Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

(PLTCĐ 1) Thất Giác Chi Đưa Đến Viễn Ly- Ly Tham - Đoạn Diệt- Từ Bỏ - Tứ Niệm Xứ Trị Bá Bệnh

2026-03-03 00:55:36
Nikāya (PLTCĐ 1)

Thất Giác Chi Đưa Đến Viễn Ly

Ly Tham - Đoạn Diệt - Từ Bỏ

Tứ Niệm Xứ Trị Bá Bệnh

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thất giác chi PAGEREF _Toc214184397 \h 1

II. Không tranh luận với đời PAGEREF _Toc214184398 \h 5

III. Tứ Niệm Xứ đoạn trừ ô nhiễm PAGEREF _Toc214184399 \h 11

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc214184400 \h 15

V. Tu tập tâm, hạ bản ngã PAGEREF _Toc214184401 \h 16

I. Thất giác chi

Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, sáng nay con được ban văn hóa giao cho hai quyển kinh Nikāya phân loại theo chủ đề. Hai quyển này mới khoảng có mười chủ đề thôi đã gần bảy trăm trang, bậc đạo sư làm gần năm trăm chủ đề. Sáng nay trời lạnh con ngồi bên hồ soi bóng phơi nắng và cầm cái quyển thứ nhất này để ngồi đọc rồi cuốn hút, thấm thía, dạt dào như cái sự thật của Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao. Một lát sau nhìn lại thì được nửa cuốn rồi, là trên một trăm trang, con thấy quá là sâu sắc, thấm thía cho nên chiều nay chúng ta sẽ nghe một vài điểm pháp hành rất là vi diệu ở trong lời Đức Phật dạy.

Những cái lời dạy trong đây rất là đơn giản, rõ ràng, cụ thể, đánh phá vào trong những cái tham ái, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã của chúng ta. Bài nào cũng vi diệu hết, lời nào cũng thâm sâu và ý nghĩa nào cũng là chạm tới trái tim của mình, chạm tới cái ngu ngốc của mình, chạm tới cái tâm tham, lòng ái, những cái dục của mình. Trong đây từng cái chủ đề riêng biệt, chủ đề bệnh tâm và thuốc trị tâm bệnh gồm có năm mươi chín bài, trong đây chúng ta trích ngay chỗ cái bài 12, trang 108 là thuốc trị lợi dưỡng cung kính, bài 13 là bảy giác chi đâm thủng phá vỡ tham, sân, si. Những cái câu từ trong đây mình nghe mình càng hiểu Đức Phật mình càng kính ngài, mình càng kính ngài thì mình càng hiểu ngài và mình càng nỗ lực để hành trì những lời của ngài đã dạy.

"-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thể nhập phần (nibbedhabhàgiyam). Hãy lắng nghe.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường thể nhập phần? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:

-- Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến thể nhập?

-- Ở đây, này Udàyi, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ... " (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VIII. Thể Nhập)

Vị ấy nhờ tu tập nhớ thân này, nhớ cảm thọ này, quán nội tâm này, nhìn sâu ở trong cái sự vận hành ở trong nội tâm này thì vị này đâm thủng, phá vỡ cái đống tham từ trước đến nay chưa từng bị đâm thủng, phá vỡ cái đống tham mà từ trước đến nay chưa từng được phá vỡ. Câu này thôi nghe là ngồi đó là thấm thía, trước nay mình nghe sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, hôm nay mình nghe thêm cái từ mới là tham uẩn, sân uẩn và si uẩn. Nói tiếng việt là một đống tham, bên trong mình là sự tích tụ, chất chứa, gom góp, sự nhóm hợp một cái đống tham ái rất là to lớn mà từ trước đến nay chưa từng bị đâm thủng, chưa từng bị phá vỡ. Ngày hôm nay nhờ mình tu tập Tứ Niệm Xứ thì mình đâm thủng được cái đống tham đó, phá vỡ được cái đống tham đó.

Tại sao tu tập Tứ Niệm Xứ mới đâm thủng được đống tham, phá vỡ được đống tham? Mình quán tứ đại mình có giảm bớt tham không? Mình quán ba mươi hai thể trược có giảm bất tham không? Mình quán chín giai đoạn tử thi có giảm bớt tham không? Quán bộ xương có giảm bớt tham không? Một cái đống tham to lớn, nó giấu kí ở bên trong từ vô lượng kiếp đến nay mình chưa từng thấy mà giờ mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy, từ trước tới nay nó chưa từng bị đâm thủng mà bây giờ bằng cái thánh trí ngũ uẩn mình đâm thủng nó, từ trước đến nay nó chưa từng bị phá vỡ mà bây giờ mình vận dụng cái trí, mình dùng thánh đao, thần kiếm, thánh trí để đâm thủng, phá vỡ cái đống tham ái nó được sanh khỏi từ cái sự ngu si này, từ cái vô minh này.

Đọc câu này cái hạnh phúc, vừa đọc vừa thiền quán, đọc tới đâu là thấm tới đó, đọc tới đâu là sướng tới đó, đọc tới đâu là hân hoan, phấn khởi tới đó, đọc tới đâu là thích thú tới đó, đọc lên đâu là cảm thọ hỷ lạc, sung mãn chạy rần rần trong người mình. Một vị Tỳ-kheo phải là người hoan hỉ đối với sự ly tham, hướng đến sự ly tham, phải thích thú trong cái sự ly tham, sự từ bỏ các cái tham ái. Người chân tu là người phải đau khổ với cái tham của mình, đau khổ vì cái dục của mình, đau khổ vì cái ái của mình, nếu mình nhiếp phục được nó, mình chế ngự được nó thì mình vui sướng, mình hạnh phúc, mình hân hoan, mình phấn khởi, reo hò lên.

Chúng ta thấy sao này có đưa cái đoạn bậc đạo sư ngồi ca thánh khải hoàn ca, chúng ta có thấy cái đoạn đó không ạ? Trong cái mùa dịch ngài ngồi ca, bệnh ung thư cỡ đó, dịch bệnh cỡ đó là lo sợ nhưng ngài ngồi ca thánh khải hoàn ca, thánh hùng ca, vô thượng Phật đạo ca. Tuyệt vời không? Ngài sáng tác ra cái bài vô thượng Phật đạo rồi ngồi ca, con cũng muốn ngày nào đó con cũng ngồi ca, cố gắng lên không còn xa, ngồi ca là khỏe rồi không còn làm gì nữa hết. Cho nên mình tu Tứ Niệm Xứ hay lắm, tuyệt vời lắm, lúc nào cũng quay lại nhớ hơi thở, nhớ oai nghi, hành động, nhớ cái thân này có những yếu tố kết thành nó, cấu tạo thành nó, nó gồm có bao nhiêu bộ phận, các bộ phận này như thế nào, bản chất nó như thế nào, nó không có sạch sẽ, cái bộ phận này là cái tính chất bệnh hoạn, nhơ nhớt, tính chất duyên khởi, duyên sanh kết hợp, tính chất biến đổi, biến hoại, tính chất của ung nhọt, tính chất của mũi tên, tính chất của hố than hừng. Mình ngồi mình nhớ vậy đó rồi mình hướng đến sự ly tham.

"Này Cunda, Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp (với tâm ý)." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Ta nói rằng sự khởi tâm rất có ích cho các thiện pháp tức là như lý tác ý đó, hồi xưa mình không biết, mình tưởng ngồi thiền là đừng khởi gì hết. Cho nên ngài đưa ra chúng ta cái pháp hành, cái đạo lộ trong thánh trí là cả một cái công trình từng chữ, từng câu, mấy chục năm trời. Chỉ khởi cái tâm tác ý thôi là đã rất có ích cho các thiện pháp còn nói gì tới miệng nói và thân hành động theo nữa. Hồi sáng con ngồi bên hồ nước mà thấy hạnh phúc, ngồi phơi nắng bên hồ, soi bóng đọc thánh điển, chiêm nghiệm thánh trí, trên tay cầm thánh pháp, toàn thân thấm đẫm những cảm thọ thánh thiện, hiền thiện, hiền trí, đại tuệ của Đức Thế Tôn. Còn hạnh phúc nào bằng nữa? Cứ chạy lăng xăng để làm gì? Đọc cái này rồi nghiền ngẫm, đó là lý do con thường cho pháp đàm, phải đọc tới đọc lui rồi viết ra, đi ra gốc cây, ra bụi trúc ngồi nghiền ngẫm, suy tư. Mình ly tham đối với cái gì thì viết ra, từ ngày mình xuất gia tới nay, từ ngày mình gặp thánh pháp tới nay mình đã lìa được cái gì, bớt được cái gì thì ghi ra rồi đọc một mình, mình cười vì sung sướng, hạnh phúc.

Điều tuyệt vời của nhận diện ngũ uẩn là chúng ta thấy được cái đống sân trong cảm thọ, sau đó chúng ta đâm thủng được cái đống sân và kế đó chúng ta dùng thánh trí phá vỡ được những cái những cái đống sân này, cái đống giận này, những cái đống cảm giác bực bội, bức xúc, cọc cằn, khó chịu, cau có, bức bách, nóng bỏng, nhiệt não. Bây giờ tu cái gì thì Đức Phật cũng nói phải phá được tham, sân, si nhưng nếu tu hằng ngày mà ko thấy được tham, sân, si thì làm sao phá cho nên khi mình lên trình pháp không có thấy tham, sân, si.

"Tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập xả giác chi, đâm thủng được, phá vỡ được tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ.

Tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này Udàyi, bảy giác chi đưa đến thể nhập." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VIII. Thể Nhập)

Mình có một sự quyết trạch, giảng trạch, biện biệt, phân biệt khi thọ; tưởng; hành nó khởi lên. Phải biết cái đó thiện hay là bất thiện để mình giảng trạch, mình phân biệt, quyết trạch, mình có được con mắt để mình soi xét, chọn lựa và mình tu cái nào cũng đưa sự rời xa, tô cái nào cũng đưa đến ly tham, đưa đến chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ, rộng lớn vô lượng, không hận, không sân. Chúng ta tu là chúng ta trở về cái tâm rộng lớn đó, thường trú ở trong một cái tâm rộng lớn, vô tướng tâm định, trú trong một cái tâm rộng lớn còn mình không có chánh niệm tỉnh giác, không có quán sát là mình bị những cái cảm thọ không thôi cái suy nghĩ, cái hình bóng đó là cái tâm có chút xíu ở trong đó, đi ra không được. Ví dụ có một cái suy nghĩ gì đó cứ quần quần trong đó từ sáng tới trưa, tới chiều tới tối rồi bữa sau, tuần sau, cứ vòng vòng trong mấy cái suy nghĩ đó đi ra không được, giống như kiến bò miệng chén, không có tu cái tâm rộng lớn, tâm quảng đại, tâm vô lượng nên đó là lý do tại sao khi trải tâm mười phương thì lúc đó cái tâm rộng ra, lớn ra.

Con hay kêu nhìn lên bầu trời đi, khi nhìn lên bầu trời thì mình thâu cái tưởng nó vô rồi cất giữ, mỗi khi mình ngồi ở trong phòng hay là ngồi ở trong tường vách, trong kẹt, trong chỗ nào không gian chật hẹp mình vẫn dùng cái tưởng vô lượng đó để mình tu. Mình có nỗ lực tinh tấn diệt ác, hành thiện đi nữa thì mình cũng hướng đến viễn ly, chứ không phải là mình nỗ lực, tinh tấn để mình đi theo danh lợi, nhớ cái này nha, mất cái này là mất cái pháp ấn. Mình đang ở Linh Quy Pháp Ấn cho nên mất pháp ấn là đâu có ở đây, pháp ấn tức là viễn ly, là ly tham, là đoạn diệt, là hướng đến từ bỏ. Đó là pháp ấn tức là mình vẫn nỗ lực, tinh tấn mà nhưng không phải nỗ lực, tinh tấn để mình được người ta khen, được người ta công nhận, tán dương, được người ta đồng lòng mà mình nỗ lực tinh, tấn để mình hướng đến viễn ly tham, sân, si, viễn ly sắc; thọ; tưởng; hành; thức, viễn ly cái đống khổ uẩn này.

Bất cứ mình tu cái gì để mình hướng đến sự rời xa cái đống khổ này, cái đống khổ đau, cái đống bệnh hoạn này, cái đống bất an, đống tai họa, đống lo lắng, đống sợ hãi này, cái đống than hừng này, cái hố than hừng này, cái đống ung nhọt này. Mình đã quá xá khổ rồi nếu không có pháp thì chết cho rồi, may là có pháp nên mình còn sống, trên cuộc đời này không có gì đáng để sống hết, nhờ có thánh pháp cho nên mình mới sống nè, không có gì có ý nghĩa hết trơn, chỉ có thánh pháp mới có ý nghĩa, không có gì có giá trị trên cuộc đời nữa, chỉ có thánh pháp mới có giá trị, ngoài ra không có gì khác giá trị hết. Phải thấy rõ được cái điều đó bất cứ mọi lúc mọi nơi, khi mình thấy được cái đó rồi đó mình không còn hơn thua, không còn ganh tỵ, không còn tật đố, không còn đúng sai gì với ai gì nữa hết. Mình nhìn mình thấy cái đó giống như là cái trò trẻ con, mình thấy mình mỉm cười thôi hoặc là mình chảy nước mắt, chảy nước mắt là mình thương, mỉm cười là mình thấy mình ngu, trước nay mình ngu. Mình cứ chạy theo những cái bọt nước bong bóng đó, thiền quán bọt nước đi, thiền quán cát bụi đi, thiền quán ung nhọt đi, thiền quán bộ xương đi, thiền quán đống tro tàn đi, thiền quán chín giai đoạn tử thi đi, thiền quán cái thân giòi đi để rồi mình thấy rằng tất cả những cái hơn thua, đúng sai, phải quấy, vinh nhục của cuộc đời này chỉ là những cái trò dại khờ, ấu trĩ, trẻ thơ, ngu ngơ, si mê, không có ý nghĩa gì hết.

II. Không tranh luận với đời

Ví dụ ngôi chùa đang bốc hỏa vậy đó mà hai người ngồi ở đây để cự lộn với nhau, tôi nấu mới ngon chị nấu không ngon, tôi nấu vừa ăn chị nấu mặn, vậy thì ai đúng ai sai? Người có trí thì không có hơn thua cho nên Như Lai không có tranh với đời, chỉ có đời tranh với ta thôi.

"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))

Cho nên khi mình thấy được cái pháp rồi tâm mình rộng lớn, thâm sâu, cái tầm nhìn của mình nó xa, nó rộng, rất là xa, rất là sâu, rất là rộng, nó vượt qua những cái thường tình, những cái phàm tình, những cái mê tình, vọng tình, cái tình chấp. Mình thấy không có gì ý nghĩa, chỉ có cái ý nghĩa quan trọng là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si để xuất ly ngũ uẩn, chỉ có cái đó quan trọng thôi, không lo làm cái quan trọng mà lo làm cái gì. Cho nên nhiều khi con nói hay là cái gì mà cứ ngụy biện cái này, cái nọ, cái kia là con im luôn thôi, khỏi nói gì nữa hết vì người đó không có tu nên hướng dẫn cái gì nữa, không có thấy pháp, không có thực hành Tứ Niệm Xứ cho nên nhắc nhở là nhảy ra là đủ thứ ngụy biện, đủ thứ xảo biện, đủ thứ lý luận hết rồi thôi khỏi nói nữa. Tối thiểu khi mình nghe nhắc nhở, chỉ dẫn mình phải lắng lặng trở lại, an tịnh, lắng dịu trở lại, soi xét, tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, sám hối để mình sửa lỗi, nhận lỗi để cho bớt lỗi, hết lỗi thì đó mới người tu, còn này chạm tới cái là phẫn nộ lên, không có tu được, vẫn còn thương mình, còn bảo vệ mình, còn nuông chiều cái tôi, cái ta, này nhiều quá là không có tu được, không ai đụng tới được hết.

"Liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ", đây là thánh pháp ấn phải thuộc lòng, những cái từ này phải thuộc lòng và cứ niệm nó như là mình niệm Phật hồi xưa vậy đó. Tu tập bảy giác chi là liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, mình hoan hỉ cũng vậy nữa, hoan hỉ không phải là mình ham, mình thích, mình khoái, mình mê, mình dính trong nó mà mình hoan hỉ để hướng đế sự rời xa, thoát ra. Đây là chỗ đặc biệt, cái này mà mình không có nắm vững là mình tu cái nào dính cái đó, ví dụ như tu tâm hỷ là mình mê trong đó luôn, mình thích, mình khoái, không phải như vậy, tâm hỷ đó là đưa đến viễn ly, đưa đến ly tham, đưa đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Trong bài hỷ vô lượng tâm có đoạn "vui vì ta biết chán", cái này đặc biệt, không ai nói được cái này hết trơn. Hồi đó giờ quý vị đi học pháp có gặp ai dạy vậy không? Mình biết chán cho nên mình vui, xưa giờ con chưa từng thấy, chỉ có bậc đạo sư của con mới dạy cái kiểu tối thượng này thôi, vui vì ta biết ngán, vui vì ta thấy được khổ ta vui. Tuyệt diệu không? Độc đáo không? Độc nhất không? Phải thấy được cái đó là pháp ấn, là nhàm chán, ly tham, viễn ly, đưa đến từ bỏ, hướng đến đoạn diệt, thành ra tu cái gì bất cứ cái gì cũng hướng thấy viễn ly hết.

Mình xuống bếp làm cái món này mình rất là tâm huyết, mình nghĩ rằng "tôi là số một cái món này, món này là món ruột của tôi, tôi nấu mười năm nay cái món này, không ai nấu qua tôi hết trơn" ý nghĩ đó là bản ngã, ý nghĩ đó là tham ái, là chấp thủ, rồi từ ở trong cái tà tư duy, trong cái tà kiến đó là tinh tấn theo tà tinh tấn. Thấy sai nè, nghĩ sai nè, nói sai nè, làm sai, sống sai, xuyên sai, quán xét sai, tập trung tâm ý sai cho nên làm bằng bát tà đạo, vì làm bằng bát tà đạo nên người khác người ta vô nói "tôi biết cái này ngon hơn chị đó" là xảy ra chuyện. Như vậy mình nấu ăn đó là nấu tà, là hành tà đạo đó, nhiều khi mình hành tà đạo mà mình không biết, mình tưởng là mình đang chánh đạo mới khổ, cái khổ nhất là tà mà không biết mình tà, mê mà không biết mình mê.

Quý vị nghĩ Bát Chánh Đạo ở đâu xa? Chính là ngay chỗ nấu cơm đó, chánh tà hiển lộ, trạch pháp rõ ràng. Đi ra làm công tác cũng vậy nữa, giặt giũ, quét tước gì đó, "tôi là người kỹ", "tôi là phải người sạch sẽ, làm cho tôi là phải sạch sẽ", từ cái chỗ xuất phát điểm tà rồi. Tôi nào? Dùng cái trí tuệ mình quất cái tôi đó, từ cái chỗ mình thấy sai có cái tôi, nghĩ sai, nói sai rồi hành động trong cái sai, mình có siêng năng, tinh tấn gì cũng sai bét hết, hành xử của mình, cái nỗ lực, cố gắng của mình rồi tập trung tâm ý của mình sai cho nên mình làm hết sức kỹ rồi có người mang đô dép sình vô là lúc đó không còn thiền đường gì nữa. Tại vì tôi là phải sạch sẽ, tôi là phải gọn gàng, tôi phải như vậy, như vậy, không được khác, cái đó tu tới chết cũng không được giải thoát nữa, cũng không hướng đến viễn ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt cái bản ngã, không có hướng đến tự bỏ cái chấp thủ dù cái đó là tốt, nói theo ngoài đời thì cái đó nó là tốt nhưng mà tốt chấp trở thành ra xấu.

Dầu cho có giữ giới, có ngồi thiền, có giảng kinh, có nghe kinh, có làm tất cả mọi thứ bao nhiêu khổ hạnh đi nữa nhưng khen mình che người đều là phi chân nhân pháp, dầu cho chứng các tầng thiền định luôn nhưng mà khen mình chê người. Đó là lý do tại sao ngày bậc đạo sư nhấn mạnh bốn chữ khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, ngài nhắc cái câu đó hoài mà cái câu đó là cả một cái bài kinh chân nhân trong Trung Bộ Kinh, bất cứ mình làm cái gì mà mình thấy tôi có giữ giới nè, tôi là người có oai nghi, người kia không có oai nghi, tôi nhà giàu đi xuất gia, quyền uy, bằng cấp, tôi học vị, tôi đi tu thì như vậy là khen mình chê người, nhân ngã, ngã mạn. Tôi có thiền định mấy người kia không có thiền định, tôi có giữ giới mày kia không có giữ giới, tôi có đa văn nghe kinh, tôi hiểu biết này kia còn mấy người kai không có nghe, không có hiểu biết, tôi có trí tuệ hiểu biết nhận diện ngũ uẩn, mấy người kia không ai biết hết trơ, thì như vậy cái này là phi chân nhân pháp, khen mình chê người, cống cao ngã mạn.

Cho nên hiểu ra được mình phải thấy đúng mới tu, nhiều khi hằng ngày mình sống với bát tà không à, mình tưởng ra mình đang bát chánh nhưng mà bát tà. Từng cái việc nhỏ mình làm thì tất cả những cái mình làm là đưa đến sự rời xa tham, sân, si, đưa đến viễn ly mà, tất cả cái việc mình làm là đưa đến lìa tham, tất cả các việc mình làm đưa đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ cho nên con giao công việc cho ai vậy chứ con coi trong khi làm cái sự tu ra sao, con chỉ quan trọng cái tu thôi còn mấy cái khác là thứ yếu. Thành ra dù cho có làm việc, có học tập nhưng không được quên cái tu, bây giờ mình đi ra làm việc "bây giờ tôi đang làm công chuyện mà, đâu cần giữ oai nghi". Cái này có không? Cái ý hành có nói vậy cho mình nghe không? "Bây giờ tôi đang làm công chuyện mà, làm chậm thì sao hoàn thành công việc được?", cái này là cái gì vậy? Là sự xảo biện, cái tâm mê đó đang dẫn dắt mình đó.

Như vậy con chỉ cho quý vị cái bí quyết khi mà nó nói vậy thì quý vị hỏi "mày vô đây mày đi tu hay mày đi làm? Ngươi đi vô đây ngươi đi tu hay ngươi đi làm?". Bất cứ làm gì khi quét sân mà có cái gì đó làm tâm mình khó chịu lên thì hỏi "vô đây để ngươi đi quét cái này hay ngươi đi tu?", giờ mình vô bếp mình nấu mà có này kia phiền não lên mình hỏi "ngươi vô đây là ngươi làm bếp hay là ngươi làm Ni cô, làm tu sĩ hay là làm đầu bếp, ngươi xác định rõ cho ta nghe coi". Bất cứ cái gì làm cái gì đều quay trở về sự tu tập hết, cái tu mới là cái chính, cái làm là cái phụ, làm là để tu chứ không phải tu để làm. Nhớ kỹ cái đó, cái làm đây là phục vụ cho sự tu, cái học này cũng là phục vụ cho sự tu và tất cả mọi cái mình đóng góp cái gì cũng phục vụ cho cái sự tu của mình, nếu không tu được thì coi như thất bại chứ không có mượn cớ.

Cái tâm nó ghê gớm lắm, trong bài kinh Đoạn Giảm nói có bốn mươi bốn cái tâm xảo trá, hủy quyệt, hư ngụy, cấu nhiễm. Cái gì nó cũng mượn cớ hết, nó làm chút là nó mượn cớ, làm chút là bắt đần nó có cái bản ngã vô đây, làm chút là buông lung phóng dật. Nó biện luận "Giờ này đâu phải giờ thiền đâu, giờ này đâu phải giờ tu đâu, giờ này làm việc mà", đi vô tà đạo, hằng ngày phải coi mình đang đi trên tám đúng hay đi tám sai, hành tám chánh hay là đang hành tám tà, mình coi mình có đi đúng cái đạo lộ liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Bất cứ cái gì cũng hướng đến viễn ly hết, rửa cái chén này tác ý được không ạ? Phải làm sao rửa sạch cái cấu nhiễm của tâm chứ sao đang rửa mà đang giận vậy? "Sao không ai rửa để mình tui rửa? Bỏ đi hết trơn, có mình tôi rửa đóng chén này tới chừng nào xong?", như vậy lúc đó cái rửa để cho cái đống chén đó nó hết không quan trọng bằng rửa để cho cái giận đó nó hết. Cái rửa cần thiết là rửa cái tâm cấu nhiễm của cái cảm thọ khó chịu đó chứ cái đống chén nó không quan trọng. Ở nhà mình cũng rửa chén vậy, thì thôi ở nhà rửa chén đi khỏi vô đây tu, ở nhà mình cũng rửa chén rồi vô đây cũng rửa chén thì có khác gì nhau, khác là cái chỗ mình rửa chén nhưng mà mình rửa được cái tâm của mình. Cái đó là tu đó, cái đó là cái mà tại sao mình cạo đầu bỏ cha, bỏ mẹ đi lên núi này học đạo, là tại vì rửa chén nhưng mà sạch cái tâm. Nhất trí cái này không?

Nếu như bây giờ mà mình rửa chén mà mình cũng bực bội, cũng tham, sân, si giống như ở nhà mình rửa chén thì thôi ở nhà đi, ở nhà lo cha mẹ tốt hơn. Quét sân mà cũng bực bội thì thôi ở nhà đi, ở nhà cũng quét nhà đó, lo cho chồng, cho vợ, cho con ở nhà đi, cái khác ở đây là quét sân mà quét sạch được cái đất tâm. Đó là cái chỗ khác nhau, tất cả làm cái công việc gì cũng hướng đến Tứ Niệm Xứ hết, cũng hướng đến ly tham hết, hướng đến sự tẩy sạch tất cả các cấu uế, lậu hoặc thì cái đó mới là người tu, mới là chân nhân đó, là chân tu đó. Bây giờ mình chịu chân tu hay chịu giả tu, chịu cái nào? Người chân tu là lúc nào cũng không có quên cái sự tu, hoàn cảnh càng động, càng nguy hiểm, càng tai họa, thậm chí cái chết nó ập tới thì mình càng nhớ sự tu nhiều hơn lúc bình thường nữa, cái đó là chân tu, là tu thật, còn không thôi là tu dỏm.

Bây giờ kêu lên trình pháp thì "thầy kêu con bất thình lình con chưa chuẩn bị sửa soạn gì hết". Pháp làm sao có sửa soạn? Bây giờ ông tử thần tới kề cái lưỡi liềm vô cổ thì bảo cho tôi sửa soạn, tôi vô tôi lấy đồ à? Bất cứ lúc nào, không có làm bất cứ một cái gì mà không có thấy pháp, làm bất cứ cái gì cũng thấy pháp, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải tu, trong bất cứ trường hợp nào cái trí tuệ về năm uẩn cũng phải rực sáng, cũng phải đâm thủng cho được ba cái đống ác độc tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, cũng phải là đập phá cho được, phá vỡ cho được những cái đống dục ái thấp hèn, cấu uế ở bên trong chứ không phải nói giờ con bệnh rồi con không tu. Bệnh phải tu nhiều hơn chứ sao bệnh không tu? Bệnh phải tu nhiều hơn vì lỡ chết rồi sao? Chẳng qua là cái hình thức ở bên ngoài là nó khác nhưng mà cái dụng tâm bên trong là phải nhiều hơn, nhiều khi cái sức mình không còn nổi thì mình nằm.

Chúng ta thấy cái dáng nằm của bậc đạo sư không? Thấy cái dáng nằm bất tử chưa? Ngài nằm trên giường rống lên tiếng gầm của sư tử chúa chứ đâu phải bệnh không tu đâu cho nên ai mà mượn cái cớ bị bệnh nên không tu được là cái đó biết cái tên này rồi. Khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi là cái tâm nó nhẹ nhàng mà mình vẫn hướng đến sự từ bỏ, hướng đến sự chấm dứt chứ không phải nó nhẹ nhàng là mình khoái trong đó, mình thích trong đó. Hôm qua con có nói cái trạng thái thân tâm mình nhẹ như bông gòn, nó nhẹ như không thân vậy nhưng mà mình vẫn thấy cái nhẹ này là cái thứ vô thường, là cái thọ mà cái thọ này cũng đáng từ bỏ chứ không phải bữa nay ngồi được im cái rồi ngày mai mong muốn kiếm được cái im đó, kiếm hoài cái im đó, muốn, thích cái đó. Dầu cho nó được cái trạng thái đó cũng biết cái này là thọ mà thọ này thuộc duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã cho nên cái cuối cùng của bài kinh Trạm Xe Đức Phật dạy là vô thủ trước bát Niết-bàn, cái mục đích cuối cùng người tu là đi đến cái tâm hoàn toàn không còn nắm giữ bất cứ vật gì ở trên trời.

Vô chấp thủ, vô thủ trước bát Niết-bạn, trong bài kinh chân nhân cũng vậy, tới cuối cùng là đoạn tận tất cả các lậu hoặc. Thế Tôn nói rằng người ấy không nghĩ mình bất cứ là gì trên cuộc đời này nữa hết, không có nghĩ mình là cái gì hết, thành ra đánh tan được cái mình ở bên trong, cái tôi ở trong, cái ta ở trong thì cái đó là phải cả một cái công trình. Phải thể nhập cái tâm bất động giải thoát, cái tâm không còn cái ta, cái tôi nữa, không còn cái dục, cái ái, cái sân, cái si nữa, định cũng vậy, cái tâm nó định như vậy mà vẫn liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ chứ không phải định rồi là tôi đạt định rồi, tôi chứng định rồi là xong, định nhưng cũng biết cái này là cái thứ vô thường thôi, nó không động nữa thì nó định mà cái định này cũng là cái thọ thôi, cái tưởng lắng dịu, cái hành nó im ru, thọ an tịnh, cái thức nó tinh minh thì nó cũng là thứ vô thường, sanh diệt, duyên sanh, mình cũng hướng đến sự từ bỏ ngũ uẩn luôn.

Chúng ta thấy cái chỗ này nó thâm sâu không? Cực kỳ thâm sâu chứ mình ngồi thiền được cái tâm yên định là thích thì không được. Tất cả đều hướng đến viễn ly hết, làm bất cứ cái gì, học bất cứ cái gì, mọi thứ đều hướng đến sự rời xa. Cái này là thuốc trị bệnh tâm, thuốc trị bá bệnh là bốn niệm xứ để đoạn tận năm xan tham, bốn niệm xứ để đoạn tận năm pháp làm suy yếu học tập, bốn niệm xứ để đoạn tận năm truyền cái, bốn niệm xứ để đoạn tận năm dục trưởng dưỡng, bốn niệm xứ để đoạn tận năm thủ uẩn, bốn niệm xứ để đoạn tận năm hạ phần kiết sử, bốn niệm xứ để đoạn tận năm sanh thú, bốn niệm xứ để đoạn tận năm thượng phần kiết sử, bốn niệm sứ đoạn tận năm tâm hoang vu, tứ niệm xứ đoạn tận năm tâm truyền phược luôn.

Người tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ chấm dứt được xan tham trú xứ, xan tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham dung sắc và xan tham với pháp. Tứ Niệm Xứ trị bá bệnh, bệnh gì trị cũng hết, mọi người thấy thuốc này tuyệt vời không? Đây là thánh dược, thần dược, linh dược, pháp dược, diệu dược, Phật dược, Tứ Niệm Xứ trị hết, mình tham lam với cái chỗ ở, cái giường của tôi, cái phòng của tôi, cái thất của tôi, cái chùa của tôi, tu Tứ Niệm Xứ là hết tham. Mình tham lam với gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em thì tu tập Tứ Niệm Xứ là hết tham, lìa xa gia đình, từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình. Mình tham dung sắc, sắc đẹp thì tu Tứ Niệm Xứ quán bộ xương, lột da mặt ra là hết tham.

III. Tứ Niệm Xứ đoạn trừ ô nhiễm

Hôm nay là cái bài tổng cương lĩnh bao trùm hết rất nhiều các pháp, bây giờ mình tu là mình xan tham pháp, mình học được cái pháp tuyệt chịu quá thì quý để dành mình thôi à, không cho người ta biết vì cho người ta biết rồi họ bằng mình sao, mình giữ cái bí kiếp này, thế thì tu Tứ Niệm Xứ rồi đoạn tận cái xan tham pháp luôn.

"- Này các Tỳ-kheo, có năm pháp làm suy yếu học tập này. Thế nào là năm?

Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỳ-kheo, đây là năm pháp làm suy yếu học tập.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm pháp làm suy yếu học tập này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú tùy quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú tùy quán thọ trên các cảm thọ.... trú tùy quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm pháp làm suy yếu học tập này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (I). Học Tập)

Tu tập Tứ Niệm Xứ làm cho mình không còn tham ăn nữa, không còn tham của nữa, không còn tham dục nữa, không còn tham cái lợi ích, ích kỷ nữa, không còn tham mê những cái hấp dẫn ở trên cộc đời, năm dục trưởng dưỡng nữa, tu tập Tứ Niệm Xứ là đưa đến đoạn tận được năm triền cái.

"-- Này các Tỳ-kheo, có năm triền cái này. Thế nào là năm? Dục tham triền cái (kàmacchandaniivaranà), sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái. Này các Tỳ-kheo, đó là năm triền cái này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập." (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (b), VIII. Phẩm Bộc Lưu, VII. Các Triền Cái)

Cái dục là che đậy cái tâm mình, cái giận nó che đậy cái tâm mình, cái buồn ngủ giã dượi che đậy cái tâm mình, cái sự ray rứt che đậy cái tâm mình, làm tâm mình không sáng, cái sự nghi ngờ, do dự, phân vân về thánh trí ngũ uẩn che đậy cái tâm mình cho nên khi mình tu Tứ Nệm Xứ thì mình phá tất cả năm cái che đậy này hết, phá bung, phá sập, phá vỡ, phá tan, phá nát hết và tâm mình bừng sáng, chói sáng, rực sáng, tỏ sáng, minh kiến, chánh kiến, thánh tri kiến. Như vậy mọi người có chịu tu tập Tứ Niệm Xứ không?

"Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm?

Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.

Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Này Hiền giả do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc hỷ, này Hiền giả, đây gọi là dục lạc" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (III). Niết Bàn)

Người tu Tứ Niệm Xứ có thể đoạn tận được cái tâm ham muốn đối với năm thứ này, để đoạn tận năm dục trưởng dưỡng này bốn niệm xứ cần phải tu tập.

"Này các Tỳ-kheo có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm?

Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức uẩn.

Này các Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm thù uẩn này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn? .... Bốn niệm xứ cần phải tu tập." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IV). Thủ Uẩn)

Có năm thủ uẩn, này thế nào là năm? Cái tâm nắm chặt vào sắc, tâm nắm chặt vào cảm thọ, tâm nắm chặt vào những hình bóng, cái tâm nắm chặt vào những suy nghĩ, tâm nắm chặt vào nhận thức, để đoạn tận năm cái sự nắm chặt này bốn niệm xứ cần phải được tu tập. Tu bốn niệm xứ là cái tâm mở ra không còn nắm sắc, không còn nắm thọ; tưởng; hành; thức nữa, tu Tứ Niệm Xứ là để tháo ra, để mở ra, để gỡ ra, để cởi ra, để thoát ra cái tâm nắm chặt vào cái hình hài này, vào cảm giác này, vào những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những sự rõ biết, tu Tứ Niệm Xứ là để tháo ra, để mở ra, để thoát ra cái tâm nắm chặt vào trong năm cái thứ vô thường này.

"- Này các Tỳ-kheo có năm hạ phần kiết sử này. Thế nào là năm?

Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Này các Tỳ-kheo, có năm hạ phần kiết sử này.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận tâm hạ phần kiết sử này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn? ... Bốn niệm xứ này cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (V). Năm Hạ Phần Kiết Sử)

Khi mình niệm thân mình sẽ phá được cái sự kiến chấp về thân, khi mình tu tập nhận diện ngũ uẩn để mình thấy được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã như vậy mình sẽ phá được nghi ngờ, mình không còn cái sự giữ giới sai lầm nữa và những cái ham muốn, nóng giận của mình dần dần nó đi đến khô kiệt, cạn kiệt, diệt tận, tẩy sạch hoàn toàn cho nên tu tập Bốn Niệm Xứ là đoạn tận được năm hạ phần kiết sử.

"- Này các Tỳ-kheo, có năm sanh thú này. Thế nào là năm?

Ðịa ngục, loài bàng sanh, cõi ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên. Này các Tỳ-kheo, có năm sanh thú này.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm sanh thú này, Bốn niệm xứ cần phải tu tập. Thế nào là bốn? ... Bốn niệm xứ này cần phải tu tập." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (VI). Sanh Thú)

Năm sanh thú là năm chỗ thú hướng để thọ sanh, còn gọi là ngũ thú hoặc là lục đạo là thêm A-tu-la nữa. Chúng ta muốn thoát ra khỏi những cảnh giới này thì cần phải tu tập bốn niệm xứ, khi tu Tứ Niệm Xứ mình thoát ra lục đạo luân hồi, cắt đứt dòng sanh tử ở trong năm cái cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời và người. Tu tập Tứ Niệm Xứ quá là tuyệt vời vậy mà không tu là làm cái gì? Không tu Tứ Niệm Xứ rồi LÀM gì? Cứ nhìn vô cảm thọ hoài, để ý cảm thọ hoài, quán chiếu cái cảm thọ hoài, giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ cảm thọ hoài, nhìn vào nội tâm coi cái tâm này là cái tâm gì, tâm nhỏ hẹp hay tâm rộng lớn, tâm thấp kém hay là cái tâm cao thượng, tâm hữu hạn hay là cái tâm vô thượng, coi cái tâm mình có rộng lớn không, có trú trong từ, bi, hỷ, xả không, coi trong nội tâm này những cái gì cấu uế, lậu hoặc ở bên trong đó. Mình cố gắng, mình tẩy trừ nó, dùng hết cái khả năng của mình, dốc hết sức của mình, toàn tâm toàn ý mình dập nó, mình xử nó, mình trị nó, xử lý nó ngày đêm, bất cứ mọi lúc mọi nơi, ở chỗ nào mình thấy nó là mình xử lý nó ngay.

Nếu mình chưa đủ sức thì tạm thời cứ hãy đợi đấy "ngươi chờ ta, ta dưỡng binh dưỡng sức cho đủ lực rồi ta sẽ diệt ngươi, diệt tận ngươi, ruồng tận hang ổ ngươi". Mình nuôi một cái ý chí hướng thượng hoài vì chánh pháp có khả năng hướng thượng mà, người tu đúng chánh pháp thì người đó cứ nuôi cái chí hướng thượng hoài lên, còn người cứ dừng một chỗ, đứng yên một chỗ không còn tiến nữa là nguy hiểm rồi đó, cần phải lo lắng và sợ hãi khi cái tâm mình nó dừng lại, nó không muốn tiến nữa. Nếu hài lòng, chấp nhận trong các thiện pháp nhỏ nhặt là mình lo lắng, sợ hãi, lo sợ, mình thúc nó như dùng gậy thúc ngựa để nó chạy tiếp tục lên nữa chứ không có sống vật vờ, không có sống vất vưởng, không có sống thờ ơ, không có sống ngu ngơ, không có sống lững lờ, không có sống như một cái cục thịt biết đi, bên trong không có một cái tuệ giác gì cả, không có chánh niệm tỉnh giác, không có một cái sự nhiệt tâm, không có tinh cần tinh tấn, không có quyết tâm, không có trì chí, không có trì tâm, không có sách tâm.

Sách tâm tức là sách tấn cái tâm của mình giống mình cầm gậy quất con ngựa nó chạy lẹ lên, mình làm đủ thứ kiểu hết, mình rầy cái tâm, có khi thì mình vuốt nó, cho nó ăn kẹo, cho nó uống sữa, có khi mình quất nó, thậm chí là mình đánh vô mặt nó vài cái, kí vô cái đầu, gõ cái đầu. Mình dùng đủ thứ kiểu để huấn luyện cái tâm mình, "ta lạy ngươi, ngươi làm ơn tu giùm ta đi. Ngươi chết với ta à, đừng có giỡn với ta nha", có lúc mình như má nó, có lúc như bà nội nó, có lúc như bà cố nội của cái tâm, có lúc mình như con, có lúc mình như chị như em nó. Đi ra cái gốc cây, ra bụi trúc xử lý nó, tu cái này sướng lắm, vui lắm, cái người mà tu cái này thường như vậy người này sẽ có rất nhiều pháp, có nhiều trí tuệ lắm, có nhiều sự như lý tác ý lắm, có nhiều chánh quán lắm, có nhiều cái chánh tư duy lắm.

Tự cái tâm người này sẽ từ từ sắc bén, thiện xảo, nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, cái tâm người này bén nhạy, linh hoạt, uyển chuyển, từ từ cái trí sáng ra sẽ biết được cần làm cái gì, nên làm gì, không nên làm cái gì trong trường hợp nào, như thế nào, động nó sẽ sanh ra một cái tuệ, gọi là tu phát tuệ là vậy đó. Càng tu nó càng phát tuệ chứ không phải càng tu càng tệ, nhớ cái chữ này, hạnh phúc lắm. Đức Phật dạy không còn cái gì nữa hết, bây giờ chỉ có mình làm hay không làm và làm như thế nào, nỗ lực hay không thôi chứ không còn sót một cái gì, dư để cho mình làm mà mình không chịu làm thì mình ráng chịu thôi. Còn cái gì mà nó sáng tỏ, nó minh bạch, tận tường như vậy nữa không?

Mình xuống bếp nấu ăn, mình đi quét nhà, rửa chén, đi làm công việc đều có thể vận dụng Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo. Hồi xưa mình nghĩ Bát Chánh Đạo là một cái gì chắc là dữ dội dữ lắm phải không? Nó phải đợi tới cái lúc nào đó rồi mình tu phải không? Bây giờ mình thấy Bát Chánh Đạo trong sinh hoạt thường nhật, trong công tác, trong việc làm, trong hành xử, trong cách suy nghĩ của mình. Con mời chư tôn và chư hiền chia sẻ.

IV. Trình pháp

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ bài pháp hôm nay sư phụ giảng cho chúng con được thâm nhập pháp chắc chắn là niềm hỷ lạc có ở trong mọi người, bởi vì ai cũng nhận thấy mình ở trong đó. Con mạnh dạn xin lên được trình pháp, trưa hôm nay lúc con ngủ trưa dậy thì tâm con cũng khởi lên rất rõ một cái sự ngao ngán, và con đặt cái ý hành hiện lên là làm thế nào để diệt được cái tâm tham ở trong cái tự thân này. Con cũng luôn khắc khoải cái điều đấy vì con nhận ra rằng dục ăn này, rồi năm dục trưởng dưỡng ở trong cái tự thân này nó vẫn cứ hướng đến và con nhận ra là cái tham nó ở trong cả cái hành động mình vuốt ve một cái khăn, khi mình giặt một bộ quần áo mình thấy nó phẳng phiu và mình thấy ưng về nó.

Con nhận ra từ những cái điều như thế, nói chung là cái cảm giác, cái thọ là nhục nhã và ê chề, ngao ngán. Dường như hằng ngày hiện lên ở trong tâm con nhưng con cũng buồn tủi là nó cũng chỉ thoáng chốc xong rồi những cái gì đấy, những cái mê lại bao trùm lại rồi nó lại bị rộn ràng, bị hướng đến những cái xa, không đúng với chánh đạo. Khi sư phụ giảng cái phần về tám tà và tám chánh thì con xin chia sẻ một chút, con cũng sợ rằng trong cái sự chia sẻ này có cái bản ngã nhưng hôm qua con cũng tâm sự với sư phụ là con chủ động xin sư Quý cho con cọ rửa toilet bởi vì con muốn ốp cái bản ngã của mình, muốn trị cái bản ngã và cái chấp thủ của mình.

Con nhận ra rằng nó cứ thích làm cái việc mà nó thích, ở trong cái công việc mà nó thích đấy nó sẽ thể hiện được cái bản ngã của nó, cái năng lực của nó, ở đấy có chấp thủ và nhiều cái liên quan đến cái sự chấp thủ. Con mới nghĩ đến cái việc là phải cọ rửa toilet, phải làm hằng ngày để nó phá đi cái bản ngã, đi đến cái việc là phá bản ngã. Khi làm toilet thì nó sẽ quán được rằng "cái thân này nó không là cái gì cả, tại sao mày lại cứ chấp thủ với cái công việc mà mày thích và cái khả năng rồi nhiều những cái làm chứng ngại đường tu?". Một hôm sư Quý cũng bảo con đi quét ở trên Quán Chiếu Đường thì lại khởi lên là "nó đang cọ toilet mà sao lại sai nó?", con lại nhận ra là "mày lại đang chấp thủ đấy nhá", con nhận ra và con cũng lại thấy là hài hòa và tùy thuận rằng làm bất kỳ một cá cái gì cũng chỉ để "mày phải phá cái chấp ngã đi chứ không phải tô đậm rồi nhận công lao, có nhiều những cái liên quan đến cái việc vô nghĩa"/

Hôm nay con cũng đang làm toilet xong sư Quý lại bảo đi lên làm ở trên vườn, nó cũng lại khởi lên một chút suy nghĩ là đang làm toilet nhưng mà xong rồi nó lại nhận ra "Mày lại đang chấp thủ, tất cả là mày phải làm sao mà mày đưa cái thân này đến cái việc phá chấp, không có chấp một cái gì cả, làm cái gì cũng được chứ không phải mày làm xong rồi mày lại mày lại bị chấp vào cái việc mày làm". Con nhận ra một điều rất rõ từ bản thân con hay ai, bất kể làm được một cái gì là chúng ta lại bị rơi vào cái việc chấp thủ công việc đấy. Đấy là cái mà vô cùng nguy hiểm và không phải một lần, cũng đã nhiều lần con đứng trước Đức Phật con cúi lạy và con xin rằng cho con làm sao phá được cái chấp ngã đấy, con làm tất cả chỉ để đi đến phá chấp cho nên con cúi xin Đức Phật giúp con không bị dính mắc vào những cái việc con làm. Con cũng không biết nói cái gì nữa, con xin dừng ở đây. Dạ mô Phật.

V. Tu tập tâm, hạ bản ngã

Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Phải tu vậy đó, phải thấy được từ những cái nhỏ nhiệm nhất, cái tâm tham ái này nó ghê gớm và cái bản ngã này nó khiếp lắm. Từng bộ đồ, từng đô dép, từng cái khăn, cái áo, từng chỗ nghỉ của mình, thậm chí là cái hình bóng ở trong tâm, những cái suy nghĩ đều có ái và thủ trong đó, mình nghĩ vậy mà người ta nói khác là mình khó chịu liền, cãi lại liền thì đó là mình đang nắm giữ cái suy nghĩ đó, mình đang nắm giữ cái cảm thọ đó. Cái đó tức là hành thủ uẩn, cái đó là thọ thủ uẩn, nắm giữ hình bóng là tưởng thủ uẩn rồi mình nắm giữ cái nhận thức là thức thủ uẩn chứ có cái gì đâu, mình tưởng đâu năm thủ uẩn là cái gì ghê gớm lắm nhưng không phải. Cái phản ứng của mình biểu lộ ra hết năm thủ uẩn.

Sự chấp thủ vào năm thủ uẩn là phiền não, khổ đau rồi hai người cãi lộn, bất hòa, một cái phản ứng nhau thôi là biểu lộ đầy đủ sự chấp thủ vào năm thủ uẩn là phiền não, khổ đau, bốn thánh trí hiện bày. Cho nên mình muốn phá nó là phải từ chút, từ nhìn nó sát sao, khích khao, nó nhỏ nhiệm, nó vi tế, nó miên mật và chăm chăm giống như mèo rình chuột vậy đó, giống sư tử vồ mồi vậy đó chứ không tu phớt phớt như cưỡi ngựa xem hoa. Phải thấy từ cái động chuyển của tâm, từng cái suy nghĩ khởi lên phải được thấy, được biết giống như một người gác cửa, một người hải quan vậy đó, người ta đi qua phải kiểm tra để lỡ có lựu đạn trong người rồi sao, heroin rồi sao? Heroin là chỉ cho tham dục, lựu đạn là chỉ cho sân giận, nó qua cửa, nó lọt cửa đi như vậy là lậu hoặc, là đi hàng lậu lọt qua khỏi cửa hải quan.

Mình là cái người canh chừng cái cửa tâm của mình, sáu cái căn môn của mình và mình phải kiểm soát từ chút. Nhất là cái việc làm nguy hiểm lắm, lúc đầu mình cũng muốn làm cái thấp kém nhất để phá cái ngã, nhưng rồi mình không khéo thì nó lại mượn cái đó để tạo cái ngã ở trong cái "tôi làm được cái này à nha, không ai làm được cái này à". Thế là phải dập thêm nó lần thứ hai nữa cho nên ngày xưa con lễ dưới chân bậc đạo sư ở giữa một trăm người khi ngài còn là nữ cư sĩ ở tại trên này, tối xong rồi nói chuyện trình pháp với ngài là ngài dập cho một trận "đừng có tưởng đâu lạy như vậy là xong rồi nha, đừng có tưởng lạy vậy là hết rồi nghe. Cái đó con thấy bình thường lắm, thầy cung kính pháp đó là đúng pháp, không có cái gì hết á, người ta nói này nọ kia tưởng đâu đại sự nhưng con thấy bình thường, không có gì hết á".

Vài ngày sau con mới hỏi lại ngài lúc đó là sao vậy, con thấy cái đó hơi lạ thì ngài bảo là bài tập cho con. Tức là khi mình đã làm được một cái việc mình nghĩ rằng cái đó là tốt để mình hạ cái ngã của mình, nhưng sau đó nó dựa cớ vô công việc tốt đó để tăng thêm cái bản ngã ở trong cái công chuyện đó, cái tâm mình nó ghê gớm như vậy cho nên tại sao sau này quý vị để ý thấy thiền biết ơn khi lạy xong là con dặn liền "cái này không phải xong đâu nghe" là học từ sư phụ đó. Thường thường mình làm được một cái gì cho cha mẹ, làm được cái gì cho người ân nghĩa là mình thấy được rồi, chính vì vậy bài kinh bậc đạo sư nhắc cho con rất kỹ "cho là khinh".

"- Năm hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?

Sau khi cho, khinh rẻ; sau khi cùng sống, khinh rẻ; miệng nuốt tất cả; người không vững chắc; người ám độn ngu si. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người sau khi cho, khinh rẻ?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người cho người khác các đồ nhu yếu như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Vị ấy suy nghĩ: "Ta là người cho, người này là người nhận". Sau khi cho, vị ấy khinh rẻ (người nhận).

Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người sau khi cho, khinh rẻ." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XV. Phẩm Tikandaki, (I). Cho Là Khinh)

Khi mình cho ai cái gì đó rồi đó coi như nhiều khi là hết tình hết nghĩa, "xong rồi đó, tôi trả ơn rồi đó", cái này rất nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm và chính vì vậy mà người ta tu không có đạt tới lậu tận là vậy đó, là vì người ta làm được một chút gì là nghĩ vậy là được rồi, "bây giờ tôi biết nhận diện ngũ uẩn rồi, tôi biết cách tác ý tham, sân, si rồi, tôi biết cách sám mối diệt ngã rồi thôi tôi đi về cất thất tôi tu, khỏi cần ai nữa hết trơn á". Cái này hết sức nguy hiểm, nó y như mình coi phim Tôn Ngộ Không có mấy con yêu tinh chặt cái đầu này nó mọc cái đầu khác, chính là cái tâm chấp ngã và cái tham ái của mình đó. Chính vì vậy mình ở nhà thì mình ái cha, ái mẹ, anh chị em, mình vô chùa mình ái thầy, ái bạn, ái huynh đệ, tỷ muội, ở nhà mình ái căn nhà, mình vô chùa mình ái cái tịnh thất, ái cái chùa, ở ngoài mình ái cái tư tưởng này tư tưởng nọ, mình vô chùa thì ái cái tông này cái phái nọ, hết sức ghê gớm không. Đó là chặt đầu này mọc đầu khác, mình chấp thủ vô cái tông phái, cái tâm môn, cái đường lối mình tu mà mình đã chọn mà ai tu cái khác là không chơi, chừng nào tu đúng theo mình thì mình mới chơi.

Cho nên cái biến thể của cái con virus tham ái và cái chấp thủ, chấp ngã th2i chỉ thánh pháp nhãn, cái chánh tri kiến của Đức Phật, cái thấy đúng của bậc thánh mới nhìn ra được hết tất cả những ngõ ngách tinh quái, tinh ranh, xảo quyệt, ma mãnh, thiên biến vạn hóa của nó. Cái tâm thức hôn mê này hết sức nguy hiểm, nó trá hình, nó mượn đủ thứ kiểu hết, "tôi đi học là nguyên chất của Đức Phật, còn mấy người kia học không có nguyên chất à", đó là khen mình chê người, là cũng rơi vô phi chân nhân pháp, bị quả trách nữa. Chỉ có một lòng thương thôi, chỉ có một tâm từ thôi, ai có duyên thì mình chia sẻ không có duyên thì thôi, nhẹ nhàng thôi chứ chấp thủ làm chi? Cái đúng mà cũng không chấp nữa đừng nói chi cái sai tại vì mình tu là đến cái chỗ rời xa, từ bỏ, chấm dứt, thoát ra mà, chứ đâu phải mình tu để chấp.

Bây giờ chùi cầu tiêu là chùi cầu tiêu, kêu cái khác là không làm. Mình nêu ví dụ để chúng ta thấy, không phải riêng một người, mình được giao cho một cái trọng trách gì trong chúng là mình chết với cái đó, giao vườn rau là chết với vườn rau, giao cái bếp là chết với cái bếp, giao cái nhà vệ sinh là chết với nhà vệ sinh mà giao cái chánh điện có khi cũng chết với cái chánh điện luôn, giao cái bông hoa cũng chết với bông hoa nữa "tui chưng mới được, người khác chưng tôi không chịu à, tôi không vừa lòng à, chưng phải đ theo ý tôi". Đối với cái nào thì cái tâm này cũng hôn mê, nó ngu, chê là không được à, "ai chưng thì chưng đi, đừng kêu tôi chưng nữa", "ai giỏi vô nấu đi, đừng kêu tôi nấu", "ai làm giỏi vô làm đi, đừng kêu tôi làm nữa". Trời đất ơi không có tu được, không có tu được, cái nào cũng có bản ngã chình ình một đống vậy đó, mình phải bẻ gãy nó, đánh cho nó gục ngã cái bản ngã mới tu được.

Bất cứ lúc nào mình cũng hướng đến sự từ bỏ dù mình đang làm công việc đó, mình làm hết lòng, rất nhiệt thành nhưng trong tâm mình luôn luôn hướng đến có một ngày rồi mình sẽ từ bỏ. Con thưa với các vị như Linh Quy bây giờ con sắp xếp người nào công việc nấy hết rồi, ở dưới Bửu Liên cũng vậy, nếu con có chết thì nó rất bình thường, mọi việc sẽ vận hành theo cái bình thường đó, không có mình thì cũng không có là gì hết chứ mình chẳng là cái gì trong cuộc đời này hết, mình phải thường xuyên an trú vô cái ý niệm từ bỏ thì tâm mình mới nhẹ, ngược lại làm đâu dính đó, làm gì mắc nấy, làm gì kẹt cái nấy là khổ lắm, không có đi đến chỗ vô thủ trước bát Niết-bàn, không đi đến một cái tâm không có dính mắc đối với tất cả. Cho nên nhiều khi cái cách làm của con quý vị hiểu pháp thì quý vị mới thông cảm được cho con, còn không hiểu quý vị sẽ không biết sao thầy làm kỳ quá.

Con nói nếu mà có Phật tử nào mà họ rành, họ giỏi về nấu là mình giao cái bếp cho họ, mình chỉ chỗ này để cái này, chỗ kia để cái nọ, mình giao cho họ để mình khỏe mình đi tu, sướng không. Mình sướng mà người ta cũng sướng tại vì người ta mong muốn lên để được trổ tài của người ta mà, người ta có cái tài đó, người ta có cái sở trường đó, người ta có cái tâm nguyện đó, người ta muốn làm công đức đó mà lên mình không cho người ta làm. Có nhiều nơi lên là không được, "cái bếp của tôi, không ai được vô hết " thì tu cái đó là thất bại rồi, chấp thủ.

Cho nên mình làm như vậy thì cả hai đều có lợi, lợi mình lợi người, mình được lợi có thời gian đi tu, hoặc mình nhập thất hoặc mình tu với chúng, người ta cũng được làm cái việc mà người ta ưa thích, cái tâm nguyện của người ta rồi cái phước thiện, cái công đức của người ta sẽ hoan hỉ. Con nói cái này là nói theo thế gian đó là món mới hoài vì người này đến là có món mới, người kia đến có món mới, có khi người ta học hỏi thì người ta sẽ học được những cái mới, còn mình cứ làm vậy hoài, chấp thủ là vậy đó, cứ cầm chặt vào hoài, sáng cũng cầm, trưa cũng cầm, chiều cũng cầm không buông ra được, còn tay bình thường muốn cầm là cầm muốn buông là buông. Cái tay này sáng gặp cũng cầm, trưa gặp cũng thấy cầm, chiều tối ngủ cũng cầm, mà tuần nào, tháng nào, năm nào lên cũng thấy cầm, "không được ai đụng vô tôi hết trơn nha, cái cầu tiêu của tôi à", "cái chánh điện của tôi à", " cái sân này của tôi à". Vậy là chết rồi, đây là cái tâm dị tật, cái tay dị tật, bất bình thường.

Cái tâm của chúng sanh là một cái tâm bất thường, khổ đau. Cầm một chút thôi đã thấy mỏi rồi mà đằng này cầm ba mươi năm, năm mươi năm, có cái gì mà cứ ham cầm chi cho khổ vậy? Cho nên làm bất cứ cái gì cũng phải suy nghĩ tới một ngày mình từ bỏ cái này, đó là hướng đến từ bỏ, đó là liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, hướng đến từ bỏ, đoạn diệt đó. Chúng ta thấy Đức Phật dạy mình tuyệt vời không? Hạnh phúc không? An lạc không? Tại sao mình không làm theo? Bây giờ mình có chưng bông, chưng hoa đẹp cỡ nào mà có một người thích thì để cho người ta chưng, giao toàn quyền lại luôn. Nếu mình sợ mình tu chưa có vững thì giao xong rồi mình tránh đi để người ta chưng, chứ mình ở đó phải làm vầy, làm vầy là một hồi có chuyện, người ta lên cúng Phật mà phiền não là thất bại rồi, thiện pháp không được tròn. Vì thế lúc nào cũng phải liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, hướng đến từ bỏ, đoạn diệt, đó là thánh pháp ấn.

Lúc nào từ sẵn sàng 24/24 từ bỏ, thấy khỏe quá, "trời đất ơi giao lại cho chị tôi nhập thất tôi tu. Cảm ơn, để tôi để tôi quỳ xuống lạy chị ba lạy tôi cảm ơn, tôi trút được gánh nặng này rồi" Trời ơi mang cái thân này nặng muốn chết còn mang thêm mấy cái lò đó nữa làm sao chịu nổi, mấy cái bình đó, mang thêm mà mấy cái chổi chà đó rồi mấy cái cục ở trong cầu tiêu đó. Ôi trời đất ơi! Thôi khỏe quá, giao lại khỏe quá, giao mấy cái cuốc lại khỏe quá, lúc nào cũng hướng đến từ bỏ, ly tham.

Nhiều khi có nhiều vị hỏi thầy bận dữ lắm hả, công chuyện nhiều lắm hả thì mình nói đâu có đâu, ngồi đây khỏe re uống trà ngắm hồ soi gương, nghe chim hót. Mình lúc nào cũng hướng từ bỏ mình đâu có công chuyện gì đâu, mình chỉ có một chuyện thôi mà làm hoài làm không xong đó là đoạn tận tham, sân, si, vô minh, khát ái, bản ngã, không có làm nhiều chuyện mà chỉ có một chuyện thôi làm hoài không xong. Nhất trí không? Thật sự là trong mắt con không có chuyện gì hết trơn, chỉ có một chuyện đoạn tận tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã, cứ khao khát, cứ thao thức, cứ trăn trở, cứ lo lắng, cứ ưu tư, cứ trằn trọc, cứ băng khoăn hoài về một cái chuyện đó thôi, ngoài ra con thấy không có chuyện gì nữa trên cuộc đời này. Chỉ cần làm được một chuyện đó thôi là vinh quang muôn đời, còn làm được trăm chuyện, ngàn chuyện khác vẫn sầu, bi, khổ, ưu, não vạn kiếp, bây giờ mình muốn vinh quang muôn đời hay muốn sầu bi vạn kiếp.

Mình làm một chuyện thôi, cần chi nhiều chuyện, mình lấy cái đó làm cái đại tiền đề, làm cái đại đề tài, làm cái đề mục thiền quán, làm cái công án bất cứ sáng, trưa, chiều, tối. "Tại sao mình còn như vậy? Tại sao mình nhục nhã vậy? Tại sao mình hèn hạ, mình xấu hổ vậy? Tại sao đi đâu mình cũng vác cái bản ngã theo vậy? Mình cũng vác cái dục, tham, ái, sân si của mình, mình nhục nhã, tồi bại, xấu hổ, bẩn thỉu, thấp hèn, buồn đau, khổ sầu, ưu tư, lo lắng, bất an". Xỉ vả vô mình hoài, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình, tự mình la mắng mình, đó là Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú và Trung Bộ trong Nikāya. Cứ quay lại mình hoài để la rầy, nhắc hoài, xỉ vả hoài, lúc nào cũng phải hướng đến từ bỏ ngũ uẩn này, cái thứ đáng gớm ghiếc này, cái thứ hôi tanh, bẩn thỉu, cái thứ nghiệp chướng, cái thứ khổ đau, cái thứ bệnh hoạn, cái thứ tai nạn, khốn nạn, hố than hừng, mũi tên, rắn độc này, cái thứ sầu, bi, khổ, ưu, não này, cái mối đại họa này cần phải buông xuống, cần phải hướng đến sự viễn ly, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ nó.

Lúc nào mình cũng nghĩ vậy hết trơn, tất cả mọi thứ nó đến với mình thì tác ý "cái đồ bỏ, đồ quăng bỏ, đồ rác rưởi, đồ đáng từ bỏ, đồ gớm ghiếc, đồ không có ý nghĩa giá trị, cái thứ vô nghĩa, vô giá trị, vô tích sự, cả một cuộc đời đi lo những chuyện vô tích sự, vô nghĩa, phù phiếm, ngu si, mê muội". Lúc nào có thời gian rảnh là nhắc hoài vậy đó, dập nó hoài, đánh cho nó bầm mình, nó mềm mình ra, nó tan chảy ra, sử dụng Tứ Chánh Cần, sử dụng tứ như ý túc, sử dụng năm căn, năm lực, sử dụng bảy giác chi và Bát Chánh Đạo, sử dụng Tứ Niệm Xứ. Vận dụng một cách thiện xảo, khéo léo, một cách nghệ thuật, một cách sắc bén, tinh anh, linh động, uyển chuyển, tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt mỹ. mình tạo ra những cái tác phẩm mỹ thuật tối thượng trong tâm linh của mình mà chỉ một mình mình ngắm vô đó rồi mình cười, mình hạnh phúc, mình sung sướng, hoan hỉ, mình có những cái tuyệt tác, những cái kiệt tác. Mình trở thành tác gia ở trong căn nhà nội tâm của mình, không đợi ai công nhận, không đợi ai khen ngợi gì, tự mình tu cho mình, tự mình thiện xảo đối với chính tâm của mình, tự mình làm cho mình đi đến cái chỗ từ bỏ, đoạn diệt, ly tham, xuất ly, xả ly.

Hồng trần tục lụy xin bái bai nhưng không bái bai mà là vĩnh biệt luôn chứ tái kiến lại mắc công lắm. Tạm thời mới lên núi tu gọi là bái bai, tu xong rồi là vĩnh biệt luân hồi.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.