Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nikāya Thiền Quán - ĐỘNG ĐẤT 2 - NHÀM CHÁN - LY THAM - GIẢI THOÁT

2026-03-03 00:55:35
Nikāya Thiền Quán

ĐỘNG ĐẤT 2

NHÀM CHÁN – LY THAM – GIẢI THOÁT

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thiền quán về động đất PAGEREF _Toc149143646 \h 1

II.Trí quán vô thường PAGEREF _Toc149143647 \h 5

III.Không có bất cứ pháp gì là thường còn PAGEREF _Toc149143648 \h 10

Thiền quán về động đất

Chúng ta tiếp tục thiền quán về những sự thật nhãn tiền. Chúng ta hãy ghi nhận sâu sắc những hình ảnh chúng ta được thấy, được nghe, được cảm thọ, được thức tri trong giây phút này; đây cũng chính là sự thật ở trước mắt ta, ở bên cạnh ta, ở xung quanh ta. Khi mọi người đang chìm trong giấc ngủ, một trận động đất diễn ra lúc hơn 4 giờ khuya ở Thổ Nhĩ Kỳ khiến không ai có thể phòng bị. Bài số 47, kinh Pháp cú Đức Phật nói:

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm

Bị thần chết mang đi,

Như lụt trôi làng ngủ.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hoa)

Chúng sanh đắm say vào những năm dục trưởng dưỡng của thế gian, dần dần bị giết chết trong những thứ đó mà không hay biết, giống như lũ lụt trôi cả một làng mạt đang ngủ, chết đến mà không ai hay biết. Hiện tại cũng vậy, một trận động đất chôn vùi cả một thành phố đang còn say giấc. Giờ phút này con mời Chư Tôn Thiền Đức và các bậc Hiền Trí trình bày cảm thọ thiền quán của mình về bất tịnh, về vô thường, về những hình ảnh mà mình đã thấy, đã nghe, đã cảm thọ, đã thức tri trong giây phút này trước những thảm hoạ kinh hoàng vừa xảy ra để chúng ta khơi gợi lên những cảm giác về sự thật, về trí tuệ, về khổ đau, về bản chất bất ổn, bất thường, bất trắc của tứ đại ngũ uẩn đời sống này

Sư Cô Huệ Lý:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ. Con kính bạch trên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình Pháp.

Thiền quán sáng nay. Bạch Sư Phụ, trên đời nay không có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất người thân nhưng đó chỉ đối với một gia đình. Hiện nay thiên tai khắp toàn cầu. Chúng ta sống trong thời đại đang còn diễn biến phức tạp. Con đã xuống núi, con về lại chùa, con thấy mọi người xung quoanh rất khổ. Nhưng cái khổ của những người đang sống và đang được hạnh phúc bên người thân chưa bằng cái khổ của những người đã mất người thân bởi vì tai nạn, thiên tai, lũ lụt. Nên con nhìn thấy rất sâu sắc những khía cạnh, những góc độ của đau khổ. Khi con xuống núi con cũng thấm được. Như hôm qua Sư Phụ đã gửi hình ảnh của Thổ Nhĩ Kỳ với tai nạn. Con thật chua xót cho cuộc sống của con người, đời sống của mỗi mỗi chúng sanh, mỗi con người trên trái đất này. Có thể có và có thể không trong một tích tắc, trong một sát na. Mặc dù con không biết sát na đó là chừng nào nhưng con biết nó rất ngắn ngủi.

Con thật chua xót cho cuộc sống của mình, vì ngu si, vì vô minh, vì tham ái nên chúng con còn chạy theo tiếng gọi của lòng mình. Không nhìn lại tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ thời khắc nào trong cuộc sống của mình. Bạch Sư Phụ trong thời gian con xuống núi, con vẫn tu tập, cố gắng giữ gìn những cái gì mình đã học hỏi được tại Linh Quy để thực hành trong cuộc sống. Hôm qua con có xin Sư Phụ là hôm nay con lên núi nhưng còn một chướng duyên nhỏ. Con xin Sư Phụ cuối tháng con mới lên được. Có việc xảy ra với con nên con giải quyết xong rồi con mới lên núi. Xin về núi sống những ngày tháng còn lại trong cuộc đời của con.

Bạch Sư Phụ thời thiền sáng nay cảm thọ của con nó rất là ưu tư, khoắc khoải, rất là thương xót cho cuộc sống của mình và tất cả mọi người đang hiện hữu trên trái đất này. Tưởng của con hiện lên hình ảnh những cảnh tượng đất đá vùi lắp con người và hành nghĩ rằng biết đâu rồi mình cũng có ngày bị như vậy, cho nên con phải cố gắng thu xếp mọi chuyện cho sớm để về núi nương Thầy, nương bạn tu. Mặc dù con về đây con cũng cố gắng tu nhưng nếu ở Linh Quy con gặt hái được mười phần thì ở chùa con chỉ được một hay hai phần, không được rốt ráo như ở Linh Quy. Con nhận biết được điều đó nên hành con nhắc nhở con phải cố gắng thu xếp mọi chuyện và quay về tu học, về nhà tu học, không ở lang thang ở những chỗ này nữa. Thức của con rõ biết thọ tưởng hành đang có trong con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Giới tử Trí Danh:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ. Con kính bạch trên Quý Thầy, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô, cùng tất cả các vị Hiền trí.

Sáng nay khi xem đoạn phim, con xúc động, con đau khổ, chua xót vô cùng. Trái tim mình đau thắt lại, đau đớn vô cùng, nhói lên, nhói từng cơn, từng cơn. Con đau đớn không thể nào tả nỗi. Hình ảnh của những người bị thương, bị chết gói trong những cái bao, bị kẹt trong những đóng đỗ nát nằm dưới những khối bê tông, chỉ nghe được tiếng mà không thấy người đang bị đau đớn. Con thấy những hình ảnh đó, xương nát, những cơ quan nội tạng dập nát bầy nhầy chỉ còn thoi thớp. Hình ảnh những đứa trẻ ngơ ngác. Cả gia đình chỉ còn lại một em bé. Tất cả đều chết hết. Con nhớ con số là 4300 người. Nhưng mà nhà chức trách thông báo con số thực tế có thể là gấp 8 lần. Hơn 30000 ngàn người, hơn 30000 sinh mạng. Bằng một thành phố nơi quê hương con ở, giống như cả thành phố của mình chết hết. Hành của con nói lên đây chính là vô thường. Tất cả đều sẽ biến hoại, hoại diệt. Không ai nghĩ mình sẽ chết mà sau 200 năm nơi này không có động đất. Họ rất là an bình, họ nghĩ tất cả đều là thường. Và cơn động đất này xảy ra lúc 4 giờ 17 phút. Mọi người đang ngủ rất ngon. Mở mắt ra là thấy kinh hoàn. Tất cả người thân, tất cả mọi người xung quoanh đều chết hết. Con thấy hình ảnh đôi mắt đứa đang ngơ ngác không biết chuyện gì đang xảy ra nhưng mà người lớn nhận thức được chuyện đó. Con thương cho chính mình. Mình cũng nằm trong số người vô minh, không nhìn thấy sự thật này, cho mọi thứ là thường. Con mong mọi người hãy thức tỉnh, hãy chia sẽ, hãy mở trái tim của mình ra. Hãy lấy lòng từ của mình hướng về những người đang bị thương, đang thắt thoải, đang thoi thóp, đang nằm dưới đống đổ nát và những người đã chết. Con thương xót, con tri ân Sư Phụ đã giúp con thấy được sự thật vô thường và biết cách để thoát ra cái khổ này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thầy Thiện Huệ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ. Con kính bạch Quý Thầy, Quý Ni Sư, cùng toàn thể các bậc Hiền trí.

Vừa qua con được xem những hình ảnh động đất. Bao nhiêu là nhà cửa, thậm chí là gần toàn thành phố đều bị nhận chìm trong cơn động đất rất là mạnh. Lúc này sắc thân tứ đại con đang ngồi giống như nhừ ra. Cảm thọ trong con thật là đau đớn, nhói lòng. Rất nhiều những hình ảnh, những hình bóng của ông bà, những người thân của con đã qua đời hiện ra. Những cảnh mà người chết trong đại dịch vừa qua. Những hình ảnh sóng thần bên Nhật Bản cũng hiện về. Những hình ảnh gần nhất là người dân ở Thổ Nhĩ Kỳ. Con nhìn những hình ảnh đó con thấy rất xúc động và đau đớn cho một kiếp nhân sinh. Toàn thế giới này đang bị nhận chìm trong cái khổ. Qua đó con có sự nhìn nhận, suy nghĩ, tác ý. Thánh trí của Đức Phật. Con thấy Đức Phật nói đúng với siêu việt thời không. Chúng ta phải đội lên đầu. Này các Tỷ Kheo: sắc là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng, là biến hoại, là tiêu diệt, là bất an, bất tồn, bất toại nguyện.

“Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường..., thọ là vô thường..., tưởng là vô thường... các hành là vô thường..., thức là vô thường.” (Trích Kinh Tương Ưng Bộ tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phẩm Vô Thường, bài kinh Vô Thường)

Qua đó con thấy chỉ có một cái khổ về sắc Pháp ở bên ngoài thôi mà tất cả chúng sanh trên toàn thế giới phải chịu biết bao là những giọt nước mắt. Huống chi là cái khổ về những cảm giác sân si, những hình bóng, những nhận thức bên trong. Cho nên qua sự việc động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Con cảm nhận được Đức Phật nói: Đây là khổ. Cái gì nó có hình tướng thì nó biến đổi vô thường tan rã.

“3) Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ". Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".”(Trích Kinh Tương Ưng Bộ tập VI, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Định, bài kinh Định)

Nhưng mà đôi lúc chúng sanh vô minh không có thấy được sự thật đó. Suốt ngày cứ sống cười nhởn nhơ, buông lung phóng dật. Qua sự việc đó con thấy cái khổ này nó chồng chất lên cái khổ kia, thành khổ, hoại khổ. Các hành nó dần dần đi đến biến hoại và tan rã. Hiện giờ cảm thọ trong con khởi lên một tình thương trang trãi cho người dân ở Thổ Nhĩ Kỳ đang sống trong cảnh lầm than, gia đình ly tán. Những giọt nước mắt đó, những nỗi đau khổ đó trong vòng luân hồi sanh tử không phải chỉ một đời này mà vô lượng kiếp lẩn quẩn, loanh quanh. Làm gì có hạnh phúc trong cái vòng sanh tử này. Con cảm nhận lời Đức Thế Tôn dạy. Này các Tỷ Kheo, khi các ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, hay là gặp sự an lạc, may mắn. Các ông phải đi đến kết luận. Chúng ta đã phải chịu đựng như vậy trong một thời gian dài này. Trong cái vòng luân hồi sống chết này rồi. Các Ông hãy nhàm chán hãy từ bỏ hãy chấm dứt hãy thoát ra đối với tất cả các hành. Đó là suy nghĩ cũng như là tư duy của con trong đoạn phim thiền quán vừa qua.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trí quán vô thường

Trong kinh Pháp Cú, Đức Thế Tôn có dạy:

Tất cả hành vô thường

Với Tuệ, quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

Tất cả hành khổ đau

Với Tuệ, quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

Tất cả Pháp vô ngã

Với Tuệ, quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

“Tám chánh, đường thù thắng,

Bốn câu, lý thù thắng.

Ly tham, Pháp thù thắng,

Giữa các loài hai chân,

Pháp nhãn, người thù thắng.”

Người hãy nhiệt tình làm

Như Lai chỉ thuyết dạy

Người hành trì thiền định

Thoát trói buộc Ác ma.

Khi cần, không nỗ lực.

Tuy trẻ mạnh, nhưng lười.

Chí nhu nhược, biếng nhác.

Với trí tuệ thụ động.

Sao tìm được Chánh đạo?

Tu Thiền, trí tuệ sanh

Bỏ Thiền quán, trí tuệ diệt.

Biết con đường hai ngả

Đưa đến hữu, phi hữu

Hãy tự mình nỗ lực

Khiến trí tuệ tăng trưởng.

(trích Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)

Đức Phật dạy rằng, tất cả hành là vô thường; người tu phải thật thấy vô thường bằng tuệ quán. Khi thấy tất cả sự vận hành là vô thường, mà vô thường là đau khổ thì sự nhàm chán sẽ sanh khởi. Sự nhàm chán sanh khởi đó là con đường trong sáng, con đường thoát ra.

Này các Tỷ Kheo hãy sống nhiều với sự nhàm chán sắc. Hãy sống nhiều với sự nhàm chán thọ. Hãy sống thật là nhiều với sự nhàm chán tưởng, các hành, các suy nghĩ. Hãy suy nghĩ sự suy nghĩ nhàm chán các suy nghĩ. Hãy khởi lên sự suy nghĩ nhàm chán đối với sắc. Hãy sanh khởi suy nghĩ nhàm chán đối với các cảm giác. Hãy sanh khởi suy nghĩ nhàm chán đối với những hình bóng trong tâm. Hãy sanh khởi suy nghĩ nhàm chán tất cả những suy nghĩ. Hãy làm cho mình sanh khởi sự suy nghĩ nhàm chán tất cả sự rõ biết.

Đời sống này thật ra là không có cái gì là an vui thật sự, nhưng do được bớt một chút khổ nên người ta tưởng đó là vui. Chẳng hạn, trong trận động đất này, người ta nói rằng có một phép màu thần kỳ xảy ra, đó là có những em bé không bị thương. Nhưng thật sự là có thần kỳ không, khi cha em bé chết, mẹ em bé chết, anh chị em của em bé đều chết. Chẳng qua đây một lời an ủi nhỏ nhoi trong nỗi khổ to lớn đang bao trùm. Giống như người bị xe tông gãy một chân thì an ủi rằng vẫn may mắn vì còn được một cái chân, chưa gãy hết hai cái chân. Nhưng thật sự có may không?

Hãy nhìn cho sâu sắc để thấy rằng tất cả hành là khổ đau; với tuệ quán thấy vậy khổ đau được nhàm chán, đây chính là con đường thanh tịnh mà Đức Thế Tôn đã để lại. Hành giả Nikāya không phải đợi đến động đất mới thấy khổ, mới thấy vô thường. Dù đang ngồi yên ổn tại chỗ ngồi này thì cũng phải nhìn thấy bản chất vô thường, khổ đau trong đời sống này. Trận động đất này chẳng qua là một sự biểu hiện về một khía cạnh nhỏ của vô thường để đánh thức, nhắc nhở chúng ta chiêm nghiệm, quán xét, tư duy. Từ đó giúp chúng ta sanh khởi lên những thọ, tưởng, hành, thức tương ưng với sự thật, tương ưng với khổ, tương ưng với vô thường, tương ưng với vô ngã, tương ưng với sự biến hoại, tan rã, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, diệt tận, diệt vong, tiêu vong, tiêu diệt.

Cho nên, không phải đợi tới động đất mới thấy vô thường, lúc đó mới thấy thì không kịp. Trong sự an phải thấy cái nguy. Trong bình thường phải thấy được sự bất thường. Trong khỏe phải thấy được tính bệnh. Trong trẻ phải thấy được tính chất của già. Trong sanh phải thấy được bản chất của diệt. Sanh diệt trí của mình không bao giờ mờ, không bao giờ phai.

Chẳng hạn, khi nhìn thấy cành đào tươi thắm, rất là đẹp; trong tâm mình sanh khởi lạc thọ, ái, thích. Nhìn vào sâu hơn nữa, sẽ thấy cây đào tan rã, hoa rơi, lá rụng, trơ trọi, trơ trần, chết khô. Lúc ấy, tự nhiên lòng mình lắng dịu, lạc thọ sẽ lắng xuống. Đó chính là sanh diệt trí ở trong ngũ uẩn. Để có cái nhìn như vậy, đòi hỏi mình phải tác ý, phải quán xác. Bằng không, thấy cái gì cũng y như vậy là mình chết chìm trong ngũ uẩn mà không hay biết. Tới khi động đất xảy đến, lúc đó mình mới biết tới cái chết, như vậy không kịp. Cho nên, chỉ có cái nhìn sanh diệt bằng Thánh trí thì tâm mình mới có thể ly tham, nhàm chán, không ưa thích nhánh đào, cây mai đó nữa. Tuy vẫn chưng mai, chưng đào nhưng tâm tham dục ái đối với nhánh đào, cây mai được lắng dịu, vì mình trú trong sanh diệt trí – trí tuệ thấy được sự tàn hoại của các Pháp.

Khi nhìn vào một người nào đó cũng vậy. Dù cho họ trẻ, đẹp, nổi tiếng thì chúng ta quán chiếu rằng họ cũng sẽ trở nên già nua. Một đời người được gói gọn là trong một video 60 giây: từ em bé mới sanh, thanh niên, tráng niên, lão niên, chống gậy, cụp xuống, ngã xuống, thành bộ xương, tan nát trong vòng một phút. Trí tuệ quán chiếu sự vật được như vậy là cái nhìn bằng thiền quán, nhìn bằng tuệ trí, tuệ tri, tuệ giác, Thánh trí. Còn nhìn cái nào ra cái nấy, không thấy được sự thật của các pháp là mình ngủ say ngủ mê trong trận động đất sắp diễn ra. Một người mà biết trước sẽ có trận động đất thì người đó có ở trong nhà không? Hay họ sẽ lấy đồ quý giá đi càng xa càng nhanh càng mau càng lẹ càng tốt, đây là chỉ cho bậc trí. Bậc trí là bậc viễn ly, ly tham, xuất ly, từ bỏ, thoát ra. Đi ra trước khi động đất, rời xa trước khi lũ lụt, thoát ra trước khi hỏa hoạn, trú ẩn trước khi bão táp phong ba, sóng thần ập đến.

Vì vậy, Minh Thành tha thiết báo trước cho tất cả các hiền giả trong đạo tràng. Ai sắp xếp được gia đình thì cứ về núi tu, còn tiếc cái gì nữa. Bây giờ không tu thì không có kịp, tiếc cái gì mà không chịu đi tu. Tối thiểu thì những khóa tu phải có mặt. Còn nếu là người tinh tấn thì có thể bỏ bớt thời gian ở nhà đi một lần 3 tháng trở về một vài tháng rồi quay trở lên 3 tháng. Tập từ từ rồi cuối cùng một năm ở được 6 tháng. Cho tới quen thuần thục, buông được rồi thì ở luôn, gửi tro cốt ở trên núi luôn. Năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi, bảy mươi tuổi, còn luyến tiếc cái gì. Đó là nói cho các vị còn ở nhà.

Còn các vị ở trên núi. Thân ở núi mà tâm có ở núi không? Đừng nghĩ rằng thân ở núi rồi tự cho là mình ngon. Hãy xem tâm mình có trú trong Pháp không? Mình có tinh cần tinh tấn không? Hay là thân ở núi mà cái tâm lang thang? Các vị ở trong thất cũng vậy, thân ở thất mà tâm có ở thất không? Có trú trong Pháp không? Bất cứ ở đâu mà trú trong Pháp thì nơi đó mới đúng là trú xứ của mình. Như vừa rồi Sư Cô trình Pháp, Sư Cô đã về chùa rồi mà tu được có một hay hai phần thôi. Đó là người xuất gia ở trong chùa, còn cư sĩ thì sao? Chúng ta phải tập buông bỏ, tập xả ly, tập viễn ly ngay từ bây giờ. Sáu mươi tuổi là về núi tu được hết. Để tới hơn bảy mươi tuổi là không còn sức khỏe để mà tu.

Đừng nói chi người cư sĩ, nhiều vị xuất gia rồi mà còn luyến tiếc. Luyến tiếc cái chùa, luyến tiếc bổn đạo, luyến tiếc những tâm ái luyến, những cái mình yêu thương, không bỏ đi nổi, không bỏ lên núi tu được. Nhưng một khi quyết tâm cầu pháp thì phải bỏ lại tất cả để mà đi, chết cũng đi, hãy coi như mình đã chết, không có gì cản mình được, một khi đã chết rồi thì cái gì cản được. Do không có niệm tử mạnh mẽ, tâm đối với Pháp nó chưa đủ mạnh, chưa đủ vững nên mình mới chùn bước trên con đường này. Chẳng hạn, bây giờ nhà cửa đổ nát sập xuống đè xuống, hoặc mình bị nhiễm dịch bệnh, bị tai nạn giao thông, tai nạn máy bay, mắc bệnh nan y; rồi mình kêu ‘tôi không muốn bệnh’, ‘tôi không muốn tai nạn’, ‘tôi không muốn đi vô bệnh viện, không muốn đi vô lò thiêu’ thì có được không? Thời gian không chờ đợi ai, vô thường không tránh né bất cứ ai, vì vậy tâm tu phải mạnh mẽ. Những thế sự bên ngoài không bỏ trước cũng bỏ sau, không bỏ sớm cũng bỏ muộn, bỏ sớm thì khỏe hơn. Đối với Chánh Pháp sau khi được học, mình phải thực hànhphải đứng dậy lên đường, dấn thân vào những lời dạy của Đức Phật. Mình không hứa hẹn được, bất thình lình cái chết sẽ đến với mình; nếu còn tham, còn sân, còn si, còn dục ái, bản ngã, mình sẽ chết trong bất hạnh, chết trong tai họa, chết trong nuối tiếc, hối hận vì mình chưa có thực hành Pháp một cách rốt ráo, tối thiểu là phải Dự Lưu, thực chứng sự khổ của Đức Phật.

Không có bất cứ pháp gì là thường còn

Trong bài Kinh Phân Bò, Tương Ưng Bộ tập III, có một vị Tỷ Kheo đi đến bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

- Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

Này Tỷ-kheo, không có thọ nào... không có tưởng nào... không có các hành nào... không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỷ-kheo ấy:

- Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

Tức là nhỏ như một miếng phân bò cũng tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, cũng tiêu vong, cũng diệt vong, cũng phải tan nát thành cát bụi, rồi tan biến vào hư không.

Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỷ kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phẩm Hoa, bài kinh Phân Bò)

Đời sống Phạm hạnh tức là con đường diệt khổ, chứng đắc Niết-bàn. Đức Phật dạy rằng, nếu miếng phân bò này tồn tại mãi mãi, không tan nát thành cát bụi, không tan biến vào hư không, mà trường tồn, bất diệt thì không thể nào trình bày được đời sống Phạm hạnh để giải thoát khỏi các khổ đau. Vì nó là tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, diệt tận, khổ đau nên Đức Phật mới trình bày đạo lộ diệt khổ. Nếu ngũ uẩn này là thường hằng, thường trú, thường còn thì Ngài không phải nói về cái khổ và con đường diệt khổ. Vì này Tỷ Kheo cho được đến một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, cũng phải chịu sự biến hoại, tan nát như vậy. Do vậy đời sống phạm hạnh để chân chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

Chúng ta cần nhớ kĩ câu chuyện này. Một Thầy Tỷ Kheo đi đến hỏi Đức Phật xem có thể có một cái sắc nào đó; dù chỉ là một chút xíu thôi, có một cái gì đặc biệt, mà sắc đó là thường hằng không? Có thể có một cái cảm giác, một suy nghĩ, hình bóng, nhận thức nào đó, mà nó thường hằng, thường trú, thường còn hoài hoài, không biến đổi hay không? Đức Thế Tôn trả lời là không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào như vậy. Chỗ này giúp chúng ta nhìn sâu vào đường lối tu hành của mình từ trước đến nay, chúng ta thường đi tìm những cái gì đó còn hoài, không thay đổi để bám víu vào, cho nên không đi ra khỏi ngũ uẩn, không thành tựu thể nhập được Thánh trí vô ngã.

Và chính trong bài kinh này, Đức Thế Tôn đã tuyên bố không có một sắc, một thọ, một hành, một tưởng, một thức nào thường còn. Ngài cầm một miếng phân bò đưa lên và nói rằng một chút xíu như thế này cũng không thể giữ được trọn vẹn, nó cũng phải tan nát, hoại diệt thành cát bụi, thành hư không thì huống hồ chi những đại thể, những thân tướng to lớn làm sao không tan hoại được. Hơn thế nữa, nếu như có một chút xíu hạt cát, hạt bụi nhỏ như phân bò thường trú, thường còn như vậy hoài thì Ngài không nói đạo lộ giải thoát. Nếu thật sự có tồn tại một sắc pháp nhỏ xíu như vậy mà thường còn thì Ngài không nói về vô thường, khổ đau, vô ngã; Ngài không thể trình bày được Bát Thánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo; tất cả khổ đau không thể đoạn tận được, không thể trình bày được, không thể tu chứng được sự diệt khổ hoàn toàn của Niết-bàn.

Thế nhưng, đến một chút xíu phân bò nhỏ nhoi, vừa hôi, vừa dơ, mà còn không thể thường hằng được, bởi tánh chất của các pháp là biến hoại, cho nên Đức Phật mới tuyên thuyết, mới giảng thuyết, mới khai thị, minh hiển, hiển lộ, trình bày con đường thoát ra khỏi khổ đau. Chúng ta hãy nhớ thật kỹ, tất cả là vô thường, không có bất cứ cái gì là thường còn, vì vậy đừng mong chờ, hy vọng có một chút tự ngã, cái tôi nào ở đây. Tất cả ngũ uẩn đều phải biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt…

---

Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusàvatì là bậc nhất.

Thuở xưa, Ngài từng là một vị vua của đất nước có tám mươi bốn ngàn đô thị, nghĩa là mươi bốn ngàn thành phố. Giống như ở Mỹ, hiện tại có năm mươi ba tiểu bang, giống như năm mươi ba đất nước nhỏ. Trong tám mươi bốn ngàn đô thị của vua thì đô thị Kusàvatì đứng đầu, bậc nhất.

Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất. Tương ứng với 84.000 thành phố mỗi thành phố đặt một cung điện. Đến thành phố nào thì có cung điện nghỉ ở đó. Giống như nước ta có mấy chục tỉnh thành, mỗi nơi đều có chỗ cho các vị nguyên thủ nghỉ ngơi riêng.

Ngài có tám mươi bốn ngàn cung điện. Ngài có tám mươi bốn ngàn trùng các, lâu đài. Tám mươi bốn ngàn tòa ngồi làm bằng ngà. Ghế làm bằng ngà voi, bằng lõi cây, bằng vàng, bằng bạc hoặc trãi bằng nệm len, có lông dài, chăn, len trắng, len thêu bông, nệm da của con sơn dương. Có lầu che phía trên hoặc gối chân màu đỏ cả hai đầu. Tám mươi bốn ngàn con voi với những trang sức bằng vàng, những cờ xí bằng vàng, bao bọc bởi những cái lưới bằng vàng. Tám mươi bốn ngàn cỗ xe xe, châu báu. Tám mươi bốn ngàn phụ nữ, trong đó một hoàng hậu đệ nhất và rất nhiều những cung phi, mỹ nữ. Tám mươi bốn ngàn chư hầu, tướng văn, tướng võ. Cùng vô số quần áo, lụa là quý giá nhất…

Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.

Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỷ kheo, là các hành.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Phẩm Hoa, bài kinh Phân Bò)

Đức Phật nói rằng, trước đây Ngài có rất nhiều thứ quý giá trên thế gian nhưng tất cả các hành ấy thuộc về quá khứ, đoạn diệt, biến hoại. Tất cả tám mươi bốn ngàn thành phố tới nay đã trở thành một đống tro tàn. Bao nhiêu cung tần, mỹ nữ đã trở thành cát bụi. Bao nhiêu quân hầu, lính tráng, tướng văn, tướng võ, nay là những đám mồ xanh cỏ. Những tòa nhà, những ngai vua bằng ngà voi nạm vàng đính ngọc cũng đã tan nát, hủy diệt, không còn tồn tại. Tất cả các hành ấy là thuộc về quá khứ đã qua, nay đã đoạn diệt, biến hoại.

Vì vậy, vô thường, này các Tỷ Kheo là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ Kheo là các hành. Vô thường như vậy là sự vận hành của tứ đại, của ngũ uẩn; không thường hằng như vậy là các hành; không thường trú như vậy là các hành. Cho nên, này các Tỷ Kheo là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả các hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.

Tám mươi bốn ngàn cung điện; tám mươi bốn ngàn thành phố; tám mươi bốn ngàn phi tần, cung phi, mỹ nữ; tám mươi bốn ngàn ngai vàng, tòa ngọc nạm ngọc ngà, châu báu, cung điện, đô thị, thành phố… tất cả giờ đây đều trở thành cát bụi, những bộ xương, những đám tro tàn. Tất cả đều biến hoại, đoạn diệt, không thường hằng, không thường trú.

Có rất nhiều những thành phố nằm ở dưới biển được những nhà nghiên cứu ngày nay phát hiện ra. Xưa chúng là những thành phố phồn vinh, thịnh vượng, phát triển cùng cực một thời, nhưng nay là ở dưới lòng đại dương. Cả một thành phố, cả một con khủng long to lớn rồi cũng đổ xuống thành bộ xương; đừng nói chi con người nhỏ bé thân tướng đầy bệnh hoạn, ốm yếu thì làm sao thường còn, thường trú được. Tất cả đều là vô thường, không thường hằng, không có thường trú, đều là đoạn diệt, biến hoại, cho nên như vậy là vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để không tham muốn, vừa đủ để thoát ra. Tâm mình phải dõng mạnh, mạnh mẽ tu học để hướng tới sự thoát ra.

Như một người bị khối bê tông đè, chúng ta hãy thử đặt mình vào hoàn cảnh ấy để hiểu được khổ đau mà họ phải chịu. Cũng vậy, chúng ta đã vô số lần chịu đựng gấp trăm lần hơn thế nỗi khổ của tái sanh. Đức Phật dạy mình hãy nhiệt tình, nỗ lực, quyết tâm trong cong cuộc tu tập này. Như Lai chỉ thuyết giải, người hãy nhiệt tình làm.

Người hãy nhiệt tình làm

Như Lai chỉ thuyết dạy

Người hành trì thiền định

Thoát trói buộc Ác ma.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)

Hãy nhận diện ngũ uẩn liên tục, tác ý liên tục. Thiền quán thường xuyên, thấy cái gì cũng quán chiếu bản chất thật của đời sống vô thường này. Tất cả những ví dụ, những tư liêu Minh Thành chia sẻ đều là Kinh Nikāya sống, là sự thật, là khổ Thánh trí, khổ Thánh đế. Đức Phật không phải chỉ nói sự thật ngay thời điểm Ngài còn sống, mà Ngài nói sự thật vĩnh hằng, mãi mãi là như vậy, không bao giờ thay đổi. Cho nên ngày nào chúng ta cũng phải nghe, phải ngẫm, suy tư lời dạy của Đức Phật cho thật thấm thía, rồi từ từ chúng ta mới thoát ra được.

Hãy cố gắng thoát ra căn nhà lửa mà mình đang ở. Thoát ra nội tâm đầy cấu nhiễm mà chúng ta đang mang, phải thoát ra được cái nhìn của vô minh, của tham ái, chấp thủ, của cái gông cùm, xiềng xích, những cái ách đã đè nặng trên đôi vai, trên đầu, trên cổ chúng ta. Nếu một chút nữa mình chết thì giờ mình làm cái gì? Nếu những người bị động đất chết mà họ biết được khuya nay mình sẽ chết thì họ làm gì? Khi chứng kiến những sự thật này thì tự mình phải khích lệ mình, sách tấn mình. Tự dùng roi quất vào thân tâm này để mình thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này. Chốn này là hiểm họa, bất an, tai nạn, nguy nan, khổ ách; không phải là ngôi nhà an ổn cho bất cứ ai. Đời sống này không phải là nơi thường hằng, thường còn, thường trú, an ổn, an toàn. Chiêm nghiêm thật sau sắc như vậy để thấy vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để ly tham, vừa đủ để thoát ra, vừa đủ để giải thoát…

Phật tử Diệu An:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Đức Thế Tôn cùng Sư Phụ, Chư Đại Tăng, Quý Sư Cô và các bậc Hiền trí. Cảm thọ của con rất xót xa, đau lòng và thương kính. Tưởng của con thấy hình bóng của những em bé và những đất đá, sắt vụng. Và hành của con khởi lên ý nghĩ con cầu nguyện cho những em bé và những người mất thấy được con đường khổ và vô thường, tinh tấn tu tập. Thức rõ biết thọ, tưởng, hành trong con. Con trình bày còn nhiều lỗi lầm, sai xót, con kính trên Sư Phụ, cùng Chư Tăng, cùng Quý Ni Sư và đại chúng chỉ dạy cho con ạ.

./.