Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xúc Chạm Vô Minh 2 - Làm Sao Hóa Giải Nghiệp Chướng

2026-03-03 00:55:36
PHÁP ĐÀM NIKĀYA

XÚC CHẠM VÔ MINH 2

LÀM SAO HÓA GIẢI NGHIỆP CHƯỚNG

Thích Minh Thành

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Phật tử 1: Con có một câu hỏi là trong lúc con chánh niệm tỉnh giác, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại thì con thấy tưởng và hành an tịnh, nhưng con không quay về cảm giác toàn thân thì cơn sân nổi lên mà con không biết, cảm thọ diễn ra quá nhanh nên con không cảm nhận được ngay cảm thọ, con chỉ cảm nhận trong tưởng và hành, nhưng ý hành tịnh nên nó chuyển qua thân hành và khẩu hành, ngay đó con thấy rằng con không kiểm soát được. Con xin hỏi sư phụ có khi nào mình tịnh chỉ ý hành thì chuyển qua thân hành với khẩu hành không ạ?

Sư Phụ: Cảm giác sân sanh khởi lên rồi phát ra miệng và hành động nhưng nhanh quá nên mình không kịp cảm nhận, đó là do sự nhận diện ngũ uẩn chưa sâu sắc, lúc đó mình không có chánh niệm tỉnh giác nên mình để cho cảm thọ vượt qua gọi là vượt đèn đỏ, giống như karaoke mở lên mà mình chống cự không được là mình cũng hát theo nhạc luôn. Tức là sự nhận diện ngũ uẩn của chúng ta không có tinh tế, tinh tường, tâm chúng ta lúc đó không tỏa sáng, bị vô minh không hề hay biết nó vận hành nên nhập chung với nó cho nên từ ý hành phát ra thân hành, khẩu hành chứ không có một hành động, ngôn ngữ nào không xuất phát từ ý hành, nó phải từ trong cảm thọ, trong suy nghĩ mới phát ra ngôn ngữ và hành động. Trường hợp thứ nhất là do chúng ta bị vô minh, lúc đó trí ngũ uẩn bị mất, chúng ta hoàn toàn sống với cái tôi và cái của tôi, sống với thói quen, tập khí, tập tánh, đến khi xong rồi mới phát hiện ra.

Trường hợp thứ hai là bị cảm thọ sân dẫn dắt, lôi kéo, áp đảo chúng ta. Thành ra có những trường hợp mình nghĩ là mình không sân, mình sẽ tỉnh táo, kiềm chế được cho nên khi gặp chuyện thì lúc đầu còn kiềm chế nhưng lát sau bị cảm thọ sân dẫn đi, chính vì vậy Đức Phật nói rằng đừng tin vào tâm ý của mình, khi nào tâm thanh tịnh, sạch lậu hoặc mới tin được tâm mình. Cái tham cũng giống vậy, mình nghĩ rằng mình làm chủ được tham ái nhưng đến khi duyên xúc đến thì lúc đầu rất cẩn thận nhưng lát sau sẽ bị cuốn theo đó. Chính vì vậy sự nhận diện ngũ uẩn rất quan trọng, vì sự nhận diện hiện tại của chúng ta chưa được thuần thục, khi nhớ khi quên, khi mờ khi tỏ, khi có khi mất hoặc có khi sống luôn với vô minh, tham ái của một người phàm phu bình thường, mình bị điều này rất nhiều và lúc đó hoàn toàn không thấy năm uẩn, không thấy pháp mà chỉ thấy một cái tôi và của tôi. Chính chỗ đó chúng ta cần ngồi thiền nhìn lại nội tâm thật nhiều, nhiều khi bị phóng tâm rồi lát sau mình mới nhận ra mình đã vượt đèn đỏ, vì thế câu hỏi này cũng giống với ý hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ cùng đại chúng. Hôm trước chúng ta có buổi pháp đàm nói về sự xúc chạm với vô minh, vì đó là buổi pháp đàm nên không có thời gian nghe kĩ lời Đức Phật, hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh Pàrileyya, Tương Ưng Bộ, Tập III.

Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

Rồi một Tỳ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:

-- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.

-- Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.

Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pàlileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pàlileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.

Rồi nhiều Tỳ-kheo đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:

-- Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ananda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ananda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.

Rồi Tôn giả Ananda cùng với các Tỳ-kheo ấy đi đến Pàlileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỳ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ.

Lúc bấy giờ, một Tỳ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: "Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?"

Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỳ-kheo ấy, liền nói với các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỳ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.

Dầu cho, này các Tỳ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỳ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: "Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, IX. Pàrileyya)

Nghĩa là ba mươi phẩm trợ đạo đó chính là phương pháp làm cho các lậu hoặc, phiền não, tham sân si, vô minh, bản ngã lập tức được đoạn tận. Tức là những phương pháp, cách thức của ngài được giảng thuyết đã đầy đủ, viên mãn, không còn thiếu gì nữa vậy mà vẫn có người suy nghĩ làm thế nào để lậu hoặc được đoạn tận lập tức, chỗ này rất sâu sắc. Chúng ta cứ đi tìm ở ngoài ba mươi bảy phẩm trợ đạo, chúng ta còn nghi vấn, đòi hỏi, tìm kiếm một thứ gì khác nữa? Thật ra ngoài ba mươi bảy phẩm trợ đạo này không còn gì nữa, đây cũng là lý do ngày xưa Minh Thành cứ đi cầu học hoài, mình cứ nghĩ còn một cái gì khác nữa, mình không thấy phương pháp trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo là mình không thấy pháp, chưa rõ pháp, chưa thông suốt về pháp. Đức Thế Tôn đã nói bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy bồ-đề phần, Bát Thánh Đạo đã được giải thích thuyết giảng mà vẫn có vị Tỳ-kheo suy nghĩ làm thế nào để biết các lậu hoặc được đoạn tận, như vậy người này suy nghĩ phải có một cái gì khác ngoài ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Chỗ này cực kì sâu sắc, tuy rằng chỉ có một sự kiện như vậy thôi mà nó cực kì sâu sắc để chúng ta xác quyết về pháp hành ngoài ba mươi bảy phẩm trợ đạo bên trên thì không còn cái nào khác nữa, đừng nghi ngờ cũng đừng tìm kiếm thêm nữa. Sau đó Đức Phật vẫn trả lời cho câu hỏi của vị Tỳ-kheo đó.

 Này các Tỳ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, IX. Pàrileyya)

Bài kinh này là pháp hành mà chúng ta đang thực hành. Kẻ vô văn phàm phu cho rằng sắc này là tôi, sự nhìn nhận, suy nghĩ, quan điểm như vậy là hành.

Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Đối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỳ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, IX. Pàrileyya)

Đức Phật nói rằng quan điểm cho rằng sắc này là tôi, là của tôi là hành uẩn, suy nghĩ cho rằng thân này là tôi, là của tôi thì đó là hành, suy nghĩ cho rằng hình hài này là tôi, là của tôi là hành. Kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Thánh, không thuần phục các bậc Thánh, không học pháp các bậc Thánh cho rằng sắc này là chính họ, là tự ngã, là tôi, là của tôi. Sự nhìn nhận đó, quan điểm, suy nghĩ đó là hành. Sau đây Đức Phật sẽ đi sâu vào nguồn cội của suy nghĩ này, tại sao có suy nghĩ đó, nguyên nhân nào có suy nghĩ đó, tại sao sanh khởi, tại sao có mặt trong con người chúng ta, suy nghĩ cho rằng thân xác này là tôi, là tự ngã của tôi tại sao có mặt, tại sao sanh ra suy nghĩ đó, tại sao có sự nhìn nhận, quan điểm đó. Đối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỳ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh, câu này mình có đọc tụng mấy chục năm cũng không hiểu nếu không được hướng dẫn thực tập nhận diện ngũ uẩn. Bình thường mình học xúc sanh thọ nhưng ở đây tại sao lại cảm xúc bởi thọ sanh ra? Xúc này là ý xúc, khi trong tâm có hình bóng, có cảm giác, suy nghĩ thì lúc đó ba pháp hội tụ, ví dụ các cô lên Linh Quy học thì tự nhiên trong tâm các cô khởi lên hình bóng căn nhà của mình. Khi hình bóng sanh khởi mình có cảm xúc thân quen, yêu mến căn nhà, có suy nghĩ đây là nhà tôi, khi cảm xúc đó, ý xúc ba pháp giao thoa rồi mình để ý vào trong thấy hình bóng căn nhà, có cảm giác yêu thích, có suy nghĩ căn nhà đó của mình thì ngay đó mình có cảm thọ thứ hai, "không biết bây giờ mọi người ở nhà đang làm gì", đây chính là cảm xúc do thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh. Lúc đó mình thấy rõ hình bóng căn nhà, những suy nghĩ xung quanh căn nhà đó và cái ngầm ý bên trong đó là căn nhà của mình, sự giao thoa tiếp xúc của thọ; tưởng; hành trong tâm chạm vào vô minh, đó là do xúc chạm vô minh nên khát ái sanh ra, sự yêu thích căn nhà, sự nhớ nhung căn nhà, ý nghĩ nắm giữ, hệ lụy, dính mắc với căn nhà sanh khởi ra thì đó là khát ái.

Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, IX. Pàrileyya)

Do sự yêu thích, hệ lụy, bám giữ căn nhà đó cho nên những suy nghĩ tiếp tục sanh ra phía sau, thọ; tưởng; hành thứ hai, thứ ba, thứ tư… sẽ sanh khởi cho nên do có khát ái mà hành sanh ra. Do khát ái ấy mà hành sanh ra và những suy nghĩ tiếp tục về căn nhà yêu dấu, căn nhà thân thương, căn nhà của mình, căn nhà ấm áp tiếp tục sanh ra, đó là do khát ái mà những suy nghĩ đó sanh ra.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy... thọ ấy... xúc ấy... vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, IX. Pàrileyya)

Như vậy người có trí ngũ uẩn, người có thiền quán, quán chiếu sẽ có suy nghĩ hình bóng căn nhà đó là vô thường, bản thân căn nhà đó là vô thường, sắc tưởng là vô thường, ý thức là vô thường, đó là pháp do làm ra, do lắp ráp, do kết hợp nên vô thường, trống rỗng. Sự tham muốn, ưa thích đó cũng vô thường, trống rỗng, là do duyên sanh vì hình bóng căn nhà hiện ra rồi mới có cảm giác, suy nghĩ, nếu không có hình bóng ấy hiện ra thì không có khát ái, sự yêu thích đó. Khát ái ấy là vô thường, cảm thọ ấy là vô thường, xúc ấy là vô thường, là hữu vi, là do duyên sanh, vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Người có nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy cả một sự vận hành này là những pháp mắt xích, lắp ráp, kết hợp, trống rỗng, trống không, tan hoại, ảo ảnh, bị vô minh và khát ái ám ảnh. Mình đang ngồi đây nhưng thật chất không có gì ở đây, căn nhà đó có thể sụp đổ bất kì lúc nào, nó là tứ đại, là pháp kết hợp, nó là pháp duyên sanh, hoại diệt, tan rã. Do thấy, do biết như vậy mà các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức, sự yêu thích, dính mắc, luyến ái đối với căn nhà sẽ lập tức tan biến, an tịnh và lắng dịu. Đây là chỗ rất sâu sắc trong pháp hành.

Chúng ta sẽ qua một ví dụ khác đi sâu hơn nữa. Khi chúng ta ngồi thiền nhưng trong tâm hiện lên hình bóng của tự thân như chút nữa xả thiền sẽ làm gì đó, khi hình bóng hiện ra thì cảm giác đi theo, suy nghĩ chạy quanh quẩn. Lúc đó căn – trần – thức ba pháp này tiếp xúc, sự tiếp xúc của ý hình thành đó là ý xúc, ngay đó cảm thọ sanh ra, cảm xúc của mình tùy thuộc vào việc xả thiền đi ăn, đi ngủ hoặc đi làm việc, tùy theo đó sẽ sanh ra cảm thọ tương ứng, những cái đó sanh khởi ra như vậy xúc chạm với vô minh vì lúc đó mình không có trí ngũ uẩn, mình không biết cái pháp này là ý căn, đây là pháp trần, kia là ý thức, đây là ý xúc mà chỉ thấy đây là tôi, là của tôi cho nên lúc đó xúc chạm với vô minh. Lúc đó mình không có trí tuệ về ngũ uẩn, không có chánh tri kiến, trong trú trong cái thấy của pháp thì lúc đó là vô minh, khát ái sanh ra. Nếu mình nghĩ sau khi xả thiền sẽ ăn tô mì cay Hàn Quốc nóng hổi hoặc xả thiền ra sẽ chui vào mền ngủ cho ấm thì tất cả những cái đó xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Trong tâm mình lúc đó chấp nhận hình bóng đó là tôi, là của tôi, chấp nhận tô mì, gối mền ấm áp đó thì xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Yêu thích hình bóng đó, dính mắc với hình bóng đó nhưng nếu không thấy đó chỉ là tưởng, là những suy nghĩ, cảm thọ rồi nhập cuộc chung với nó thì gọi là xúc chạm với vô minh. Lúc đó mình bị xúc chạm với vô minh chứ không có xúc chạm với minh, phải thấy rõ các pháp và không bị đồng hóa mới gọi là minh. Cho nên khi ngồi suy nghĩ giận ai, tức ai, thương ai thì đều là xúc chạm với vô minh, thấy rõ ràng có tôi, có của tôi, có người kia nói nặng nói nhẹ thì xúc chạm với vô minh, mặt phải và trái của ái là sân cho nên mới ngồi đó giận hoặc thương, như vậy cái giận, cái thương đó là khát ái, là tham sân. Từ sự yêu thích, dính mắc đó mới sanh ra suy nghĩ, hành được sanh ra, như vậy suy nghĩ cho rằng tôi và của tôi, suy nghĩ đó vô thường, suy nghĩ đó là do lắp ráp, kết nối, duyên sanh, tạm bợ, không có thật, yêu thích, tham muốn trong suy nghĩ đó là vô thường, biến đổi, là sự kết hợp, những cảm giác, sự tiếp xúc đó là vô thường, hữu vi, duyên sanh, cái vô minh không tỉnh táo sáng suốt để thấy cái pháp là vô thường, hữu vi, duyên sanh cho nên phải phá vô minh thì minh mới được sanh ra, nếu không phá vô minh thì làm sao tu thành tựu minh? Những lúc trình pháp, thiền quán tỉnh táo, minh mẫn thì mình không bị những thứ này lừa gạt, còn những khi không tỉnh táo chánh niệm thì xúc chạm với vô minh, khát ái sanh tức là bóng đèn trong tâm bị mờ, ngọn lửa bị tắt nên không đủ sức tỏa sáng để thấy rõ những gì đang hiện hữu, có mặt trong tâm. Điều này trở về câu hỏi lúc đầu, do bị bóng đêm trùm phủ cho nên những lời nói, hành động, suy nghĩ đều ở trong bóng tối, đến khi nhớ ra thắp đèn lên mới biết nãy giờ mình đã làm sai, làm hư hao.

Đây là lý do tại sao chúng ta phải thiền quán, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, phải thường xuyên nghe pháp, vì nếu không có những điều này mình sẽ thường xuyên ở trong vô minh. Thậm chí ngay lúc nghe pháp mà tâm không tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, không phá trừ năm triền cái thì ngay đó vẫn xúc chạm với vô minh, khi mờ khi tỏ, khi rõ khi không. Địa chỉ thường trú trong vô lượng kiếp của chúng ta là vô minh và khát ái, lúc nào được nghe pháp, suy ngẫm, tác ý, thiền quán, nhận diện năm uẩn thì có được đôi phần của minh, chỉ cần lãng quên là ánh đèn bị tắt, bóng tối bao trùm và cái tôi hiện lên to lớn, cái ta phân minh và những cái tham muốn, yêu thích lộ rõ, sung mãn. Sự tu này rất vi diệu, Đức Phật đã nói do thấy vậy, do biết vậy mà các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức, bất cứ lúc nào mình thấy cái đó là vô thường, khổ, là vô ngã, trống rỗng, trống không, căn nhà đó trống rỗng, hình bóng tự thân trong tâm là trống không thì lửa xuất hiện, đèn cháy và ánh sáng tỏa ra, còn suy nghĩ cho rằng sắc này là tôi, là của tôi là hành, sự suy nghĩ này có ra là do xúc chạm với vô minh, rồi sanh ra khát ái. Cho nên khi nào mình còn nghĩ rằng "tu cái này khó lắm, tìm cái nào cho dễ dễ" thì đó là vô minh, lúc nào quán bất tịnh mà chỉ toàn thấy tịnh là vô minh, suy nghĩ "không dễ đoạn tận dục ái" là vô minh, đó chỉ là hành thôi. Do xúc chạm vô minh nên khát ái mới sanh, sự yêu thích, suy nghĩ về tôi và của tôi là những thứ vô thường, những thứ si mê, hôn ám, ngu muội, suy nghĩ sai sự thật, nghịch Thánh trí, chống đối lại Thánh Pháp thì phải đánh đuổi sự ngu si, hôn ám đó, phải xử trí bè lũ vô minh, si mê, hãm hại giết người đó. "Mình còn trẻ nên tu từ từ thôi", "tu chơi chơi thôi" những suy nghĩ đó là suy nghĩ giết người, suy nghĩ vô minh làm mình buông lung, nó chỉ muốn mình chơi chung với ma quỷ chứ không muốn mình thể nhập Thánh trí, Thánh hiền. Phải đọc được hết những suy nghĩ, cảm giác đó, phải nhìn kĩ được những hình bóng đó rồi chúng ta sẽ thấy sự vi diệu, oai lực của Thánh trí tuệ, khi thấy biết đúng với sự thật được Đức Phật dạy thì các lậu hoặc ngay chỗ thấy biết đó sẽ tan rã và cứ tập thấy, tập biết như vậy hoài sẽ trở thành tuệ lực, tín lực, tấn lực, niệm lực nhưng trước tiên phải có niềm tin, nỗ lực, thường xuyên thực hành, tập trung tâm ý nhìn rõ bộ mặt của vô minh, khát ái thì tín – tấn – niệm – định – tuệ, ngũ căn biến thành ngũ lực.

Ở đây Đức Phật đưa ra bốn khía cạnh mà mình suy nghĩ về chấp ngã, cho rằng chính mình như là có sắc, cho rằng sắc ở trong chính mình, cho rằng chính mình ở trong sắc. Nghĩa là dù là kiểu này hay kiểu khác thì cũng cho rằng sắc pháp này, thân xác này là tôi, là của tôi, suy nghĩ đó là hành, suy nghĩ đó là do tiếp xúc với vô minh mà hễ tiếp xúc vô minh thì khát ái sanh. Lúc nào ưa thích, say mê, tham đắm thì lúc đó mình đang ở chung với vô minh, lúc nào thấy nhàm chán, ngao ngán, không ưa thích, ham muốn, chỉ muốn chấm dứt, muốn tâm được an tịnh, dập tắt hết sự khao khát này thì lúc đó mình ở trong minh trí. Chúng ta cần nhớ cái chuẩn này đối với năm dục trưởng dưỡng, những lạc thú của cuộc đời và chúng ta quay lưng lại, chỉ muốn chấm dứt những đời sống đầy rẫy dục ái, tham sân si này thì lúc đó chúng ta ở trong minh, trong trí, còn chúng ta chỉ thấy hồ hởi, hăng hái, thích thú trong những thứ sắc uẩn vô thường này thì lúc đó mình đang ở chung với vô minh và mình sẽ tiếp tục đau khổ.

Chúng ta cần suy tư rồi mới thấy cuộc đời bèo bọt này chẳng là gì cả, cuộc đời chúng ta giống như bọt bèo, cuộc đời chúng ta hết sức mong manh, nhỏ bé, ngắn ngủi nhưng tại sao chúng ta không thấy điều đó? Vì do bị vô minh che đậy nên khát ái mới sanh khởi. Hết giật giành đến mưu mô, xảo quyệt, hơn thua… cuối cùng ra đi chỉ có hai bàn tay trắng nhưng gánh nặng của ác nghiệp là khủng khiếp. Cho nên người tu phải thao thức, trăn trở rất nhiều, mình muốn đi đến chỗ nhàm chán trọn vẹn đối với tất cả mọi sự vật trên thế gian này, làm sao để trú được trong cảm thọ nhàm chán. Mọi người có biết không, mới đây thôi có một sự kiện không thể tưởng tượng được, người cha rầy la, quở trách đứa con trai mới học lớp chín phải lo học hành, đừng mê chơi, hai cha con nói qua nói lại trong lúc đang ăn cơm thì người cha cầm đũa đâm vào ngực đứa con, dù đã được cấp cứu nhưng không cứu được đứa nhỏ, sau khi lỡ tay giết con mình thì người cha đã đi đầu thú và suốt đời phải sống trong cảnh hối hận. Thương con nhưng chẳng may lỡ tay tước đoạt mạng sống của con, dưới bài báo có rất nhiều lời bình luận xót xa đau lòng:

"Vừa thương cháu vừa thương người bố. Mong rằng các con hãy biết suy nghĩ rằng nên như thế nào và không nên để bố mẹ phải chịu những cảnh như thế này".

"Không có người cha nào muốn giết con mình hết, chắc nó hỗn quá nên người cha giận quá mất khôn thôi".

"Hổ dữ không ăn thịt con, chắc lỡ tay thôi. Tội cho gia đình họ quá, mong các bậc sanh thành lấy đây làm bài học".

"Vậy là tan nát một gia đình, quá đau đớn, hết thật rồi, đáng tiếc, quá buồn. Cầu mong bình an cho tất cả mọi người".

"Đẻ mãi mới được đứa con, phút nóng giận hận nửa đời".

"Thật quá đau lòng, cha mẹ phải uốn nắn con từ nhỏ, một phút nóng giận ân hận cả đời. Tội nghiệp cháu nhỏ".

"Lấy đũa đâm vào động mạch làm tử vong con trai vì chuyện thi học kì là chuyện ngu xuẩn, tàn ác nhất thiên hạ".

Đó là sự xúc chạm với vô minh, sân sanh khởi lên làm mất khôn, thật sự chúng ta làm sao phải nuôi dưỡng cảm thọ nhàm chán này ngấm vào da, vào xương, vào thịt, vào tủy, làm cho cảm thọ này luôn thường trú trong thân tâm mình, phải cảm thấy một sự ê chề, ngao ngán, nhàm chán tham sân si tội ác này. Một khi cơn giận nổi lên là quên hết mọi thứ, thậm chí cả con cái, anh em, vợ chồng. Đau khổ cho cuộc đời này! Đau đớn cho thế giới này! Đau lòng cho thế gian này! Vì thế các bậc Thánh, các bậc đã thành tựu chánh kiến trí tuệ nhìn cuộc đời này không có chút gì trong này đáng để ưa thích, đáng tham muốn, nắm giữ. Chúng ta phải tác ý thường xuyên để nhắc nhở bản thân, phải phá vỡ hình bóng ảo ảnh trong tâm (thân kiến), không có gì đáng luyến ái mà chỉ đáng rời xa, chấm dứt mọi thứ. Hằng ngày có vô số sự kiện xảy ra và chỗ quan trọng nhất của chúng ta là phải phá cho được cảm giác an toàn, làm sao để phá vỡ cảm giác an toàn trong người, đừng bao giờ nuôi dưỡng và cho lưu trú một cảm giác an ổn, bình yên trong thân xác này, trong cuộc đời này, trong đời sống này, cái đó là tương ứng với trí tuệ. Nếu chúng ta có cảm giác an ổn, cho rằng mọi thứ đều bình an thì chúng ta sẽ tham sân si, chúng ta sẽ tạo nghiệp, nếu chúng ta nhìn thấy lửa đang bốc cháy, sắp địa chấn, tật bệnh đột nhiên ập đến, cái chết bất cứ lúc nào cũng xảy ra và chúng ta thường sống trong sự lo sợ, sợ hãi và phải như vậy. Trong Tương Ưng Bộ kinh, Đức Phật nói rằng ngũ uẩn là thứ đáng sợ hãi, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó là đáng sợ hãi, những đống tham sân si, bản ngã đang vận hành trong tâm chúng ta đáng sợ hãi, đáng lo lắng. Chúng ta phải thấy đau nhức, nhức nhối, đau khổ, chúng ta phải thật sự thương xót cho chính mình, chỉ những kẻ vô minh mới sống trong sự lãng quên, sống trong sự lững lờ, si mê và ám muội, người ngu mới tham đắm, kẻ trí nào đắm say cuộc đời này.

Hãy đến nhìn đời này,

Như xe vua lộng lẫy,

Người ngu mới tham đắm,

Kẻ trí nào đắm say.

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 171)

Người ngu mới lo hơn thua với nhau, mới lo thị phi với nhau. Mới đây thôi có người về núi tu học, được đem hết tấm lòng chia sẻ pháp và được giáo dưỡng đủ điều vậy mà ra đi nói xấu rất nhiều, con nghe chỉ thấy xót thương, chỉ một cảm thọ xót xa và đau lòng cho thế giới này. Mình muốn cho nó không như vậy nhưng không thể được vì bản chất của ngũ uẩn là như vậy cho nên Minh Thành khuyên các Phật tử, nhất là Diệu Trang và từ cư sĩ cho đến xuất gia phải tôn pháp làm thầy, phải lấy pháp làm chí thượng, làm bàn thờ thì mình mới bớt khổ, hết khổ. Nếu tâm không vững vàng thì sóng gió, bão táp phong ba của cuộc đời này sẽ thổi mình bay xa, chúng ta phải trụ trong pháp cho vững chắc, phải làm mọi cách bằng mọi suy nghĩ để cho mình trụ vững chắc trong Thánh Pháp thì mình mới có sự bình an. Đừng quan tâm tiếng khen chê của mọi người trên đời vì nó không là gì cả, một mai kia tất cả chúng ta đều cùng nằm dài trên đất, bị vứt bỏ vô thức như khúc cây vô dụng, một mai kia tất cả chúng ta đều trở thành cát bụi, hãy nhìn hủ tro cốt của bà Năm đi rồi không bao giờ cho phép mình quên cái chết, không bao giờ được quên mình sẽ chết. Mình không có thời gian nhìn ngó bất kì ai, con bò bị cưa sừng rồi còn gì nữa mà hăng hái, tranh đua, nguyện tâm như chiếc nùi giẻ rách thì có gì để ngã mạn, khoe khoang, nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất nên có gì để lên mặt dạy đời. Đừng bao giờ quên cái chết, vì chúng ta không nhớ cái chết nên cứ chạy theo tham sân si, bản ngã, vì chúng ta không nhớ bệnh đau, già nua, sự diệt vong nên chúng ta cứ nhởn nhơ rong chơi và phóng dật. Chúng ta không được phép quên cái chết và chúng ta không được phép quên cái đống tham sân si, vô minh, bản ngã này còn đang ngự trị, đè đầu cưỡi cổ, đang là một gánh nặng trên vai chúng ta. Chúng ta không bao giờ quên sự tham ái, tham dục, tham đắm đang ngự trị trong tim nên chúng ta còn bị tai họa, bất hạnh, không phải chỉ khổ trong hiện tại mà còn khổ trong vô lượng kiếp về sau. Chúng ta là những kẻ bất hạnh, tai họa, đừng bao giờ quên mình đang gặp hoạn nạn, tai nạn. Hãy hiến thân cho Chánh Pháp, hiến thân cho thiền định, hiến thân xác, đời sống này cho Thánh Pháp tối thượng, nếu không cả cuộc đời này chỉ có buông lung phóng dật, tạo đầy những ác nghiệp vô minh và khát ái. Hèn hạ và tồi bại là cuộc đời đầy rẫy tham sân si, bản ngã, đi đến đâu là bản ngã đến đó, đi đến đâu làm khổ cho người ta đến đó, đi đến đâu là gây sự đến đó, đi đến đâu là gieo rắc những hận thù, xấu xa, tội lỗi. Nhục nhã cho một đời sống vô minh, si ám, sống như vậy thật là hèn hạ, thật là bất hạnh cho chúng ta phải sống trong một đời sống vô nghĩa, vô thường, làm những chuyện vô bổ. Đau khổ cho mình người, chất chồng vô minh, tham ái, sân si và ác nghiệp. Phải thao thức, ưu tư và lo lắng thật nhiều, phải đem cả sinh mạng để đánh đổi Thánh Pháp tối thượng. Tâm tâm niệm niệm tác ý thiền quán, phải nhất hướng nhàm, chán ly tham, diệt tận, an tịnh, chứng ngộ, thắng trí, Niết-bàn, hãy dập tắt hoàn toàn ngọn lửa trong tâm của mình, đừng quan trọng ánh nhìn, tiếng nói, cách cư xử của người khác vì những thứ đó đều vô nghĩa và không quan trọng. Không quan tâm những gì người khác nói, người khác nghĩ mà quan trọng là đã thấy pháp hay chưa thấy, đang ở trong minh hay vô minh, dục ái đã nhiếp phục chưa, sân hận đã lắng dịu chưa, bản ngã được diệt tận chưa, đó mới là cái cốt lõi nhưng sao lại không thấy quan trọng? Hãy chuẩn bị tư thế lúc nào mình cũng có thể chết, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu mình cũng có thể ngã sụp xuống. Đừng bao giờ cho rằng đời sống này là an toàn, đó là cái nhìn ngu si, ngu muội, một ngày chúng ta sống bao nhiêu giờ trong vô minh, bao nhiêu tiếng trong minh, vậy mà không biết lo lắng rồi bất thình lình cái chết đến thì chúng ta đi đâu? Mẹ cha chết rồi mình giúp cho họ được điều gì? Con xin thưa đại chúng, bất cứ lúc nào đại chúng không còn nhìn thấy con nữa thì cũng đừng tìm kiếm, đến một thời điểm nào đó con sẽ ra đi để làm công việc của mình cho hoàn thành, thật sự con nhàm chán thế gian này tận xương tủy rồi, hãy cố gắng trong những buổi học pháp, hành thiền. Một lúc nào đó Thích Minh Thành này cũng nằm dài ra trở thành cát bụi, một lúc nào đó cũng quải đãi để dấn thân vào thiền định, tất cả những việc làm ngoài pháp ra chỉ toàn là vô nghĩa, không có gì có ý nghĩa trong cuộc đời ngoài Thánh trí tuệ này, cả ngọn núi đó là trống rỗng trống không, những con người ở đó cũng trống rỗng trống không, tự thân mình cũng trống rỗng trống không, những người xung quanh mình rồi cũng trống rỗng trống không và đi đến chỗ diệt tận, tan hoại, hoại diệt. Cả thế gian này không có chỗ dựa, chỉ có Thánh Pháp duy nhất mà thôi, nếu không có chân đứng trong pháp và luật thì mình sẽ rơi xuống vực sâu.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô và đại chúng. Con có một câu hỏi, trước khi về đây tu học thì con yêu thích công việc, trong thời gian đó con thấy an tịnh lắng dịu và con an trú vào sự an tịnh lắng dịu. Con xin sư phụ giúp con phá vô minh, trong lúc con an tịnh lắng dịu, con cảm thấy tâm sân ngày xưa ít khi con có thì nay lại khởi lên nhiều hơn. Hôm nay bài pháp cho con thấy nếu không nhìn nhận ngũ uẩn liên tục thì mình sẽ bị vô minh bao trùm, con hiểu thêm phần nào vô minh đồng nghĩa với bản ngã. Lúc nào con cũng chuẩn bị tinh thần mình sẽ chết thành ra con nghĩ mình an trú vào sự an tịnh lắng dịu thì khi ra đi mình sẽ an tịnh lắng dịu nhưng con có cảm giác đó giống như sự tẩy sạch tâm ý, giống như tâm ý này lừa đảo con. Con xin hỏi sư phụ con sẽ an trú vào đây để được an tịnh lắng dịu.

Sư Phụ: Bây giờ cô cần thực tập tâm từ nhiều hơn để xóa đi cảm thọ sân vi tế trong nội tâm.

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, kính bạch sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng. Con có thắc mắc không biết con tu tập đã đúng chưa, xin sư phụ chỉ dạy thêm. Khi ở nhà con thiền quán, con thấy khi tâm chạy theo cảnh, các căn không chế ngự thì con thiền quán sẽ làm việc mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khi con làm việc thì con dùng cái tưởng mạnh rằng moi hai con mắt ra và nói "con mắt này mày thấy là dính mắc, sống làm khổ mình khổ người, tại sao tu mà thấy gì cũng dính mắc". Buổi tối ngồi thiền con đều moi hai con mắt con ra và nói "hai cục này là hai cục gân chứ có gì đâu mà dính mắc rồi phiền não, khổ đau", đến lỗ tai con cũng dùng tưởng "hai tai nghe tiếng vui thì ham thích còn tiếng chê thì phiền não, cái gì cũng dính mắc". Con dùng Như lý tác ý "Từ đây trở về sau phải tu lỗ tai", đến cái miệng con cũng tác ý "Cái miệng này nói dối, chuyện có nói không, chuyện không nói có", con dùng cái tưởng "bẻ hai hàm răng ra, cắt lưỡi ra vì mày đã làm khổ tao bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp rồi". Con dùng cái tưởng mạnh để đánh nó và ngồi thiền tác ý liên tục như vậy thì hữu lậu không chen vào, con thấy dùng pháp mạnh như vậy thì con thấy mình hành hạ cái thân mình quá không biết có sân không cho nên sư phụ chỉ dạy thêm con tu có đúng không nhưng con thấy mình đỡ phóng dật hơn.

Sư Phụ: Đó là Như lý tác ý quở trách những cái ác nghiệp, đó là đúng lời Phật dạy, nhằm nhắc nhở, cảnh tỉnh bản thân. Ngoài ra cần ứng dụng thêm hộ trì căn, mình biết mình hay nhìn ngó gây phiền não thì phải hộ trì căn cái nào cần nhìn mới nhìn, đừng nhìn ra bên ngoài nhiều, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và tiếp theo là sám hối. Nếu mình thấy hôm đó mình có làm điều gì là xấu, bất thiện pháp, có lỗi thì sau giờ ngồi thiền rầy la rồi sám hối hoặc là sám hối trước rồi ngồi thiền sau, cần sám hối ngay trong ngày đó, tức là mình làm nhiều cách từ Như lý tác ý, hộ trì căn cho đến sám hối. Như vậy cứ đánh mạnh vào các mặt đó sẽ giảm thiểu, từ từ được nhiếp phục chứ không phải chỉ làm một cách, phải làm nhiều cách nhưng cái nào nặng nhất thì dành nhiều thời gian cho nó, cần thiết là nguyên cả buổi ngồi thiền rầy la, quở trách. Chính vì vậy thời thiền của chúng ta rất phong phú chứ không phải chỉ ngồi thở ra thở vô, chúng ta có thể ngồi nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp, chúng ta có thể thiền quán, Như lý tác ý hoặc có thể ngồi đó xử tội chính mình, lôi ra những thói quen tập khí nghiệp chướng trong thời thiền để mổ xẻ, giải phẫu và lấy tòa án lương tâm xử trí, làm cho nó xấu hổ, nhục nhã để từ đó về sau biết sửa đổi, đó là điều tốt.

Phật tử 3: Khi con quán tâm từ thì con nhìn thấy hình bóng mẹ mình, sau đó cái tưởng quán chiếu những bộ xương được xếp lớp với nhau, trong đó có bộ xương của con. Thưa sư phụ, xin sư phụ chỉ dạy cho con, con tri ân sư phụ rất nhiều.

Sư Phụ: Minh Thành không nghe rõ lắm, không biết câu hỏi của cô thứ nhất là nhìn thấy mình tạo nhiều nghiệp xấu, thứ hai là khi trải tâm từ thì hình bóng người mẹ hiện ra, sau này lại thấy hình bóng bộ xương phía dưới, không biết có phải không.

Thứ nhất cô phải thực tập tâm hiền và lạy sám hối, bài Đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất rất quan trọng. Những vị đã có nền tảng hiền thiện tu thêm tâm hiền và lễ bài đó sẽ đưa mình vào trú trong tâm hiền trí, còn những vị nghiệp khá nặng cũng sẽ nhờ bài đó để gội rửa ác nghiệp. Khi chúng ta thực hành phải nhớ đọc bài bằng cách thiền quán như Minh Thành đã đọc, mở bài Minh Thành đã đọc để vừa nghe vừa lạy trong sự sám hối, trong sự quán chiếu chân thành tha thiết để gội rửa thân tâm những ác bất thiện pháp trong quá khứ của mình. Trong con người chúng ta ai cũng có nhiều nghiệp xấu và nghiệp xấu ác này sẽ làm chướng ngại trong con đường thể nhập Chánh Pháp, gọi là nghiệp chướng và điều này rất quan trọng, có khi người ngoài nhìn thấy nhưng cũng có khi không thấy vì những nghiệp đó sâu kín trong tâm, những nghiệp này sẽ ngăn chướng khi mình ngồi thiền, khi mình tu tập, nó ngăn chướng từ ngoại cảnh và bên trong nội tâm làm cho chướng ngại, trở ngại, trắc trở để mình không tu được, đó là bên ngoài còn bên trong sẽ có cảm giác bức xúc, bực bội, chống đối, nổi loạn trong tâm. Những điều này phải nhờ sự sám hối nghiệp chướng, bố thí cúng dường, làm việc thiện bên ngoài còn bên trong là một sự chân thành tha thiết tu tập để hóa giải dòng cảm thọ tích tụ từ thuở xa xưa, lạy sám hối để gội rửa những cái ác bất thiện pháp một cách chân thành và tha thiết. Phải thường trú trong trạng thái tàm quý không chỉ trong giờ lạy sám hối mà ra khỏi giờ sám hối nhìn vào nội tâm cũng phải thấy mình là người xấu ác, bất thiện pháp đang xâm chiếm đầy ắp nên thấy xấu hổ, thường trú trong trạng thái xấu hổ và sợ hãi những quả báo của ác nghiệp, điều này cực kì quan trọng để mọi người thực hành. Phải thường trú trong tâm trạng xấu hổ và sợ hãi, tâm tàm quý này sẽ làm cho các ác nghiệp kia được lắng dịu xuống, các thói quen tánh tình trước nay nhờ trạng thái tâm của cảm thọ nhục nhã, lo lắng, sợ hãi những quả báo ác nghiệp làm cho những tập khí lắng dịu, cúi xuống, trong hiện tại nó bớt xuống và trong lúc sám hối, làm các việc thiện bên ngoài sẽ gội rửa những ác nghiệp của quá khứ. Cho nên việc làm của chúng ta là vừa chặn đứng việc ác trong hiện tại đồng thời gội rửa nghiệp ác trong quá khứ để tâm được trong sạch, thanh tịnh mới tiếp nhận được dòng Thánh Pháp, nếu không sẽ bị nghiệp chướng ngăn trở. Cũng như Mặt Trời chiếu ánh sáng nhưng bị đóng cửa nên ánh sáng không vào nhà được, cái chậu bị úp nên ánh sáng không vào được, đó là lý do có những người tu tập Chánh Pháp lại tinh tấn, tiến bộ đi vào chỗ thâm sâu, còn có những người cũng học tu nhưng lại không tiến bộ, không chuyển hóa được là do bị nghiệp chướng cản trở như cái chậu bị úp xuống làm ánh sáng không soi sáng được.

Nhật nguyệt tuy minh bất chiếu phúc bồn chi hạ,

Đao kiếm tuy khoái bất trảm vô tội chi nhân.

Phi tai hoạnh họa bất nhập thận gia chi môn. 

(Thái Công Lã Vọng)

Thái Công có nói "Mặt trời mặt trăng dù có sáng tỏ cũng không soi đến dưới lòng chậu úp, dao gươm dù có sắc bén cũng không chém hại người vô tội. Những tai họa bất ngờ không đến với người biết cẩn thận". Cho nên người bị nghiệp chướng, bị tâm vô minh và những nghiệp nặng của hôn trầm triền cái thì người này sẽ không tăng thượng trong Thánh Pháp, Thánh trí huệ vì vậy cần nhớ bài Đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất để thực tập tâm hiền là cực kì quan trọng.

Khi ngồi thiền nhớ hình ảnh của mẹ là ái, mình phải tác ý "Sự báo hiếu chân chánh chính là phá vỡ vô minh, tham sân si, bản ngã này mới thương mẹ, cứu mẹ, giúp mẹ còn ngồi đó thương nhớ rồi khóc chỉ mang hệ lụy, ràng buộc thêm chứ không thể giúp được gì hết", mình tác ý, quán sát như vậy thì từ từ hình ảnh đó sẽ tan biến.

Khi trải tâm từ hình ảnh những bộ xương hiện ra do mình quán chiếu thân bất tịnh, hình ảnh đó có sẵn trong tâm nên hiện ra cho nên hình ảnh đó là thiện pháp để mình nhàm chán, ly tham, xót thương chính mình và xót thương tất cả chúng sanh, đó là hình ảnh tốt. Đức Phật nói có một pháp môn được tu tập sẽ làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, có lợi ích lớn, có phước đức lớn, quả báo lớn đưa đến hạnh phúc, đưa đến an lạc Niết-bàn, đó là tu tập cốt tưởng, tức là tu tập về bộ xương.

Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.

Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)

Cho nên nhìn thấy thân xác này và những thân xác của các chúng sanh khác chỉ là những bộ xương, đó là cái nhìn đúng rồi từ đó mình mới xót thương dòng luân hồi này, cái tham sân si mê muội này rồi trải tâm thương rộng ra cùng khắp tất cả. Nhìn khắp chúng sanh là những bộ xương, đó là sự thật và chính mình cũng là bộ xương, vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên mới nắm chặt trong bộ xương này rồi không thoát ra được. Mình thấy một sự từ mẫn, bi mẫn, thương xót chính mình và thương xót cho tất cả mọi người, hướng đến sự ly tham, xuất ly, viễn ly, trải một tình thương cùng khắp tất cả chúng sanh vạn loại. Quý vị về núi tu học mười ngày thì hãy cố gắng tinh tấn, đừng để tâm vào những điều không cần để tâm mà hãy để tâm vào pháp. Quý vị nhớ thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, an trú trong cảm giác toàn thân, nhiếp phục tham sân si, bản ngã và nhớ trải tâm từ, đó là những pháp căn bản và quan trọng nhất trong sự tu tập. Ở núi đặt hết lòng hành trì và về nhà cũng tiếp tục thời pháp và thời ngồi thiền, đó là dinh dưỡng của tâm linh, ngọn đèn của Chánh Pháp để soi rọi con đường trong đời sống của tất cả quý vị.

./.