Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÂM HỌC TỐI THƯỢNG 1

2026-03-03 00:55:35
Kinh Nikāya Giảng Giải

TÂM HỌC TỐI THƯỢNG 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Cả hai” PAGEREF _Toc114230967 \h 1

II.Duyên sanh pháp của “Mắt” PAGEREF _Toc114230968 \h 2

III. Duyên sanh pháp của “Tai” PAGEREF _Toc114230969 \h 6

IV. Duyên sanh phá của “Mũi” PAGEREF _Toc114230970 \h 9

V.Duyên sanh pháp của “Lưỡi” PAGEREF _Toc114230971 \h 11

Bài kinh “Cả hai”

Chúng ta tìm hiểu là bài kinh “Cả Hai” trong Tương Ưng Bộ – tập IV. Bài kinh này cho chúng ta thấy được trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác tuyệt đỉnh của bậc Thiện Thệ, giống như là Thập Bát Hình Đồng Lan Hán Trận. Người nào học giỏi ở Thiếu Lâm Tự muốn xuống núi thì phải trải qua trận tuyến này rồi mới được hạ sơn, nếu đánh không qua trận này thì không xuống núi. Minh Thành mượn hình ảnh này để có hấp dẫn, lôi cuốn, sinh động một chút.

Trong bài kinh “Kinh giới phân biệt”. Đức Thế Tôn phải dùng trí huệ bủa vây hết tất cả những chỗ tiềm ẩn, phục kích, mai phục, hang ổ, căn cứ địa, đồn trú của tất cả dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Đức Phật cùng một lúc đánh hết tất cả các trận tuyến. Khi nghe bài kinh “Cả Hai”, này, bản thân Minh Thành không còn lời nào để diễn tả nổi trí huệ của Ngài, chỉ muốn sụp xuống lạy Đức Phật ngay.

Nếu nghe một cách thông thường, hay nghe cho qua loa thì sẽ không thấy, không biết sự thâm sâu của bài kinh này. Trước nay chúng ta quen cách học phớt phớt, qua loa như: cuộc đời này vô thường, thân già bệnh chết, cuối cùng cũng không còn gì, khi chết nút áo cũng bỏ đi. Nhưng người đời không học Phật Pháp cũng biết được điều đó.

Tiến thêm một cấp độ học Phật Pháp là học theo thói quen tóm gọn, tóm gọn riết rồi nghe một cách sáo rỗng những ngôn từ: sáu căn, sáu trần, sáu thức, vậy là xong. Cuối cùng mình không thấy được thực pháp, không thấy sự thâm sâu của trí huệ cũng như không thấy được phương pháp quán chiếu để phá được tất cả những ngõ ngách, những góc cạnh sâu kín của vô minh, tham ái. Như vậy, Đức Phật muốn nói cho chúng ta điều gì qua bài kinh “Cả Hai” này?

“Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỳ-kheo, đây là cả hai.”

Muốn học kinh cho tới nơi tới chốn thì phải nhận diện, nếu không chỉ học trên ngôn ngữ, lời nói. Cho nên học xong rồi, khi trở ra mình phải nhận diện bài mới học, thực tập bài mới học.

Duyên sanh pháp của “Mắt”

Trong duyên sanh pháp, Đức Phật dạy rất căn bản, tuần tự, rõ ràng:

“Do duyên cả hai, này các Tỳ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỳ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?”

Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức.

Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

Như vậy cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỳ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyện vô thường, thì từ đâu sẽ thành thường còn được?

Sự hội họp, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, của mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc, ba pháp này gọi là nhãn xúc.

Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được?

Do cảm xúc nên có cảm thọ, do cảm xúc nên có tư lường, do cảm xúc cho nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến ngoại, tự tánh đổi khác.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phẩm Channa, bài kinh Cả Hai)

Ở đây là cả một chuỗi, cả một quy trình, Đức Phật như bắn một mũi tên vào một hàng mười người, mà mũi tên này một lượt xuyên qua cả mười người, họ đều ngã xuống chết hết. Đây là cách bắn của Đức Phật, mũi tên Chánh Đẳng Giác là như vậy. Mình sẽ học thật kĩ, thật vững vì đây vừa là pháp học, pháp hành vừa trong công phu của mình, nếu nắm vững cái này để tu tập thì sự thành tựu sẽ ở trong lòng bàn tay, trong tầm tay của mình.

Thứ nhất, phải thấy rằng Mắt là vô thường, cho nên mình thấy quán vô thường trong tạng kinh Nikāya thâm sâu, cùng cực, Khi nhìn hình ảnh người khác bệnh, thấy tội nghiệp người đó quá, ví dụ như chích vắc-xin nhưng chết, mình mới cho đó là vô thường, nhưng không phải. Hãy nhìn con mắt đang trên mặt mình đây, hãy nhìn thấy nó là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Vì con mắt này không tự mà có được. Tại sao vậy? Đức Phật nói nó khởi lên từ một duyên vô thường thì làm sao nó thường được? Sự có mặt, xuất hiện, hiện hữu của nó là từ các pháp vô thường, từ tinh huyết mẹ cha, từ cơm cháo nuôi dưỡng, từ sữa mẹ, từ không khí, từ nước, từ hơi ấm. Đôi mắt này không phải tự nó hiện hữu, mà nó từ những cái duyên vô thường, thì sao nó thành thường còn được? Nhìn vào gương thấy con mắt quán được như vậy đó là con mắt trí huệ mở. Còn nếu không, mình Phi Như Lý Tác Ý là mình mở nhìn gương: “Con mắt của mình hôm nay còn long lanh lắm, mắt của mình hôm nay cũng còn, giống như giọt sương, coi cũng được lắm!” Đó là Phi Như Lý Tác Ý. Như Lý Tác Ý là đưa đến Chánh Tri kiến: khi được nghe người khác nói Chánh Pháp và Như Lý Tác Ý suy xét đúng bản chất của nó, mình nghĩ nó đúng vậy, đó chính là cái nhân đưa đến Chánh Tri Kiến. Mà Chánh Tri Kiến phải được Chánh Tư Duy, Như Lý Tác Ý nuôi dưỡng qua nhiều năm tháng. Tất cả sự quán chiếu đó phải nuôi dưỡng hoài cho đến chỗ nó không còn dao động nữa, lúc đó là vào vòng trí huệ, Nhập Lưu. Chứ không phải tự nhiên mong cầu Phật độ mình được Nhập Lưu.

Đầu tiên, mỗi ngày nhìn con mắt của mình, mỗi khi có cơ hội để nhìn thấy con mắt trong gương hoặc nhìn xuống mặt hồ, hãy nhìn vào tô canh, bát nước, quán chiếu: “Con mắt này là từ cha mẹ sanh, cơm cháo nuôi dưỡng, từ sữa mẹ, từ thức ăn nước uống, từ tứ đại, từ những thứ vô thường, những duyên vô thường. Làm sao nó thường được”. Con mắt này có khi sẽ bị bệnh hoặc bị tai nạn văng ra làm rớt con mắt ra. Hôm trước có một tai nạn giao thông, người này bị cán văng cả tròng mắt ra. Nếu đam mê con mắt, mình cứ việc khoét hai tròng mắt để trên dĩa đặt trước mặt, nhìn xem nó làm gì, đẹp không, có dính máu gì không? Nếu như cho rằng con mắt này không bị tai nạn, nhưng rồi một ngày kia nó cũng mờ, đục, thủy tinh thể, già. Những em bé trẻ nhỏ 7-8-10 tuổi mang mắt kiếng đầy hết. Mắt này khởi lên là từ một duyên vô thường, thì làm sao con mắt này thành thường được. Con mắt này sẽ biến hoại, “biến” là biến đổi, “hoại” là sẽ hư hoại trong sớm chiều. Tùy theo mình xài đồ có kĩ không, mình xài kĩ thì lâu hư, mình bảo vệ thì nó còn ở với mình. Thời gian dài hơn mà mình xài phung phí thì sẽ hư thôi. Vừa nghe tin hôm qua, một thanh niên mới hai mươi mấy tuổi thôi, mà chơi game, chơi suốt hai ngày sáng đêm. Rồi chú bỗng nhiên buồn ngủ mệt quá, mọi người trải chiếu rồi đưa gối cho nằm, chú ngả lưng rồi nằm rồi chết luôn. Do sử dụng quá độ, từ con mắt ảnh hưởng đến thần kinh quá sức, quá mức. Con mắt biến hoại, tự tánh đổi khác chứ không phải con mắt thôi đâu.

Cái Sắc mà con mắt này nhìn thấy, nó cũng khởi lên từ duyên vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác, nó cũng là tứ đại. Có duyên thì còn sống lâu hơn chút giống như cây tùng. Cây tùng gọi là vạn niên tùng là mười ngàn năm, nói cho oai, cho hay vậy nhưng không cây nào sống được mười ngàn năm. Tuy là nó sống lâu đi nữa nhưng rồi cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác huống hồ chi là những hoa hồng, hoa mai, hoa đào sẽ tơi tả sau ba ngày tết. Tất cả các sắc pháp nó khởi lên từ duyên vô thường thì từ đâu mà thường còn được. Tất cả những cái mình thấy nó đẹp, nhưng phải biết cái đẹp này là vô thường, tự tánh đổi khác, biến hoại. Không những thấy cây, cỏ, đèn, mà thấy người, vật, xe cộ, tiền bạc, nhà cửa,… tất cả đều phải dùng cái trí soi rọi ra đó là các sắc.

Kế tiếp, pháp thứ ba là Nhãn Thức, là sự rõ biết. Do có con mắt, có các sắc rồi hiện hữu, sanh khởi ra nhãn thức, sự rõ biết về các sắc này. Nhãn thức là vô thường, rõ biết con mắt này là vô thường cho nên lúc mình nằm ngủ thì mình không có nhìn thấy những hình ảnh, sự vật xung qunh. Lúc mình hôn trầm, lờ mờ, không thấy người vác thiền bảng to tướng đứng ngoài sau lưng, nếu thấy thì mình đâu có ngủ. Hoặc mình đang nằm đó lờ đờ, có một con rắn hổ mang bò tới, giật mình nên mới hoảng sợ, nếu không thấy thì con rắn nằm kế bên cũng không sợ. Cho nên nhãn thức là vô thường, sự rõ biết của con mắt là vô thường. Cũng như giờ mình đang đi trên đường, ngay trên góc đường, một chiếc nhẫn hột xoàn người ta làm rơi, trị giá nhiều tiền, nhưng mình không tham vì mình không thấy. Hoặc vừa rồi những đứa trẻ vùng cao, vùng sâu, năm sáu chục đứa lớp 5, nhìn thấy một gói bột. Chúng mở ra, chia nhau ăn, cuối cùng bị nhập viện hết vì đó là bột thông cầu, bột dùng để thông nhà vệ sinh mà chúng tưởng là bánh, là thức ăn. Cho nên sự rõ biết các sắc của nhãn thức là vô thường, biết không đúng, tưởng ra. Hoặc do nhìn thấy chuyện gì đó mới giận, nếu không thấy thì sao giận? Thấy mới buồn, không thấy thì sao buồn? Ví dụ, vợ hiện tại của mình ở đây, nhưng mình không biết có vợ đời trước chết không siêu thoát được cũng đang ở đây, hay phi nhân cô hồn đang ở ngoài sau lưng mình, đi theo mà mình không biết nên không buồn, không tội nghiệp, vì không thấy. Cho nên, vì không thấy nên không các pháp khác không tiếp xúc mà sanh ra thọ, vì vậy Nhãn Xúc cũng vô thường.

Con mắt, các sắc và sự rõ biết hội tụ lại sanh ra nhãn xúc – sự tiếp xúc của con mắt. Đương nhiên nhãn xúc là từ các pháp vô thường, nên nó không thường hằng được. Cứ tưởng mình lo lắng được nhiều nhưng thật sự lo lắng không đến đâu hết. Nếu không may, bây giờ mình ngồi đây mà bức tường sập xuống thì tất cả bể đầu, chảy máu, nhập viện hết. Hay động đất ngay tại chỗ ngồi, đất sụp xuống thì chết hết cả đám, chôn tại chỗ này. Vừa ngồi ở đây ăn, nói, cười nhưng cũng sẽ bị chôn tại chỗ đây luôn. Quán chiếu như vậy mới ly tham.

Chúng ta đừng tin vào sự tiếp xúc của con mắt. Ví dụ hôm qua có một người xách một bịch đồ, họ đi ngang gốc măng, mình tưởng họ lấy măng non nhưng cuối cùng nhìn lại thì đó lại là bánh mì. Cho nên dầu cho thấy bằng con mắt cũng chưa chắc gì tin, phải kiểm tra bằng trí huệ, kiểm tra bằng thực pháp để thấy được nhãn xúc, thọ, tư lường (hành), rõ biết (thức). Như vậy do xúc nên mới có thọ, tưởng, hành, thức. Chữ thức ở đây là nói gọn, vì thức nằm trong phần duyên sanh pháp của ý xúc. Do có xúc mới có cảm thọ, tức là mắt rõ biết rồi bắt đầu sanh ra cảm giác. Trong khi con mắt vô thường, sắc vô thường, nhãn thức, nhãn xúc vô thường thì cảm giác gọi là thọ do nhãn xúc sanh cũng vô thường. Tất cả những cái vô thường làm thành thì làm sao nó thường được, tất cả cả món làm thành đều là đồ giả thì làm sao cảm giác đó là đồ thật được? Vậy là mình chết, chết dài dài, liên miên, liên tục, một ngày không biết bao nhiêu lần sống chết với cảm giác đó.

Pháp này không nói chung chung mà phanh phui, giải phẫu từng món cho chúng ta thấy. Giống như đồng hồ mở ra từng con ốc, từng bộ phận, từng bánh xe… mở từng món để cho mình thấy. Chỉ có trí tuệ của nhà khoa học tâm linh vĩ đại mới chỉ cho chúng ta thấy được từng ngóc ngách về thân tâm này, ngoài ra không có một người nào có thể so sánh nổi.

Đức Phật dạy, thọ do nhãn xúc sanh, cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra. Ví dụ như nhìn thấy người đẹp đi ngang thì cảm giác khác, nhìn thấy người nghèo khổ xấu xí thì thọ, tưởng, hành, những cảm giác, suy nghĩ bên trong cũng khác. Chẳng hạn, ăn cơm nhiều món quá thì thọ khác, cảm giác khác, tưởng khác, suy nghĩ khác, thức khác; mà không có gì ăn thì thọ, tưởng, hành, thức lại khác nữa. Thường xuyên xem ngũ uẩn của mình vận hạnh như thế nào. Lâu lâu tự cho một bài tập thử để thực tập, đó là thực pháp. Nhìn vào năm uẩn của mình, xem dục, tham, ái, tưởng, hành, suy nghĩ, hoạt động như thế nào? Và rõ biết tất cả chỉ là ảo thôi.

Duyên sanh pháp của “Tai”

“Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...

Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...

Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phẩm Channa, bài kinh Cả Hai)

Quá là cung kính, thương quý Đức Phật, không tài nào diễn tả nổi. Cứ nghe “Này các Tỳ-kheo, này các Tỳ-kheo” nước mắt muốn tràn ra. Bài kinh nào Đức Phật cũng kêu “Này các Tỳ-kheo” không biết bao nhiêu lần, nếu đếm hết 5 bộ kinh Nikāya không đếm hết được số, còn hơn cha dạy con, mẹ dạy con. Vậy mà bây giờ nghe pháp nhưng cứ trơ trơ, có khi làm biếng nghe. Hồi đó chính bản thân Minh Thành phải sám hối, vì thấy kinh sao cứ lặp tới lăp lui hoài. Còn bây giờ nghe cái lặp đó cảm thấy tuyệt vời, mặc dù đã có lặp như vậy mà giờ không ai thèm đọc. Nếu không lặp thì giờ loạn pháp hết, mạc pháp hết, lặp vậy đó mà Chánh Pháp chỉ có năm trăm năm, không lặp chừng có một trăm năm. Nên càng nghe càng trân quý, cung kính, biết ơn Đức Phật. Có một nhà triết gia nói rằng: “Con càng tin Ngài thì con càng hiểu Ngài. Con càng hiểu Ngài thì con càng tin Ngài”. Thật tuyệt vời!

Thứ hai là Tai, Tiếng, Nhĩ Thức. Ta có lỗ tai để nghe âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh. Nếu lỗ tai lúc đó dầu cho bình thường mà không chú ý, hoặc có người đó nói xấu mình, lúc đó mình không nghe rõ thì mình sẽ không giận. Vậy thì lúc họ nói xấu mình, cứ nghe nhưng hãy giống như không nghe được, nghe như không nghe vậy. Tai là vô thường, tiếng là vô thường, nhĩ xúc là tiếp xúc của tai và âm thanh – ba pháp hội tụ, sanh khởi một cảm giác. Cảm giác đó gọi là thọ do nhĩ xúc sanh. Một cảm giác từ lỗ tai tiếp xúc đến âm thanh nó sanh ra, thì cảm giác đó làm sao thường được, làm sao thật được, mà tại sao mình lại tin vào cảm giác này quá vậy? Tại sao mình không bình tĩnh, chánh niệm được trước những âm thanh? Tại sao mình không an tịnh được trước tất cả các thinh trận? Bởi vì hàng ngày mình không quán, mình thấy nó là thật, là thật pháp, là ngã. Mình thấy tai là tai, còn tiếng là tiếng, rõ biết âm thanh là rõ biết âm thanh, cái nào ra cái ấy, nó đều là thật. Cho nên mình chết liền với cái thọ này, cảm giác đó biến thành vực thẳm. “Này các Tỳ-kheo, người phàm phu cho rằng ở giữa biển cả có vực thẳm”. Như không đúng, họ không biết, không có mà họ nói là có. Ngay cảm giác khổ thọ này là vực thẳm, ngay cảm giác đó là vực thẳm, ngay lúc tay tiếp xúc sanh ra cảm giác là vực thẳm. Nếu mình không có đứng vững, không trú vững, không chân đứng trong pháp và luật này thì mình sẽ sa xuống hố sâu, vực sâu.

Mới ngày hôm qua, trên đường từ Bảo Lộc về đây, trên đèo ngay những chặn chắn trên bờ thành bằng sắt, rất lớn vậy mà xe ủi vào quẹo cong hết, ngã xuống hết. Chắc bằng sát lớn như vậy, chắc như vậy, to như vậy mà cũng vượt qua, rồi lao xuống vực thẳm, vì không cẩn thận, mà vội vàng, hấp tấp. Cảm giác khi mình nghe âm thanh cũng giống vậy. Nếu không cẩn thận, chánh niệm, an tịnh trong khi nghe thì cái nghe đó đưa mình xuống vực sâu. Chỉ cần cô vợ điện thoại vào khóc: “Chắc em không sống nổi, em sẽ chết. Không có anh sao em sống nổi, con ai nuôi.” Rồi nước mắt tràn trề rồi kể ra những lời ngọt ngào ân ái, thấm thía vào tim, lúc nó thành trì không vững thì mình sẽ rơi xuống vực. Bạn gái trước khi mình đi phát tâm xuất gia chạy lên đây thăm, nói: “Sư huynh ơi, sư huynh nỡ lòng nào bỏ em.”, nghe là chết ngay. Cho nên phải chặn đứng được cái xúc, không cho vợ lên thăm, khi nào xuất gia, khi nào có thành tựu lúc đó thăm có lợi ích, thì mới cho thăm

Xem phim Hư Vân Hòa Thượng, đoạn thầy xúc động nhất là người cha từ quan, chuẩn bị về quê dưỡng già. Ông ấy đi rồi té xuống, ngẩng đầu lên và nói: “Con ơi, con ơi, lần này có thể là lần cuối cùng cha con mình không bao giờ gặp nhau nữa, con ra đây một lần thôi, con đừng trốn, cha biết là con ở trong núi này, cha không bắt con về nhà nữa đâu, vì con muốn tu.” Câu nói đó nghe không cầm được nước mắt được. Nhưng mà nhất định, quyết định con bất hiếu, vì không biết rằng ra gặp cha rồi thì còn đủ sức mạnh để trở về chùa không. Cắt từ cái xúc, điều này rất là quan trọng. Tuyệt đối đừng để xúc, xúc sẽ sanh thọ, sanh tưởng, sanh hành rồi suy nghĩ, sanh ra cảm giác, nghĩ tưởng. Tiếp theo là bao nhiêu những cái sắc quá khứ, cảm giác, những hình bóng, những sinh hoạt ngày xưa, những lời nói, hình ảnh đó sống lại, đó là ngũ uẩn. Những thứ đó hoạt động, hoành hành lên, lúc đó thật khủng khiếp, không xem thường được.

“Tỳ-kheo chớ tự tính khi lậu hoặc chưa diệt”. Cho nên, dùng Như Lý Tác Ý , dùng Tuệ Lực: “Em hãy yên tâm chờ anh, khi anh thành tựu Thánh quả, anh sẽ trở về. Trở về trong vinh quang, trong ánh sáng, trong đại từ, đại bi tâm.” Đó là hình ảnh trong bộ phim nói về Đức Thế Tôn. Ngài trở về giúp Da-du-đà-la thông suốt. Da-du-đà-la khóc ở trong phòng quằn quại. Tới lúc Chánh Đẳng Chánh Giác rồi muốn khóc thì cứ khóc, khi đã bất động tâm giải thoát rồi thì về. Từ Nhị quả trở lên mới nên về. Sơ quả là phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Nhị quả làm cho muội lượt tham sân, nó sẽ còn rất yếu, mỏng manh. Tham sân không đủ sức, giống như thoi thóp gần chết. Dứt luôn tham sân thì đạt Bất Lai quả – quả thứ ba. Vì không còn tham dục với thế giới này nữa nên không trở về Dục giới. Cho nên Nhị quả rồi về, Nhị quả rồi cho thăm.

Minh Thành đọc hết những câu chuyện về các vị cao Tăng. Có chuyện về Ngọc Lâm Quốc Sư không tiếp xúc với gia chúng, dầu cho đã cho làm lễ xuất gia rồi vẫn viết thư gửi về, không tiếp xúc cho đến ngày chết, nên được tôn là quốc sư. Nhưng thật ra những vị này không đi con đường này, rất tiếc, phải đi con đường này mới thật sự đạt được Thánh quả của Đức Phật. Cho nên nhìn thấy cao Tăng này nọ, danh tiếng lẫy lừng, nhưng thật sự khi xét sâu sắc trên con đường Nikāya thì khác. Điều này rất quan trọng, phải nắm thật vững.

Có thể người đời tôn các Ngài làm Thánh nhân, đó là chuyện của người đời, nhưng Thánh nhân thật sự của Đức Phật được xác định là khác. Phải thật sự thấy được năm uẩn, từ đó nhàm chán, từ bỏ, đoạn tận nó thì đó mới là bậc Thánh nhân của Đức Phật. Còn bất cứ một điều gì ở trong thọ, tưởng, hành thức là khác. Nhận thức đó gì đó là chân tâm là không đúng, như vậy chỉ là phàm phu thiên, không phải Chánh Tri Kiến của Bát Chánh Đạo, chưa thành tựu Dự Lưu. Vì vậy pháp này cực kì thâm sâu, cho nên mình phải học kĩ bài hôm nay. Nếu như mình nhận thức một điều gì là chân tâm thì đó là nhận ngũ uẩn là mình, như vậy không bao giờ đi ra khỏi năm uẩn, vẫn ở trong luân hồi, dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Nên điều này hết sức vi tế thâm sâu, nếu không sát sao từng câu, từng chữ trong tạng kinh là lệch hết, không đúng con đường Đức Phật đi.

Duyên sanh phá của “Mũi”

Do có Mũi, có Mùi Hương, khởi lên sự rõ biết mùi hương – Tỷ Thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi – Tỷ Xúc, sự tiếp xúc của mũi sanh ra cảm giác. Cảm giác từ sự tiếp xúc của mũi sanh ra cũng là vô thường. Bởi vì mũi vô thường, chỉ bị nghẹt chút thôi thì mùi không nghe được hoặc nghe không rõ. Mùi bên ngoài cũng là vô thường, khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi đang thơm tự nhiên sanh ra mùi khó chịu trên xe. Đó là hậu quả của những bữa ăn thật nhiều món ngon. Hãy nhìn thấy được, hãy luôn luôn quán chiếu như vậy. Mình đã quán chiếu được các pháp: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư – sáu hành,... Có mấy chục pháp như vậy mà mình không thấy, không biết gì hết cho nên là sống trong vô minh. Mũi là pháp vô thường, tứ đại; mùi kia cũng là tứ đại, vô thường; sự rõ biết được mùi này cũng là pháp duyên sanh. Ba cái này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc. Sự tiếp xúc của mũi sinh ra cảm giác thì cảm giác đó làm sao thường được, cảm giác này chút xíu là hết. Cảm giác từ sự tiếp xúc của mũi này không có gì hết, nếu hơi hôi thì một chút cũng hết chứ có gì, không cần phải la lối lên. Ví dụ ngửi thấy một mùi khó chịu trên xe rồi mình la lên, hỏi ai, vậy để làm chi? Lúc đó là để xem tâm của mình diễn biến như thế nào, đó là bậc trí huệ. Còn mình điều tra được người nào đi nữa thì đúng sai hay dở cũng có lợi gì đâu, không có gì hết, chỉ là vô nghĩa, cái đó đã diễn ra rồi.

Ví dụ khi đi vào một toilet, thấy một “hậu quả” còn tàn dư, rồi muốn điều tra đó là của ai, nam nữ, già trẻ, mập ốm đen trắng, giàu nghèo để chi cho khổ vậy? Trong khi chỉ cần lấy miếng nước hay lấy tay gạt công tắc xuống là xong. Cái nào khỏe hơn? Tu và không biết tu cũng giống vậy đó! Chỉ cần một cái gạt xuống thôi là mọi việc xong, đó là cách giải quyết của người thông minh.

Hãy lấy đó làm ví dụ cho sự tu tập của mình. Có chuyện gì xảy ra mình phải làm cho nó nhẹ, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Nhiều khi thầy không hài lòng, có những chuyện nhỏ xíu, không có gì quan trọng hết mà rối rắm, loạn xa, lộn xộn, dao động hết. Đó là dở, không có sức tu. Phải tập an tịnh, dầu cho có chuyện gì cũng bình tĩnh, an tịnh, tìm cách giả quyết tốt nhất. Ví dụ chuyện nhỏ như chuẩn bị pháp tòa để giảng thôi mà rần rần, giống như đại sự, cháy nhà, ầm ầm, la lối. Hãy an tịnh, hiền tịnh, tịch tịnh. Tu pháp này sướng lắm! Sáu căn của mình an nhiên, đến đi vắng lặng, tịch tịnh. Hai chữ “tịch tịnh” hay lắm, bậc A-la-hán đạt đến tịch tịnh rốt ráo. Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, Ngài nói pháp để mọi người đạt đến chỗ an tịnh, tại sao mình không thực tập như vậy. Hai chữ đó là đề mục đó, chứ đâu chỉ có bộ xương mới là đề mục. Tịch tịnh và An tịnh cũng là đề mục.

Cho nên tất cả các mùi khi lỗ mùi mình tiếp xúc phải khéo quán chiếu, khéo chánh niệm. Khi một bóng hồng đi phớt ngang qua và bay một mùi thơm, mình không nhìn thấy tâm mình, không thấy thọ, tưởng, hành, thức vận hành như thế nào, mình cho nó qua. Khi ngồi thiền nó sẽ hoạt động. Không được cho đứa nào qua mặt hết, kiểm soát nó, làm chủ tâm đó. Bước lên Quán Chiếu Đường, những tiếng nói chuyện của nam nữ ngọt ngào lọt vào tai, nếu mình thọ nhận thì không khéo tối ngồi thiền, thanh tưởng sẽ xuất hiện. Hình bóng của âm thanh đó hiện lên các thanh tưởng, sắc tưởng. Phải dùng công lực Thập Bát Hình Đồng La Hán Trận đánh đuổi nó. Đánh sáu căn, sáu trần, sáu thức, đánh cho tan tác không còn mảnh giáp. Đương nhiên là lúc đầu thua nhưng từ từ được ngang ngửa nhưng cứ việc đánh, cuối cùng phải toàn thắng. Không sợ! Mới bắt đầu đánh đã nghĩ đánh không nổi thì còn gì nữa, mới ra trận đã suy nghĩ thua thì làm sao đánh. Nên hùng lực, dũng lực là quan trọng nhất, hào hùng, chánh trí. Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ – từ Năm Căn biến thành Năm Lực. Tin mình mạnh lên, làm cho nó lớn mạnh lên. Tấn của mình cũng vậy, mạnh lên hoài, phát triển hoài lên. Niệm của mình = không an phận được với những điều nhỏ hẹp được, hãy biến Niệm Căn trở thành Niệm Lực. Định của mình cũng vậy, không hài lòng với một chút xíu yên tịnh, phải biến Định Căn thành Định Lực. Tuệ của mình cũng phải làm cho nó mạnh mẽ, rực sáng, chói sáng, tỏa sáng huệ lực. Tuệ Căn biến thành Tuệ Lực, giống như con cọp còn mọc ra thêm hai cánh nữa, dưới đất hay trên trời đều xơi hết, mổ hết, không cho đứa nào sống sót hết. Chúa tể sơn lâm mọc thêm cánh, phải làm cho tuệ lực của mình mạnh mẽ như vậy. Hãy vận dụng Năm Căn, Năm Lực.

Duyên sanh pháp của “Lưỡi”

Do duyên có Lưỡi và các Vị sanh ra Thiệt Thức – sự rõ biết các vị. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành Thiệt Xúc – tức là sự tiếp xúc của lưỡi. Từ sự tiếp xúc của lưỡi này sinh ra cảm giác, cảm giác này làm mình dễ chết lắm. Chánh niệm tỉnh giác đối với tất cả các vị khi để vào lưỡi, đối với các cảm giác khi tiếp xúc với lưỡi sinh ra. Cho nên Duyên Sanh Pháp đều phải học thuộc lòng hết. Nó đang vận hành trong vô minh, trong ái, trong dục, trong tham. Cứ thế mà đưa lên uống “ực”, nó thúc giục. Cái ái khoái khoái nên “ực” nữa, lúc nãy chưa kịp xuống, “ực” tiếp cho nên sặc. Dù kĩ vẫn bị, nhiều lúc kĩ lắm nhưng vẫn bị sặc, chứ đừng nói không kĩ. Không kĩ thì như “ăn cá mắc xương”. Như những người ngoài đời ăn mặn, khi nuốt trúng phải xương có khi phải cấp cứu thậm chí có khi chết.

Cho nên trong bất cứ trường hợp nào cái chết cũng có thể diễn ra, chết nhiều lắm. Không chỉ bên ngoài ăn mặn và trong chùa cũng có trường hợp như vậy. Lúc đó, các thầy đang dự lễ Trai Tăng, các Hòa thượng đang ngồi đông lắm. Một vị cầm khánh, đánh cái “boong” là kết thúc, trong khi bên trong có một vị Hòa thượng đang ăn một cái bánh ít nên liền nuốt vô. Bánh ít thì khó nuốt, nó dính, làm cho nuốt vô cũng không được mà nhả ra cũng không xong, nhưng đã lỡ ăn rồi, khi đánh chuông lại giật mình nên nuốt luôn. Mọi người phải bê xuống để giúp đỡ, tưởng như đã xảy ra chuyện. Cho nên mình phải nhìn, đây cũng là chánh niệm, cũng là đề mục để thiền quán. Mình phải nhìn trên dưới xem người ta ăn xong chưa, chứ chỉ biết mình rồi, chẳng để ý nhìn ai hết là không được. Thậm chí có những lúc đông người lắm, vì có những pháp hội có cả trăm, mấy trăm người nên phải có tầm nhìn bao quát. Mình thấy có những người ăn rồi, nhưng cũng có người chưa rồi, thậm chí có người già, trúng những ngày ăn những món ăn khó nuốt như bánh ít, bánh tét thì rất nguy hiểm.

Cho nên chỗ nào cũng có ẩn tàng những hiểm nguy, những tai họa, những sanh tử, sống chết. Phải luôn luôn quán chiếu về cái chết, niệm tử mọi nơi, như vậy mới thẩm thấu sâu sắc được.

./.