sao cái gì thầy cũng la", "sao sư huynh khó quá vậy?", tại vì đó là người không tôn trọng học pháp và không biết quý giá trị của sự cải thiện, toàn thiện nhân cách phẩm chất cao thượng của người xuất gia. Nếu người nào biết được giá trị của pháp, biết được tầm quan trọng của những học pháp thì người đó sẽ lạy dưới chân và mang ơn suốt đời người đã chỉ cho mình những cái hạnh nhỏ nhiệm đó, còn mình được chỉ dạy thì lại sân giận.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con xin đọc câu 76 trong phẩm hiền chí.
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Tinh cần chế ngự các căn. Mắt không cho nhìn qua nhìn lại láo liên, không cho thấy cái gì đẹp là dán mắt vào đó, phải chế phục và điều ngự. Hôm qua đi thiền hành thầy nhắc từng người hộ trì mắt, đó là một trong bốn tinh cần, dù cho sự quan tâm hướng ra ngoài là thiện nhưng lúc đó là bất thiện, đang đi kinh hành mà dừng lại sửa đồ giúp người này người kia thì những cái này đều là bất thiện pháp, vì tâm mình đi ra khỏi lãnh vực của pháp hành, đó là bất thiện, đó là lúc mình đang đi thiền hành chứ không phải là lúc sửa đồ. Hay là lúc đang tụng kinh mà lại chỉnh y áo rồi lại chỉnh cổ áo thì những cái này đều là bất thiện pháp, đây là sự trạo cử, chỉnh y áo trước khi bước vào tu, trong lúc ngồi thiền mà mỏi chỗ này ngứa chỗ kia mà mình chiến thắng được thì đó là sự tinh cần chế ngự, nó có mỏi, nhức đau, buồn ngủ mà mình vượt qua được thì đó là sự tinh cần.
Tinh cần tu tập là phá năm triền cái: dục tham; sân; hôn trầm; trạo cử; hoài nghi. Trong nội tâm mình có tham cái gì là phải thấy rõ cái tham đó, dùng Như lý tác ý và quán chiếu tẩy rửa, phá vỡ và diệt tận nó thì đó là bậc chiến thắng, chiến sĩ. Có sân là phải hóa giải nó ngay, không có để qua ngày hôm sau hay mấy giờ sau mà phải hóa giải nó liền, nếu công việc đó không gấp thì phải ngưng và trở về phòng ngồi thiền hoặc ra gốc cây, tảng đá, chỗ vắng ngồi quán chiếu trải tâm từ hóa giải rồi vào làm việc tiếp, đó là tinh tấn tu tập. Hôm nay mình có bản ngã với chư đệ mới vào, sao mình lại có cử chỉ hành động có vẻ ta đây, người lớn, người ở lâu biết chuyện thì mình lập tức lạy Phật sám hối hay thiền quán, thậm chí là xin lỗi đối tượng đó, "cái này có thể đệ cảm thấy hoặc không cảm thấy nhưng huynh tự thấy trong nội tâm mình khi nãy có cái tôi. Cái tôi này là cái xấu hổ, xấu xa, ô nhiễm nên giờ huynh xin lỗi đệ. Huynh thấy được cái đó là bất thiện". Đó mới là đức hạnh, đạo hạnh, giới đức của người tu, chứ không phải mình giữ giới được nhiều rồi mình thấy người kia không tu, trong khi mình có tu rồi mình làm căng thẳng lên thì cái đó là sai rồi, cái này tu để tăng thêm bản ngã chứ không phải đoạn giảm. Mình phải làm cho nó giảm thiểu và đoạn tận luôn bản ngã. Tinh là không có gì pha tạp được trong đó, tinh túy, tinh hoa, tinh ròng. Cần là chuyên cần, siêng năng, không có thiện pháp thì làm cho có, có rồi thì làm cho lớn mạnh, quảng đại, lớn mạnh cho tới mức vô lượng vô biên. Đó là công việc của người tu, phải niệm thân, niệm cảm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Phải thực tập 6 phương diện niệm thân liên tục, thực hành xuyên suốt cả ngày, giật mình thức giấc là thực hành cảm giác toàn thân, trở về hơi thở, chánh niệm tỉnh giác, soi rọi thọ; tưởng; hành. Đó là tinh cần tu tập, phải có tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, tu sĩ. Thượng sĩ và vô thượng sĩ là một trong những đức hiệu của Đức Thế Tôn.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2)).
Mình sống mà mình không biết thân đang làm gì, những cử động, hoạt động mình không hay, hơi thở vào ra mình không rành, những yếu tố cấu thành thân này mình không rõ, từng bộ phận trong cơ thể này mình không biết gì hết, kết cuộc của nó là như thế nào mình cũng không có trí huệ thì như vậy sống không khác gì chết, như một thây ma có xác mà không có hồn. Người thực hành Thân Hành Niệm như vậy là bậc tối tôn, tối thượng trên cuộc đời này.
Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời (đó chính là Tứ Niệm Xứ). Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh).
Các cảm thọ, cảm giác luôn luôn được kiểm soát, luôn luôn được soi rọi, luôn luôn được phản chiếu khi đi, đứng, ngồi, nằm, những cảm giác khi sanh khởi đều biết rõ, nhận rõ, xuyên thủng cảm giác để biết được đặc tính của nó là vô thường, khổ, vô ngã, không cho cảm giác đó là tôi, là của tôi, không bị cảm giác lừa. Tu như vậy rất tuyệt vời.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona).
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển).
Nghe như vậy thì mình phải lạy cho đến khi nào nước mắt trào ra. Nội tâm có tham khởi lên thì biết có tham, nội tâm không có tham thì biết là không có tham, có sân thì biết là có sân, không sân thì biết là không sân, nội tâm có si thì biết là có si rồi trừ diệt. Nội tâm nhỏ hẹp hay quảng đại, nội tâm vô thượng hay chưa vô thượng, nội tâm như thế nào là biết rõ nội tâm như thế đó thì đó không phải là bậc giác ngộ thì là gì? Nếu không phải là bậc Chánh Biến Tri thì là gì? Đó không phải là bậc đại trí thì gọi là gì? Những pháp trong nội tâm mình kết cấu như thế nào, hình thành như thế nào, do có mắt duyên với các sắc, sanh ra sự rõ biết các sắc là nhãn thức, 3 pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo ra nhãn xúc, từ sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm thọ, cảm giác. Từ cảm giác mới có sự yêu thích hay ghét bỏ, trong yêu thích có sự nắm giữ. Như vậy các pháp vận hành đều được mình thấy rõ, gọi là quán pháp trên pháp. Lỗ tai nghe tiếng sanh khởi ra sự rõ biết âm thanh gọi là nhĩ thức, 3 pháp này hội tụ tạo ra nhĩ xúc, là sự tiếp xúc của âm thanh với lỗ tai, nên sanh ra cảm thọ, cảm giác. Rồi tưởng hành, thanh tưởng, thanh tư, ở trên là sắc tưởng, sắc tư. Nói theo 12 nhân duyên là ái thủ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình bày duyên sanh pháp của ý: Do duyên có ý và các pháp thọ; tưởng; hành nên sanh khởi lên ý thức. Ý thức là sự rõ biết các pháp thọ; tưởng; hành trong tâm. Sự hội tụ của 3 pháp này gồm ý và các pháp thọ; tưởng; hành, ý thức tức là ý xúc. Do duyên có ý xúc.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, cùng quý huynh đệ. Con xin lấy một ví dụ khi mình thọ nhận một cái sắc bên ngoài: Do duyên có con mắt tiếp xúc với các sắc thì nó là sắc trần bên ngoài nên sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, các sắc ở đây là nữ sắc. Khi 3 pháp giao thoa, hội tụ thì đó là xúc, ở đây là thọ do nhãn xúc sanh, có theo sắc tưởng và sắc tư. Do mình đã thọ nhận sắc trần đó là một hình ảnh của một cô gái khả ái nên khi ngồi thiền ý căn tiếp xúc các pháp, ý căn lúc này tưởng lại những hình bóng của cô gái khả ái đó, ý thức rõ biết thọ; tưởng; hành đó. Lúc này đang rõ biết sắc tưởng, sự hội tụ của 3 pháp này nếu mình không làm chủ được thì ý xúc xuất hiện, do duyên có ý xúc sanh khởi ra những cảm giác thích thú, vui thích đối với sắc tưởng đó. Đây là thọ; tưởng; hành thứ nhất xuất hiện, nếu sau đó mình không làm chủ được nội tâm mình thì tiếp tục ý căn chạy theo thọ; tưởng; hành tiếp theo. Đó là những suy nghĩ về người con gái đẹp đó: Nhà ở đâu, hiện tại làm nghề gì… Khi đó thọ; tưởng; hành thứ 2 sanh khởi lên, nếu chúng ta không dừng lại những suy nghĩ, hình bóng của cô gái đó thì tiếp tục thọ; tưởng; hành thứ 3, thứ 4… có thể tiếp tục sanh khởi liên tục trong nội tâm chúng ta. Từ cái sanh khởi liên tục không dừng nghỉ của thọ; tưởng; hành đó mà chúng sanh cứ mãi chìm đắm trong dòng luân hồi này, cho nên con hiểu danh từ chúng sanh có ra từ đây.
Sự tinh cần tu tập Tứ Niệm Xứ chúng ta đã chia sẻ từ niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Chúng ta phải quán niệm, soi rọi, thấy biết sự đoạn diệt các lậu hoặc chứ không phải là không thấy, không biết.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Phải thấy biết rõ bản chất, đặc tính của nó là ảo ảnh, là những bóng mờ, những tiếng nói thì thầm, những bong bóng nước. Từ những cái này lôi kéo chúng sanh vào trong đau khổ, bứt tóc, đấm ngực, làm cho tự vẫn, đảo điên hết cả thế giới này. Cho nên luôn nhìn thấy được các pháp sanh khởi, hiện hành và tan biến trong nội tâm mình thì đó là bậc đại trí huệ. Nếu ngày giờ này không vào chùa thì 1 năm trước có biết được những điều này không? Hiểu được điều này, biết được cái này, thực tập cái này là nhờ Tam bảo cho nên sự cung kính Tam bảo của mình phải bằng cả sinh mạng, khi lạy và đọc tụng pháp bảo phải hiểu được ý nghĩa của nó.
Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh).
Chánh pháp đó là quán thân trên thân, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp. Đó là chánh pháp, là ngọn đèn, là hải đảo tự thân. Sự tinh cần, sự tinh cấn, sự siêng năng nỗ lực trong tu tập là trách nhiệm, là bổn phận, là điều cần phải làm.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, 1.I. Ðịnh)
Cần phải làm để rõ biết vô minh, tham ái và chấp thủ, để thấy sự vận hành của khổ, để thấy sự chấm dứt của khổ. Tinh cần, đoạn tận, siêng năng làm cho nó chấm dứt. Đoạn là chặt đứt, chém đứt. Tận là chấm dứt. Chặt chém những bất thiện pháp, những chướng ngại pháp trong nội tâm chính mình, giống như người ta hút thuốc quăng xuống rồi lấy giày đạp lên điếu thuốc thật mạnh. Đó là ngũ lực, tinh tấn niệm – định – huệ, tạo thành sự hùng lực của trí huệ, hùng lực của chánh niệm, thiền định, từ lòng tin mạnh mẽ đó thúc đẩy lên một sự cố gắng nỗ lực và chánh niệm luôn luôn được duy trì, an trú tâm trong thiền định và cái sức soi sáng của trí huệ đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn. Mình nguyện trong lòng nhất định trong đời này sẽ phá thủng khối vô minh uẩn to lớn, mình nguyện sẽ chặt đứt hết xiềng xích của tham dục và tham ái, mình sẽ làm con người đại tự tại, đại giải thoát chứ mình không làm kẻ nô lệ nữa, không làm tôi đòi cho những cấu nhiễm nữa. Mình phải mạnh mẽ lên, hùng lực lên bằng sức của niệm – định – tuệ, mình phải làm người chiến thắng, mình phải làm dũng sĩ, chiến sĩ chứ không chấp nhận, không cho bất cứ một ô nhiễm nào tồn đọng, tồn tại trong nội tâm.
./.
Tỳ-kheo tuy tuổi nhỏ
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi mây.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 382).
Thứ tư là tinh cần hộ trì những thiện pháp mình đã có, ví dụ như cốt tưởng là tưởng về bộ xương, khi ngồi thiền quán được như vậy thì phải giữ được định tướng đó trong khi ra ngoài, đừng để cho nó mất. Hay là cái tướng của giòi ăn, cái tướng trương lên, rỉ chảy máu mủ, mùi hôi thối nồng nặc. Những thiện pháp mà mình đã tu tập được là phải giữ, siêng năng giữ nó đừng để rơi mất thì đó là tinh cần hộ trì.
Nếu mình tu được bốn tinh cần này là tuyệt vời, mình là lực sĩ trong chánh pháp, sức mạnh ngũ căn biến thành ngũ lực. Phải biến niềm tin thành sức mạnh, luôn luôn suy niệm và nhớ thực hành cái tâm chuyên chú trong đó, cái trí tỏa sáng trong đó thì đó là tinh tấn niệm – định – tuệ. 37 phẩm trợ đạo đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn viên mãn, nãy giờ mình nói đủ hết Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực. Bát Chánh Đạo thì đầy đủ những cái thấy trong Tứ Niệm Xứ gọi là chánh kiến, những suy tư ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là chánh tư duy. 37 phẩm trợ đạo vận hành đồng đều đầy đủ, phối hợp nhịp nhàng, thiện xảo, phải biết khéo léo vận dụng tu tập để đoạn trừ, đoạn tận, chế ngự. Các vị trưởng lão Tăng thời Đức Phật dạy mình những điều rất hay:
Có người sống phóng dật,
Ái lớn như cây leo,
Sống trôi nổi luân chuyển,
Đời này qua đời khác,
Như con khỉ trong rừng,
Thèm muốn các trái cây.
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 399)
Khát ái khốn nạn này
Thấm độc cả thế giới,
Khi đã chinh phục ai,
Khiến sầu muộn tăng trưởng,
Chẳng khác giống cỏ rừng,
Lan tràn và lớn mạnh.
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 400)
Hãy hành lời Phật dạy,
Chớ để Sát-na qua,
Sát-na qua, sầu khổ,
Thọ quả trong địa ngục,
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 403)
Người hằng tu thiền định,
Thường kiên trì tinh tấn.
Bậc trí hưởng Niết Bàn,
Ách an tịnh vô thượng.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 23)
Nỗ lực, giữ chánh niệm,
Tịnh hạnh, hành thận trọng
Tự điều, sống theo pháp,
Ai sống không phóng dật,
Tiếng lành ngày tăng trưởng.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 24)
Vui thích không phóng dật,
Tỷ kheo sợ phóng dật,
Bước tới như lửa hừng,
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 31)
Vui thích không phóng dật,
Tỷ kheo sợ phóng dật,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết Bàn.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 32)
Những bài kinh Pháp Cú này có liên hệ với những bài mình đang nói. Tại sao sự sao lãng luôn là ô nhiễm? Vì mình vừa thả lỏng các căn, buông lung thôi là lúc đó đã bị ô nhiễm vì cái ô nhiễm đã huân tập sâu dày, cái này hết sức sâu sắc. Mình thường sống trong ô nhiễm nếu mình không thành tựu trí huệ về năm uẩn.
./.
CON ĐƯỜNG CHỨNG ĐẮC
THÍCH MINH THÀNH
Lúc 3h sáng chuông báo thức reo thì nhận diện năm uẩn như thế nào?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Khi ngủ con có giật mình thức vài lần, lúc đó con có xem đồng hồ, cho tới khi có chuông báo thức thì con lại không nghe.
Chú Nghĩa cảm thấy ra sao?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng. Lúc đó cái thọ của con thấy khó chịu, tưởng uẩn là con hình dung ra điện thoại ở chỗ nào, lúc đầu con nghĩ tới hình ảnh điện thoại ở trên gác, lúc sau lại hiện ra hình ảnh dưới gối, con xem điện thoại của mình là 3h thì con mới đi xuống để tắt điện thoại. Thức của con rõ biết tưởng và hành.
Trước khi phát hiện ra đó là điện thoại của mình thì thọ; tưởng; hành như thế nào?
Dạ trước đó thì con khó chịu, cái tưởng hiện lên hình ảnh điện thoại của ai đó đang báo thức.
Tiếng chuông điện thoại của mình mà nghe cũng không nhận ra?
Dạ lúc đầu con nghe rõ nhưng con không nghĩ là của mình vì thấy nó lạ, bình thường con cài tiếng chuông khác sao hôm nay lại là tiếng chuông khác nên không hình dung ra của mình. Khi con xem điện thoại mới biết là mình cài báo thức lúc 3h để thức dậy.
Thầy Pháp Từ lúc đó thọ; tưởng; hành hoạt động ra sao?
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch sư huynh cùng các huynh đệ. Lúc đó con còn ngủ vẫn không biết gì hết. Đến 4h sáng thì chuông báo thức điện thoại của con reo lên thì lúc đó con mới tỉnh giác, còn trước đó lúc 3h thì con không hay biết.
Khi nói nhìn lại tâm mình là chỉ nói chung chung, còn khi nhận diện năm uẩn là một cách nhìn tâm rõ ràng, đầy đủ, trọn vẹn. Từ những cảm giác, suy nghĩ, những hình bóng, nhận thức thường nhìn rõ là mình rõ biết được tâm của mình. Cho nên người có tỉnh giác chánh niệm và có cái nhìn sâu sắc sẽ thấy rõ từng chi tiết, từng hoạt động, những người không tu là không nói đến. Mình phải tập nhìn thật rõ ràng, chi tiết mọi sự hoạt động của tâm, đời sống của người tu sĩ luôn luôn cầu pháp, học pháp, tôn kính pháp, suy tư pháp, thực hành pháp, thậm chí là xem pháp còn hơn sinh mạng của mình, nếu vậy người đó chắc chắn sẽ chứng đạt được pháp.
Đức Thế Tôn đã nhập diệt và trao truyền lại cho chư Tăng. Trao tuyền giáo pháp vô thượng, sự bỏ hết tất cả để ra đi là cuộc xả ly vĩ đại của mình, đó là cả một sự dấn thân để cầu pháp nên lúc mình chưa tìm được pháp, chưa thấy được pháp, chưa biết pháp thì lúc đó mình phải bôn ba truy tầm, tìm kiếm. Ngày xưa các vị cao Tăng vì cầu pháp có thể bỏ sinh mạng, bị tàn tật và không biết bao nhiêu bộ xương người là bộ xương của các vị xuất gia đã bỏ mạng trên con đường thỉnh kinh cầu pháp, từ đường bộ đến đường biển, từ sa mạc đến núi rừng. Cũng có những vị không thấy được pháp nên chỉ tu một cách mày mò, có khi các vị rơi vào trong tà kiến mê tín. Khi nhìn hiện tại và quá khứ sẽ thấy rất nhiều trường hợp này, từ cư sĩ cho đến người xuất gia, không phải dễ để thành tựu chánh tri kiến, đây là điều cực kì khó khăn. Khi nhìn lại công cuộc xuất gia của mình phải xem giá trị của pháp là tối thượng, mỗi tối đứng trước hình tượng Đức Thế Tôn cùng tuyên đọc lại những lời dạy trong tạng kinh Nikāya một cách chân thành, cung kính, cẩn trọng. Từng cái lạy xuống là để nuôi dưỡng, để làm cho lớn mạnh cái tâm cung kính cầu pháp, tôn trọng, thiết tha. Đó là sự quy y pháp bảo, nếu có được tâm thái như vậy thì mới đắc pháp, mới kiến pháp, mới hộ pháp rồi mới chứng pháp. Nếu mình xem pháp một cách bình thường thì không thể nào thành tựu được. Trước kia mình nghĩ xuất gia là phải đi học trong trường để có bằng cấp, sau đó ra làm bên nghi lễ, giảng sư hay xây dựng chùa, bao nhiêu khoa trong trường để làm này làm kia. Nhưng hôm nay chúng ta được học hiểu bổn phận, công việc quan trọng nhất của người xuất gia là diệt tận nhiễm ô. Như vậy tất cả những cái học hỏi, tụng đọc, hành trì và làm việc của mình chỉ nhằm một mục đích duy nhất là soi rọi, luôn thường trực nhìn lại tâm của mình để phát hiện, xử lý, dọn dẹp, tẩy sạch, diệt tận những gì làm cho tâm mình cấu bẩn, mờ tối, không sáng tỏa, nó làm mình thành người mù, không có mắt, không có trí. Khi mình đang ngồi, đang nằm, khi đang đi kinh hành mà những chướng ngại pháp sanh khởi lên thì Đức Phật dạy mình phải biết, phải thấy rồi từ đó ngăn chặn, chấm dứt, từ bỏ. Khi tiếng chuông báo thức vang lên thì bình thường sẽ thấy khó chịu nhưng mình dùng Như lý tác ý "nhờ tiếng chuông này mà mình thức sớm hơn để được ngồi thiền", trong kinh Đức Phật cũng dạy đầu hôm và cuối đêm là đi kinh hành và ngồi thiền, thậm chí giữa hôm cũng làm như vậy. Thành ra cuộc đời các vị thánh Tăng, cao Tăng mà giật mình thức giấc giữa đêm là các ngài sẽ tu, bất cứ lúc nào thức dậy cũng tu. Còn mình bây giờ đúng giờ mới thức, còn trước đó mà có tiếng động là thấy khó chịu rồi bực mình, vậy thì đó không phải là bản chất, sự thù thắng của người tu. Thành ra những việc ác nào chưa sanh thì đừng làm cho nó sanh, còn khi đã sanh thì trừ diệt.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa các huynh đệ, Tứ Chánh Cần mà Đức Phật đã dạy trong kinh Nikāya là:
Này các Tỳ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được diệt trừ, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; này các Tỳ-kheo, đây là bốn chánh cần (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (III) (13) Chánh Cần).
Này các Tỳ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi nếm vị ... thâm cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần hộ trì? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì định tướng hiền thiện đã sanh, tướng bộ xương, tướng trùng ăn, tướng bầm xanh, tướng đầy ứ, mủ nồng, tướng nứt nẻ, tướng phồng trướng. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần hộ trì (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) (14) Chế Ngự).
Cho nên mình phải nhớ vận dụng chứ không phải học xong là xếp sách lại, sự tinh cần, tinh tấn này phải được diễn ra trong sinh hoạt thường ngày, trong suy nghĩ, cái tưởng, nhận thức của mình. Tối hôm qua mình ngồi quây quần bên ngọn lửa hồng để chia sẻ kinh nghiệm từ bước đi, ly nước chung trà, mỗi cử chỉ động tác mà mình không làm cho nó thô tháo, không làm cho nó thô lỗ, bất cần thì đó là tinh cần. Trong 37 phẩm trợ đạo thì cái này bổ túc cho cái kia, cái kia hỗ trợ cho cái nọ và 37 phẩm trợ đạo đó là mắc xích, hỗ trợ, tác thành như một chuỗi ngọc, phải biết vận dụng nó chứ nó không phải rời rạc, riêng lẻ mà trong cái này có cái kia. Đó là sự để tâm, tinh tấn, cho nên Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần có một sự liên hệ chặt chẽ trong sự tu tập. Mình thường siêng năng, tinh tấn, để tâm suy xét thì mình mới chế ngự được các căn, như khi mình mở cửa mạnh tay thì đó là mình không chế ngự được nó, trong đó cũng không có chánh niệm tỉnh giác cũng không có niệm thân, trong chế ngự các căn có niệm thân, niệm oai nghi hành động, nó cũng có sự nhận diện năm uẩn, vì lúc đó mình không thấy năm uẩn thì các tưởng, suy nghĩ mộng mơ nơi nào thì làm sao hộ trì căn được? Cho nên nó liên hệ với nhau để vận hành nhỏ nhiệm tinh vi, niệm – định – tuệ của mình phải được sáng tỏa thì mới thấy rõ, mình có sự vận dụng pháp học và pháp hành kết hợp thì rất tuyệt vời. Lúc Minh Thành đang nói chuyện với thầy Pháp Sơn thì thầy Pháp Sơn bước lùi xuống 1 bậc, đứng thấp hơn Minh Thành, Minh Thành thấy đó là một sự chánh niệm tỉnh giác và có sự tôn trọng cung kính. Thầy Pháp Sơn khi để nải đồ cũng để thấp hơn Minh Thành vì đó là chỗ Minh Thành nằm nghỉ nhưng khi Minh Thành lên vừa mới đây thì thấy có người để cái nải lên đồ của Minh Thành. Cho nên nếu có chánh niệm tỉnh giác, hộ trì các căn, có oai nghi, có học pháp sẽ rất khác biệt, một người kêu để lên nhưng không để còn người kia là để lên trên đồ của thầy luôn. Những cái nhỏ nhiệm sâu sắc đó là từ việc hộ trì căn, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm thân của Thân Hành Niệm, đó là hương vị của bất tử, là cảnh giới của bất tử. Thành ra sinh mạng của người xuất gia là niệm thân, luôn quán niệm những hành động của thân, cho nên thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp rất quan trọng oai nghi, chính vì chỗ nhỏ nhiệm này mà khi thầy tổ chức những buổi lễ mấy chục ngàn người tham dự vẫn không có một tiếng động, đó là từ một giọt nước mà trở thành đại dương biển cả. Mình không có những cái hạnh nhỏ nhiệm, không tích lũy nhiều giọt thì làm sao đầy lu, đầy hồ, đầy sông biển, chính vì thế tu không phải là khó khăn, đây là phi Như lý tác ý "sao cái gì thầy cũng la", "sao sư huynh khó quá vậy?", tại vì đó là người không tôn trọng học pháp và không biết quý giá trị của sự cải thiện, toàn thiện nhân cách phẩm chất cao thượng của người xuất gia. Nếu người nào biết được giá trị của pháp, biết được tầm quan trọng của những học pháp thì người đó sẽ lạy dưới chân và mang ơn suốt đời người đã chỉ cho mình những cái hạnh nhỏ nhiệm đó, còn mình được chỉ dạy thì lại sân giận.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con xin đọc câu 76 trong phẩm hiền chí.
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Tinh cần chế ngự các căn. Mắt không cho nhìn qua nhìn lại láo liên, không cho thấy cái gì đẹp là dán mắt vào đó, phải chế phục và điều ngự. Hôm qua đi thiền hành thầy nhắc từng người hộ trì mắt, đó là một trong bốn tinh cần, dù cho sự quan tâm hướng ra ngoài là thiện nhưng lúc đó là bất thiện, đang đi kinh hành mà dừng lại sửa đồ giúp người này người kia thì những cái này đều là bất thiện pháp, vì tâm mình đi ra khỏi lãnh vực của pháp hành, đó là bất thiện, đó là lúc mình đang đi thiền hành chứ không phải là lúc sửa đồ. Hay là lúc đang tụng kinh mà lại chỉnh y áo rồi lại chỉnh cổ áo thì những cái này đều là bất thiện pháp, đây là sự trạo cử, chỉnh y áo trước khi bước vào tu, trong lúc ngồi thiền mà mỏi chỗ này ngứa chỗ kia mà mình chiến thắng được thì đó là sự tinh cần chế ngự, nó có mỏi, nhức đau, buồn ngủ mà mình vượt qua được thì đó là sự tinh cần.
Tinh cần tu tập là phá năm triền cái: dục tham; sân; hôn trầm; trạo cử; hoài nghi. Trong nội tâm mình có tham cái gì là phải thấy rõ cái tham đó, dùng Như lý tác ý và quán chiếu tẩy rửa, phá vỡ và diệt tận nó thì đó là bậc chiến thắng, chiến sĩ. Có sân là phải hóa giải nó ngay, không có để qua ngày hôm sau hay mấy giờ sau mà phải hóa giải nó liền, nếu công việc đó không gấp thì phải ngưng và trở về phòng ngồi thiền hoặc ra gốc cây, tảng đá, chỗ vắng ngồi quán chiếu trải tâm từ hóa giải rồi vào làm việc tiếp, đó là tinh tấn tu tập. Hôm nay mình có bản ngã với chư đệ mới vào, sao mình lại có cử chỉ hành động có vẻ ta đây, người lớn, người ở lâu biết chuyện thì mình lập tức lạy Phật sám hối hay thiền quán, thậm chí là xin lỗi đối tượng đó, "cái này có thể đệ cảm thấy hoặc không cảm thấy nhưng huynh tự thấy trong nội tâm mình khi nãy có cái tôi. Cái tôi này là cái xấu hổ, xấu xa, ô nhiễm nên giờ huynh xin lỗi đệ. Huynh thấy được cái đó là bất thiện". Đó mới là đức hạnh, đạo hạnh, giới đức của người tu, chứ không phải mình giữ giới được nhiều rồi mình thấy người kia không tu, trong khi mình có tu rồi mình làm căng thẳng lên thì cái đó là sai rồi, cái này tu để tăng thêm bản ngã chứ không phải đoạn giảm. Mình phải làm cho nó giảm thiểu và đoạn tận luôn bản ngã. Tinh là không có gì pha tạp được trong đó, tinh túy, tinh hoa, tinh ròng. Cần là chuyên cần, siêng năng, không có thiện pháp thì làm cho có, có rồi thì làm cho lớn mạnh, quảng đại, lớn mạnh cho tới mức vô lượng vô biên. Đó là công việc của người tu, phải niệm thân, niệm cảm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Phải thực tập 6 phương diện niệm thân liên tục, thực hành xuyên suốt cả ngày, giật mình thức giấc là thực hành cảm giác toàn thân, trở về hơi thở, chánh niệm tỉnh giác, soi rọi thọ; tưởng; hành. Đó là tinh cần tu tập, phải có tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, tu sĩ. Thượng sĩ và vô thượng sĩ là một trong những đức hiệu của Đức Thế Tôn.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2)).
Mình sống mà mình không biết thân đang làm gì, những cử động, hoạt động mình không hay, hơi thở vào ra mình không rành, những yếu tố cấu thành thân này mình không rõ, từng bộ phận trong cơ thể này mình không biết gì hết, kết cuộc của nó là như thế nào mình cũng không có trí huệ thì như vậy sống không khác gì chết, như một thây ma có xác mà không có hồn. Người thực hành Thân Hành Niệm như vậy là bậc tối tôn, tối thượng trên cuộc đời này.
Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời (đó chính là Tứ Niệm Xứ). Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh).
Các cảm thọ, cảm giác luôn luôn được kiểm soát, luôn luôn được soi rọi, luôn luôn được phản chiếu khi đi, đứng, ngồi, nằm, những cảm giác khi sanh khởi đều biết rõ, nhận rõ, xuyên thủng cảm giác để biết được đặc tính của nó là vô thường, khổ, vô ngã, không cho cảm giác đó là tôi, là của tôi, không bị cảm giác lừa. Tu như vậy rất tuyệt vời.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ... không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona).
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển).
Nghe như vậy thì mình phải lạy cho đến khi nào nước mắt trào ra. Nội tâm có tham khởi lên thì biết có tham, nội tâm không có tham thì biết là không có tham, có sân thì biết là có sân, không sân thì biết là không sân, nội tâm có si thì biết là có si rồi trừ diệt. Nội tâm nhỏ hẹp hay quảng đại, nội tâm vô thượng hay chưa vô thượng, nội tâm như thế nào là biết rõ nội tâm như thế đó thì đó không phải là bậc giác ngộ thì là gì? Nếu không phải là bậc Chánh Biến Tri thì là gì? Đó không phải là bậc đại trí thì gọi là gì? Những pháp trong nội tâm mình kết cấu như thế nào, hình thành như thế nào, do có mắt duyên với các sắc, sanh ra sự rõ biết các sắc là nhãn thức, 3 pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo ra nhãn xúc, từ sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm thọ, cảm giác. Từ cảm giác mới có sự yêu thích hay ghét bỏ, trong yêu thích có sự nắm giữ. Như vậy các pháp vận hành đều được mình thấy rõ, gọi là quán pháp trên pháp. Lỗ tai nghe tiếng sanh khởi ra sự rõ biết âm thanh gọi là nhĩ thức, 3 pháp này hội tụ tạo ra nhĩ xúc, là sự tiếp xúc của âm thanh với lỗ tai, nên sanh ra cảm thọ, cảm giác. Rồi tưởng hành, thanh tưởng, thanh tư, ở trên là sắc tưởng, sắc tư. Nói theo 12 nhân duyên là ái thủ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình bày duyên sanh pháp của ý: Do duyên có ý và các pháp thọ; tưởng; hành nên sanh khởi lên ý thức. Ý thức là sự rõ biết các pháp thọ; tưởng; hành trong tâm. Sự hội tụ của 3 pháp này gồm ý và các pháp thọ; tưởng; hành, ý thức tức là ý xúc. Do duyên có ý xúc.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, cùng quý huynh đệ. Con xin lấy một ví dụ khi mình thọ nhận một cái sắc bên ngoài: Do duyên có con mắt tiếp xúc với các sắc thì nó là sắc trần bên ngoài nên sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, các sắc ở đây là nữ sắc. Khi 3 pháp giao thoa, hội tụ thì đó là xúc, ở đây là thọ do nhãn xúc sanh, có theo sắc tưởng và sắc tư. Do mình đã thọ nhận sắc trần đó là một hình ảnh của một cô gái khả ái nên khi ngồi thiền ý căn tiếp xúc các pháp, ý căn lúc này tưởng lại những hình bóng của cô gái khả ái đó, ý thức rõ biết thọ; tưởng; hành đó. Lúc này đang rõ biết sắc tưởng, sự hội tụ của 3 pháp này nếu mình không làm chủ được thì ý xúc xuất hiện, do duyên có ý xúc sanh khởi ra những cảm giác thích thú, vui thích đối với sắc tưởng đó. Đây là thọ; tưởng; hành thứ nhất xuất hiện, nếu sau đó mình không làm chủ được nội tâm mình thì tiếp tục ý căn chạy theo thọ; tưởng; hành tiếp theo. Đó là những suy nghĩ về người con gái đẹp đó: Nhà ở đâu, hiện tại làm nghề gì… Khi đó thọ; tưởng; hành thứ 2 sanh khởi lên, nếu chúng ta không dừng lại những suy nghĩ, hình bóng của cô gái đó thì tiếp tục thọ; tưởng; hành thứ 3, thứ 4… có thể tiếp tục sanh khởi liên tục trong nội tâm chúng ta. Từ cái sanh khởi liên tục không dừng nghỉ của thọ; tưởng; hành đó mà chúng sanh cứ mãi chìm đắm trong dòng luân hồi này, cho nên con hiểu danh từ chúng sanh có ra từ đây.
Sự tinh cần tu tập Tứ Niệm Xứ chúng ta đã chia sẻ từ niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Chúng ta phải quán niệm, soi rọi, thấy biết sự đoạn diệt các lậu hoặc chứ không phải là không thấy, không biết.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Phải thấy biết rõ bản chất, đặc tính của nó là ảo ảnh, là những bóng mờ, những tiếng nói thì thầm, những bong bóng nước. Từ những cái này lôi kéo chúng sanh vào trong đau khổ, bứt tóc, đấm ngực, làm cho tự vẫn, đảo điên hết cả thế giới này. Cho nên luôn nhìn thấy được các pháp sanh khởi, hiện hành và tan biến trong nội tâm mình thì đó là bậc đại trí huệ. Nếu ngày giờ này không vào chùa thì 1 năm trước có biết được những điều này không? Hiểu được điều này, biết được cái này, thực tập cái này là nhờ Tam bảo cho nên sự cung kính Tam bảo của mình phải bằng cả sinh mạng, khi lạy và đọc tụng pháp bảo phải hiểu được ý nghĩa của nó.
Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh).
Chánh pháp đó là quán thân trên thân, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp. Đó là chánh pháp, là ngọn đèn, là hải đảo tự thân. Sự tinh cần, sự tinh cấn, sự siêng năng nỗ lực trong tu tập là trách nhiệm, là bổn phận, là điều cần phải làm.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, 1.I. Ðịnh)
Cần phải làm để rõ biết vô minh, tham ái và chấp thủ, để thấy sự vận hành của khổ, để thấy sự chấm dứt của khổ. Tinh cần, đoạn tận, siêng năng làm cho nó chấm dứt. Đoạn là chặt đứt, chém đứt. Tận là chấm dứt. Chặt chém những bất thiện pháp, những chướng ngại pháp trong nội tâm chính mình, giống như người ta hút thuốc quăng xuống rồi lấy giày đạp lên điếu thuốc thật mạnh. Đó là ngũ lực, tinh tấn niệm – định – huệ, tạo thành sự hùng lực của trí huệ, hùng lực của chánh niệm, thiền định, từ lòng tin mạnh mẽ đó thúc đẩy lên một sự cố gắng nỗ lực và chánh niệm luôn luôn được duy trì, an trú tâm trong thiền định và cái sức soi sáng của trí huệ đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn. Mình nguyện trong lòng nhất định trong đời này sẽ phá thủng khối vô minh uẩn to lớn, mình nguyện sẽ chặt đứt hết xiềng xích của tham dục và tham ái, mình sẽ làm con người đại tự tại, đại giải thoát chứ mình không làm kẻ nô lệ nữa, không làm tôi đòi cho những cấu nhiễm nữa. Mình phải mạnh mẽ lên, hùng lực lên bằng sức của niệm – định – tuệ, mình phải làm người chiến thắng, mình phải làm dũng sĩ, chiến sĩ chứ không chấp nhận, không cho bất cứ một ô nhiễm nào tồn đọng, tồn tại trong nội tâm.
./.
Tỳ-kheo tuy tuổi nhỏ
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi mây.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 382).
Thứ tư là tinh cần hộ trì những thiện pháp mình đã có, ví dụ như cốt tưởng là tưởng về bộ xương, khi ngồi thiền quán được như vậy thì phải giữ được định tướng đó trong khi ra ngoài, đừng để cho nó mất. Hay là cái tướng của giòi ăn, cái tướng trương lên, rỉ chảy máu mủ, mùi hôi thối nồng nặc. Những thiện pháp mà mình đã tu tập được là phải giữ, siêng năng giữ nó đừng để rơi mất thì đó là tinh cần hộ trì.
Nếu mình tu được bốn tinh cần này là tuyệt vời, mình là lực sĩ trong chánh pháp, sức mạnh ngũ căn biến thành ngũ lực. Phải biến niềm tin thành sức mạnh, luôn luôn suy niệm và nhớ thực hành cái tâm chuyên chú trong đó, cái trí tỏa sáng trong đó thì đó là tinh tấn niệm – định – tuệ. 37 phẩm trợ đạo đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn viên mãn, nãy giờ mình nói đủ hết Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực. Bát Chánh Đạo thì đầy đủ những cái thấy trong Tứ Niệm Xứ gọi là chánh kiến, những suy tư ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là chánh tư duy. 37 phẩm trợ đạo vận hành đồng đều đầy đủ, phối hợp nhịp nhàng, thiện xảo, phải biết khéo léo vận dụng tu tập để đoạn trừ, đoạn tận, chế ngự. Các vị trưởng lão Tăng thời Đức Phật dạy mình những điều rất hay:
Có người sống phóng dật,
Ái lớn như cây leo,
Sống trôi nổi luân chuyển,
Đời này qua đời khác,
Như con khỉ trong rừng,
Thèm muốn các trái cây.
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 399)
Khát ái khốn nạn này
Thấm độc cả thế giới,
Khi đã chinh phục ai,
Khiến sầu muộn tăng trưởng,
Chẳng khác giống cỏ rừng,
Lan tràn và lớn mạnh.
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 400)
Hãy hành lời Phật dạy,
Chớ để Sát-na qua,
Sát-na qua, sầu khổ,
Thọ quả trong địa ngục,
(Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, Kệ 403)
Người hằng tu thiền định,
Thường kiên trì tinh tấn.
Bậc trí hưởng Niết Bàn,
Ách an tịnh vô thượng.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 23)
Nỗ lực, giữ chánh niệm,
Tịnh hạnh, hành thận trọng
Tự điều, sống theo pháp,
Ai sống không phóng dật,
Tiếng lành ngày tăng trưởng.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 24)
Vui thích không phóng dật,
Tỷ kheo sợ phóng dật,
Bước tới như lửa hừng,
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 31)
Vui thích không phóng dật,
Tỷ kheo sợ phóng dật,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết Bàn.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 32)
Những bài kinh Pháp Cú này có liên hệ với những bài mình đang nói. Tại sao sự sao lãng luôn là ô nhiễm? Vì mình vừa thả lỏng các căn, buông lung thôi là lúc đó đã bị ô nhiễm vì cái ô nhiễm đã huân tập sâu dày, cái này hết sức sâu sắc. Mình thường sống trong ô nhiễm nếu mình không thành tựu trí huệ về năm uẩn.
./.