Nương Tựa Vào Đâu xem lại
Kinh Nikāya Giảng Giải
NƯƠNG TỰA VÀO ĐÂU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nương tựa vào Phật – Pháp – Tăng và Thánh Giới PAGEREF _Toc69113345 \h 1
II. Quán thân ở trên thân PAGEREF _Toc69113346 \h 6
I. Nương tựa vào Phật – Pháp – Tăng và Thánh Giới
Buổi chiều hôm nay, Thành để cho quý vị hỏi những câu hỏi, thắc mắc trong Chương Trình Soi Sáng. Quý vị nêu lên những khó khăn, thắc mắc trong sự tu học của mình. Và sẽ nhờ quý thầy và đại chúng soi sáng cho chúng ta.
Phật Tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ. Đây là lần thứ hai con được nghe trực tiếp sư phụ giảng pháp. Tại vì con ở xa, con muốn ngồi được ở đây thì con phải đi từ trưa hôm qua. Con có rất là nhiều những câu hỏi, vì ở bên đó con không được ở gần quý sư cô, quý sư thầy nên con không có biết hỏi ai. Hôm nay con có hai điều con chưa hiểu, con xin sư phụ từ bi chỉ dạy:
Điều 1: Con không có hiểu lời Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ là “định tâm trên thân, quán thân trên nội thân hay ngoại thân”, con đọc đi đọc lại rất nhiều nhưng con không hiểu để con áp dụng.
Điều 2: Lúc trước con không biết Phật Pháp thì con hay niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, từ khi con học được pháp này, con nghe lời sư phụ chuyển hướng nhưng mà con không biết hằng ngày con phải nương vào pháp lực gì để con tu tập hằng ngày vì con chưa có đủ sức mạnh. Con mong sư phụ từ bi chỉ dạy cho con hiểu thêm. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thích Minh Thành: Hai câu hỏi này cũng rất quan trọng, thầy sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trước. Câu hỏi trước là cả học mấy buổi phần quán thân ở trên thân.
Ngày xưa Phật tử niệm danh hiệu Phật bồ tát để làm chỗ nương tựa. Giờ học qua tinh thần của kinh Nikāya thì lấy cái gì để nương tựa. Ở trong kinh Nikāya thường nói tất cả pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ. Như vậy chỗ dựa tối cao của mình là trí tuệ giác ngộ của Đức Phật, nói đầy đủ là Phật, pháp, tăng và giới đây là bốn dự lưu phần. Tức là bốn phần này giúp mình tham dự vào dòng thánh triết, chính thức để trở thành người thánh (Đức Phật) đệ tử. Vậy chỗ dựa của mình đầy đủ là bốn dự lưu phần, dựa vào đức thế tôn, mà đức thế tôn nhập diệt nhưng lời dạy của ngài là tạng kinh Nikāya, đó là thánh triết là chân lý.
Mình dựa vào sự thật, Thánh Pháp chân lý, lấy sự thật làm sức mạnh. Muốn được pháp này là phải từ nơi chư tăng, từ các bậc thiền tri trức, những vị đã thấy, đã biết, đã thông đạt được đạo lộ, như vậy phải đầy đủ tam bảo, Phật, pháp, tăng và điều thứ tư là thánh giới, phải dựa vào giới. Mình phải hiểu rằng dựa vào giới là dựa vào chính bản thân mình thực tập giới hạnh. Dựa vào giới là dựa như thế nào? Không phải mình đọc, nói miệng: “con dựa vào giới”, hay chỉ suy nghĩ trong ý hành của mình mà thực sự trong đời sống của mình, mình phải lấy giới làm chỗ dựa khi mình suy nghĩ, nói năng, hành động, làm việc phải y cứ vào giới, nương dựa vào giới, lấy giới làm chỗ để mình trú ẩn.
Đây là bốn phần đưa mình vào thánh quả, thánh đạo, thánh triết, thánh pháp. Bốn phần này tuyệt đối quan trọng từ người mới vào học đến những bậc thánh quả đều phải căn cứ vào bốn dự lưu phần. Cho nên những người không đầy đủ về lòng tin, giới, sự bố thí về trí tuệ, thì vẫn còn rơi lọt trong ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nói tóm gọn mình phải học thuộc lòng bốn dự lưu phần, phải định nghĩa về Phật, pháp, tăng và thánh giới. Mỗi ngày phải lạy bốn dự lưu phần để nhắc, để mình nhớ, để mình thực tập.
Nếu mình ở nơi không có chư tăng, hoặc có chư tăng mà không đúng chánh pháp thì phải dựa vào hai phần tối quan trọng là Pháp và Luật, tức là mình giữ giới và mình phải nghe pháp tư duy, nghiền ngẫm, quán chiếu, và hành trì theo pháp. Pháp và Luật như hai chân, từ đó để mình đứng vững, nếu có một thôi sẽ không đứng vững. Mình chỉ nói pháp hay, hiểu pháp hay mà giới mình không giữ thì mình là người què, cụt giò, không giữ giới. Nếu mình không giữ giới thì pháp mình thực hành sẽ không đi đến chỗ đúng như pháp, không đi đến chỗ viên mãn, không thể nhập được thánh trí thực sự của Đức Phật. Vì con đường tuần tự phải từ giới hạnh - tâm yên định - thánh tuệ viên mãn.
Như vậy giới của mình là từ Pháp Tam Quy (tham khảo trang web – Linh Quy Pháp Ấn, bài Quy Y Pháp như thế nào). Quy Y không giống như mình nghĩ đơn giản chỉ làm lễ Quy Y là xong. Như thầy Minh Thành đã xuất gia 30 năm vẫn đang thực hành Ba Pháp Quy Y. Không phải như quý vị nghĩ chỉ Phật tử mới có Tam Quy Ngũ Giới, mấy thầy không có. Ba Pháp Quy Y là để thực hành cho đến lúc thành thánh quả tối cao, là trong tâm mình lúc nào cũng quy kính Phật, quy kính pháp, quy kính tăng, quy kính thánh giới, đây gọi là tứ quy, tứ bảo, tứ dự lưu phần, phải nhớ bốn dự lưu phần.
Trong suy nghĩ của mình bất cứ lúc nào cũng phải quy kính Phật; tôn trọng thánh pháp trong tạng kinh Nikāya; tôn kính tăng những bậc tu hành đúng chánh pháp, đúng chánh kiến; tôn kính giới; tôn kính luật. Tuy mình chưa thực hành trọn vẹn nhưng sự tôn kính, cung kính, tôn trọng là mình hun đúc, tưới tẩm, nuôi dưỡng, vun bồi, tăng trưởng, phát triển bốn lòng tin đó. Bốn lòng tin này phải được mình cho ăn hằng ngày, nuôi lớn thường xuyên, thực tập và hành trì liên tục. Bây giờ mình nghe pháp để tăng trưởng lòng tin đối với pháp. Lòng tin của mình đôi khi chưa đi đến chỗ bất động (lòng tin không còn lung lay).
Ví dụ: Giờ sao con quán bất tịnh mà con chỉ thấy tịnh? Thì như vậy là mình chưa có lòng tin đối với pháp nên mình mới có phát ngôn như vậy. Không chỉ Phật tử, đến cả người xuất gia cũng có suy nghĩ như vậy. Nếu mình có suy nghĩ như vậy, thì vĩnh viển không bao giờ thành tựu bất tịnh quán, đó là một sự suy nghĩ không chấp nhận học pháp. Mà trong giới luật, trong pháp Đức Phật dạy một trong những điều quan trọng là chấp nhận học pháp, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt (trong phần giới của Tóm tắt năm uẩn).
Khi mình nghe một bài pháp nào đó, cảm thấy khó, không làm được là đang không chấp nhận học pháp. Nếu tâm mình chấp nhận suy nghĩ đó, thì chính suy nghĩ đó sẽ ngăn không cho mình đi vào thánh pháp, đó là suy nghĩ chướng ngại pháp, mình phải đánh đuổi suy nghĩ đó ra khỏi thân tâm của mình, vì nếu mình chấp nhận suy nghĩ đó, sau này mình sẽ tiếp tục suy nghĩ nữa, thọ nhận suy nghĩ đó, và nó đi vô cảm thọ của bản thân, gặp những chuyện tương tự nó sẽ sinh khởi và mình lại chấp nhận, mình sẽ không chính nhập được pháp. Suy nghĩ chấp nhận học pháp hết sức quan trọng.
Pháp và Luật là tối thượng, dù ở trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ thật vững. Giới luật sẽ giữ cho mình không rơi vào ba đường ác, nếu mình để sự buông lung, dù mình có hiểu pháp mà không có giới luật thắng lại thì sự hiểu có lúc mờ - tỏ, mạnh - yếu, tinh tấn – lười biếng, nhờ hàng rào giới luật ngăn lại, giới luật bảo vệ chặn ba đường ác. Không ai muốn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nên giới luật tuyệt đối quan trọng. Ví dụ mình chưa giữ được giới nào đó, cảm thấy hổ thẹn, xấu hổ thì mình có khả năng từ từ mình sẽ giữ được. Không phải mình giữ trọn vẹn 100%, mà mình biết mình đang ở đâu trong giới đó nếu còn chưa tốt, thấy hổ thẹn, sợ hãi, lo lắng, làm sao phải cố gắng tốt hơn nữa, nhiều hơn nữa, đầy đủ hơn nữa thì mình sẽ có cơ hội tiến lên, đó là khả năng hướng thượng, gọi là tăng thượng giới học.
Đối với một người tu mà trong suy nghĩ, lời nói, hành động mà không có suy nghĩ nâng cao giới hạnh, thiền định, trí tuệ thì người đó chưa phải Phật tử chân chính. Khi mình suy nghĩ về giới, mình luôn luôn muốn nâng cao giới của mình. Khi mình suy nghĩ về tâm yên định, mình mong muốn để đạt được tâm yên định nhiều hơn hiện tại, gọi là nâng cao tâm học, định học. Khi mình suy nghĩ, muốn nâng cao trí tuệ của mình lên nữa, mình chưa muốn chấp nhận trí tuệ hiện tại, mình thấy chưa đúng mức, chưa đủ và muốn nâng cao trí tuệ lên nữa. Thì những người luôn luôn muốn nâng cao giới, nâng cao định, nâng cao tuệ thì đó mới là những Phật tử chân chính.
Những pháp này là cần phải học. Những suy nghĩ nào để làm mình nâng cao giới, mình phải phát huy những suy nghĩ đó. Những cảm giác nào làm mình nâng cao giới, nâng cao định mình phải nâng cao phát huy cảm giác đó. Ngủ uẩn đi theo tham sân si, mình điều khiển ngủ uẩn sẽ tăng trưởng giới - định - tuệ, đó gọi là tu. Cho nên sau này những buổi đạo tràng Nikāya sẽ có những buổi tăng thượng giới học. Trong giai đoạn để chúng ta thành tựu chính kiến, thấy biết đúng về tổng quan năm uẩn, sau khi ổn định thấy biết sẽ nâng cao phần giới học, vì Pháp chỉ mới có một chân. Vì vậy chúng ta luôn luôn dựa vào Pháp và Luật.
Còn về phần Pháp mình nương tựa vào an trú cảm giác toàn thân nhận diện năm uẩn và diệt tận tham sân si. Thấy tham sân si là thẳng tay, nổ lực để nhớ an trú trong cảm giác toàn thân và luôn luôn nhìn lại năm uẩn, vì khi mình nhìn về năm uẩn thường trực mình mới thể nhập được thánh trí về năm uẩn (vì năm uẩn phá ngã). Khi nhìn về năm uẩn không thấy ngã và khi thấy ngã thì không thấy năm uẩn cũng như khi thấy cái tôi thí không thấy năm uẩn, và khi thấy năm uẩn thì cái tôi lúc đó, cái ngã kiến, cho rằng có một cái tôi bị cái thánh trí năm uẩn đó làm vỡ ra làm năm mảnh. Nên sự nhìn lại năm uẩn liên tục đó là công phu là tinh cần tinh tấn là sự nổ lực. Nên phải luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng ra sao. Từ bên trong năm uẩn phát giác ra tham sân si và bản ngã, những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu sẽ được phát giác, nhìn thấy, phơi bày những gì bị che kín từ trước đến nay từ bao nhiêu kiếp bị che lấp giờ đây sẽ được phơi bày từ trong trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình. Phơi bày những cảm giác của dục, của ái, của tham trong trí tuệ năm uẩn mà lúc trước chưa bao giờ mình thấy, suốt đời suốt kiếp nếu không có người chỉ mình sẽ không bao giờ biết.
Làm sao mình biết được trong cảm giác đó những dục, những tham, những ái, những sân si, những vô minh, những bản ngã, những tật đối, những ganh tị những hơn thua, những mưu mô, những xảo quyệt, nó cư trú, làm ổ, làm tổ, làm kén, làm căn cứ địa bên trong, làm sao mình có thể thấy. Khi mình nhận thấy rồi, mình sẽ cảm thấy ớn, thấy sợ... nhưng quý vị đừng sợ, khi mình nhìn thấy ra rồi, mình nên vui mừng. Đây đúng như trong lời kinh đã tán thán Đức Phật, ngài là bậc phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt có thể nhìn thấy sách, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ đó là công việc của Đức Phật, của đức thế tôn. Phơi bày hết tất cả trong thân tâm mình, những gì phơi bày hết trước ánh sáng của thánh trí năm uẩn. Đây là một sự kì diệu.
Cách đây không lâu có một sư cô tu được mười năm, cô đến đĩnh lễ Minh Thành và khóc nức nở, cô mừng cô nói là kì tích xảy ra trong thân tâm của cô. Cô tu suốt, công quả mười bảy năm, tu tám chín năm mà con tu trong vô minh, tới ngày giờ này con nhận được dòng pháp này con mới thấy được năm uẩn, cô đã bỏ ăn bỏ ngủ bỏ hết tất cả, đóng cửa bít bùng chỉ chừa một lổ nhỏ để thở, mà một ngày cô nghe cô học mười tám tiếng, đến mức cô muốn xỉu, và trong một thời gian hết sức ngắn như vậy cô đã thâm nhập được Thánh Trí Năm Uẩn.
Cô đã in hàng trăm bài về năm uẩn (cô ở gần chùa Vạn Đức) và cô đã đi chia sẽ với Phật tử, khi có duyên chút ít thì những Phật tử cảm nhận được người ta cũng bất ngờ nên hết sức nhân duyên phước đức cho chúng ta, phải nắm thật chặt phải bám thật chắc thánh trí năm uẩn. Quý vị có tự thấy từ khi mình học, mình hành pháp này rồi, mình bắt đầu hiểu rõ về thân tâm của mình không? Có, đó là pháp của Đức Như Lai đến để mà thấy và có hiệu quả tức thời, không cần trải qua thời gian, thiết thực hiện tại, hiệu quả tức thời là mình nhìn thấy được trong thân tâm mình cảm giác tham sân si, mình nhiếp phục là có hiệu quả liền. Như vậy bây giờ còn đi tìm ai, chỗ nào để dựa nữa, dựa vào bốn dự lưu phần đã được chưa?
Cho nên ngày xưa mình học vô thường khổ vô ngã thì mình chỉ mình phớt ngoài da, ngoại sắc (sắc pháp bên ngoài) chưa phải nội sắc, mình thấy người này bị tai nạn, người kia bị bệnh, người nọ bị chết mình cảm thấy vô thường quá, đó chỉ là một phần nhỏ của ngoại sắc thôi chứ chưa có phải là nội sắc huống gì bây giờ mình thấy còn thọ tưởng hành thức. Cho nên ngày xưa mình học, mình tu phần nhiều là trên suy tưởng, tưởng với hành, nó mông lung, lờ mờ trong vô minh chứ nó không thấy một cách viên mãn trong thánh trí năm uẩn của Đức Phật, không thấy đầy đủ. Bây giờ mình thấy vô thường, khổ, vô ngã là thấy ở trong năm uẩn, trong tự thân, cảm giác, trong hình bóng nội tâm, thấy trong suy nghĩ, thấy trong nhận thức. Cái thấy này là đến để thấy là thấy bằng trí tuệ.
II. Quán thân ở trên thân
Đến câu hỏi tiếp theo, phần niệm thân là có sáu khía cạnh: Niệm hơi thở, niệm oai nghi hành động, niệm bất tịnh, niệm tứ đại, niệm sự chết. Sáu khía cạnh mình phải thực tập, tập từ từ.
Niệm hơi thở thì phải có hướng dẫn trong các bài giảng lúc đầu thường là hướng dẫn (Tìm hiểu ở bài ba pháp tuyệt diệu hoặc đạo lộ bậc thánh giảng ở chùa giác ngộ), trong đó Minh Thành có nói rõ cách thực hành ba pháp rồi phần niệm thân, phần quán chiếu rất là đầy đủ. Cho nên mình thực tập hơi thở tới chỗ an tịnh thân hành, thở vào thở ra để mình an tịnh lắng dịu, mình phải tập những hơi thở này cho thuần thục, phải tập cho quen, phải thực tập là sẽ an tịnh được liền. Giống như khi mình học lái xe, lúc đầu mình leo lên sẽ bị ngã, bị té, trày chân chảy máu, nhưng tập nhiều đến khi mình quen, mình lái xe như không lái vậy, thì sự tu tập cũng sẽ giống như vậy, phải tập tới tập lui, tập quài cho đến khi nhuần nhuyễn mình vào ngồi một chút là sẽ an tịnh thân, an tịnh tâm, lắng dịu, dễ chịu.
Niệm oai nghi, phần này rất hay chúng ta phải chịu khó và để tâm trong sự thực tập niệm oai nghi. Đi rõ biết là đi, đứng rõ biết là đứng, nằm ngồi cũng như vậy, co duỗi cuối ngước tất cả những động tác, tư thế thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết đó là mình niệm oai nghi và hành động.
Khi nãy Phật tử có hỏi người ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân, cái này rất nhiều người hỏi, thầy sẽ nói tuần tự để quý vị thấy.
Cái đi đứng ngồi nằm là cái hết sức quan trọng, tại vì mình quen là tụng kinh lên trước bàn Phật tu, ngồi thiền thì lên bồ đoàn tu, mình không quen việc tu ở đi đứng ngồi nằm. Cho nên mình đưa tu học vào oai nghi hành động, đây là cả một sự nổ lực công phu và hành trì, một ý chí kiêu trì và bền lâu chứ không sẽ bị quên, mới học Tứ Niệm Xứ ra khỏi giảng đường là sẽ bay mất. Đi phải rõ biết sắc đi, phải loại bỏ chữ tôi, tuy trong sách kinh có để là "tôi đi" nhưng mà trong sách các bậc thánh, Đức Phật nói thì không có ngã, nhưng khi mình nói sẽ khác, cho nên mình sẽ không nói "tôi đi", mình tập loại bỏ chữ "tôi".
Thấy như vậy, nhưng mình phải có sự chánh niệm, tỉnh giác, quyết tâm loại bỏ trong ngôn ngữ của mình, rồi từ từ ở trong hành vi của mình, rồi lần lần ở trong suy nghĩ của mình thì mới nhập lưu được, đó là ngoại sắc. Đến khi người ta nhìn bàn tay của mình hỏi: đây là bàn tay của chị? mình bảo không đây là tứ đại, bàn tay này bằng tứ đại, lúc đó đã thành công hướng dự lưu cho đến nhập lưu, nhưng phải thật sự thấy trong trí tuệ của mình chứ không phải chỉ nói miệng. Nên bây giờ mình phải tập nói từ miệng, rồi từ từ mới vào suy nghĩ, mình phải tập khi mình suy nghĩ không có chữ "tôi" trong đó mà thầy dùng từ "tẩy não" cái này rất quan trọng. "Tẩy não", tại vì sao?
Bộ não của mình, tư duy của mình, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình nó đã vô chín ngàn chín trăm chín mươi chín tỉ năm là nó gắn liền với chữ "tôi" mà bây giờ không nghĩ cách để loại ra là làm sao, làm sao đi ra khỏi? Ví dụ: đôi dép mới mua ngoài tiệm về - dép của tôi. Xe vừa mới mua đem về - xe của tôi. Nhà đang xây với đất đá xi măng chất đống xây lên - nhà của tôi. Và có những trường hợp mình cũng dùng ngôn ngữ nhưng mình biết đó chỉ là ngôn ngữ thôi. Khi quý vị thực tập được cái này, quý vị sẽ thấy an lạc, kì diệu vô cùng. Cái gì là của mình? Không lẻ đống tro là của mình?
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, hôm đó Đức Phật hỏi này các tỳ kheo bây giờ ví dụ có ai, cái phẩm không phải của các ông, có ai lượm những cành nhánh lá cây người ta bẻ rồi đốt, các ông có suy nghĩ rằng người ta bẻ người ta đốt các ông không? Tỳ kheo đáp dạ không. Đức Phật hỏi tai sao? Tỳ kheo đáp vì những cái đó không dính dán gì đến con hết, cành lá cây nó không dính dán gì tới con. Đức Phật cũng nói sắc này, thọ này, tưởng này, hành này, thức này đều không phải của các ông, cái gì không phải của các ông, các công nên từ bỏ, từ bỏ chút ít các ông sẽ được giải thoát an lạc, chấm dứt khỏi khổ đau.
Nghe những bài này nó thấm còn hơn chao, để thấm những lời dạy, để nó đi sâu vào các tầng thật là sâu thẳm của cảm giác mà làm mình rung động rung chuyển bên trong ngũ uẩn, nước mắt tràn ra, đó là thánh trí. Có ai đến trước cổng chùa bẻ cành cây rồi đốt, quý vị có nghĩ rằng người ta bẻ quý vị người ta đốt quý vị không? Khi gắn chữ của tôi vào thì sẽ có chuyện, nên bỏ chữ tôi ra. Phải tập loại bỏ từ trong suy nghĩ, loại bỏ cảm giác, loại bỏ trong tưởng.
Khi mình ngồi trong thân tâm hình bóng, gương mặt của mình hiện lên, mình nói đây là tôi? không, đây là tưởng uẩn, vô thường, trống rỗng, duyên sanh, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã trong hình bóng lờ mờ này hết. Cái rõ ràng nhìn thấy, sờ được mà còn vô thường, sắc uẩn thì cái bóng mờ đó làm sao có thể thường được. Đó là như lý tác ý và những suy nghĩ này, tác ý này sẽ lần lần đánh đi cái vô minh, cái si mê, cái chấp ngã thì phần vô minh chấp ngã sẽ yếu dần dần. Đến khi mình bị người ta dựt tiền mình vẫn thấy bình an, không thấy khổ, bây giờ đã bị dựt rồi, nếu có khổ cũng đã dựt rồi.
Thầy mới giảng cho Linh Quy Pháp Ấn (giảng trực tuyến), một vị tỳ kheo ngài đang nằm có một con rắn cực độc rớt vào người của ngài, ngài mới nói với các vị tỳ kheo: các thầy làm ơn khiêng cái giường và cái sắc thân này đem ra ngoài, nó sẽ rã rời ra như đống rơm. Ngài Xá Lợi Phất mới bảo: ôi tôn giả, tôi thấy là cái căn của tôn giả không có đổi khác, không có biến hoại tức là tôi thấy ngày cứ bình tĩnh không có gì, thì ngài tôn giả mới đáp thưa ngài Xá Lợi Phất, từ lâu rồi tôi không có suy nghĩ cái thân này là của tôi, là tôi là tự ngã của tôi.
Thưa ngài Xá Lợi Phất, ai suy nghĩ cái thân này của tôi, thì lúc đó bị rắn cắn người đó mới thấy hoảng sợ, sợ hãi, sầu bi khổ não. Thưa ngài Xá Lợi Phất từ lâu tôi không suy nghĩ thân này là của tôi thí làm sao cái căn của tôi thay đổi được. Và khi khiêng ngài ra ngoài, một lát thân thể rã ra như đống rơm, ngài đã đạt được bất động tâm giải thoát, quý vị thấy đức tu của các bậc Thánh Tăng.
Thánh tăng do Đức Phật ấn chứng chứ không phải do người phàm tôn xưng, người phàm không biết được ai là thánh. Là đã nhàm chán, yểm ly và từ bỏ đối với sắc uẩn đó là thánh triết của Đức Phật, của các vị A La Hán. Mục đích của chúng ta là đi đến đó, không có bất cứ cái gì trên cuộc đời này thậm chí thân thể này có tan hoại đi nữa, đã từ lâu ngày rồi thưa sư phụ con đã học thánh trí năm uẩn con đã biết sắc này là vô thường, sắc này là duyên sanh, sắc này là trống rỗng, nó bại hoại thưa sư phụ ngày nào con cũng đánh bộ xương và nắm tro, chính giai đoạn hoại tử thi con quán ba mươi năm rồi sư phụ, bây giờ con đi chào sư phụ. Phải tu như vậy, thầy của trời và người.
Này các tỳ kheo, chư thiên và loài người ưu thích, đam mê sắc, đau khổ vì sắc. Như Lai không ưa thích sắc, không đam mê sắc, không đau khổ vì sắc, khi sắc tan hoại biến đổi, như lai không sầu bi khổ não, bất động, đó là gương mặt thật sự, dung nhan của thế tôn và các bậc thánh tăng.
Trở lại vấn đề ở đây, trong sự suy nghĩ, cảm giác mình phải tập loại bỏ ngũ uẩn, nó không phải là mình. Lúc đưa vào lò thiêu, lúc đó mình đâu. Có người ngồi đây bảo thầy ơi con quyết định không vào lò thiêu, vậy con vô hòm, chỉ có hai đường, một chôn, hai thiêu thôi. Bây giờ mình ko từ bỏ thì sau này cũng phải từ bỏ. Không từ bỏ sớm cũng từ bỏ muộn, chi bằng từ bỏ sớm tốt hơn, từ bỏ bằng trí tuệ, không phải từ bỏ thân này. Ở trong nhận thức của mình, đối với đống thịt này nó là pháp duyên sanh tứ đại.
Cho nên sắc nó đi, sắc nó đứng, sắc nó ngồi, sắc nó nằm chứ không phải mình đi mình đứng mình ngồi mình nằm. Ví dụ như mình đang ngồi có ai lại nói tránh ra coi, chỗ này chỗ của tôi. Thì mình thôi, sắc kia muốn ngồi chỗ này thì sắc này ngồi chỗ khác. Chúng ta phải tập từ những cái nhỏ từng chút từng chút lâu ngày mới thành, không phải nhảy vào là xong thành a la hán. Người tham thường hay nôn nóng, thầy ơi con tu bữa giờ sao chưa thấy gì hết, thầy hỏi tu bao lâu? người đáp dạ sáu tháng. Mới có sáu tháng đòi thành chánh quả.
Mình cứ tập niệm như vậy, mỗi lần mình niệm là mình vừa nhắc thánh trí, vừa tẩy não phàm của mình, đánh đuổi thọ tưởng hạnh của vô minh chấp ngã. Khi mình vô toilet, mình nói cái sắc này, cái hậu quả của cái sắc này, sáng thức dậy mình chưa súc miệng, cái mùi của sắc uẩn, mùi của tứ đại. Mình phải tập nhìn, nhìn kĩ hậu quả của sắc, quán chiếu cho thâm sâu. Vô minh, bóng đêm đang phủ trùm hết toàn thế giới, nếu mà không có thánh trí này là tất cả chúng sinh không có hướng đi, không có lối ra.
Cho nên mình phải thấy hân hoan, sung sướng, thích thú và cảm thấy hỷ lạc, hạnh phúc trong khi mình học pháp, mình hành pháp, mình khoan khoái tại vì mình biết rằng trong bảy tám tỷ người trong bóng đêm được mấy người nghe và hành pháp này, đếm trên đầu ngón tay những người thành tựu trí năm uẩn, cho nên phải cố gắng nắm bắt cơ hội vĩ đại có một không hai của ngàn tỉ kiếp này để mình giuộc kiếp này ra thì đời sau mình sanh ở đâu, mình chưa nhập lưu mình có chắc mình sẽ không rơi ba đường ác không.
Như khi sáng Minh Thành ví dụ: một người gần chết bảo con: con ơi mẹ sợ nóng lắm đừng thiêu, đưa mẹ chôn. Con bảo không, sẽ đem thiêu, lúc đó sẽ như thế nào, sân hận lên rồi sẽ đi đâu. Như vậy phải dự lưu thì mới chắc chắn, mà muốn dự lưu thì không phải chuyện đơn giản. Có một cuốn sách nhập lưu mới ra, mình phải học hết cuốn đó, một trăm mấy trang tất cả những bài kinh Đức Phật nói về tiêu chuẩn để nhập lưu bởi vậy Minh Thành cũng tha thiết nói cho tất cả đại chúng phải cố gắng, phải biết quý thời gian mà mình tu học.
Mỗi một ngày mình thiền định thiền quán và mình nghe pháp trong kinh Nikāya giảng giải, nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như không còn thời gian để nghe và tu giống như ngày mai mình sẽ chết như vậy mới kịp để hướng dự lưu hoặc nhập lưu. Nếu lọt ra khỏi pháp tu này thì làm sao? Đời sau còn ai ngồi đây mà nói cho mình nghe nữa. Chánh Pháp này sẽ tỏ lên được một chút thôi rồi sẽ đi đến thời kì mạc pháp, không còn ai biết đến chánh pháp này nữa. Cho nên phải hêt sức trân trọng, trân quý.
Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy. Quán thân trên nội thân hay ngoại thân. Nội thân là những thứ ở bên trong thân, ngoại thân là những thứ ở ngoài thân. Mình nhìn toàn bộ dáng vẻ của một người ở bên ngoài thì gọi là ngoại thân, còn những bộ phận của ba mươi hai thể trường những thứ bên trong (tim, gan, phổi...) gọi là nội thân. Mình phải luôn sống chiêm nghiệm, quán xét, quan sát, tư duy bên trong nội thân đừng để lớp da bề ngoài phủ qua làm mình mù, không nhìn thấy bên trong. Mình phải nhìn thấy, con mắt tuệ là xuyên thấu, luôn luôn tập nhìn ở bên trong là máu, mủ, mỡ, nhìn cho bớt dục tham ái chứ không sẽ không gỡ được chữ ái, ái trong sắc uẩn nó bám chặt.
Minh Thành đang hướng dẫn cho đại chúng Linh Quy tương ưng sáu xứ. Với trí tuệ thâm sâu, Đức Phật gỡ ra từng cái cho mình thấy sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư. Tại vì trăm đời ngàn kiếp vạn dòng luân hồi là nguyên khối tưởng, giống như gỗ nguyên khối, mình nghĩ thân thể này là nguyên khối mà không thấy được bên trong gọi là không quán nội thân. Quý vị nghĩ được mấy người tu đủ phần quán thân, Đức Phật gọi là hư vị của bất tử thân hình niệm, có một bài kinh thân hình niệm là hương vị của bất tử.
Cho nên toàn thể thế giới đều bị gạt, bị thân thể gạt. Đau lòng lắm, thân thể này gạt mình tại vì mình không quán, không ai chỉ dạy cho mình quán, quán nội thân, quán ngoại thân. Gương mặt đang lành lặn, đi tiêm silicon vô miệng, ảnh hưởng tới tính mạng, kéo chân để cao lên. Từ vô minh, dục tham ái, khát ái làm ra nhiều thứ rối loại thế giới nên Đức Phật phơi bày những gì bị che kín, mở ra cho mình nhìn thấy được bên trong. Khi lạy Đức Phật mình phải thấy được ân đức của ngài, thương thay khổ thay cho chúng ta, cho tấm thân này.
Chỉ việc ăn, uống, ngủ, mặc, ăn ở là bao nhiêu chuyện phiền phức. Như chuyện mua một căn nhà ở Mỹ trả ba mươi năm, lấy căn nhà coi như tuyên án, đi cày trả tiền góp. Ăn - mặc - chơi - làm - nhà cửa - xe cộ - tham - sân si - già bệnh - chết, chưa phải xong, ác nghiệp sẽ đưa đi.
Cho nên Đức Phật, các bậc Thánh Tăng thương mình khổ ở trong vô minh (không thấy được ngũ uẩn, không thấy được bản chất bên trong), cuối cùng không biết được gì cả. Vậy mình sống quán nội thân, ngoại thân, quán ở đây là mình phải nhìn một cách sâu sắc, nhìn tận tường, nhìn triệt để, nhìn trọn vẹn, nhìn đầy đủ tất cả mọi khía cạnh của tấm thân này để sử dụng nó một cách hết sức đẹp. Đi biết đi, đứng ngồi nằm biết oai nghi co duỗi cuối ngước biết, tất cả những hành động, chánh niệm, tịnh giác biết rõ, sử dụng một tấm thân như vậy hết sức là khôn khéo, thông minh và trí tuệ.
Không nên lao ra đường đua xe, tai nạn, tật nguyền, tệ nạn ma túy. Thế giới đang chìm ngập trong cảm giác của tham sân si, lún sâu đầm lầy của dục càng ngày càng lún sâu không có đường ra. Nếu mình không có thánh đạo làm sao mình ra, nên mình tôn kính pháp bảo là chỗ này, đây là con đường độc nhất thanh tịnh, đưa chúng sanh vượt khỏi con đường sầu ưu, thành tựu thánh trí, chứng ngộ niết bàn.
Hãy để hết thời gian tâm lực trí lực sức lực vào trong này, kết quả quý vị tuyệt vời lắm, đến ngày ra đi quý vị cười hạnh phúc và sung sướng, xứng đáng một kiếp người, hi sinh tất cả để đạt được thánh pháp, bằng không lúc mính sắp chết mình sẽ hối hận.
Còn phần quán ba mươi hai vật bất tịnh là quán tứ đại, quán chín giai đoạn mục tử thi là có ba bài thiền quán, Minh Thành có hướng dẫn ba bài thiền quán, quý Phật tử về lên trang web nghe. Như câu mình hay xài người ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân, có thân đây vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy với hi vọng hướng tới chánh trí chánh niệm, vị ấy sống không nương tựa, không chấp chước một vật gì ở trên đời. Này các tỳ kheo như vậy tỳ kheo sống quán thân ở trên thân. Đọc phần này thương Đức Phật, biết ơn Đức Phật vô cùng.
Vậy mà có những đứa con nghịch tử, đọc tới đọc lui hoài nghe chán, mà những đứa con đó lại là chính mình lúc trước. Nó sẽ nhắc tới nhắc lui mãi, mà nếu không nhắc thì làm gì có tạng kinh này, vì ngày xưa là khẩu truyền (truyền miệng), muốn nói gì phải nói lại ba lần mới có thể nhớ, quý vị nghĩ đi ba mươi hai ngàn sáu trăm năm, ngày xưa không có chữ viết, chỉ nói mà không lặp đi lặp lại thì làm sao tồn tại tạng kinh. Cha của tất cả thánh nhân truyền lại tu tập vô lượng kiếp như vây cho đọc nhưng lại làm biếng, thật sự vô minh, không có cung kính, cuối cùng đi theo tà pháp, mê tín dị đoan.
Đức Phật đã nói, sau này đệ tử của như lai này các tỳ kheo những lời thâm sâu vi diệu của như lai liên hệ đến không, các tỳ kheo không học mà học những tác phẩm của của các nhà văn, nhà thơ, có câu chữ hoa mỹ những vị ấy nghĩ rằng nên học, nên lắng tai nghe, cuối cùng mạc pháp đi đến hoại diệt. Vì pháp này đi ngược lại với chúng sanh, đi ngược lại với vô minh ái dục, nghe rất khó chấp nhận, nhưng khi đã chấp nhận được sẽ nhập lưu.
Sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Mình nói ra những lời nói đó có sanh diệt không? Mình không thấy, mà nghĩ rằng đó là lời nói thôi, đó là vô minh. Những lời nói nó sanh rồi sẽ diệt, nhưng mình không thấy tính sanh diệt trong lời nói. Mỗi bước chân của mình là sanh diệt, nhưng mình không thấy, mình thấy mỗi bước chân đều bình thường cho nên vô minh, thấy sanh diệt mới thành ra thánh trí, thấy được sanh diệt trong mỗi bước chân.
Ban ngày mình làm việc đi đứng là sanh, nhưng đến khi mình nằm lên giường là diệt là trạng trái ngưng hoạt động. Mỗi hơi thở của mình cũng sanh diệt, đó là sống quán tánh sanh diệt ở trên thân. Nhai cơm cũng sanh diệt, lúc tô cơm đầy là sanh, mình nhai một lúc hết tô cơm là diệt, tô cơm sanh diệt ở ngoài nhưng khi vào bên trong thân lại sanh, nhưng khi đi ra ngoài lại diệt. Một ly nước đầy đang sanh, mình uống cạn là diệt nhưng vào bên trong thân lại sanh diệt. Tất cả mọi thứ xảy ra đều là quán tính sanh diệt, nó thâm sâu nhưng liên hệ thực tế hằng ngày liên tục trên thân mình, ngủ cốc luân hồi.
Cảm giác của mình cũng sanh diệt, khi nằm ngủ cảm giác thế nào, lúc bị kêu dậy sẽ cảm giác ra sao, ngồi nghe giảng pháp bao nhiêu cảm giác sanh diệt, đó là tánh sanh diệt ở trên thọ, ở trong nội tâm của mình tham khởi, sân khởi, si khởi, ngã khỏi, đồng ý hay không đồng ý đó là sanh diệt trong tâm. Mình ở chung với tứ niệm xứ mỗi ngày nhưng mình không thấy, giờ các pháp vận hành như thế nào, mình nhìn kĩ mình thấy rõ từng pháp, cái nào là thân, cái nào là thọ, cái nào là tâm, cái nào là pháp, cái nào là sắc, cái nào là thọ tưởng hành thức, cái nào là ngủ cái, cái nào là thất giác chi, những cái sanh diệt mình thấy được hết là quán pháp trên thất pháp.
Lúc tụng kinh, lúc này ta nhận diện năm uẩn, quán pháp trên thấp pháp, nhìn năm uẩn ngay lúc đó, cả quán tâm trên tâm, thấy được trong tâm có tham sân si không, cả quán thọ trên thọ, thấy được cảm thọ lúc đó ra sao. Mọi chỗ đều có tứ niệm xứ, và chỗ nào cũng có năm uẩn, không có gì đi ra khỏi năm uẩn. Nếu mình chưa chứng đắc niết bàn thì mình ở trong năm uẩn. Từ sáng đến giờ, bao nhiêu dòng cảm thọ của mình nó chảy bên trong, bao nhiêu cái tâm của mình nó sanh diệt, bao nhiêu hành vi cử chỉ của mình nó thay đổi liên tục, bao nhiêu hơi thở của mình sanh diệt, đó là thánh triết Đức Phật truyền trao cho mình để an trú chánh niệm như vậy.
Phải an trú chánh niệm mới thấy được cái sanh diệt đó. Nếu không an trú chánh niệm thì làm sao thấy được, nhiều khi mình đang ngồi, mình rung đùi mà mình không hay biết, là mình không an trú chánh niệm mà mình không biết và những cảm thọ nó sanh khởi, nhưng mình không biết. Ví dụ như con thấy cảm thọ của con, không khó chịu cũng không dễ chịu, cũng không tham, cũng không sân nhưng trong đó có sân vi tế, một sự khó chịu nhẹ mà mình không thấy, khi mình không thấy nó sẽ qua mặt mình, phiền não nó qua mặt, nhiều lần như vậy giống như ăn trộm vô nhà lấy đồ mà mình không biết sẽ mất đồ. Pháp nhãn của mình chưa có tinh vi chưa có sáng chưa nhìn thấy tận nguồn, nguồn cội chính xác.
Vậy nên vị ấy an trú chánh niệm với hi vọng hướng đến chánh trí chánh niệm (trí tuệ chánh giải thoát, trí tuệ chân chánh - thực sự nhìn thấy tất cả bản chất của năm uẩn, bản chất của tham sân si, bản chất của cái gì làm ra đau khổ trên cuộc đời, cái gì hành xác mình làm mình khổ) nên trong bát thánh đạo, ngoài thánh định còn hai phần nữa là thánh trí và thánh giải thoát của bậc A-la-hán, phần này mình ít nghe, đến bát thánh đạo, thánh định không phải là hết, còn thành tựu thêm 2 thánh sau là thánh trí và thánh giải thoát của bậc A-la-hán.
Người ấy không nương tựa, chấp chước bất cứ vật gì ở trên đời, khi đã thành tựu thánh trí rồi, là không còn nương tựa hay chấp chước bất cứ thứ gì trên đời vì đã thấu hết ngũ uẩn, mà ngũ uẩn đã bao trùm thế giới. Khi nghe điều này mình không nên sợ, mình phải hướng đến chỗ đó, ví dụ có thể hướng đến 30 - 40% như vậy gọi là sống quán thân ở trên thân.
./.
NƯƠNG TỰA VÀO ĐÂU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nương tựa vào Phật – Pháp – Tăng và Thánh Giới PAGEREF _Toc69113345 \h 1
II. Quán thân ở trên thân PAGEREF _Toc69113346 \h 6
I. Nương tựa vào Phật – Pháp – Tăng và Thánh Giới
Buổi chiều hôm nay, Thành để cho quý vị hỏi những câu hỏi, thắc mắc trong Chương Trình Soi Sáng. Quý vị nêu lên những khó khăn, thắc mắc trong sự tu học của mình. Và sẽ nhờ quý thầy và đại chúng soi sáng cho chúng ta.
Phật Tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ. Đây là lần thứ hai con được nghe trực tiếp sư phụ giảng pháp. Tại vì con ở xa, con muốn ngồi được ở đây thì con phải đi từ trưa hôm qua. Con có rất là nhiều những câu hỏi, vì ở bên đó con không được ở gần quý sư cô, quý sư thầy nên con không có biết hỏi ai. Hôm nay con có hai điều con chưa hiểu, con xin sư phụ từ bi chỉ dạy:
Điều 1: Con không có hiểu lời Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ là “định tâm trên thân, quán thân trên nội thân hay ngoại thân”, con đọc đi đọc lại rất nhiều nhưng con không hiểu để con áp dụng.
Điều 2: Lúc trước con không biết Phật Pháp thì con hay niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, từ khi con học được pháp này, con nghe lời sư phụ chuyển hướng nhưng mà con không biết hằng ngày con phải nương vào pháp lực gì để con tu tập hằng ngày vì con chưa có đủ sức mạnh. Con mong sư phụ từ bi chỉ dạy cho con hiểu thêm. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thích Minh Thành: Hai câu hỏi này cũng rất quan trọng, thầy sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trước. Câu hỏi trước là cả học mấy buổi phần quán thân ở trên thân.
Ngày xưa Phật tử niệm danh hiệu Phật bồ tát để làm chỗ nương tựa. Giờ học qua tinh thần của kinh Nikāya thì lấy cái gì để nương tựa. Ở trong kinh Nikāya thường nói tất cả pháp lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ. Như vậy chỗ dựa tối cao của mình là trí tuệ giác ngộ của Đức Phật, nói đầy đủ là Phật, pháp, tăng và giới đây là bốn dự lưu phần. Tức là bốn phần này giúp mình tham dự vào dòng thánh triết, chính thức để trở thành người thánh (Đức Phật) đệ tử. Vậy chỗ dựa của mình đầy đủ là bốn dự lưu phần, dựa vào đức thế tôn, mà đức thế tôn nhập diệt nhưng lời dạy của ngài là tạng kinh Nikāya, đó là thánh triết là chân lý.
Mình dựa vào sự thật, Thánh Pháp chân lý, lấy sự thật làm sức mạnh. Muốn được pháp này là phải từ nơi chư tăng, từ các bậc thiền tri trức, những vị đã thấy, đã biết, đã thông đạt được đạo lộ, như vậy phải đầy đủ tam bảo, Phật, pháp, tăng và điều thứ tư là thánh giới, phải dựa vào giới. Mình phải hiểu rằng dựa vào giới là dựa vào chính bản thân mình thực tập giới hạnh. Dựa vào giới là dựa như thế nào? Không phải mình đọc, nói miệng: “con dựa vào giới”, hay chỉ suy nghĩ trong ý hành của mình mà thực sự trong đời sống của mình, mình phải lấy giới làm chỗ dựa khi mình suy nghĩ, nói năng, hành động, làm việc phải y cứ vào giới, nương dựa vào giới, lấy giới làm chỗ để mình trú ẩn.
Đây là bốn phần đưa mình vào thánh quả, thánh đạo, thánh triết, thánh pháp. Bốn phần này tuyệt đối quan trọng từ người mới vào học đến những bậc thánh quả đều phải căn cứ vào bốn dự lưu phần. Cho nên những người không đầy đủ về lòng tin, giới, sự bố thí về trí tuệ, thì vẫn còn rơi lọt trong ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nói tóm gọn mình phải học thuộc lòng bốn dự lưu phần, phải định nghĩa về Phật, pháp, tăng và thánh giới. Mỗi ngày phải lạy bốn dự lưu phần để nhắc, để mình nhớ, để mình thực tập.
Nếu mình ở nơi không có chư tăng, hoặc có chư tăng mà không đúng chánh pháp thì phải dựa vào hai phần tối quan trọng là Pháp và Luật, tức là mình giữ giới và mình phải nghe pháp tư duy, nghiền ngẫm, quán chiếu, và hành trì theo pháp. Pháp và Luật như hai chân, từ đó để mình đứng vững, nếu có một thôi sẽ không đứng vững. Mình chỉ nói pháp hay, hiểu pháp hay mà giới mình không giữ thì mình là người què, cụt giò, không giữ giới. Nếu mình không giữ giới thì pháp mình thực hành sẽ không đi đến chỗ đúng như pháp, không đi đến chỗ viên mãn, không thể nhập được thánh trí thực sự của Đức Phật. Vì con đường tuần tự phải từ giới hạnh - tâm yên định - thánh tuệ viên mãn.
Như vậy giới của mình là từ Pháp Tam Quy (tham khảo trang web – Linh Quy Pháp Ấn, bài Quy Y Pháp như thế nào). Quy Y không giống như mình nghĩ đơn giản chỉ làm lễ Quy Y là xong. Như thầy Minh Thành đã xuất gia 30 năm vẫn đang thực hành Ba Pháp Quy Y. Không phải như quý vị nghĩ chỉ Phật tử mới có Tam Quy Ngũ Giới, mấy thầy không có. Ba Pháp Quy Y là để thực hành cho đến lúc thành thánh quả tối cao, là trong tâm mình lúc nào cũng quy kính Phật, quy kính pháp, quy kính tăng, quy kính thánh giới, đây gọi là tứ quy, tứ bảo, tứ dự lưu phần, phải nhớ bốn dự lưu phần.
Trong suy nghĩ của mình bất cứ lúc nào cũng phải quy kính Phật; tôn trọng thánh pháp trong tạng kinh Nikāya; tôn kính tăng những bậc tu hành đúng chánh pháp, đúng chánh kiến; tôn kính giới; tôn kính luật. Tuy mình chưa thực hành trọn vẹn nhưng sự tôn kính, cung kính, tôn trọng là mình hun đúc, tưới tẩm, nuôi dưỡng, vun bồi, tăng trưởng, phát triển bốn lòng tin đó. Bốn lòng tin này phải được mình cho ăn hằng ngày, nuôi lớn thường xuyên, thực tập và hành trì liên tục. Bây giờ mình nghe pháp để tăng trưởng lòng tin đối với pháp. Lòng tin của mình đôi khi chưa đi đến chỗ bất động (lòng tin không còn lung lay).
Ví dụ: Giờ sao con quán bất tịnh mà con chỉ thấy tịnh? Thì như vậy là mình chưa có lòng tin đối với pháp nên mình mới có phát ngôn như vậy. Không chỉ Phật tử, đến cả người xuất gia cũng có suy nghĩ như vậy. Nếu mình có suy nghĩ như vậy, thì vĩnh viển không bao giờ thành tựu bất tịnh quán, đó là một sự suy nghĩ không chấp nhận học pháp. Mà trong giới luật, trong pháp Đức Phật dạy một trong những điều quan trọng là chấp nhận học pháp, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt (trong phần giới của Tóm tắt năm uẩn).
Khi mình nghe một bài pháp nào đó, cảm thấy khó, không làm được là đang không chấp nhận học pháp. Nếu tâm mình chấp nhận suy nghĩ đó, thì chính suy nghĩ đó sẽ ngăn không cho mình đi vào thánh pháp, đó là suy nghĩ chướng ngại pháp, mình phải đánh đuổi suy nghĩ đó ra khỏi thân tâm của mình, vì nếu mình chấp nhận suy nghĩ đó, sau này mình sẽ tiếp tục suy nghĩ nữa, thọ nhận suy nghĩ đó, và nó đi vô cảm thọ của bản thân, gặp những chuyện tương tự nó sẽ sinh khởi và mình lại chấp nhận, mình sẽ không chính nhập được pháp. Suy nghĩ chấp nhận học pháp hết sức quan trọng.
Pháp và Luật là tối thượng, dù ở trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ thật vững. Giới luật sẽ giữ cho mình không rơi vào ba đường ác, nếu mình để sự buông lung, dù mình có hiểu pháp mà không có giới luật thắng lại thì sự hiểu có lúc mờ - tỏ, mạnh - yếu, tinh tấn – lười biếng, nhờ hàng rào giới luật ngăn lại, giới luật bảo vệ chặn ba đường ác. Không ai muốn rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nên giới luật tuyệt đối quan trọng. Ví dụ mình chưa giữ được giới nào đó, cảm thấy hổ thẹn, xấu hổ thì mình có khả năng từ từ mình sẽ giữ được. Không phải mình giữ trọn vẹn 100%, mà mình biết mình đang ở đâu trong giới đó nếu còn chưa tốt, thấy hổ thẹn, sợ hãi, lo lắng, làm sao phải cố gắng tốt hơn nữa, nhiều hơn nữa, đầy đủ hơn nữa thì mình sẽ có cơ hội tiến lên, đó là khả năng hướng thượng, gọi là tăng thượng giới học.
Đối với một người tu mà trong suy nghĩ, lời nói, hành động mà không có suy nghĩ nâng cao giới hạnh, thiền định, trí tuệ thì người đó chưa phải Phật tử chân chính. Khi mình suy nghĩ về giới, mình luôn luôn muốn nâng cao giới của mình. Khi mình suy nghĩ về tâm yên định, mình mong muốn để đạt được tâm yên định nhiều hơn hiện tại, gọi là nâng cao tâm học, định học. Khi mình suy nghĩ, muốn nâng cao trí tuệ của mình lên nữa, mình chưa muốn chấp nhận trí tuệ hiện tại, mình thấy chưa đúng mức, chưa đủ và muốn nâng cao trí tuệ lên nữa. Thì những người luôn luôn muốn nâng cao giới, nâng cao định, nâng cao tuệ thì đó mới là những Phật tử chân chính.
Những pháp này là cần phải học. Những suy nghĩ nào để làm mình nâng cao giới, mình phải phát huy những suy nghĩ đó. Những cảm giác nào làm mình nâng cao giới, nâng cao định mình phải nâng cao phát huy cảm giác đó. Ngủ uẩn đi theo tham sân si, mình điều khiển ngủ uẩn sẽ tăng trưởng giới - định - tuệ, đó gọi là tu. Cho nên sau này những buổi đạo tràng Nikāya sẽ có những buổi tăng thượng giới học. Trong giai đoạn để chúng ta thành tựu chính kiến, thấy biết đúng về tổng quan năm uẩn, sau khi ổn định thấy biết sẽ nâng cao phần giới học, vì Pháp chỉ mới có một chân. Vì vậy chúng ta luôn luôn dựa vào Pháp và Luật.
Còn về phần Pháp mình nương tựa vào an trú cảm giác toàn thân nhận diện năm uẩn và diệt tận tham sân si. Thấy tham sân si là thẳng tay, nổ lực để nhớ an trú trong cảm giác toàn thân và luôn luôn nhìn lại năm uẩn, vì khi mình nhìn về năm uẩn thường trực mình mới thể nhập được thánh trí về năm uẩn (vì năm uẩn phá ngã). Khi nhìn về năm uẩn không thấy ngã và khi thấy ngã thì không thấy năm uẩn cũng như khi thấy cái tôi thí không thấy năm uẩn, và khi thấy năm uẩn thì cái tôi lúc đó, cái ngã kiến, cho rằng có một cái tôi bị cái thánh trí năm uẩn đó làm vỡ ra làm năm mảnh. Nên sự nhìn lại năm uẩn liên tục đó là công phu là tinh cần tinh tấn là sự nổ lực. Nên phải luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng ra sao. Từ bên trong năm uẩn phát giác ra tham sân si và bản ngã, những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu sẽ được phát giác, nhìn thấy, phơi bày những gì bị che kín từ trước đến nay từ bao nhiêu kiếp bị che lấp giờ đây sẽ được phơi bày từ trong trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình. Phơi bày những cảm giác của dục, của ái, của tham trong trí tuệ năm uẩn mà lúc trước chưa bao giờ mình thấy, suốt đời suốt kiếp nếu không có người chỉ mình sẽ không bao giờ biết.
Làm sao mình biết được trong cảm giác đó những dục, những tham, những ái, những sân si, những vô minh, những bản ngã, những tật đối, những ganh tị những hơn thua, những mưu mô, những xảo quyệt, nó cư trú, làm ổ, làm tổ, làm kén, làm căn cứ địa bên trong, làm sao mình có thể thấy. Khi mình nhận thấy rồi, mình sẽ cảm thấy ớn, thấy sợ... nhưng quý vị đừng sợ, khi mình nhìn thấy ra rồi, mình nên vui mừng. Đây đúng như trong lời kinh đã tán thán Đức Phật, ngài là bậc phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt có thể nhìn thấy sách, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ đó là công việc của Đức Phật, của đức thế tôn. Phơi bày hết tất cả trong thân tâm mình, những gì phơi bày hết trước ánh sáng của thánh trí năm uẩn. Đây là một sự kì diệu.
Cách đây không lâu có một sư cô tu được mười năm, cô đến đĩnh lễ Minh Thành và khóc nức nở, cô mừng cô nói là kì tích xảy ra trong thân tâm của cô. Cô tu suốt, công quả mười bảy năm, tu tám chín năm mà con tu trong vô minh, tới ngày giờ này con nhận được dòng pháp này con mới thấy được năm uẩn, cô đã bỏ ăn bỏ ngủ bỏ hết tất cả, đóng cửa bít bùng chỉ chừa một lổ nhỏ để thở, mà một ngày cô nghe cô học mười tám tiếng, đến mức cô muốn xỉu, và trong một thời gian hết sức ngắn như vậy cô đã thâm nhập được Thánh Trí Năm Uẩn.
Cô đã in hàng trăm bài về năm uẩn (cô ở gần chùa Vạn Đức) và cô đã đi chia sẽ với Phật tử, khi có duyên chút ít thì những Phật tử cảm nhận được người ta cũng bất ngờ nên hết sức nhân duyên phước đức cho chúng ta, phải nắm thật chặt phải bám thật chắc thánh trí năm uẩn. Quý vị có tự thấy từ khi mình học, mình hành pháp này rồi, mình bắt đầu hiểu rõ về thân tâm của mình không? Có, đó là pháp của Đức Như Lai đến để mà thấy và có hiệu quả tức thời, không cần trải qua thời gian, thiết thực hiện tại, hiệu quả tức thời là mình nhìn thấy được trong thân tâm mình cảm giác tham sân si, mình nhiếp phục là có hiệu quả liền. Như vậy bây giờ còn đi tìm ai, chỗ nào để dựa nữa, dựa vào bốn dự lưu phần đã được chưa?
Cho nên ngày xưa mình học vô thường khổ vô ngã thì mình chỉ mình phớt ngoài da, ngoại sắc (sắc pháp bên ngoài) chưa phải nội sắc, mình thấy người này bị tai nạn, người kia bị bệnh, người nọ bị chết mình cảm thấy vô thường quá, đó chỉ là một phần nhỏ của ngoại sắc thôi chứ chưa có phải là nội sắc huống gì bây giờ mình thấy còn thọ tưởng hành thức. Cho nên ngày xưa mình học, mình tu phần nhiều là trên suy tưởng, tưởng với hành, nó mông lung, lờ mờ trong vô minh chứ nó không thấy một cách viên mãn trong thánh trí năm uẩn của Đức Phật, không thấy đầy đủ. Bây giờ mình thấy vô thường, khổ, vô ngã là thấy ở trong năm uẩn, trong tự thân, cảm giác, trong hình bóng nội tâm, thấy trong suy nghĩ, thấy trong nhận thức. Cái thấy này là đến để thấy là thấy bằng trí tuệ.
II. Quán thân ở trên thân
Đến câu hỏi tiếp theo, phần niệm thân là có sáu khía cạnh: Niệm hơi thở, niệm oai nghi hành động, niệm bất tịnh, niệm tứ đại, niệm sự chết. Sáu khía cạnh mình phải thực tập, tập từ từ.
Niệm hơi thở thì phải có hướng dẫn trong các bài giảng lúc đầu thường là hướng dẫn (Tìm hiểu ở bài ba pháp tuyệt diệu hoặc đạo lộ bậc thánh giảng ở chùa giác ngộ), trong đó Minh Thành có nói rõ cách thực hành ba pháp rồi phần niệm thân, phần quán chiếu rất là đầy đủ. Cho nên mình thực tập hơi thở tới chỗ an tịnh thân hành, thở vào thở ra để mình an tịnh lắng dịu, mình phải tập những hơi thở này cho thuần thục, phải tập cho quen, phải thực tập là sẽ an tịnh được liền. Giống như khi mình học lái xe, lúc đầu mình leo lên sẽ bị ngã, bị té, trày chân chảy máu, nhưng tập nhiều đến khi mình quen, mình lái xe như không lái vậy, thì sự tu tập cũng sẽ giống như vậy, phải tập tới tập lui, tập quài cho đến khi nhuần nhuyễn mình vào ngồi một chút là sẽ an tịnh thân, an tịnh tâm, lắng dịu, dễ chịu.
Niệm oai nghi, phần này rất hay chúng ta phải chịu khó và để tâm trong sự thực tập niệm oai nghi. Đi rõ biết là đi, đứng rõ biết là đứng, nằm ngồi cũng như vậy, co duỗi cuối ngước tất cả những động tác, tư thế thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết đó là mình niệm oai nghi và hành động.
Khi nãy Phật tử có hỏi người ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân, cái này rất nhiều người hỏi, thầy sẽ nói tuần tự để quý vị thấy.
Cái đi đứng ngồi nằm là cái hết sức quan trọng, tại vì mình quen là tụng kinh lên trước bàn Phật tu, ngồi thiền thì lên bồ đoàn tu, mình không quen việc tu ở đi đứng ngồi nằm. Cho nên mình đưa tu học vào oai nghi hành động, đây là cả một sự nổ lực công phu và hành trì, một ý chí kiêu trì và bền lâu chứ không sẽ bị quên, mới học Tứ Niệm Xứ ra khỏi giảng đường là sẽ bay mất. Đi phải rõ biết sắc đi, phải loại bỏ chữ tôi, tuy trong sách kinh có để là "tôi đi" nhưng mà trong sách các bậc thánh, Đức Phật nói thì không có ngã, nhưng khi mình nói sẽ khác, cho nên mình sẽ không nói "tôi đi", mình tập loại bỏ chữ "tôi".
Thấy như vậy, nhưng mình phải có sự chánh niệm, tỉnh giác, quyết tâm loại bỏ trong ngôn ngữ của mình, rồi từ từ ở trong hành vi của mình, rồi lần lần ở trong suy nghĩ của mình thì mới nhập lưu được, đó là ngoại sắc. Đến khi người ta nhìn bàn tay của mình hỏi: đây là bàn tay của chị? mình bảo không đây là tứ đại, bàn tay này bằng tứ đại, lúc đó đã thành công hướng dự lưu cho đến nhập lưu, nhưng phải thật sự thấy trong trí tuệ của mình chứ không phải chỉ nói miệng. Nên bây giờ mình phải tập nói từ miệng, rồi từ từ mới vào suy nghĩ, mình phải tập khi mình suy nghĩ không có chữ "tôi" trong đó mà thầy dùng từ "tẩy não" cái này rất quan trọng. "Tẩy não", tại vì sao?
Bộ não của mình, tư duy của mình, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình nó đã vô chín ngàn chín trăm chín mươi chín tỉ năm là nó gắn liền với chữ "tôi" mà bây giờ không nghĩ cách để loại ra là làm sao, làm sao đi ra khỏi? Ví dụ: đôi dép mới mua ngoài tiệm về - dép của tôi. Xe vừa mới mua đem về - xe của tôi. Nhà đang xây với đất đá xi măng chất đống xây lên - nhà của tôi. Và có những trường hợp mình cũng dùng ngôn ngữ nhưng mình biết đó chỉ là ngôn ngữ thôi. Khi quý vị thực tập được cái này, quý vị sẽ thấy an lạc, kì diệu vô cùng. Cái gì là của mình? Không lẻ đống tro là của mình?
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, hôm đó Đức Phật hỏi này các tỳ kheo bây giờ ví dụ có ai, cái phẩm không phải của các ông, có ai lượm những cành nhánh lá cây người ta bẻ rồi đốt, các ông có suy nghĩ rằng người ta bẻ người ta đốt các ông không? Tỳ kheo đáp dạ không. Đức Phật hỏi tai sao? Tỳ kheo đáp vì những cái đó không dính dán gì đến con hết, cành lá cây nó không dính dán gì tới con. Đức Phật cũng nói sắc này, thọ này, tưởng này, hành này, thức này đều không phải của các ông, cái gì không phải của các ông, các công nên từ bỏ, từ bỏ chút ít các ông sẽ được giải thoát an lạc, chấm dứt khỏi khổ đau.
Nghe những bài này nó thấm còn hơn chao, để thấm những lời dạy, để nó đi sâu vào các tầng thật là sâu thẳm của cảm giác mà làm mình rung động rung chuyển bên trong ngũ uẩn, nước mắt tràn ra, đó là thánh trí. Có ai đến trước cổng chùa bẻ cành cây rồi đốt, quý vị có nghĩ rằng người ta bẻ quý vị người ta đốt quý vị không? Khi gắn chữ của tôi vào thì sẽ có chuyện, nên bỏ chữ tôi ra. Phải tập loại bỏ từ trong suy nghĩ, loại bỏ cảm giác, loại bỏ trong tưởng.
Khi mình ngồi trong thân tâm hình bóng, gương mặt của mình hiện lên, mình nói đây là tôi? không, đây là tưởng uẩn, vô thường, trống rỗng, duyên sanh, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã trong hình bóng lờ mờ này hết. Cái rõ ràng nhìn thấy, sờ được mà còn vô thường, sắc uẩn thì cái bóng mờ đó làm sao có thể thường được. Đó là như lý tác ý và những suy nghĩ này, tác ý này sẽ lần lần đánh đi cái vô minh, cái si mê, cái chấp ngã thì phần vô minh chấp ngã sẽ yếu dần dần. Đến khi mình bị người ta dựt tiền mình vẫn thấy bình an, không thấy khổ, bây giờ đã bị dựt rồi, nếu có khổ cũng đã dựt rồi.
Thầy mới giảng cho Linh Quy Pháp Ấn (giảng trực tuyến), một vị tỳ kheo ngài đang nằm có một con rắn cực độc rớt vào người của ngài, ngài mới nói với các vị tỳ kheo: các thầy làm ơn khiêng cái giường và cái sắc thân này đem ra ngoài, nó sẽ rã rời ra như đống rơm. Ngài Xá Lợi Phất mới bảo: ôi tôn giả, tôi thấy là cái căn của tôn giả không có đổi khác, không có biến hoại tức là tôi thấy ngày cứ bình tĩnh không có gì, thì ngài tôn giả mới đáp thưa ngài Xá Lợi Phất, từ lâu rồi tôi không có suy nghĩ cái thân này là của tôi, là tôi là tự ngã của tôi.
Thưa ngài Xá Lợi Phất, ai suy nghĩ cái thân này của tôi, thì lúc đó bị rắn cắn người đó mới thấy hoảng sợ, sợ hãi, sầu bi khổ não. Thưa ngài Xá Lợi Phất từ lâu tôi không suy nghĩ thân này là của tôi thí làm sao cái căn của tôi thay đổi được. Và khi khiêng ngài ra ngoài, một lát thân thể rã ra như đống rơm, ngài đã đạt được bất động tâm giải thoát, quý vị thấy đức tu của các bậc Thánh Tăng.
Thánh tăng do Đức Phật ấn chứng chứ không phải do người phàm tôn xưng, người phàm không biết được ai là thánh. Là đã nhàm chán, yểm ly và từ bỏ đối với sắc uẩn đó là thánh triết của Đức Phật, của các vị A La Hán. Mục đích của chúng ta là đi đến đó, không có bất cứ cái gì trên cuộc đời này thậm chí thân thể này có tan hoại đi nữa, đã từ lâu ngày rồi thưa sư phụ con đã học thánh trí năm uẩn con đã biết sắc này là vô thường, sắc này là duyên sanh, sắc này là trống rỗng, nó bại hoại thưa sư phụ ngày nào con cũng đánh bộ xương và nắm tro, chính giai đoạn hoại tử thi con quán ba mươi năm rồi sư phụ, bây giờ con đi chào sư phụ. Phải tu như vậy, thầy của trời và người.
Này các tỳ kheo, chư thiên và loài người ưu thích, đam mê sắc, đau khổ vì sắc. Như Lai không ưa thích sắc, không đam mê sắc, không đau khổ vì sắc, khi sắc tan hoại biến đổi, như lai không sầu bi khổ não, bất động, đó là gương mặt thật sự, dung nhan của thế tôn và các bậc thánh tăng.
Trở lại vấn đề ở đây, trong sự suy nghĩ, cảm giác mình phải tập loại bỏ ngũ uẩn, nó không phải là mình. Lúc đưa vào lò thiêu, lúc đó mình đâu. Có người ngồi đây bảo thầy ơi con quyết định không vào lò thiêu, vậy con vô hòm, chỉ có hai đường, một chôn, hai thiêu thôi. Bây giờ mình ko từ bỏ thì sau này cũng phải từ bỏ. Không từ bỏ sớm cũng từ bỏ muộn, chi bằng từ bỏ sớm tốt hơn, từ bỏ bằng trí tuệ, không phải từ bỏ thân này. Ở trong nhận thức của mình, đối với đống thịt này nó là pháp duyên sanh tứ đại.
Cho nên sắc nó đi, sắc nó đứng, sắc nó ngồi, sắc nó nằm chứ không phải mình đi mình đứng mình ngồi mình nằm. Ví dụ như mình đang ngồi có ai lại nói tránh ra coi, chỗ này chỗ của tôi. Thì mình thôi, sắc kia muốn ngồi chỗ này thì sắc này ngồi chỗ khác. Chúng ta phải tập từ những cái nhỏ từng chút từng chút lâu ngày mới thành, không phải nhảy vào là xong thành a la hán. Người tham thường hay nôn nóng, thầy ơi con tu bữa giờ sao chưa thấy gì hết, thầy hỏi tu bao lâu? người đáp dạ sáu tháng. Mới có sáu tháng đòi thành chánh quả.
Mình cứ tập niệm như vậy, mỗi lần mình niệm là mình vừa nhắc thánh trí, vừa tẩy não phàm của mình, đánh đuổi thọ tưởng hạnh của vô minh chấp ngã. Khi mình vô toilet, mình nói cái sắc này, cái hậu quả của cái sắc này, sáng thức dậy mình chưa súc miệng, cái mùi của sắc uẩn, mùi của tứ đại. Mình phải tập nhìn, nhìn kĩ hậu quả của sắc, quán chiếu cho thâm sâu. Vô minh, bóng đêm đang phủ trùm hết toàn thế giới, nếu mà không có thánh trí này là tất cả chúng sinh không có hướng đi, không có lối ra.
Cho nên mình phải thấy hân hoan, sung sướng, thích thú và cảm thấy hỷ lạc, hạnh phúc trong khi mình học pháp, mình hành pháp, mình khoan khoái tại vì mình biết rằng trong bảy tám tỷ người trong bóng đêm được mấy người nghe và hành pháp này, đếm trên đầu ngón tay những người thành tựu trí năm uẩn, cho nên phải cố gắng nắm bắt cơ hội vĩ đại có một không hai của ngàn tỉ kiếp này để mình giuộc kiếp này ra thì đời sau mình sanh ở đâu, mình chưa nhập lưu mình có chắc mình sẽ không rơi ba đường ác không.
Như khi sáng Minh Thành ví dụ: một người gần chết bảo con: con ơi mẹ sợ nóng lắm đừng thiêu, đưa mẹ chôn. Con bảo không, sẽ đem thiêu, lúc đó sẽ như thế nào, sân hận lên rồi sẽ đi đâu. Như vậy phải dự lưu thì mới chắc chắn, mà muốn dự lưu thì không phải chuyện đơn giản. Có một cuốn sách nhập lưu mới ra, mình phải học hết cuốn đó, một trăm mấy trang tất cả những bài kinh Đức Phật nói về tiêu chuẩn để nhập lưu bởi vậy Minh Thành cũng tha thiết nói cho tất cả đại chúng phải cố gắng, phải biết quý thời gian mà mình tu học.
Mỗi một ngày mình thiền định thiền quán và mình nghe pháp trong kinh Nikāya giảng giải, nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như không còn thời gian để nghe và tu giống như ngày mai mình sẽ chết như vậy mới kịp để hướng dự lưu hoặc nhập lưu. Nếu lọt ra khỏi pháp tu này thì làm sao? Đời sau còn ai ngồi đây mà nói cho mình nghe nữa. Chánh Pháp này sẽ tỏ lên được một chút thôi rồi sẽ đi đến thời kì mạc pháp, không còn ai biết đến chánh pháp này nữa. Cho nên phải hêt sức trân trọng, trân quý.
Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy. Quán thân trên nội thân hay ngoại thân. Nội thân là những thứ ở bên trong thân, ngoại thân là những thứ ở ngoài thân. Mình nhìn toàn bộ dáng vẻ của một người ở bên ngoài thì gọi là ngoại thân, còn những bộ phận của ba mươi hai thể trường những thứ bên trong (tim, gan, phổi...) gọi là nội thân. Mình phải luôn sống chiêm nghiệm, quán xét, quan sát, tư duy bên trong nội thân đừng để lớp da bề ngoài phủ qua làm mình mù, không nhìn thấy bên trong. Mình phải nhìn thấy, con mắt tuệ là xuyên thấu, luôn luôn tập nhìn ở bên trong là máu, mủ, mỡ, nhìn cho bớt dục tham ái chứ không sẽ không gỡ được chữ ái, ái trong sắc uẩn nó bám chặt.
Minh Thành đang hướng dẫn cho đại chúng Linh Quy tương ưng sáu xứ. Với trí tuệ thâm sâu, Đức Phật gỡ ra từng cái cho mình thấy sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư. Tại vì trăm đời ngàn kiếp vạn dòng luân hồi là nguyên khối tưởng, giống như gỗ nguyên khối, mình nghĩ thân thể này là nguyên khối mà không thấy được bên trong gọi là không quán nội thân. Quý vị nghĩ được mấy người tu đủ phần quán thân, Đức Phật gọi là hư vị của bất tử thân hình niệm, có một bài kinh thân hình niệm là hương vị của bất tử.
Cho nên toàn thể thế giới đều bị gạt, bị thân thể gạt. Đau lòng lắm, thân thể này gạt mình tại vì mình không quán, không ai chỉ dạy cho mình quán, quán nội thân, quán ngoại thân. Gương mặt đang lành lặn, đi tiêm silicon vô miệng, ảnh hưởng tới tính mạng, kéo chân để cao lên. Từ vô minh, dục tham ái, khát ái làm ra nhiều thứ rối loại thế giới nên Đức Phật phơi bày những gì bị che kín, mở ra cho mình nhìn thấy được bên trong. Khi lạy Đức Phật mình phải thấy được ân đức của ngài, thương thay khổ thay cho chúng ta, cho tấm thân này.
Chỉ việc ăn, uống, ngủ, mặc, ăn ở là bao nhiêu chuyện phiền phức. Như chuyện mua một căn nhà ở Mỹ trả ba mươi năm, lấy căn nhà coi như tuyên án, đi cày trả tiền góp. Ăn - mặc - chơi - làm - nhà cửa - xe cộ - tham - sân si - già bệnh - chết, chưa phải xong, ác nghiệp sẽ đưa đi.
Cho nên Đức Phật, các bậc Thánh Tăng thương mình khổ ở trong vô minh (không thấy được ngũ uẩn, không thấy được bản chất bên trong), cuối cùng không biết được gì cả. Vậy mình sống quán nội thân, ngoại thân, quán ở đây là mình phải nhìn một cách sâu sắc, nhìn tận tường, nhìn triệt để, nhìn trọn vẹn, nhìn đầy đủ tất cả mọi khía cạnh của tấm thân này để sử dụng nó một cách hết sức đẹp. Đi biết đi, đứng ngồi nằm biết oai nghi co duỗi cuối ngước biết, tất cả những hành động, chánh niệm, tịnh giác biết rõ, sử dụng một tấm thân như vậy hết sức là khôn khéo, thông minh và trí tuệ.
Không nên lao ra đường đua xe, tai nạn, tật nguyền, tệ nạn ma túy. Thế giới đang chìm ngập trong cảm giác của tham sân si, lún sâu đầm lầy của dục càng ngày càng lún sâu không có đường ra. Nếu mình không có thánh đạo làm sao mình ra, nên mình tôn kính pháp bảo là chỗ này, đây là con đường độc nhất thanh tịnh, đưa chúng sanh vượt khỏi con đường sầu ưu, thành tựu thánh trí, chứng ngộ niết bàn.
Hãy để hết thời gian tâm lực trí lực sức lực vào trong này, kết quả quý vị tuyệt vời lắm, đến ngày ra đi quý vị cười hạnh phúc và sung sướng, xứng đáng một kiếp người, hi sinh tất cả để đạt được thánh pháp, bằng không lúc mính sắp chết mình sẽ hối hận.
Còn phần quán ba mươi hai vật bất tịnh là quán tứ đại, quán chín giai đoạn mục tử thi là có ba bài thiền quán, Minh Thành có hướng dẫn ba bài thiền quán, quý Phật tử về lên trang web nghe. Như câu mình hay xài người ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân, có thân đây vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy với hi vọng hướng tới chánh trí chánh niệm, vị ấy sống không nương tựa, không chấp chước một vật gì ở trên đời. Này các tỳ kheo như vậy tỳ kheo sống quán thân ở trên thân. Đọc phần này thương Đức Phật, biết ơn Đức Phật vô cùng.
Vậy mà có những đứa con nghịch tử, đọc tới đọc lui hoài nghe chán, mà những đứa con đó lại là chính mình lúc trước. Nó sẽ nhắc tới nhắc lui mãi, mà nếu không nhắc thì làm gì có tạng kinh này, vì ngày xưa là khẩu truyền (truyền miệng), muốn nói gì phải nói lại ba lần mới có thể nhớ, quý vị nghĩ đi ba mươi hai ngàn sáu trăm năm, ngày xưa không có chữ viết, chỉ nói mà không lặp đi lặp lại thì làm sao tồn tại tạng kinh. Cha của tất cả thánh nhân truyền lại tu tập vô lượng kiếp như vây cho đọc nhưng lại làm biếng, thật sự vô minh, không có cung kính, cuối cùng đi theo tà pháp, mê tín dị đoan.
Đức Phật đã nói, sau này đệ tử của như lai này các tỳ kheo những lời thâm sâu vi diệu của như lai liên hệ đến không, các tỳ kheo không học mà học những tác phẩm của của các nhà văn, nhà thơ, có câu chữ hoa mỹ những vị ấy nghĩ rằng nên học, nên lắng tai nghe, cuối cùng mạc pháp đi đến hoại diệt. Vì pháp này đi ngược lại với chúng sanh, đi ngược lại với vô minh ái dục, nghe rất khó chấp nhận, nhưng khi đã chấp nhận được sẽ nhập lưu.
Sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân hay sống quán tánh sanh khởi trên thân hay sống quán tánh diệt tận trên thân hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Mình nói ra những lời nói đó có sanh diệt không? Mình không thấy, mà nghĩ rằng đó là lời nói thôi, đó là vô minh. Những lời nói nó sanh rồi sẽ diệt, nhưng mình không thấy tính sanh diệt trong lời nói. Mỗi bước chân của mình là sanh diệt, nhưng mình không thấy, mình thấy mỗi bước chân đều bình thường cho nên vô minh, thấy sanh diệt mới thành ra thánh trí, thấy được sanh diệt trong mỗi bước chân.
Ban ngày mình làm việc đi đứng là sanh, nhưng đến khi mình nằm lên giường là diệt là trạng trái ngưng hoạt động. Mỗi hơi thở của mình cũng sanh diệt, đó là sống quán tánh sanh diệt ở trên thân. Nhai cơm cũng sanh diệt, lúc tô cơm đầy là sanh, mình nhai một lúc hết tô cơm là diệt, tô cơm sanh diệt ở ngoài nhưng khi vào bên trong thân lại sanh, nhưng khi đi ra ngoài lại diệt. Một ly nước đầy đang sanh, mình uống cạn là diệt nhưng vào bên trong thân lại sanh diệt. Tất cả mọi thứ xảy ra đều là quán tính sanh diệt, nó thâm sâu nhưng liên hệ thực tế hằng ngày liên tục trên thân mình, ngủ cốc luân hồi.
Cảm giác của mình cũng sanh diệt, khi nằm ngủ cảm giác thế nào, lúc bị kêu dậy sẽ cảm giác ra sao, ngồi nghe giảng pháp bao nhiêu cảm giác sanh diệt, đó là tánh sanh diệt ở trên thọ, ở trong nội tâm của mình tham khởi, sân khởi, si khởi, ngã khỏi, đồng ý hay không đồng ý đó là sanh diệt trong tâm. Mình ở chung với tứ niệm xứ mỗi ngày nhưng mình không thấy, giờ các pháp vận hành như thế nào, mình nhìn kĩ mình thấy rõ từng pháp, cái nào là thân, cái nào là thọ, cái nào là tâm, cái nào là pháp, cái nào là sắc, cái nào là thọ tưởng hành thức, cái nào là ngủ cái, cái nào là thất giác chi, những cái sanh diệt mình thấy được hết là quán pháp trên thất pháp.
Lúc tụng kinh, lúc này ta nhận diện năm uẩn, quán pháp trên thấp pháp, nhìn năm uẩn ngay lúc đó, cả quán tâm trên tâm, thấy được trong tâm có tham sân si không, cả quán thọ trên thọ, thấy được cảm thọ lúc đó ra sao. Mọi chỗ đều có tứ niệm xứ, và chỗ nào cũng có năm uẩn, không có gì đi ra khỏi năm uẩn. Nếu mình chưa chứng đắc niết bàn thì mình ở trong năm uẩn. Từ sáng đến giờ, bao nhiêu dòng cảm thọ của mình nó chảy bên trong, bao nhiêu cái tâm của mình nó sanh diệt, bao nhiêu hành vi cử chỉ của mình nó thay đổi liên tục, bao nhiêu hơi thở của mình sanh diệt, đó là thánh triết Đức Phật truyền trao cho mình để an trú chánh niệm như vậy.
Phải an trú chánh niệm mới thấy được cái sanh diệt đó. Nếu không an trú chánh niệm thì làm sao thấy được, nhiều khi mình đang ngồi, mình rung đùi mà mình không hay biết, là mình không an trú chánh niệm mà mình không biết và những cảm thọ nó sanh khởi, nhưng mình không biết. Ví dụ như con thấy cảm thọ của con, không khó chịu cũng không dễ chịu, cũng không tham, cũng không sân nhưng trong đó có sân vi tế, một sự khó chịu nhẹ mà mình không thấy, khi mình không thấy nó sẽ qua mặt mình, phiền não nó qua mặt, nhiều lần như vậy giống như ăn trộm vô nhà lấy đồ mà mình không biết sẽ mất đồ. Pháp nhãn của mình chưa có tinh vi chưa có sáng chưa nhìn thấy tận nguồn, nguồn cội chính xác.
Vậy nên vị ấy an trú chánh niệm với hi vọng hướng đến chánh trí chánh niệm (trí tuệ chánh giải thoát, trí tuệ chân chánh - thực sự nhìn thấy tất cả bản chất của năm uẩn, bản chất của tham sân si, bản chất của cái gì làm ra đau khổ trên cuộc đời, cái gì hành xác mình làm mình khổ) nên trong bát thánh đạo, ngoài thánh định còn hai phần nữa là thánh trí và thánh giải thoát của bậc A-la-hán, phần này mình ít nghe, đến bát thánh đạo, thánh định không phải là hết, còn thành tựu thêm 2 thánh sau là thánh trí và thánh giải thoát của bậc A-la-hán.
Người ấy không nương tựa, chấp chước bất cứ vật gì ở trên đời, khi đã thành tựu thánh trí rồi, là không còn nương tựa hay chấp chước bất cứ thứ gì trên đời vì đã thấu hết ngũ uẩn, mà ngũ uẩn đã bao trùm thế giới. Khi nghe điều này mình không nên sợ, mình phải hướng đến chỗ đó, ví dụ có thể hướng đến 30 - 40% như vậy gọi là sống quán thân ở trên thân.
./.