Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikaya - BIẾT ƠN VÀ NHỚ ƠN 3

2026-03-03 00:55:35
BIẾT ƠN VÀ NHỚ ƠN 3

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Địa vị của bậc chân nhân PAGEREF _Toc162705897 \h 1

1.Tu tập tâm nhớ ơn và biết ơn PAGEREF _Toc162705898 \h 1

2.Quán chiếu, nhiếp phục và xuất ly PAGEREF _Toc162705899 \h 6

II.Sự vi diệu của cảm thọ ngọt ngào PAGEREF _Toc162705900 \h 11

Địa vị của bậc chân nhân

Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật nói đến địa vị của chân nhân là người luôn sống biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn. Một số Phật tử chia sẻ rằng: “Thưa thầy, con rất khó nói được lời cảm ơn với cha mẹ?”. Vậy chúng ta hãy suy tư, khi có một người lạ tìm giúp mình đôi dép, mình trượt chân té có người lạ vô tình đỡ mình dậy, bất cứ một người xa lạ nào có hành động giúp đỡ mình trong lúc cần thiết, chúng ta đều vội vàng cúi đầu cảm ơn đến hai ba lần. Thế nhưng trong cuộc đời này, những gì cha mẹ đã làm, đã giúp đỡ, đã hi sinh cho chúng ta là không thể đếm kể, tại sao chúng ta lại khó nói lời cảm ơn.

- Này các Tỷ-kheo, bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào, thì đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người:

1. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ.
2. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con.
3. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công.
4. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu.
5. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất.
6. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa.
7. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên.
8. Đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn.

(Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Người Chân Nhân 2)

Tu tập tâm nhớ ơn và biết ơn

Bậc chân nhân ở đây là con người thật sự là người, là người có tu tập, sống biết ơn, biết nghĩa, sống chân thành chân chánh, biết thực hành theo lời Phật dạy. Chữ chân nhân trong kinh Nikāya có nghĩa rất sâu rộng, ở đây chúng ta chỉ nói giới hạn trong phạm trù này. Bậc chân nhân mang ý nghĩa rộng lớn hơn là bậc thành tựu các chánh đạo, chánh quả. Nhưng căn bản là Đức Phật nói đến người luôn sống trong cảm thọ, tâm thức của thế giới nhớ ơn và biết ơn đối với người có ơn.

Tại sao chúng ta khó nói lời cảm ơn đối với cha mẹ, anh em, vợ chồng, huynh đệ, thầy tổ, con cái…mà đối với người dưng, người lạ, người mới gặp mình lại dễ dàng nói lời cảm ơn. Chúng ta thường buông lung, phóng dật để cho nghiệp đổ ra, bày ra đối với những người thân thiết sống chung trong một gia đình, còn đối với người xa lạ lại hết sức cẩn trọng, phòng hộ, giữ kẽ vì chúng ta thường thích thể hiện với vẻ bề ngoài, bên ngoài phủ đầy những đồ trang sức, tô điểm giả dối, chỉ những người thân, gần gũi sống chung lâu ngày là biết rỏ bộ mặt thật, bản chất thật không thể che dấu. Sự buông lung, phóng dật đã phô bày thói quen, tập khí, nghiệp lực đối với cha mẹ, anh em, chồng con trong gia đình và chính cái tôi, cái bản ngã cao ngạo làm mình khó nói lời cảm ơn và xin lỗi.

Trong tinh thần của người học Phật, người luôn luôn nhớ ơn và biết ơn, thì phải thực tập sống trong cảm thọ nhớ ơn và biết ơn, chưa nói đến việc đền ơn. Tại sao chúng ta lại dễ nói lời bất kính, bất hiếu đối với cha mẹ, dù cha mẹ đã làm rất nhiều điều tốt đẹp cho chúng ta nhưng chỉ cần một lời nói hay hành động không vừa lòng thích ý, thì lập tức sinh khởi cảm thọ bực bội khó chịu, rồi gây ra hành động bất kính. Trong cảm thọ bất mãn, bực bội đó chúng ta bị vây hãm, dính mắc vào lời nói, hành động ngay thời điểm đó.

Từ trước cho đến nay chúng ta không biết tu tập cảm thọ nhớ ơn và biết ơn, nên không thấy được cả một chuỗi dài ân đức sinh thành giáo dưỡng. Trạng thái tâm hoàn toàn trống rỗng cho nên tâm dễ bị dính mắc trói buộc vào lời nói, hành động từ bên ngoài, dễ dàng sinh khởi cảm thọ, hành động bất thiện và hoàn toàn bị cảm thọ, hành động bất thiện xâm chiếm và áp đảo. Nếu thường xuyên nhớ nghĩ và nuôi dưỡng cảm xúc, cảm thọ thiện lành về ân đức nghĩa tình mà cha mẹ, chồng con, họ hàng quyến thuộc đã làm thì dù có bị một chút sự xúc phạm, bất mãn không hài lòng, cũng không đủ sức làm tâm bị ảnh hưởng, bị dao động, một chút đó không thể xâm chiếm hay áp đảo, làm ngã đỗ tâm biết ơn và nhớ ơn sâu dày. Vì vậy tu học tâm biết ơn và nhớ ơn là điều cần phải lưu ý, rất sâu sắc.

Bất cứ khi nào còn được thấy cha mẹ, còn nhận được sự quan tâm chăm sóc yêu thương trong từng bữa ăn, giấc ngủ, từng lời động viên nhắc nhở hỏi thăm thì lập tức phải an trú vào trong tâm biết ơn, nhớ ơn. Nhớ đến sự cực khổ, vất vả khó nhọc, biết bao nhiêu là ân đức nghĩa tình của cha mẹ, ông bà, chồng con. Khi chúng ta bước ra thế giới bên ngoài, dù có bị cả thế giới chống đối, lừa gạt, chèn ép, lợi dụng, mưu hại thì ở phía sau luôn có cha mẹ, chồng con, thầy tổ lúc nào cũng mở rộng vòng tay ôm ấp và xoa dịu nỗi đau trong thân tâm chúng ta. Cho nên chúng ta phải luôn luôn tác ý, rất là cần thiết để làm sinh khởi các thiện pháp, Đức Phật nói: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sinh khởi”, nếu chúng ta không đặt tâm đúng hướng trong sự tác động tâm ý thì thiện pháp sẽ không sinh khởi trong tâm, pháp không có trong tâm thì sẽ không có sự tồn tại, không có sự tăng trưởng phát triển lớn mạnh, thì làm sao có được đầy ắp trong tâm là một cảm thọ nhớ ơn, biết ơn, đền ơn, báo ơn.

Bậc chân nhân, người thực sự là người thì bậc này từng chút, từng chút đối với người có ơn thì khắc ghi, tô đậm, tưởng niệm, quán niệm, nhớ niệm, suy niệm và chánh niệm trong những gì mình được thọ ơn, càng ngày lòng biết ơn nhớ ơn được tưới tẩm, vun vén, nuôi lớn, tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh thành căn cứ địa, thành cổ xe, thành quách trong tâm, cho nên dù có bị la mắng, quở trách một hai ba câu nói, một vài hành động không hài lòng vẫn tràn ngập trong lòng sự thương yêu, kính trọng vì bên trong chất chứa đầy ắp những cảm thọ, suy nghĩ, ân đức, dưỡng dục sinh thành vô lượng vô biên vô tận, thì một lời nói, một hành động không thể làm sinh khởi được cảm thọ bực tức, sân hận để trở thành một người con bất hiếu, ngỗ nghịch.

Đối với phật tử tại gia còn đang sống chung với chồng với vợ, phải luôn luôn nhớ nghĩ và tác ý, một món quà đơn sơ nhận được từ chồng hay vợ là cả tấm chân tình, chứa đựng những giọt mồ hôi, nước mắt, sự để tâm vun vén yêu thương, chiều chuộng, chồng và vợ là người đồng hành cùng nhau đi qua những tháng năm gian khó, cùng nhau đi đến bất cứ đâu nơi đâu, không nề hà bất cứ việc, cùng nhau cố gắng xây dựng giữ gìn sự ấm êm hạnh phúc của một gia đình. Mỗi sự quan tâm dù nhỏ nhặt chúng ta phải biết để tâm, để ý tác ý thì trong tâm sẽ có nhiều cảm xúc, cảm thọ và cảm giác biết ơn, nhớ ơn. Những người sống được như vậy thì ít có sự phản trắc, phản phúc hay phản bội, đó là tâm hiền thiện của bậc chân nhân.

Đức Phật dạy bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào thì sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho gia đình đó, cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công, cho gia đình thân hữu, cho các hương linh đã mất, cho đến cửu huyền thất tổ đã quá vãng người chân nhân vẫn có thể đem lại lợi ích, hạnh phúc an lạc cho họ. Trong mùa vu lan báo hiếu rằm tháng bảy, việc bố thí, từ thiện, cúng dường, phóng sinh, cúng trai tăng, cúng phật, in ấn kinh sách, tạo tượng, xây chùa, dựng tháp, đúc chuông, bao nhiêu là việc phước thiện có thể làm được để hồi hướng cho hương linh cửu huyền thất tổ đã quá vàng. Tâm biết ơn, nhớ ơn là tâm không quên người thân trong gia đình đã qua đời mà cố gắng tu tập, làm phước để những hương linh vẫn hưởng được hạnh phúc an lạc.

Mang đến hạnh phúc an lạc cho vua chúa, cho chư thiên, rộng lớn hơn là cho những người chưa được siêu thoát ở xung quanh vùng đất đó, họ cũng được hạnh phúc, lợi ích, an lạc, ngay cả chư thiên là những vị đang có phước báu rất lớn cũng hưởng được lợi ích và an lạc từ các bậc chân nhân. Mỗi buổi sáng đọc tụng pháp bảo chúng ta đang đem lại rất nhiều sự lợi ích và an lạc cho chư vị chư thiên ở vùng đất xung quanh nơi chúng ta ở. Những hương linh đã khuất từ trong loài ngạ quỷ, cô hồn, cho đến sơn thần, địa thần, thủy thần, phong thần, thọ thần, hư không thần rất nhiều chư vị vô hình mà chúng ta không thấy cũng được an lạc và lợi ích, chớ nghĩ rằng chúng ta tụng kinh chỉ để cho chúng ta nghe, thậm chí có những hương linh là người thân trong gia đình không được siêu thoát, luôn ở gần bên mình để được nghe lời kinh, lời chánh pháp sẽ được lợi ích, hạnh phúc, an lạc.

Khi chúng ta trãi vô lượng tâm từ rộng lớn vô lượng vô biên sẽ có lợi ích cho vô lượng vô biên vô số chúng sinh mà trước hết là đem lại lợi ích và an lạc cho chính mình, cho những người đang tu tập. Người có tâm biết ơn nhớ ơn là người châm dầu vào ngọn đèn chánh pháp, là người cúng dường một viên gạch để cùng xây lên một ngôi chùa, là người cúng dường một chiếc y để chư tăng chư ni được khoác lên mình, để được tăng thượng trong giới đức thiền định và trí tuệ vậy là đem lại lợi ích, hạnh phúc an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn là như vậy, Đức Phật ví dụ:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một cơn mưa lớn làm cho các loại mùa màng thành tựu đầy đủ, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa môn, Bà-la-môn.

Cho nên chúng ta sống phải biết ơn và nhớ ơn, tập nhìn tất cả mọi người đều là ân nhân của mình, không kể là ông bà, cha mẹ, anh chị em, bà con thân quyến cùng huyết thống, những người đồng sự, đồng đạo, đồng tu cùng mình, ngay cả những người xa lạ, thậm chí những người làm cho mình khổ, nếu nhìn sâu vào nhân quả, nghiệp báo mình cũng phải biết ơn họ. Chúng ta đã được học trong Trưởng lão tăng kệ, Trưởng lão ni kệ, có những Tỳ-kheo ni thời Đức Phật bị nghiệp lực đưa đẩy phải chịu nhiều khổ đau, từ khổ sinh ra tín, sinh ra niềm tin, muốn tìm phương pháp thoát khổ, sau khi tìm kiếm, gặp được Chánh pháp các Ngài nỗ lực tu hành và giải thoát mọi khổ đau, thành tựu Thánh quả, Thánh trí, cho nên những đau khổ đó cũng đáng để mang ơn hay có những người bị phản bội, chịu sự tráo trở, phản trắc họ mất hết niềm tin, họ đi tìm một lối sống chân thật, chân chánh, một lối sống cao thượng, họ nhận thấy bản chất cuộc đời chỉ là sự giả dối, xảo trá, mưu mô xảo quyệt, phản trắc, phản phúc, phản bội lắm kế mưu. Sau khi đi vào trong đạo vị này tìm thấy được Thánh đạo, Chánh đạo, chân đạo, chân pháp, chánh trí, chánh giải thoát.

Quán chiếu, nhiếp phục và xuất ly

Ví như khi bị chửi mắng, nếu không có sự tu tập chúng ta sẽ rất là tiêu cực dễ dàng bốc hỏa, sân hận, bực bội, còn nếu đã là một người tu, đã có sự nhận diện ngũ uẩn, có sự quán chiếu cảm thọ, thì lập tức quay nhìn lại bên trong và nhiếp phục cảm thọ và suy tư rằng chủ nợ đã tới thì phải lo trả nợ, trước sau gì cũng phải trả, trả sớm hết nợ sớm, trả muộn lãi suất còn chất chồng lên thêm theo thời gian nên lo mà trả sớm và không lẽ nợ cũ chưa trả xong lại còn muốn vay thêm nợ mới thì khổ chồng thêm khổ, nợ chồng thêm nợ. Tu tập là một mặt nhiếp phục cảm thọ, một mặt quán chiếu nghiệp quả, một mặt thực tập sự kham nhẫn, một mặt thì rải tâm từ, có rất nhiều pháp, nhiều sự công phu, nhiều phương diện để hành trì. Thế gian thật là nhàm chán, thật là mệt mỏi, thế gian nhiều sự hơn thua, sân hận, tâm ta muốn thoát ly, viễn ly, giải thoát để không bị những cảm thọ hơn thua, đố kỵ, ganh tỵ thiêu đốt. Đó là năm phương diện, chúng ta cần phải quán chiếu để thoát ra khỏi sự sân hận, bức xúc, khó chịu, đồng thời giúp chúng ta tu tập được trong năm trí tuệ, năm phương diện, năm lĩnh vực. Nếu không gặp chướng ngại thì cũng khó có cơ hội để tu tập, quán chiếu được nhiều pháp cùng một lúc như vậy, khó thành tựu được sự kham nhẫn, nhẫn lực, từ nhẫn, không nhìn thấy được sâu sắc về nghiệp quả, không có sự nhàm chán ly tham, tâm không có sự khao khát viễn ly, xuất ly, xả ly, đoạn ly, thoát ly. Cảm ơn những nghịch cảnh giúp chúng ta thấy được sự thật và tâm ta mong muốn tu nhanh tu lẹ để thoát ra, thoát ra khỏi sự nguy hại, đắm chìm trong vị ngọt của cuộc đời, nếu không mãi mãi không thoát ra được. Cho nên dù có bị chửi, bị chỉ trích, bị phê phán, bị lợi dụng, bị khổ đau chúng ta vẫn nhìn đời bằng trí tuệ của bậc chân nhân, bằng con mắt pháp, mắt đạo, mắt tuệ thì chúng ta sẽ cảm ơn được những người làm chúng ta khổ đau và xóa sạch những cảm thọ sân hận vì nhờ có họ mà chúng ta có cơ hội tu tập để hướng thượng.

Có khi nhìn thấy một vụ tai nạn giao thông, thân xác bị xe đụng máu me nhầy nhụa nát bét một đống thịt xương, nhờ nhìn thấy như vậy mà giác ngộ, như một tiếng đại hồng chung đánh thức tâm mê khiến chúng ta sợ hãi không còn muốn si mê trong dục tham ái. Thời Đức Thế Tôn có một vị nữ cư sĩ giàu có xinh đẹp cao sang quyền quý có địa vị cao trong xã hội, đến khi đi xuất gia vẫn còn tâm kiêu mạn rất lớn, Đức Thế Tôn muốn giáo hóa nàng liền thị hiện ra một cô gái có nét đẹp vượt phàm, vẻ đẹp của Chư Thiên, đẹp hơn nàng gấp trăm nghìn lần, khiến nàng phải thốt lên khi gặp gỡ và thấy mình thật nhỏ bé trước vẻ đẹp ấy, nhưng rồi người đẹp tuyệt mỹ kia từ từ biến đổi, thay đổi, nhan sắc tàn phai nhanh chóng, già và xấu xí với làn da chảy xệ, nhăn nheo, mặt toi hóp lại, lưng còng, gập xuống, tóc bạc trắng, gân xương rút lại, rồi từ từ da thịt, tóc rớt xuống từng mảng, từng mảng chỉ còn lại bộ xương khô, ngã quỵ xuống, nằm dài ra đất rồi tan biến thành tro bụi, ngay tại chỗ đó nàng giác ngộ và chứng Thánh quả A-la-hán.

Thời Đức Phật Tỳ-Bà-Thi khi Ngài nhìn thấy cảnh già bệnh chết, Ngài đã rất suy tư, ngay sau khi gặp một vị xuất gia tu hành, ngay lại chỗ đó Ngài bỏ lại tất cả đi xuất gia.

…Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: "Sỉ nhục thay cái gọi là sanh ! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy !"…

…"Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình"…

(Trường Bộ Kinh, kinh Đại Bổn)

Hình ảnh già bệnh chết của chúng sinh và hình ảnh của một vị xuất gia là ân phúc, ân đức, ân huệ, đại ân, đại hồng ân để Bồ Tát Tỳ-bà-thi thành tựu vô thượng Chánh đẳng chánh giác, nếu chúng ta nhìn bằng ánh mắt ân đức, ân nghĩa, ân tình, ân huệ của bậc chân nhân thì tất cả trên thế giới này không có gì là không phải ân nhân ân đức, sống được trong thế giới biết ơn như vậy thì tâm chúng ta lúc nào cũng dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, không có sân si với bất cứ ai, với bất cứ hoàn cảnh nào. Những ngày trời mưa bão liên tục mà chúng ta được tu tập nhiều hơn, thời khóa được tăng thêm, có một chú cư sĩ trình pháp là trước đây rất ghét những cơn mưa dai dẳng, nhưng nhờ được tu tập và trải tâm từ thường xuyên, liên tục, nên giờ chú hết ghét những cơn mưa mà ngược lại còn thấy thích, cảm ơn những ngày mưa, nhờ trời mưa mà tu được nhiều hơn, chú đã biết chuyển niệm, đã đặt tâm đúng hướng và như vậy gọi là tu. Nếu thấy chán ghét thì cảm thọ trong tâm là sự bực bội, bức xúc, khó chịu, bất mãn, sân hận thay vì vậy chúng ta chuyển hướng loại bỏ những cảm thọ khó chịu, đưa vào những cảm thọ hiền thiện ngọt ngào.

Ví dụ như người ở chung phòng với mình có một tập khí mà mình rất là ghét, không ưa, nếu mình không biết tu thì sẽ rất là mệt mỏi, nhìn cái gì cũng thấy không vừa mắt, không vừa lòng thích ý, ra vô đụng mặt là bực bội khó chịu, thậm chí nhắc tới tên thôi cũng cau có khó khăn. Chúng ta phải biết quán chiếu tại sao biết bao nhiêu con người, biết bao lần lựa chọn, kén chọn, lại chọn đúng con người này “chạy trời không khỏi nắng” hay “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, thì phải hiểu rằng chủ nợ đã đến từ đời kiếp trước, chắc chắn rằng mình đã từng gây ra cho họ nhiều chướng ngại gấp trăm lần như vậy, giờ đây nhờ có tu tập nên khi gặp lại món nợ đó đã giảm xuống chỉ còn một phần trăm nên việc phải chịu đựng cảm thọ, tập khí của họ không có là gì, mà chính những cảm thọ đó lại là ân đức, ân phú, ân huệ cho mình, vì nhờ đó giúp mình tu luyện tâm, huấn luyện tâm để có được sự kham nhẫn, từ nhẫn đạt đến vô sanh nhẫn, tức là nhẫn một cách tự nhiên, nhịn một cách dễ dàng nhẹ nhàng giống như không phải chịu nhịn hay chịu đựng một việc gì khi trong lòng tràn ngập cả thọ ngọt ngào, yêu thương. Đối với các Phật tử tại gia cũng vậy khi chồng có tật này, con có bệnh kia hay cha mẹ có tính nọ làm mình không hoan hỷ thì mình phải biết quán chiếu.

Muốn tất cả mọi người sống phải theo ý mình thì chỉ có chuốc lấy khổ đau. Tại sao không tự mình mang một đôi giày vừa chân rồi đi chu du khắp cùng trời cuối đất mà bắt rằng khi mình đi tới đâu phải có người trải thảm đỏ đến đó để mình bước lên, làm như vậy chỉ khổ mình và khổ người, tự mang giày và đi trên đôi chân của mình sẽ không gây ra sự tổn hại, tổn thương cho chính mình và cho người, đừng bắt mọi người phải trải thảm nhung cho mình. Có được tâm biết ơn là vô cùng tốt đẹp, tuyệt vời chính là ở đôi giày vừa chân mềm mại, bền chắc để giúp chúng ta vượt qua tất cả núi đồi hiểm trở, rừng rú rậm rạp, đầm lầy nguy hiểm…đôi chân này luôn được bảo vệ trong đôi giày đó cho nên hãy sống trong tâm biết ơn ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, bình yên. Biết ơn con người, con vật, biết ơn thiên nhiên cây cỏ hoa lá, bầu không khí, cảnh trời mây xung quanh chúng ta.

Được ngồi yên thật dễ chịu và tâm ta đang tận hưởng giây phút ngọt ngào trong không gian thanh tịnh, mát mẻ lặng yên và muốn cảm thọ cảm giác dễ chịu này được lâu hơn thì bỗng nhiên có tiếng chó sủa lớn phá tan bầu không khí yên tĩnh, nếu không có được sự tu tập, nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu cảm thọ thì sự bực bội, sân giận sinh khởi, giờ đã biết tu tập rồi thì quán chiếu biết đó là tiếng chúng sinh nhắc nhở mình: “Tâm ơi nhìn kỹ, nghe rõ, thấy sâu, còn nắm giữ tâm sân hận thì đọa vào cõi súc sinh, mang lông đội lốt, mặt thú, dạ thú như vậy đó, nhớ nhé tâm” Tiếng chó sủa đó có ân với mình, nếu biết lắng nghe bằng tâm trầm tĩnh sâu sắc có chánh niệm quán chiếu, thì đó chính là pháp, còn nếu nghe bằng tâm thất niệm, bản ngã thì sân si đau khổ, từ đây có thể quán niệm ra, khi nghe tiếng thì nổi tham sân phiền não, cho nên hãy lắng nghe bằng tâm biết ơn.

Những con vật nuôi trong nhà chúng đại tiện, tiểu tiện bừa bãi, hôi thối, nếu không có chánh niệm sẽ dễ bực bội sân si với ý hành: “nuôi cho ăn rồi còn báo, bắt hốt bắt dọn”, nhưng phải biết quán chiếu, những mùi hôi thối này là bất tịnh, mùi của chúng ta còn bất tịnh hơn, ngay khi đang hốt cứt mèo triển khai thiền quán, lấy đó làm đề mục đề tài, làm pháp sống trong thân tâm. Nhờ vậy mà chúng ta có một đề mục quán bất tịnh sâu sắc, sống động hơn, đó là ân đức là đang sống trong thế giới biết ơn.

Rừng tre, trúc và thiên nhiên nơi đây cho chúng ta không khí trong lành, làm cho thân tâm được mát mẻ, dễ chịu, cho đạo tràng một không gian trang nghiêm thanh tịnh, thanh thoát nhẹ nhàng, nên hãy dùng tâm trân trọng và biết ơn để đền đáp bằng cách chăm sóc tưới nước, bón phân, làm sạch gốc để rừng tre, trúc được tồn tại lâu dài. Một ly nước, một giọt nước dùng không hết cũng có thể tưới vào gốc cây vì lòng biết ơn và khi nhìn thấy cây là thấy Phật. Một hôm vua Ba-tư-nặc dạo trong vườn Thượng uyển, nhà vua nhìn thấy những gốc cây lớn, tàn cây vươn dài rộng lớn cho bóng mát cả một vùng trời, Ngài bồi hồi nhớ Đức Thế Tôn, dưới những gốc cây này bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thường ngồi thiền định, thuyết pháp cho tứ chúng, Nhà vua nhớ Đức Thế Tôn và đi đến thăm Ngài

…Trong khi đi qua đi lại trong vườn (thượng uyển), trong khi tản bộ thưởng ngoạn, vua Pasenadi nước Kosala thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng. Thấy vậy, vua liền nghĩ đến Thế Tôn: "Những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng này, chính tại đây, chúng ta đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác"

(Trích đoạn Bài Kinh Pháp Trang Nghiêm – Kinh Trung Bộ)

Như vậy nhìn gốc cây là nhớ Người, nhớ Thánh pháp, nhớ thiền định, thật biết ơn những gốc cây này. Vì lòng biết ơn mà Linh Quy luôn giữ gìn những gốc cây và khuyến khích trồng rừng để tạo bóng mát cho đời.

Sự vi diệu của cảm thọ ngọt ngào

Chúng ta luôn tạo ra những điều tuyệt vời từ những cảm thọ ngọt ngào, hôm trước chúng ta có buổi thiền tập ngoài trời trên Thánh Pháp Viện, trong khi trùng tuyên về tiểu sử Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác, lúc đó trên trời nhiễu xuống từng giọt từng giọt mưa như cam lồ pháp nhũ, nếu không biết tác ý thì tâm chúng ta sẽ lo lắng bất an, sợ mưa sợ ướt sợ lạnh sợ bệnh. Sau khi được tác ý thì đạo tràng vô cùng hạnh phúc, an lạc và hoan hỷ như được tắm mình trong dòng cam lồ Thánh thủy, khởi lên tâm cảm ơn vô hạn những giọt mưa tí tách rơi, cho chúng ta cảm giác dễ chịu mát mẻ ngọt ngào trong khi đang nghe về lịch sử của bậc vô thượng Chánh đẳng chánh giác, tối tôn tối thượng giữa Chư thiên và loài người, ngay đoạn trùng tuyên Ngài thành tựu Chánh đẳng chánh giác thì trên trời rơi xuống những giọt mưa nhẹ như Chư thiên đang hoan hỷ cúng dường. Chúng ta tập nhìn tất cả bằng cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức với tâm biết ơn thì chúng ta sẽ có được cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu an lạc, tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt đẹp, ai không có được cảm thọ này thì thật là uổng phí.

Thậm chí khi nhìn một đức trẻ quấy khóc, làm ồn ào, động chúng gây ra sự khó chịu nhưng phải biết quán chiếu: “đây là khổ, sinh ra là khổ”

15. Đây là khổ, khổ là đây!
Tái sanh sự thật là đầy khổ đau,
Thế gian mau hãy tỉnh ra,
Hãy nhìn rõ cái gọi là tái sanh.
Tái sanh, tái khổ, tái sầu,
Tái già, tái bệnh, tái làm thây ma,
Tái làm ngạ qủy, súc sanh,
Tái làm người lúc sướng, nghèo, loanh quanh.
Chúng sanh sanh mãi, chết hoài,
Mỗi lần sanh chết, tâm đầy khổ đau,
Biết bao thân xác chôn vùi,
Biết bao đau khổ bốc mùi đến nay.

(Bài Giải thoát trí – Linh Quy nhật tụng NIKĀYA).

Có sinh là có tử, chạm đến đâu thì pháp hiện khởi đến đó, nhìn đến đâu là pháp rực sáng đến đó, cảm thọ đến đâu là trí tuệ chói sáng đến đó, là nhờ được sống trong tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn.

Mười tám năm về đây sinh sống là mười tám năm Minh Thành sống chung với Tắc kè, ếch, nhái, chim, chúng đến ở ngày một nhiều trong tịnh thất, chúng cũng muốn có một chỗ ở an toàn, có được đồ ăn thức uống, nhiều lần quý thầy cô hộ thất đồ ăn, vừa bưng đến chưa kịp dùng thì đã có đàn kiến bu đến và Minh Thành để cho chúng ăn tự nhiên đó là sự bố thí cúng dường như lời Đức Thế Tôn đã dạy. Chúng ta sống với tâm biết ơn, hiền thiện, ngọt ngào thì ở đâu chúng ta cũng thấy dễ chịu và mát mẻ. Ngồi trên cục đá cũng thấy biết ơn, được uống một ly trà cũng vô cùng biết ơn, không dám phung phí, lãng phí, hoang phí, bưng hai tay mà uống cho hết đến giọt cuối cùng. Người dâng cúng cũng bằng cả một tấm lòng biết ơn, cung kính nhớ nghĩ đến tất cả những ân đức đã nhận được từ cha mẹ, thầy tổ, huynh trưởng, bạn đồng tu...được sống trong ân đức của các bậc ân nhân thì ánh mắt mình nhìn ai cũng ngọt ngào, cung kính, tôn trọng. Mình sẽ thương rất nhiều những người nấu bếp cực khổ, quý trọng rất nhiều những người trồng cây, cảm ơn rất nhiều những chú thợ hồ thợ mộc. Trong gia đình thì biết ơn chồng, biết ơn con, con cái là những người rất có ơn đối với chúng ta. Mùa vu lan chúng ta không chỉ nhớ nghĩ công ơn cha mẹ mà còn nhớ nghĩ đến công ơn của con cái, chúng có ân đức rất nhiều với cha mẹ nên không chỉ con lạy cảm ơn cha mẹ mà cha mẹ cũng lạy cảm ơn con. Cha con, mẹ con, chồng vợ, anh chị em, bà con, có khi tứ đại đồng đường cùng quỳ lạy với nhau trong những buổi thiền quán biết ơn, rất đẹp và ngọt ngào. Đức Thế Tôn nói rằng:

Vì lợi ích nhiều người
Bậc trí sống gia đình
Không mệt mỏi ngày đêm
Cúng dường thật đúng pháp
Mẹ cha và tổ tiên
Nhớ ngày trước đã làm
Đối xuất gia, không nhà
Kính lễ bậc Phạm hạnh
Tin vững trú, cúng dường
Biến pháp, khéo xử sự
Là người đem lợi ích
Cho vua, cho chư Thiên
Là người đem lợi ích
Cho bà con, bè bạn
Là người đem lợi ích
Cho tất cả mọi người
Khéo an trú diệu pháp

Nhiếp xan tham cấu uế
Hưởng cuộc đời hạnh phúc

(Người Chân Nhân 2- Tăng Chi Bộ Kinh-tập 3)