Khai Mở Cảm Thọ Hiền Trí
Nikāya Soi Sáng
Khai Mở Cảm Thọ Hiền Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc162706529 \h 1
II. Nội quán PAGEREF _Toc162706530 \h 3
III. Chỉ và quán PAGEREF _Toc162706531 \h 7
I. Cảm thọ
Sư cô Tịnh Nhẫn: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy, pháp danh con là Tịnh Nhẫn, cho con xin được phép thỉnh thầy dạy con làm sao để phân biệt được cảm xúc và cảm thọ. Theo con hiểu thì cảm thọ là mình trực nhận trên thân, khi mình xúc tác với bên ngoài như thế nào thì nó hiện khởi cảm thọ trên thân rồi mình trực nhận đó đúng như thật thì con hiểu đó là cảm thọ nhưng đôi khi nó nhầm lẫn với cảm xúc. Ví dụ như những người chịu đau khổ vì dịch bệnh Covid vừa qua cũng như thầy cho chúng con xem tư liệu thì có người dâng trào cảm xúc thì con liên tưởng đến Đức Phật dạy quán nội thân và ngoại thân, nhưng khi chưa nhận rõ ra nó, chỉ qua suy tưởng, mình thấy mình nghe thì mình có cảm xúc, mình đồng hóa vô hoàn cảnh người khác rồi mình thấy khổ.
Theo con thì con thấy không như thật khổ trên cái khổ của chính mình, vì thế con xin thỉnh thầy dạy cho chúng con nhận ra được thế nào là cảm thọ trực nhận trên chính mình, sự khác nhau giữa cảm thọ và cảm xúc để chúng con không nhầm lẫn qua tưởng khi quán chiếu. Con kính thỉnh thầy chỉ dạy cho chúng con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư phụ: Trước hết Minh Thành xin chia sẻ đường lối tu học tại Linh Quy Pháp Ấn, ở đây chỉ đi vào chánh tạng chứ không đi vào các bộ chú giải vi diệu pháp, cho nên những gì trong Nikāya có thì mới nói đến, còn cái nào Nikāya không có thì ở đây không bàn đến dù là các bộ chú giải Trong Nikāya không phân biệt cảm thọ và cảm xúc, mình học cũng không chia ra nên cảm thọ hay cảm xúc, cảm giác cũng là một, đều chỉ cho những cảm giác do tiếp xúc sáu căn với sáu trần.
Vì vậy ở đây thứ nhất không phân biệt cảm thọ hay cảm xúc mà dùng chung, dù là cảm thọ, cảm xúc hay cảm giác đều là một. Thứ hai là cách phân biệt giữa thọ và tưởng, tưởng là hình bóng trong tâm, thọ là cảm giác cho nên hai cái này không lẫn lộn được, nếu nhận diện ngũ uẩn rõ ràng thì không thể lẫn lộn được. Phần thực tập nhận diện sau này chúng ta sẽ thực tập nhiều với các vị mới đến. Thứ ba là những hình ảnh dịch bệnh là ở ngoài, cái đó không phải là mình, không phải sự thật thì cái đó không đúng, đó là sự thật, hiện tại đang có dịch bệnh, đang có những giọt nước mắt chảy xuống là thật, mọi người than khóc vì có người thân mất là thật, tất cả đều là người thật việc thật.
Đức Phật dạy quán thọ trên thọ, cảm thọ trong thân và cảm thọ bên ngoài thân hoặc cảm thọ của những chúng sanh khác, khi thấy những cảnh khổ đau đó mà mình có cảm xúc trào dâng hoặc thậm chí trào nước mắt là tốt, đó là thiện pháp nên không cần kiềm chế cảm thọ, ở đây tu là để cho các cảm thọ thiện pháp được tuôn trào, phun ra, chảy ra vì chỉ có những cảm giác thiền hiện, những cảm giác thấu hiểu bằng trí tuệ thấu hiểu sự khổ đau của cuộc đời được tuôn trào thì mới gội rửa những cảm giác si mê, vô minh, còn nếu không để cho những cảm giác này bung ra, trào ra thì những cảm giác sâu sắc mà cho rằng thân tâm này là vui, là sướng sẽ nằm yên đó, nó không được những cảm giác của khổ gội rửa. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật đã nói "Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật) cho nên mình nghe pháp mà trơ ra, ngồi thiền thì đơ ra thì chứng tỏ pháp đó hoặc pháp hành đó không chạm đến cảm giác của mình, không chạm đến chỗ sâu sắc của mình.
Tại sao người ta tuôn trào nước mắt? Tại sao người ta rúng động thân tâm? Vì điều đó đi vào cảm xúc sâu lắng bên trong thân tâm người ta, cho nên khi tuôn trào nước mắt vì nỗi khổ của cuộc đời, vì nhìn thấy sự đau đớn, xót xa, cay đắng và khổ sở của cuộc đời này thì đó là những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ, những cảm thọ của Khổ Thánh Trí và rất cần những cảm thọ đó cho nên sự tu của đạo tràng Nikāya ở đây là làm cho khai mở các dòng cảm thọ hiền thiện chứ không đóng cảm thọ lại.
Có rất nhiều người tu, thậm chí Minh Thành trước đây cũng vậy, rất sợ tâm bị động, không dám nghĩ gì cả nhưng không phải như vậy vì không nghĩ gì hết thì làm sao sanh ra thiện pháp, trong khi Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên nếu mình không nghĩ gì cả thì thiện pháp cũng mất luôn,. Những cảm thọ hiền thiện, cảm thọ trí tuệ, những cảm thọ khổ đau không sanh khởi thì làm sao phát ra sự nhàm chán, sự ly tham, từ bỏ?
Vì vậy sự tu học ở đây là mở cảm thọ ra vì từ trước đến nay cảm thọ của chúng ta bị ứ đọng, bị đình trệ, bị che lấp, bây giờ tu là để khai mở cảm thọ hiền thiện, trí tuệ đó ra chứ không phải tu lâu rồi không còn cảm thọ, cảm xúc gì nữa, chỉ khi nào đạt đến độ thuần thiện, chí thiện thì lúc đó mới đi đến chỗ buông tất cả thiện ác, bây giờ những pháp ác trong người mình vẫn còn, những dục ái, tham, sân, bản ngã vẫn còn cho nên khi không đưa những cảm thọ từ, bi, hỷ, xả, xót thương, những cảm thọ khổ đưa vào thân tâm để gội rửa, tẩy sạch thì những thứ tùy miên vẫn còn trong tâm, ngồi thiền lâu ngày nhưng trí huệ vẫn không khai mở, nếu cứ giữ tâm yên định là tốt nhưng không dừng lại ở đó được vì tự thân Minh Thành đã đi cầu pháp ở rất nhiều nơi, trong các thiền viện Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan hay các trung tâm thiền tu học trong và ngoài nước. Cho nên sự tu mà Đức Phật dạy rất hay, mình không nên đóng những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ lại mà chỉ nên đóng những cảm thọ ác, bất thiện pháp, đóng lại những cảm thọ si ám, trì trệ, tham sân, mở ra những cảm thọ từ tâm, bi mẫn, xót thương cho tuôn chảy, khai thông những cảm thọ đó ra sẽ rất tốt.
II. Nội quán
Sư cô Tịnh Nhẫn: Con kính tri ân thầy đã chỉ cách cho chúng con làm sanh khởi những pháp thiện và cũng là duyên khởi để con hỏi câu hỏi đó. Con vẫn biết thương cảm với những nỗi đau khổ của người khác, sự đau khổ của người khác phản tỉnh lại sự đau khổ của chính mình, gần với tâm từ và tâm bi nhưng vì vô minh nên có khi chúng con thấy trường hợp đó rõ ràng như vậy, tâm khởi lên kinh cảm, xúc động, bi thương, thương yêu và đồng cảm với nỗi đau của người khác, bi tâm thì muốn có cách nào đó giúp đỡ để người khác vơi đi niềm đau khổ đó, khi thấy như vậy thì sự thương cảm mới khởi lên. Người tu chúng con dễ vui với đời sống thường nhật hằng ngày, không có gì kinh cảm thì mình lại quên đi cái khổ của sự thật đó.
Con nêu lên câu hỏi đó nhằm hỏi cách để chúng con duy trì sự kinh cảm đó trong sự tu tập của mình để càng ngày càng thấm nhuần được sự khổ và thấy đó là sự thật chứ không phải qua một cái cảm nhận nữa, để chúng con rõ biết sự khổ đó như thật vì Thánh đế là như vậy. Chúng con phải tư duy, trải nghiệm như thế nào để duy trì sự thấy biết đó để dẫn đến nhàm chán, ly tham vì nếu không nhàm chán thì không thể ly tham được.
Câu hỏi tiếp nữa con xin thỉnh thầy dạy con là sáng nay khi chúng con hành thiền thì thầy đọc những lời kệ để nhắc nhở chúng con để chúng con quán chiếu lại tự ngã của mình. Cho con hỏi là khi nghe như vậy thì có phải lúc đó mình đang khéo như lý tác ý không để nhắc tâm thường xuyên về bản ngã không thực như vậy, đó là một công năng của sự nhắc tâm qua lời của thầy. Câu hỏi của con là vậy, con xin thỉnh thầy dạy cho con ạ. Con xin kính tri ân thầy.
Sư phụ: Câu hỏi rất hay, cảm ơn sư cô. Đúng là như vậy, người tu nhiều khi quen nhìn ra ngoài, có tâm hướng ngoại, nhiều khi có xách đãi đi lo cho người ta trong khi không thấy được tự thân mình. Vì thế trong tinh thần kinh Nikāya dạy rất hay, những bài thực tập trải tâm từ là nhằm thương mình trước tiên, chúng ta phải nhìn ra được năm uẩn vì đó là phần căn bản nhất, là chìa khóa mở cửa, nếu không nhìn thấy năm uẩn thì không tu được những cái sau về sau.
Như vậy làm thế nào để nhìn đúng sự thật thân này là khổ? Đói thì khổ, khát cũng khổ, ngồi tê chân nhức lưng cũng khó chịu, khổ tức là khó chịu cho nên đầu tiên chúng ta tập nhìn thấy khổ ngay trên thân chúng ta trong mọi động tác, trong mọi sự vận hành. Đứng lâu thì mỏi chân, đi nhiều thì đau chân, buồn ngủ cũng mệt… vì vậy mình tập nhìn thấy khổ của đống sắc uẩn mấy chục kí lô thịt, xương da này. Mình phải tác ý, nhắc nhở bản thân vì nếu không tác ý thì thiện pháp không sanh, trí không sanh, tuệ lực không sanh, chánh tư duy không sanh khởi. Mình thấy mình mang một xác thân như vầy thật là mệt mỏi, thật là lo lắng, bây giờ gặp nhau cũng sợ, phải bịt khẩu trang, xét nghiệm, chích ngừa nên thấy ngao ngán. Mang cái thân như vậy có gì vui sướng? Vị ngọt chỉ có chút ít thôi nhưng sự nguy hiểm và tác hại này lại đầy rẫy, nhất là trong thời gian dịch bệnh này lại càng hiện rõ, thực chứng, thực thấy, thực biết, sự thật trong thực tại. Trong mọi cử chỉ động tác, trong mọi cái ăn uống, trong cái ngồi, cái đi đều thấy khổ trong đó.
Khi sanh khởi lên cảm giác bức xúc, khó chịu thì mệt mỏi, khi sanh khởi lên cảm giác dục ái thì mệt mỏi vì nó cứ đòi hỏi hết cái này đến cái kia, cảm giác sân hận, thiêu đốt nổi lên, cảm giác ta đây, bị nói đụng chạm vào bản ngã cũng làm mình khổ, cảm giác thua thiệt là mình khổ sở, cảm giác bị vu oan giá họa cũng làm mình khổ. Phải tập nhìn mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của cảm thọ, mình thấy một sự vận hành của nó là sự vận hành của khổ.
Những hình bóng ám ảnh trong tâm, hình bóng của tự thân mình và những hình bóng khác cứ ẩn hiện trong tâm. Cái mình muốn thì không được, cái mình không mong muốn lại tới, mình tập nhìn những hình bóng đó là vô thường, khổ, vô ngã.
Đối với những suy nghĩ khác cũng vậy, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, hết suy nghĩ kia đến suy nghĩ nọ. Có khi lời nói người ta không có ý gì cả nhưng mình cứ nghĩ tới nghĩ lui lại ra đủ thứ ý, nghĩ rằng người ra xem thường mình, khinh khi mình nhưng người ta hoàn toàn không có ý đó, suy nghĩ đó là khổ, suy nghĩ trong vô minh, suy nghĩ trong sự không thấy không biết, suy nghĩ trong ham ái, yêu thích thân thể này nên làm méo mó sự thật. Suy nghĩ tham lam, nóng giận, si mê, suy nghĩ đúng sai, cao thấp, hơn thua, phải quấy, suy nghĩ ta đây, vênh váo, khen mình chê người, suy nghĩ mình hay, mình giỏi, mình đúng, mình biết, tất cả những suy nghĩ này làm mình mệt mỏi, khổ đau, không phải lúc nào nói ra người ta cũng đồng ý hết.
Mình tập nhìn các khía cạnh trong năm uẩn này là khổ, là bất an, lo lắng, sợ hãi, có cái thân chút này thôi là lo hoài, lo ăn, lo ngủ, lo chỗ ở, muốn nhìn cái này, ngắm cái kia, thèm cái này, đói cái kia, khát cái nọ, tập nhìn ra các cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, tất cả cũng loanh quanh ở trong dục ái chứ không gì khác, muốn cái này, đòi cái kia, thích cái nọ, lòng vòng trong những ngọn lửa thiêu đốt của sân giận, tức giận, lòng vòng trong bản ngã, vênh váo vì không thấy không biết chính nó cho nên mới nắm chặt vào năm thủ uẩn này rồi khổ đau. Đó là chúng ta thực tập để nhìn thấy cái khổ trong bản chất thân thể này, từ việc thấy mình là một đống khổ rồi nhìn ra xung quanh cũng chỉ là khổ, như vậy mới nhàm chán, không mong muốn, không thèm thuồng, không khát khao nữa, không ưa thích sự hiện hữu này nữa vì tất cả sự hiện hữu đều là đau khổ, cái gì được cảm thọ đều là khổ đau.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít phân có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)
Muốn nhìn sâu vào bản chất của ngũ uẩn thì nó đòi hỏi mình phải có tâm định tĩnh và có cái nhìn sâu sắc vào bên trong, chỉ có nhận diện được ngũ uẩn mới nhìn thấy được, khi đó sự thật của các pháp hay còn gọi là thực tại, nghĩa là sự thật ngay trong giây phút hiện tại của ngũ uẩn sẽ được trình bày, hiển lộ bằng chính con mắt tâm của mình nhìn thấy chứ không cần ai nói cho nghe, ai nói cho biết, gọi là thấy được pháp, lúc đó mình mới có thể quán pháp trên pháp, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ. Pháp chính là những thứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái vận hành, cái đó gọi là pháp ác. Còn những thứ từ, bi, hỷ, xả, Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo hay Thất Giác Chi mà hiển lộ ra thì đó là thiện pháp, Thánh pháp, khi đó mình mới có thể quán được pháp trên các pháp.
Các vị ở đây đã tu học rất lâu nên mới thực tập thiền quán, còn các vị mới về đây ở rất ít ngày nên Minh Thành muốn quý vị biết thêm những gì khác với những gì đã học, có duyên thì tìm hiểu thêm, còn ở đây phải tu lâu mới thực tập thiền quán. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn rõ, chưa biết hướng vào cảm thọ thì thiền quán rất khó, nếu nghe chỉ phớt bên ngoài thôi, nhưng đây cũng là duyên để Minh Thành cúng dường pháp bảo cho các vị khi về đây.
III. Chỉ và quán
Sư cô Hạnh Tuệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ trụ trì, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con có suy nghĩ nếu ngày thường hay lúc hành thiền có những suy nghĩ hình bóng của quá khứ hay tương lai, cảm thọ lúc đó có thể là hoan hỉ, đau buồn hoặc vừa hoan hỉ vừa đau buồn, những cảm thọ đó đem đến sự tinh tấn tu hành siêng năng hơn. Cho con hỏi lúc đó có thể nắm giữ cảm thọ đó không hay thấy nó là phải dừng lại liền. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư phụ: Trong sự thực tập của chúng ta tạm gọi có hai phần, thứ nhất là thực hành ba pháp gọi là chỉ, thứ hai là thiền quán. Khi thực hành ba pháp thì rõ biết trước mặt, an trú cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác biết rõ những hình bóng, những cảm thọ, suy nghĩ trong tâm. Bây giờ trong tâm mình có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hoặc là hoan hỉ, hoặc là đau buồn nhưng những cái đó làm mình tinh tấn tu học thì đó là thiện pháp, mình có thể dùng nó để tác ý.
Ví dụ mình ngồi thiền nhớ lại cảnh người thân mình mất, Minh Thành nhớ lại cảnh mẹ mất trên tay Minh Thành thì mình lấy hình ảnh đó làm đề mục tu tập, quán chiếu, tác ý "đó là sự vô thường, sự hoại diệt, sự tan rã, sự khổ đau, một ngày nào đó cha mình cũng như vậy và bản thân mình cũng như vậy", lấy cái đó làm đề mục quán chiếu để hướng vào nhàm chán, ly tham thì đó là thiện pháp cho nên sự tu này rất linh hoạt, uyển chuyển chứ không phải tâm cố định, ngồi giữ hơi thở hoài hoặc làm cái gì là làm hoài, mình có quyền linh động, uyển chuyển khi tu nhưng phải nắm được pháp mới linh động được, mình biết những tác ý này làm cho mình sanh khởi ra trí tuệ tương ưng với sự thật, tương với vô thường, tương ưng với khổ, tương ưng với tam tướng, tương ứng với pháp ấn thì phát huy nó lên. Còn ngồi đó rồi nhớ lại lúc trẻ đi chơi vui vẻ, ăn uống này nọ thì đó là dục ái, mình phải từ bỏ cái đó. Vì thế mình phải biết chọn lựa, ác pháp thì từ bỏ, thiện pháp thì phát huy, ví dụ trong ngày mình gặp chuyện buồn rồi đến khi ngồi thiền thì lấy cái đó làm đề mục, quán về sự nguy hiểm và tác hại của sân hận trong cả thời thiền, dùng cái đó làm đề tài để giải quyết triệt để sự sân hận, tức giận, nếu không hết thì ngày mai ngồi thiền lại quán tiếp, thực hành cho đến khi nào hóa giải cảm thọ bực mình, tức giận, khó chịu đó cho hết hoàn toàn.
Đó là sự khéo léo trong tu tập chứ không phải để cơn tức giận qua một bên cho xong, mình tức giận, khó chịu nghĩa là mình đang bệnh mà không chịu trị bệnh mà lo trồng cây, làm cỏ cho nên phải phát hiện ra mình bị bệnh nào nặng rồi dồn lực trị bệnh đó, nếu nặng về dục thì quán tứ đại, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, nặng về sân thì thường xuyên trải tâm từ và quán chiếu sự nguy hiểm, tác hại của sân, nặng về si thì quán chiếu duyên khởi, duyên sanh pháp để phân biệt rành rõ các pháp vận hành như thế nào, nặng về bản ngã thì lạy sám hối, cái nào nổi cộm nhất thì tác ý về cái đó, quán chiếu về nó.
Trước khi nó sanh khởi cần tác ý, trong khi sanh khởi cần tác ý và sau khi nó chấm dứt cũng phải tiếp túc tác ý, đừng vội vui mừng khi thấy nó hết vì có thể nó đang ngủ ngầm, cho đến khi nào ngoại cảnh tác động vào mình mà sân không khởi lên nữa thì lúc đó mới bắt đầu có sự hành tựu, nếu có khởi lên vi tế cũng diệt tận, không suy nghĩ về ác bất thiện pháp, không suy nghĩ về bất cứ đối tượng nào mà chỉ nghĩ về từ tâm. Đó là sự khéo léo trong tu tập của chúng ta.
./.
Khai Mở Cảm Thọ Hiền Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc162706529 \h 1
II. Nội quán PAGEREF _Toc162706530 \h 3
III. Chỉ và quán PAGEREF _Toc162706531 \h 7
I. Cảm thọ
Sư cô Tịnh Nhẫn: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thầy, pháp danh con là Tịnh Nhẫn, cho con xin được phép thỉnh thầy dạy con làm sao để phân biệt được cảm xúc và cảm thọ. Theo con hiểu thì cảm thọ là mình trực nhận trên thân, khi mình xúc tác với bên ngoài như thế nào thì nó hiện khởi cảm thọ trên thân rồi mình trực nhận đó đúng như thật thì con hiểu đó là cảm thọ nhưng đôi khi nó nhầm lẫn với cảm xúc. Ví dụ như những người chịu đau khổ vì dịch bệnh Covid vừa qua cũng như thầy cho chúng con xem tư liệu thì có người dâng trào cảm xúc thì con liên tưởng đến Đức Phật dạy quán nội thân và ngoại thân, nhưng khi chưa nhận rõ ra nó, chỉ qua suy tưởng, mình thấy mình nghe thì mình có cảm xúc, mình đồng hóa vô hoàn cảnh người khác rồi mình thấy khổ.
Theo con thì con thấy không như thật khổ trên cái khổ của chính mình, vì thế con xin thỉnh thầy dạy cho chúng con nhận ra được thế nào là cảm thọ trực nhận trên chính mình, sự khác nhau giữa cảm thọ và cảm xúc để chúng con không nhầm lẫn qua tưởng khi quán chiếu. Con kính thỉnh thầy chỉ dạy cho chúng con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư phụ: Trước hết Minh Thành xin chia sẻ đường lối tu học tại Linh Quy Pháp Ấn, ở đây chỉ đi vào chánh tạng chứ không đi vào các bộ chú giải vi diệu pháp, cho nên những gì trong Nikāya có thì mới nói đến, còn cái nào Nikāya không có thì ở đây không bàn đến dù là các bộ chú giải Trong Nikāya không phân biệt cảm thọ và cảm xúc, mình học cũng không chia ra nên cảm thọ hay cảm xúc, cảm giác cũng là một, đều chỉ cho những cảm giác do tiếp xúc sáu căn với sáu trần.
Vì vậy ở đây thứ nhất không phân biệt cảm thọ hay cảm xúc mà dùng chung, dù là cảm thọ, cảm xúc hay cảm giác đều là một. Thứ hai là cách phân biệt giữa thọ và tưởng, tưởng là hình bóng trong tâm, thọ là cảm giác cho nên hai cái này không lẫn lộn được, nếu nhận diện ngũ uẩn rõ ràng thì không thể lẫn lộn được. Phần thực tập nhận diện sau này chúng ta sẽ thực tập nhiều với các vị mới đến. Thứ ba là những hình ảnh dịch bệnh là ở ngoài, cái đó không phải là mình, không phải sự thật thì cái đó không đúng, đó là sự thật, hiện tại đang có dịch bệnh, đang có những giọt nước mắt chảy xuống là thật, mọi người than khóc vì có người thân mất là thật, tất cả đều là người thật việc thật.
Đức Phật dạy quán thọ trên thọ, cảm thọ trong thân và cảm thọ bên ngoài thân hoặc cảm thọ của những chúng sanh khác, khi thấy những cảnh khổ đau đó mà mình có cảm xúc trào dâng hoặc thậm chí trào nước mắt là tốt, đó là thiện pháp nên không cần kiềm chế cảm thọ, ở đây tu là để cho các cảm thọ thiện pháp được tuôn trào, phun ra, chảy ra vì chỉ có những cảm giác thiền hiện, những cảm giác thấu hiểu bằng trí tuệ thấu hiểu sự khổ đau của cuộc đời được tuôn trào thì mới gội rửa những cảm giác si mê, vô minh, còn nếu không để cho những cảm giác này bung ra, trào ra thì những cảm giác sâu sắc mà cho rằng thân tâm này là vui, là sướng sẽ nằm yên đó, nó không được những cảm giác của khổ gội rửa. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật đã nói "Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật) cho nên mình nghe pháp mà trơ ra, ngồi thiền thì đơ ra thì chứng tỏ pháp đó hoặc pháp hành đó không chạm đến cảm giác của mình, không chạm đến chỗ sâu sắc của mình.
Tại sao người ta tuôn trào nước mắt? Tại sao người ta rúng động thân tâm? Vì điều đó đi vào cảm xúc sâu lắng bên trong thân tâm người ta, cho nên khi tuôn trào nước mắt vì nỗi khổ của cuộc đời, vì nhìn thấy sự đau đớn, xót xa, cay đắng và khổ sở của cuộc đời này thì đó là những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ, những cảm thọ của Khổ Thánh Trí và rất cần những cảm thọ đó cho nên sự tu của đạo tràng Nikāya ở đây là làm cho khai mở các dòng cảm thọ hiền thiện chứ không đóng cảm thọ lại.
Có rất nhiều người tu, thậm chí Minh Thành trước đây cũng vậy, rất sợ tâm bị động, không dám nghĩ gì cả nhưng không phải như vậy vì không nghĩ gì hết thì làm sao sanh ra thiện pháp, trong khi Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên nếu mình không nghĩ gì cả thì thiện pháp cũng mất luôn,. Những cảm thọ hiền thiện, cảm thọ trí tuệ, những cảm thọ khổ đau không sanh khởi thì làm sao phát ra sự nhàm chán, sự ly tham, từ bỏ?
Vì vậy sự tu học ở đây là mở cảm thọ ra vì từ trước đến nay cảm thọ của chúng ta bị ứ đọng, bị đình trệ, bị che lấp, bây giờ tu là để khai mở cảm thọ hiền thiện, trí tuệ đó ra chứ không phải tu lâu rồi không còn cảm thọ, cảm xúc gì nữa, chỉ khi nào đạt đến độ thuần thiện, chí thiện thì lúc đó mới đi đến chỗ buông tất cả thiện ác, bây giờ những pháp ác trong người mình vẫn còn, những dục ái, tham, sân, bản ngã vẫn còn cho nên khi không đưa những cảm thọ từ, bi, hỷ, xả, xót thương, những cảm thọ khổ đưa vào thân tâm để gội rửa, tẩy sạch thì những thứ tùy miên vẫn còn trong tâm, ngồi thiền lâu ngày nhưng trí huệ vẫn không khai mở, nếu cứ giữ tâm yên định là tốt nhưng không dừng lại ở đó được vì tự thân Minh Thành đã đi cầu pháp ở rất nhiều nơi, trong các thiền viện Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan hay các trung tâm thiền tu học trong và ngoài nước. Cho nên sự tu mà Đức Phật dạy rất hay, mình không nên đóng những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ lại mà chỉ nên đóng những cảm thọ ác, bất thiện pháp, đóng lại những cảm thọ si ám, trì trệ, tham sân, mở ra những cảm thọ từ tâm, bi mẫn, xót thương cho tuôn chảy, khai thông những cảm thọ đó ra sẽ rất tốt.
II. Nội quán
Sư cô Tịnh Nhẫn: Con kính tri ân thầy đã chỉ cách cho chúng con làm sanh khởi những pháp thiện và cũng là duyên khởi để con hỏi câu hỏi đó. Con vẫn biết thương cảm với những nỗi đau khổ của người khác, sự đau khổ của người khác phản tỉnh lại sự đau khổ của chính mình, gần với tâm từ và tâm bi nhưng vì vô minh nên có khi chúng con thấy trường hợp đó rõ ràng như vậy, tâm khởi lên kinh cảm, xúc động, bi thương, thương yêu và đồng cảm với nỗi đau của người khác, bi tâm thì muốn có cách nào đó giúp đỡ để người khác vơi đi niềm đau khổ đó, khi thấy như vậy thì sự thương cảm mới khởi lên. Người tu chúng con dễ vui với đời sống thường nhật hằng ngày, không có gì kinh cảm thì mình lại quên đi cái khổ của sự thật đó.
Con nêu lên câu hỏi đó nhằm hỏi cách để chúng con duy trì sự kinh cảm đó trong sự tu tập của mình để càng ngày càng thấm nhuần được sự khổ và thấy đó là sự thật chứ không phải qua một cái cảm nhận nữa, để chúng con rõ biết sự khổ đó như thật vì Thánh đế là như vậy. Chúng con phải tư duy, trải nghiệm như thế nào để duy trì sự thấy biết đó để dẫn đến nhàm chán, ly tham vì nếu không nhàm chán thì không thể ly tham được.
Câu hỏi tiếp nữa con xin thỉnh thầy dạy con là sáng nay khi chúng con hành thiền thì thầy đọc những lời kệ để nhắc nhở chúng con để chúng con quán chiếu lại tự ngã của mình. Cho con hỏi là khi nghe như vậy thì có phải lúc đó mình đang khéo như lý tác ý không để nhắc tâm thường xuyên về bản ngã không thực như vậy, đó là một công năng của sự nhắc tâm qua lời của thầy. Câu hỏi của con là vậy, con xin thỉnh thầy dạy cho con ạ. Con xin kính tri ân thầy.
Sư phụ: Câu hỏi rất hay, cảm ơn sư cô. Đúng là như vậy, người tu nhiều khi quen nhìn ra ngoài, có tâm hướng ngoại, nhiều khi có xách đãi đi lo cho người ta trong khi không thấy được tự thân mình. Vì thế trong tinh thần kinh Nikāya dạy rất hay, những bài thực tập trải tâm từ là nhằm thương mình trước tiên, chúng ta phải nhìn ra được năm uẩn vì đó là phần căn bản nhất, là chìa khóa mở cửa, nếu không nhìn thấy năm uẩn thì không tu được những cái sau về sau.
Như vậy làm thế nào để nhìn đúng sự thật thân này là khổ? Đói thì khổ, khát cũng khổ, ngồi tê chân nhức lưng cũng khó chịu, khổ tức là khó chịu cho nên đầu tiên chúng ta tập nhìn thấy khổ ngay trên thân chúng ta trong mọi động tác, trong mọi sự vận hành. Đứng lâu thì mỏi chân, đi nhiều thì đau chân, buồn ngủ cũng mệt… vì vậy mình tập nhìn thấy khổ của đống sắc uẩn mấy chục kí lô thịt, xương da này. Mình phải tác ý, nhắc nhở bản thân vì nếu không tác ý thì thiện pháp không sanh, trí không sanh, tuệ lực không sanh, chánh tư duy không sanh khởi. Mình thấy mình mang một xác thân như vầy thật là mệt mỏi, thật là lo lắng, bây giờ gặp nhau cũng sợ, phải bịt khẩu trang, xét nghiệm, chích ngừa nên thấy ngao ngán. Mang cái thân như vậy có gì vui sướng? Vị ngọt chỉ có chút ít thôi nhưng sự nguy hiểm và tác hại này lại đầy rẫy, nhất là trong thời gian dịch bệnh này lại càng hiện rõ, thực chứng, thực thấy, thực biết, sự thật trong thực tại. Trong mọi cử chỉ động tác, trong mọi cái ăn uống, trong cái ngồi, cái đi đều thấy khổ trong đó.
Khi sanh khởi lên cảm giác bức xúc, khó chịu thì mệt mỏi, khi sanh khởi lên cảm giác dục ái thì mệt mỏi vì nó cứ đòi hỏi hết cái này đến cái kia, cảm giác sân hận, thiêu đốt nổi lên, cảm giác ta đây, bị nói đụng chạm vào bản ngã cũng làm mình khổ, cảm giác thua thiệt là mình khổ sở, cảm giác bị vu oan giá họa cũng làm mình khổ. Phải tập nhìn mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của cảm thọ, mình thấy một sự vận hành của nó là sự vận hành của khổ.
Những hình bóng ám ảnh trong tâm, hình bóng của tự thân mình và những hình bóng khác cứ ẩn hiện trong tâm. Cái mình muốn thì không được, cái mình không mong muốn lại tới, mình tập nhìn những hình bóng đó là vô thường, khổ, vô ngã.
Đối với những suy nghĩ khác cũng vậy, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, hết suy nghĩ kia đến suy nghĩ nọ. Có khi lời nói người ta không có ý gì cả nhưng mình cứ nghĩ tới nghĩ lui lại ra đủ thứ ý, nghĩ rằng người ra xem thường mình, khinh khi mình nhưng người ta hoàn toàn không có ý đó, suy nghĩ đó là khổ, suy nghĩ trong vô minh, suy nghĩ trong sự không thấy không biết, suy nghĩ trong ham ái, yêu thích thân thể này nên làm méo mó sự thật. Suy nghĩ tham lam, nóng giận, si mê, suy nghĩ đúng sai, cao thấp, hơn thua, phải quấy, suy nghĩ ta đây, vênh váo, khen mình chê người, suy nghĩ mình hay, mình giỏi, mình đúng, mình biết, tất cả những suy nghĩ này làm mình mệt mỏi, khổ đau, không phải lúc nào nói ra người ta cũng đồng ý hết.
Mình tập nhìn các khía cạnh trong năm uẩn này là khổ, là bất an, lo lắng, sợ hãi, có cái thân chút này thôi là lo hoài, lo ăn, lo ngủ, lo chỗ ở, muốn nhìn cái này, ngắm cái kia, thèm cái này, đói cái kia, khát cái nọ, tập nhìn ra các cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, tất cả cũng loanh quanh ở trong dục ái chứ không gì khác, muốn cái này, đòi cái kia, thích cái nọ, lòng vòng trong những ngọn lửa thiêu đốt của sân giận, tức giận, lòng vòng trong bản ngã, vênh váo vì không thấy không biết chính nó cho nên mới nắm chặt vào năm thủ uẩn này rồi khổ đau. Đó là chúng ta thực tập để nhìn thấy cái khổ trong bản chất thân thể này, từ việc thấy mình là một đống khổ rồi nhìn ra xung quanh cũng chỉ là khổ, như vậy mới nhàm chán, không mong muốn, không thèm thuồng, không khát khao nữa, không ưa thích sự hiện hữu này nữa vì tất cả sự hiện hữu đều là đau khổ, cái gì được cảm thọ đều là khổ đau.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít phân có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)
Muốn nhìn sâu vào bản chất của ngũ uẩn thì nó đòi hỏi mình phải có tâm định tĩnh và có cái nhìn sâu sắc vào bên trong, chỉ có nhận diện được ngũ uẩn mới nhìn thấy được, khi đó sự thật của các pháp hay còn gọi là thực tại, nghĩa là sự thật ngay trong giây phút hiện tại của ngũ uẩn sẽ được trình bày, hiển lộ bằng chính con mắt tâm của mình nhìn thấy chứ không cần ai nói cho nghe, ai nói cho biết, gọi là thấy được pháp, lúc đó mình mới có thể quán pháp trên pháp, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ. Pháp chính là những thứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái vận hành, cái đó gọi là pháp ác. Còn những thứ từ, bi, hỷ, xả, Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo hay Thất Giác Chi mà hiển lộ ra thì đó là thiện pháp, Thánh pháp, khi đó mình mới có thể quán được pháp trên các pháp.
Các vị ở đây đã tu học rất lâu nên mới thực tập thiền quán, còn các vị mới về đây ở rất ít ngày nên Minh Thành muốn quý vị biết thêm những gì khác với những gì đã học, có duyên thì tìm hiểu thêm, còn ở đây phải tu lâu mới thực tập thiền quán. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn rõ, chưa biết hướng vào cảm thọ thì thiền quán rất khó, nếu nghe chỉ phớt bên ngoài thôi, nhưng đây cũng là duyên để Minh Thành cúng dường pháp bảo cho các vị khi về đây.
III. Chỉ và quán
Sư cô Hạnh Tuệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ trụ trì, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con có suy nghĩ nếu ngày thường hay lúc hành thiền có những suy nghĩ hình bóng của quá khứ hay tương lai, cảm thọ lúc đó có thể là hoan hỉ, đau buồn hoặc vừa hoan hỉ vừa đau buồn, những cảm thọ đó đem đến sự tinh tấn tu hành siêng năng hơn. Cho con hỏi lúc đó có thể nắm giữ cảm thọ đó không hay thấy nó là phải dừng lại liền. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư phụ: Trong sự thực tập của chúng ta tạm gọi có hai phần, thứ nhất là thực hành ba pháp gọi là chỉ, thứ hai là thiền quán. Khi thực hành ba pháp thì rõ biết trước mặt, an trú cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác biết rõ những hình bóng, những cảm thọ, suy nghĩ trong tâm. Bây giờ trong tâm mình có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hoặc là hoan hỉ, hoặc là đau buồn nhưng những cái đó làm mình tinh tấn tu học thì đó là thiện pháp, mình có thể dùng nó để tác ý.
Ví dụ mình ngồi thiền nhớ lại cảnh người thân mình mất, Minh Thành nhớ lại cảnh mẹ mất trên tay Minh Thành thì mình lấy hình ảnh đó làm đề mục tu tập, quán chiếu, tác ý "đó là sự vô thường, sự hoại diệt, sự tan rã, sự khổ đau, một ngày nào đó cha mình cũng như vậy và bản thân mình cũng như vậy", lấy cái đó làm đề mục quán chiếu để hướng vào nhàm chán, ly tham thì đó là thiện pháp cho nên sự tu này rất linh hoạt, uyển chuyển chứ không phải tâm cố định, ngồi giữ hơi thở hoài hoặc làm cái gì là làm hoài, mình có quyền linh động, uyển chuyển khi tu nhưng phải nắm được pháp mới linh động được, mình biết những tác ý này làm cho mình sanh khởi ra trí tuệ tương ưng với sự thật, tương với vô thường, tương ưng với khổ, tương ưng với tam tướng, tương ứng với pháp ấn thì phát huy nó lên. Còn ngồi đó rồi nhớ lại lúc trẻ đi chơi vui vẻ, ăn uống này nọ thì đó là dục ái, mình phải từ bỏ cái đó. Vì thế mình phải biết chọn lựa, ác pháp thì từ bỏ, thiện pháp thì phát huy, ví dụ trong ngày mình gặp chuyện buồn rồi đến khi ngồi thiền thì lấy cái đó làm đề mục, quán về sự nguy hiểm và tác hại của sân hận trong cả thời thiền, dùng cái đó làm đề tài để giải quyết triệt để sự sân hận, tức giận, nếu không hết thì ngày mai ngồi thiền lại quán tiếp, thực hành cho đến khi nào hóa giải cảm thọ bực mình, tức giận, khó chịu đó cho hết hoàn toàn.
Đó là sự khéo léo trong tu tập chứ không phải để cơn tức giận qua một bên cho xong, mình tức giận, khó chịu nghĩa là mình đang bệnh mà không chịu trị bệnh mà lo trồng cây, làm cỏ cho nên phải phát hiện ra mình bị bệnh nào nặng rồi dồn lực trị bệnh đó, nếu nặng về dục thì quán tứ đại, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, nặng về sân thì thường xuyên trải tâm từ và quán chiếu sự nguy hiểm, tác hại của sân, nặng về si thì quán chiếu duyên khởi, duyên sanh pháp để phân biệt rành rõ các pháp vận hành như thế nào, nặng về bản ngã thì lạy sám hối, cái nào nổi cộm nhất thì tác ý về cái đó, quán chiếu về nó.
Trước khi nó sanh khởi cần tác ý, trong khi sanh khởi cần tác ý và sau khi nó chấm dứt cũng phải tiếp túc tác ý, đừng vội vui mừng khi thấy nó hết vì có thể nó đang ngủ ngầm, cho đến khi nào ngoại cảnh tác động vào mình mà sân không khởi lên nữa thì lúc đó mới bắt đầu có sự hành tựu, nếu có khởi lên vi tế cũng diệt tận, không suy nghĩ về ác bất thiện pháp, không suy nghĩ về bất cứ đối tượng nào mà chỉ nghĩ về từ tâm. Đó là sự khéo léo trong tu tập của chúng ta.
./.