Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Đức Phật Định Nghĩa Pháp Sư Như Thế Nào

2026-03-03 00:55:34
Kinh Nikāya Giảng Giải

ĐỨC PHẬT ĐỊNH NGHĨA PHÁP SƯ NHƯ THẾ NÀO

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba mức độ thuyết pháp PAGEREF _Toc66607681 \h 1

II. Khuyến tấn tu hành – miên mật – giữ lửa PAGEREF _Toc66607682 \h 3

III. Bố thí PAGEREF _Toc66607683 \h 6

IV. Thuyết pháp thanh tịnh PAGEREF _Toc66607684 \h 7

V. Trú trong năm pháp khi thuyết pháp PAGEREF _Toc66607685 \h 9

I. Ba mức độ thuyết pháp

Cúi đầu kính lễ Đức Thế Tôn bậc A la hán Chánh Đẳng Giác. Cúi đầu kính lễ Chánh pháp li tham tối thượng. Cúi đầu kính lễ Hiền thánh tăng ruộng phước vô thượng ở trên đời. Hôm nay chúng ta sẽ nghe Đức Phật định nghĩa giảng sư như thế nào? Đầu giờ chúng ta cứ nghĩ rằng một người giảng pháp, một vị giảng sư, pháp sư đi thuyết pháp, là phải đi học ở các trường, phải có bằng cấp học vị. Sau đó mình đi ra giảng thuyết là mình không có ngại.

Đức Phật có định nghĩa tiêu chuẩn của một giảng sư, pháp sư, người thuyết pháp. Khi nghe bài kinh này Minh Thành rất là xúc động uổng cho mình rất là nhiều năm là mình mới thấy mới biết mới nghe. Buổi học hôm nay Minh Thành cũng muốn cúng giường đến tất cả tăng ni và những người có tâm hướng sau này sẽ đi chia sẻ Phật pháp, thực tập thỉnh giảng, làm giảng sư, pháp sư. Đây là báu vật. Nếu mà không học những bài kinh này thì mình không biết tiêu chuẩn thật sự, những điều kiện quan trọng nhất. Những yếu tố nào để tác thành một vị giảng sư, vị pháp sư hay trong kinh gọi là vị thuyết pháp.

Tương ương bộ kinh tập 3, kinh Vị thuyết pháp.

“Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- " Thuyết pháp, thuyết pháp ", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến.

Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.

Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.

Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt già chết, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.

Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sanh... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... hành... (như trên)... Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.

Nếu Tỷ-kheo thực hành về yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành các pháp và tùy pháp.

Nếu Tỷ-kheo giải thoát, không còn chấp thủ mọi yếm ly, ly tham, đoạn diệt vô minh, như vậy là đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III – bài kinh Vị Thuyết Pháp)

Ở đây mình thấy có 3 mức độ như Đức Phật nói. Sao gọi là vị thuyết pháp. Vị đó phải thuyết về sự nhàm chán, li tham chấm dứt đối với sắc đối với thọ đối với hành đối với thức. Như vậy gọi là vị thuyết pháp, thuyết pháp như vậy mới gọi là giảng sư của Đức Phật ấn định.

Gọi giảng sư mà Đức Phật chấm điểm đâu. Gọi là pháp sư mà đạt được tiêu chuẩn do Đức Phật đưa ra. Bất cứ người nào mà nói đúng với ý nghĩa nhàm chán ly tham chấm dứt đối với ngũ uẩn thì người đó là pháp sư. Pháp sư của Đức Phật. Như vậy mình có thể lấy cái căn cứ này mình có thể làm con dấu ấn định hết tất cả những vị pháp sư giảng sư trong một cái bài giảng, mình ấn định cái này là pháp ấn của thuyết pháp. Trong một bài pháp mà không nói về sự nhàm chán li tham chấm dứt đối với năm thủ uẩn thì bài thuyết pháp đó chưa phải là đậu với tiêu chuẩn của Thế Tôn. Không nhất thiết phải có từ năm uẩn mà cái nghĩa trong đó nó có.

Mức độ thứ hai là gì? Nếu mà Tỳ kheo đi vào thực hành, thực hành cái điều đó. Thực hành sự nhàm chán li tham chấm dứt đối với ngũ uẩn. Như vậy là vừa đủ để gọi là vị Tỳ kheo thực hành pháp, tùy pháp. Cái đó là hành pháp. Đó là người đang tu hành, người đang hành trì, người đang thông phu, người đang tu tập. Đó là mức độ thứ hai của hành giả đó. Hồi nãy mình gọi là bước đầu giống như hành giả đó. Bước hai là hành giả đó lý thuyết và thực hành.

Bước thứ ba là từ chỗ đó mà vị Tỳ kheo được giải thoát không còn năm uẩn. Như vậy thì được gọi là vị Tỳ kheo đã đạt được Niết bàn ngay trong hiện tại, chứng nhập. Như vậy chỉ có ba câu nói của Đức Phật, chỉ có ba câu thôi nhưng mà nó là cả một kho báu, thước đo, chuẩn mực, chuẩn tắc cho người học cho người tu, cho người chứng ngộ.

Một bài kinh khác cũng nói về thuyết pháp. Đức Phật cũng nói như thế nhưng mà đổi lại là con mắt. Nếu vị Tỳ kheo nào thuyết pháp về sự nhàm chán li tham chấm dứt đối với con mắt đối với tai, đối với lưỡi, đối với thân, đối với ý như vậy gọi là vị Tỳ kheo thuyết pháp. Đổi lại thay vì ngũ uẩn thay vào sau căn, sáu xứ.

Cái này thực sự hết sức là khó khăn. Người nói rất là khó nói mà người nghe cũng cực kỳ là khó nghe, mà người chấp nhận được đó cũng rất khó mà chấp nhận. Mà người đi vào thực hành càng khó hơn. Chính cái khó đó mới là chứng nhập vào thánh đạo thánh quả. Mà nếu đi được rồi thì nó kỳ diệu lắm không có gì có thể diễn tả được. Khi mà mình chấp nhận pháp này. Tu tập theo pháp này thực hành thì không có cái gì diễn tả được. Thì chỉ có con đường này nó mới đưa mình đến chỗ li tham từ bỏ chấm dứt.

Cho nên khi mình nghe Đức Phật dùng Thánh Trí mà phá hết tất cả căn trần thức xúc thọ tưởng tư tầm tứ ái... Tất cả các lĩnh vực mình đừng có sợ. Phải mở tâm ra để chấp nhận, để chiêm nghiệm thì khi mình nhìn lúc đầu thì khó. Nhưng mình chịu khó, một khi mình chấp nhận được là mình phải tập từ từ mình chiêm nghiệm từ từ. Nó sẽ đưa mình tới một kết quả tuyệt diệu. Nó có khả năng xuất li. Chứ không phải là không có khả năng. Nó có khả năng hướng thượng tuyệt vời lắm. Một sự bình an, sự xả li, sự thoát li, viễn li.

II. Khuyến tấn tu hành – miên mật – giữ lửa

Đặc biệt lắm đối với cuộc đời này, đối với thân xác vô thường, vật chất mong manh và những tâm thức sanh nhiệt hư ảo. Mình phải lắng nghe, nghe thật nhiều. Suy tư quán chiếu thật nhiều. Nghe tới nghe lui nghiền ngẫm tới lui, quán chiếu liên lục tới lui đừng có bỏ, đừng có hở. Thì mình sẽ thấy tuyệt diệu lắm, đặc biệt lắm. Một khi mà mình sanh khởi được sự nhàm chán li tham đó. Chưa phải là chứng đắc liền đâu. Nhưng mà mình cứ nghe cứ nhìn hoài vô mình thấy mình sẽ bắt đầu sanh ra sự nhàm chán lắm. Bắt đầu mình sanh khởi sự nhàm chán.

Chút xíu mình thích thích lại, kệ nó mình cứ quán nữa chứ không phải mình cứ nhàm chán rồi nhàm chán luôn là mình vào thánh vị rồi. Nhàm chán rồi chút nữa thích, quán nữa. Có gì đâu mà thích, quán tiếp. Rồi chút lâu lâu nó quậy lại thích, mình quán nữa. Mình đọc mấy câu kinh đó.

Cho nên những cái mình học thuộc rất là hay. Mình tụng rất là hay. Mình nghe rất là hay tại vì cứ nghe vậy hoài riết. Thọ do nhĩ xúc sanh. Nghe thì suy tư, cứ vậy nghe suy tư hoài thì tại sao mình phải làm? Chỗ quan trọng là gì làm cho nó liên tục không có gián đoạn cái này là cái khó. Đừng có cho nó hở hoặc là thấy hoặc là nghe hoặc là đọc, hoặc là tụng, hoặc là quán, hoặc là thảo luận. Nó liên tục hoài như vậy cái thánh trí vậy. Đừng cho nó hở. Nó hở là nó quậy lại chỗ kia. Nó tiếp xúc với những duyên phi pháp. Duyên dục duyên ái duyên tham, một hồi là nó quèo cho nên mình không cho nó hở. Bất cứ những hình thức gì mà làm cho trí huệ này cứ nuôi dưỡng hoài cho nên nghe đừng có chán, đọc đừng có chán, tụng đừng có ngán.

Nghe để mình nuôi chứ đừng ủa cái bài này mới nghe rồi xong sao mấy bữa lại nghe lại bài này. Không phải. Nghe để thành tựu cái trí thấy biết đúng như vậy. Mà lúc đầu nó khó nhưng mà từ từ rồi nó sẽ bớt khó rồi từ từ nó quen. Nó quen rồi nó thấy nó nghe nó tiếp xúc nó cũng tác ý được hết đó. Như lý tác ý được hết đó. Cho nên cái này hết sức là để ý trong giai đoạn này là giai đoạn cực kỳ quan trọng. Từ đây cho đến khoảng ba năm nữa là giai đoạn hết sức là quan trọng, giữ ấm giữ lửa lên tục để cho thực sự nó thể nhập nó vào được dòng trí huệ rồi đó. Chắc chắn hoàn toàn rồi đó. Sau này nó dễ hơn.

Còn giai đoạn này mà mình không khéo ấp trứng, không khéo giữ lửa, mà để nó tuột ra, bị nó đánh bật ra rồi đó thì là thối đọa là không biết bao giờ quay trở lại. Vĩnh viễn không có cơ hội để nghe pháp này nữa. Cho nên bản thân thầy quý trọng từng giờ phút. Ngoài việc nghe việc nghiền ngẫm việc học thảo luận thuyết giảng giành thời gian quý báu giữ lửa cho nó liên tục như vậy đó là miên mật khít khao. Tại vì hở ra một cái cái khác nó chen vô. Nó chen vô rồi nó quẹo. Nó không đi lối thẳng nữa.

Cho nên phải giữ, giữ nó. Giữ thiệt là kỹ trong cái giai đoạn này thiệt là kỹ. Tại sao vậy, khó tìm được pháp này, rất là khó. Và khó tìm được người nói pháp này. Càng khó hơn đừng nói chi người chứng nhập. Cho nên trong tăng chi bộ kinh tập I Đức Phật nói: Sự xuất hiện của ba hạng người này là các Tỳ kheo khó tìm được ở đời lắm. Thứ nhất là sự xuất hiện của Như Lai bậc A la hán Chánh Đẳng Giác khó tìm được ở đời.

Thực sự là cực kỳ khó khăn mới có thể gặp được Đức Thế Tôn trực tiếp. Cực kỳ khó khăn, cực kỳ khó. Vạn vạn tỷ tỷ kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện. Mà lúc đó mình được đối diện mình gặp không phải chuyện dễ. Thứ hai là người có thể thuyết pháp về luật do Như Lai tuyên thiết khó tìm được ở đời là người khó thứ hai. Thực sự thuyết đúng pháp và luật của Như Lai là khó cực kỳ, cực kỳ khó. Người có thể thuyết pháp về luật Như Lai tuyên thuyết là khó tìm được cực kỳ ở đời. Cái pháp này là cái pháp khó nói. Ai cũng ưa thích sắc thọ tưởng hình thức.

Đam mê trong đó, điên đảo trong đó, say sưa ở trong đó, điên loạn ở trong đó. Mà bây giờ kêu bỏ, chấm dứt làm sao. Không phải chuyện dễ. Chính vì vậy mà tại sao giáo pháp không có được lưu chuyền dài lâu có 500 năm thôi. Nó có nguyên do. Cái Phật dục phát triển mạnh quá rồi. Những thứ hấp dẫn thu hút người ta càng ngày nó càng phát triển rất là mạnh thì để một con đường mà thoát ra đó càng ngày nó càng khó. Mấy cái pháp để mà chỉ con đường thoát ra đó không phải dễ. Mà chính bản thân mình nói theo lời Đức Phật dạy đó. Mình chỉ được phần lý thuyết thôi.

Còn phần thực hành mình chưa có được bao nhiêu hết mình phải xấu hổ. Mình nhìn lại bản thân mình mình xấu hổ còn tham còn ưa thích. Không phải dễ đâu. Người tri ân và người biết ân là khó tìm được ở đời. Sự xuất hiện của ba hạng người này các Tỳ kheo là khó tìm được ở đời. Người tri ân người biết ân khó lắm khó có người đó lắm. Nói thì nói nghe đơn giản mà khó lắm. Thực sự mà người biết ân thật sự đó là khó lắm. Họ không có biết ân đâu. Xong rồi thôi, họ cần mình lúc đó rồi xong là thôi à.

III. Bố thí

Kinh Cho gì bộ Tương Ưng Bộ Kinh tập I, Đức Phật dạy:

“Cho ăn là cho lực,

Cho mặc là cho sắc,

Cho xe là cho lạc,

Cho đèn là cho mắt.

Ai cho chỗ trú xứ,

Vị ấy cho tất cả,

Ai giảng dạy Chánh pháp,

Vị ấy cho bất tử.”

Cho ăn đó, là đi bố thí từ thiện đó là cho sức khỏe. Mình cho người ta quần áo này đó tức là cho sắc đẹp. Mình cho xe đó là cho niềm vui. Có chiếc xe đi là vui lắm. Mà mình cho đèn đó tức là cho con mắt không thấy đèn sao thấy đường. Cho điện, cho đường, cho ánh sáng. Cho đèn pin cho đèn cày cho đèn dầu cho đèn bình, cho kéo dây điện đó là mình cho con mắt đó. Mình kéo dây điện để cho mọi người thắp sáng từ dưới chân núi lên đây là cho con mắt đó.

Mình đâu có biết cái việc làm này nó có ý nghĩa mức độ nào. Mình nghĩ việc làm nào cũng bình thường hết. Là cho con mắt đó, là bố thí con mắt cho người ta. Nửa đêm người ta đi khuya vấp té hay là trơn trượt rắn rết hay là đủ thứ hết. Thì mình có ánh đèn là người ta thấy đường tức là cho con mắt. Ai cho chỗ trú xứ vị ấy cho tất cả. Cho cái chỗ ở tức là cho tất cả. Mình cho chỗ đó cho người ta ở là mình cho tất cả.

Bây giờ không có chỗ ở thì làm sao. Thì đâu có cái gì đâu. Tất cả mọi thứ nó để ở trong chỗ ở. Bây giờ không có chỗ ở người ta không có gì hết đó. Lang thang vô gia cư. Nhưng ai giảng giải chánh pháp vị ấy cho bất tử. Trong tất cả các loại cho đó. Cái cho nào là lớn nhất? Bất tử.

Giảng đúng Chánh Pháp này đó là cho bất tử. Chánh pháp hồi nãy nói đó: Nhàm chán li tham chấm dứt đối với sự vô minh mà tham ái chấp thủ đối với năm uẩn này thì cái đó là cho bất tử. Giảng nói cho người ta thấy được rõ điều đó. Giá trị, lợi ích, tác dụng, công năng của nó thì cái đó gọi là cho bất tử. Sự thực là mình chiêm nghiệm. Mình thấy là cả một vấn đề không phải là đơn giản đâu. Không biết nói sao cho hết công đức, giá trị của nó.

Thật sự là không có một ngôn từ nào có thể diễn đạt hết nổi giá trị của Chánh Pháp tối thượng này. Mình ngồi đây mình nói trăm đời ngàn kiếp mình đâu hay trả lời cũng không hết cái giá trị của cái pháp. Phải biết cái điều đó và nỗ lực cố gắng có khi mình sẽ nhàm chán. Có khi mình sẽ thấy nó mệt mỏi. Có khi là mình cũng muốn nghỉ nghỉ, buông buông một chút, thả thả một chút. Những cái đó ai cũng có hết đó.

Nhưng mà mình phải thấy phải biết và những cái thả buông ra đó nhiều quá thì không khéo nó sẽ nhập cuộc trở lại cái phàm tình phàm tâm, phàm phu. Cho nên hãy để cho nhập cuộc từ trong cái lòng tin đối với Phật đối với tăng đối với giới. Nhập cuộc vào cái sự tinh tấn, nỗ lực. Phải cho nó nhập cuộc vào sự hổ thẹn, sợ hãi. Phải cho nó nhập cuộc vào trong chánh niệm tỉnh giác cái trí huệ. Hãy cho nó nhập cuộc vào trong đó những cái pháp đó.

IV. Thuyết pháp thanh tịnh

Kinh Ví Dụ Với Trăng. Ví dụ với trăng Tương Ưng Bộ Kinh tập II:

“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: " Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Được hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ ", này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập II – bài kinh Ví Dụ Với Trăng)

Mong cho người ta được nghe pháp, mong cho người ta được hoan hỷ rồi người ta lại làm cho mình hoan hỷ. Tại sao như vậy là không thanh tịnh. Nó bình thường mà sao không thanh tịnh. Chỗ nào là không tịnh. Tại sao không thanh tịnh, không thanh tịnh chỗ nào? Chỗ câu cuối cùng. Tức là câu đầu thì được. Ôi mong họ được nghe pháp ta giảng và sau khi nghe pháp mong họ được hoan hỷ. Thì được. Tới đó là được rồi. Nhưng bây giờ lại là khi họ được hoan hỷ họ làm cho ta hoan hỷ tức là họ phải đảnh lễ, tôn trọng, cung kính, cúng dường vậy đó.

Thì cái đó là có dục, có mong muốn ở nơi người ta rồi, là có dục có tham có ái rồi. Như vậy Đức Phật gọi là thuyết pháp không có thanh tịnh. Rồi bây giờ nếu có vị nào mà có tâm như vậy là thuyết pháp đó.

“Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: " Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành. Duyên pháp thiện pháp tánh (dhammasudhammata) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác ", này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy là Tỷkheo thanh tịnh thuyết pháp.”

Ôi mong họ được nghe pháp ta giảng. Sau khi nghe pháp mong họ được hiểu rõ pháp. Sau khi họ được hiểu rõ pháp mong họ như vậy thực hành duyên pháp thiện pháp tánh thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, từ mẫn, lân mẫn. Điều mong của người thuyết pháp là gì? Mong họ nghe rồi thực hành. Cái đó là thuyết pháp thanh tịnh.

“Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác.”

Rồi mong gần họ dựa theo thiện pháp tánh, pháp tánh thiện và duyên lòng từ bi, từ mẫn, lân mẫn thuyết pháp cho người khác vì thương xót họ từ bi, từ mẫn đối với họ cảm thông được những nỗi khổ của họ và nói cho họ bớt khổ thì nói như vậy thì gọi là Tỳ kheo thanh tịnh thuyết pháp.

Còn nếu như mình nói mà để cho ta khen hay đặng người ta biết mình giỏi, để ta biết mình học cao hiểu rộng. Mình tu sâu thì những cái đó là thuyết pháp không có thanh tịnh. Vì cái tôi, vì thể hiện cái tôi,vì bản ngã. Rồi thuyết pháp đây muốn người ta cúng dường, người ta tôn trọng người ta cung kính, người ta đảnh lễ. Rồi nếu mà nói xong rồi người ta bình thường không có gì hết trơn hết trọi lúc đó buồn. Mình kiểm tra lại khi mà mình nói. Này không phải lên pháp thọ không đâu.

Nói chuyện với ai đó, mình chia sẻ với ai đó. Rồi sau đó đó mình có cái tâm của mình khi chia sẻ sau khi mình nói xong. Mình coi cái tâm mình có gì trong đó. Trước khi mình nói coi cái thọ tưởng hành mình như thế nào khi mình đang nói coi cái thọ tưởng hành mình như thế nào khi mình nói rồi coi cái thọ tưởng hành mình như thế nào.

Cái cảm giác cái nghĩ tưởng trước khi nói nó muốn cái gì đây mà nó nói. Khi nó đang nói là trong đó nó có cái gì trong đó, nó có cái cảm giác gì đó. cái suy nghĩ gì đó, cái tưởng gì đó trong khi đang nói. Rồi sau khi nói xong phải coi. Nói chung là phải luôn luôn nhận diện năm uẩn trước khi nói pháp khi đang nói pháp và sau khi nói pháp. Mà nó không mong cầu gì hết không phải. Mà mình có mình thấy được chắc chắn là nó có mà mình phải thấy được mình tẩy chứ làm sao không có. Cái đó đó quan trọng đó. Đó gọi là thuyết pháp thanh tịnh và không thanh tịnh.

V. Trú trong năm pháp khi thuyết pháp

Trong bài kinh tôn giả Udàyi Đức Phật dạy thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Để thuyết pháp cho các người khác. Này Ananda sau khi nội tâm an trú được năm pháp mới lên thuyết pháp cho các người khác. Nội tâm phải an trú được năm pháp. Cho nên giờ mấy chú ở đây đang thực tập diễn giảng đó thầy mới chỉ cho những cái này. Cái này là quan trọng đó từ đầu mình phải biết thấy để khi mình thực tập.

“- Này Ànanda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Để thuyết pháp cho các người khác, này Ànanda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.

Thế nào là năm?

"Ta sẽ thuyết pháp tuần tự", thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

"Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn", thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

"Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn", thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

"Ta sẽ thuyết pháp, không phải vì tài vật", thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

"Ta sẽ thuyết pháp, không làm thương tổn cho mình và cho người". Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.

- Này Ànanda, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Để thuyết pháp cho các người khác, này Ànanda, sau nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho các người khác.”

(Tăng Chi Bộ Kinh tập II – bài Kinh Tôn Giả Udàyi)

Khi mình muốn nói pháp mình phải an trú cái tâm mình trong năm pháp năm pháp đó là gì. Thứ nhất ta sẽ thuyết pháp tuần tự, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. Ta sẽ thuyết pháp tuần tự, không phải dô cái mình đánh thẳng vô cái là ngũ uẩn liền được.

Cho nên là tại sao mấy chú lại, khách nào lại chưa biết nam nữ già trẻ học tu bao nhiêu đưa cuốn năm uẩn này. Thầy cứ nhắc nhở là vậy đó. Thuyết pháp phải tuần tự. Người ta mới mẫu giáo lớp một làm sao mình lại đưa cuốn tiểu thuyết, đưa cuốn triết lý đọc làm sao, làm sao người ta hiểu.

Cho nên mình thấy những cái hay quá, đối với mình hay quá rồi gặp ai mình cũng đưa người ta hết trơn mà mình không biết cái căn cơ, trình độ. Cho nên nói không phải muốn nói gì thì nói. Cho kinh pháp không phải muốn cho gì thì cho. Phải theo tuần tự gọi là thứ pháp thuận pháp. Thứ là theo thứ tự. Giờ bậc thang như vậy đó, bậc thanh quán chiếu đường bậc thang ở đây mấy chục bậc vậy mình muốn nhẩy một cái lên phía trên thì sao thì cái gì nó xảy ra? Bể đầu, sứt chán chảy máu mũi, dập mặt.

Cho nên khi mình học, khi mình hành, khi mình nói đều như vậy hết đó. Ta sẽ thuyết pháp tuần tự. Không phải mình thấy năm uẩn hay quá rồi, bất cứ ai lại mình cũng kêu diệt tận năm uẩn đi rồi xong cái người ta hoảng. Họ không biết. Phải cho người ta niềm tin đối với Phật pháp tăng ni giới bốn dự lưu phần. Cái đó là quan trọng, là phước. Những cái cái căn bản, giới, ta sẽ thuyết pháp với mắt nhìn vào pháp môn.

Chỗ này là thâm sâu đó. Không phải mắt nhìn vào thánh chúng không đâu. Mắt nhìn vào pháp môn, con mắt nhìn người nhưng mà con mắt tâm là nhìn vô pháp môn. Nhìn vào trong chánh pháp của Đức Phật, nhìn vào trong pháp ấn của Đức Phật. Nhìn vào trong pháp hành cốt lõi căn bản của Đức Phật.

Nhìn vào trong đó để mà nói chứ không phải để nhìn tin chúng không. Không phải để nhìn theo sở thích của người ta không. Những cái người ta muốn không. Muốn lặng lẽ mà phải khế lý nữa. Nhìn vào trong pháp, phải thấy rõ cái pháp để mà nói.

Chứ bằng không mà lúc đó mình nói nhìn vô pháp, mắt mình không nhìn vào pháp môn thì không khéo mình nhìn vô hình tướng ở bên ngoài của người ta. Lúc đó không khéo dục ái tham sân sanh khởi, bản ngã sanh khởi. Miệng nói nói pháp vậy nhưng trong tâm không có pháp.

Trong đó là một cảm xúc nó thể hiện khoe khoang, biểu lộ, ra vẻ. Hay là nói để lấy lòng, sâu xa lắm, sâu sắc lắm. Chứ không phải ngồi nói pháp là pháp đâu. Không phải là leo lên pháp tòa nói đều là pháp sư hết, giảng sư hết đúng theo lời Đức Phật. Phải dựa vào các chuẩn tắc này nè. Thánh ngôn lượng. Thước đo của Đức Phật.

Ta sẽ thuyết với mắt nhìn vào pháp môn. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. Tình thương mà mình nói. Chứ không phải khoe khoang chứ không phải thể hiện, chứ không phải biểu lộ ta hay ta giỏi ta biết ta thông ta biết nhiều, ta học cao. Sẽ nói vì lòng từ mẫn.

Ta sẽ thuyết pháp không phải vì tài vật. Thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. Không phải thuyết pháp vì tiền của vật chất. Cái mục đích đã sai rồi khi nói làm sao là chánh pháp được. Nói để mong cầu người ta cúng, mong cầu người ta cho thì cái nói đó làm sao là chánh pháp. Dầu cho lời nói đó là chánh pháp, nhưng bên trong cái động lực đó là không phải là pháp. Cho nên ta sẽ không thuyết pháp vì tài vật, thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy. Nói cả buổi trời rồi cái đi mà không có cám ơn nữa. Lúc đó coi cái tâm ra làm sao? Cái tâm nó bình an đó là tốt.

Nếu mà nó khởi lên cái gì mình phải thấy phải biết. Vì mình thuyết pháp mà mình vì tài vật thì giống như là mua bán đổi chác rồi, kinh doanh làm ăn chứ đâu phải là người tu hành. Nói cái này thì phải đưa tôi lại cái kia. Trao đổi hàng hóa. Bánh ít đi thì bánh quy lại. Vậy là buôn bán chứ đâu phải thuyết pháp đâu phải là người tu. Cái này thấy vậy đó mà không phải dễ. Trong các công việc khác cũng vậy nữa. Chứ không phải riêng các công việc thuyết pháp. Các công việc khác cũng đều vậy hết, phải ứng dụng.

Ta sẽ thuyết pháp không làm thương tổn cho mình, cho người. Thuyết pháp cho người khác đều phải suy nghĩ như vậy. Không làm thương tổn. Mà nói xong một hồi người ta ra sân si. Nói pháp cho người ta sanh trí huệ, chứ nói pháp một hồi người ta sanh sân si. Nói thì giận. Như vậy thuyết pháp làm thương tổn rồi. Mà giận vậy tổn mình tổn người luôn đó. Cho nên mình chỉ dẫn huynh đệ cũng vậy phải rất là khéo đó. Mình chỉ dẫn mà người ta hoan hỷ người ta nghe, để người ta sửa đổi thành tốt thì cái đó là tốt. Còn bây giờ mình chỉ dẫn một hồi rồi người ta giận thì như vậy là tổn thương cho mình cho người.

Cho nên cái này hết sức là khéo, hết sức là khéo. Không phải là mình chỉ là ai cũng nghe đâu. Không phải là mình nói ai cũng nghe đâu. Mình coi đối tượng đó là ai? Mình ở vị trí nào? Họ có chịu nghe không? Họ có thích nghe mình nói không? Họ có duyên với mình không? Họ có muốn nghe mình nói không thì mình nói. Mình nói mà người ta vui thích, người ta hoan hỷ, người ta sửa đổi thì đó là tốt. Còn nếu mà mình thuyết một hồi mình nói một hồi. Một hồi xong ra họ cự là xong rồi hai người cãi lộn luôn. Như vậy là muốn lợi cuối cùng trở thành hại là lợi bất cập hại. Vậy tốt hơn là đừng có nói. Không nói là tốt hơn đó. Cho nên tâm mình phải an trú trên năm pháp này mới nói pháp.

Cho nên này A nan da, thật không dễ gì để thuyết pháp cho các người khác. Thuyết pháp cho các người khác. Này A lan da sau khi nội tâm an trú ở trong năm pháp này mới nên thuyết pháp cho các người khác. Cái phần định nghĩa về thuyết pháp có định nghĩa này nữa. Nhiều lắm, nhiều định nghĩa lắm. Có một vị Tỳ kheo đó lại lễ Đức Phật và hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn về thuyết pháp Như thế nào là một vị thuyết pháp.

Đức Phật dạy như thế nào? Nếu Tỳ kheo thuyết pháp về yểm li li tham đoạn diệt già và chết như vậy là đủ gọi là vị Tỳ kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ kheo thực hành về cái sự mà nhàm chán yểm li li tham chấm dứt đối với già chết như vậy là đủ để được gọi là Tỳ kheo thực hành các pháp , tùy pháp. Nếu Tỳ kheo giải thoát không còn chấp thủ mọi yểm li li tham, đoạn diệt già chết. Như vậy đủ là để gọi là Tỳ kheo đạt được Niết bàn ngay trong đời sống hiện tại. Cái này nó rộng ra tới mười hai nhân duyên. Chỗ này là chỗ phải nhắc đi nhắc lại hoài cho mấy ông già bà già này.

Thuyết pháp như nào gọi là vị pháp sư, như nào gọi là vị giảng sư, vị thuyết pháp. Thuyết pháp như thế nào mà làm cho người đó có sự mà nhàm chán muốn xa lìa, không còn tham nữa muốn chấm dứt cái già và chết. Như vậy được gọi là pháp sư. Nhàm chán muốn xa lìa cái già chết này. Muốn chấm dứt cái già chết này Nếu mà Tỳ kheo thuyết pháp về yểm li li tham đoạn diệt già và chết.

Như vậy gọi là đủ để Tỳ kheo thuyết pháp. Cái yểm li là nhàm chán xa lìa đối với già và chết. Cái nghĩa này nó sâu sắc lắm. Nó không phải giống như mình hiểu. Tức là mình muốn rằng trí huệ của mình nhìn thấy bản chất vô thường trống rỗng bất tịnh tạm bợ giả dối khổ đau của cái thân thể này của cảm giác nghĩ tưởng này. Mình hoàn toàn muốn xa lìa nó luôn. Không có muốn tiếp tục. Những cái thân thể giống như vậy nữa. Mình kinh sợ đôi với nó. Mình khiếp sợ đối với nó. Mình hoảng sợ đối với nó mình không muốn lặp lại tái sanh kiểu này nữa thì thuyết pháp như vậy mới gọi là pháp sư.

Thành ra cái này là cái thâm sau của mười hai nhân duyên. Mình thực hành như thế nào mà để nhàm chán li tham chấm dứt cái già chết thì như vậy mới gọi là thực hành pháp và tùy pháp. Nếu mà mình không có quán chiếu, không có chiêm nghiệm sâu sắc thì cái sự già chết này nó còn tiếp diễn ở trong tương lai nữa. Nó còn tiếp diễn, nó sẽ còn tiếp tục sanh nữa. Rồi cũng sầu bi khổ u não giống như bây giờ nữa. Nếu mình không có con đường đi ra không thấy được đạo lộ xuất li.