Nhận Diện Thân Tâm 12 - Căn Bản Trí
TINH HOA NIKĀYA
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 12
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Chúng ta cần cố gắng học thuộc lòng bảy trí về sắc, chỉ cần quên rồi thay thế chữ nghĩa của mình vào định nghĩa được Đức Phật dạy là lập tức làm mất đi Thánh đạo, đây là chỗ đặc biệt của kinh Nikāya, không phải muốn nói sao là nói. Những gì chúng ta đọc trong kinh là toàn bộ định lý chứng ngộ của Đức Phật, đó là chỗ đặc biệt của cách học kinh Nikāya, chỉ cần sai một chữ thôi là nghĩa sẽ khác.
Chúng ta đang học và đang thực tập để thành tựu trí về năm uẩn thì chúng ta mới có thể đi vào được Trung Bộ Kinh hay đi vào được tạng kinh Nikāya, nếu mình không biết năm uẩn thì có đọc kinh cũng vậy thôi, chỉ hiểu trên chữ nghĩa chứ mình không hiểu được thật chất những lời Đức Phật dạy cho nên chúng ta đang chuẩn bị Thánh trí năm uẩn. Bốn loại thức ăn đoàn thực, xúc thức, thức thực và tư niệm thực rất thâm sâu, chúng ta mới đi vào nên chỉ có thể học tổng quát, căn bản như vậy. Hôm trước chúng ta đi đến phần thức thực sẽ có nhiều vị bất ngờ vì thường thì mình nghĩ cái biết của mình là cái biết rộng lớn, bao trùm nhưng không phải vậy, cái biết của mình rất nhỏ hẹp, giới hạn. Cái biết này do duyên sanh, thiếu một duyên là không thấy, không nghe, ở đằng trước không nghe tiếng đang nói trong này vì bị cách âm, nếu mở cửa trống ra hết thì kế bên sẽ nghe cho nên trong kinh Nikāya Đức Phật nói rằng sáu thức chỉ hoạt động trong giới vực, phạm vi, tầm nhận thức của nó thôi chứ không phải cái biết này thông suốt mà cái biết này là do nương dựa, kết hợp tạo thành.
Bây giờ trước cổng chùa có ai chửi mình thì mình không giận vì mình không nghe được họ nói gì, mình không sân lên, không tức giận, còn khi nghe được là giận, đó là do tiếng nói đó nằm ngoài tầm nghe của chúng ta. Chúng ta chỉ nghe được khi âm thanh đó ở trong phạm vi có thể nghe thôi, chúng ta cũng chỉ có thể thấy được khi nó nằm trong phạm vi của nhãn thức thôi, vách tường ngăn cách là mình không thấy được phía sau đó, thậm chí chư Thiên có ở đây mình cũng không thấy được, Long Thiên Bát Bộ hay Long Thần, Địa Thần, Thọ Thần hay Kim Cang lực sĩ có đứng đây mình cũng không thấy được cho nên nhãn thức của chúng ta rất hạn hẹp vì nó chấp thủ vào trong cái biết này, gọi là thức thủ uẩn. Nó chấp thủ vào trong con mắt, lỗ tai, vào trong cái thấy, cái nghe nên cái biết nhỏ hẹp, sai lệch, là cạn cợt, là giới hạn cho nên trong Tâm Kinh Bát Nhã có câu "nhãn thức giới, nhĩ thức giới" thì chữ "giới" đó có nghĩa là giới vức, là phạm trù, là ranh giới, nghĩa là trong phạm trù của nó thì mới biết được, ngoài phạm trù là không biết được vì thế nhĩ thức chỉ nghe thôi chứ không thấy được, không cảm nhận được, ý thức chỉ biết được thọ; tưởng; hành thôi chứ không biết được sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài. Biết được bên ngoài là năm thức trước nhưng cái thức nào chỉ biết được trong phạm trù của nó thôi chứ không có lẫn lộn, nó riêng lẻ với nhau chứ không phải có một cái biết chung hết.
Những điều này cần phải tìm hiểu sâu hơn vào trong kinh tạng Nikāya thì mới thấy được hết, còn tâm bất động giải thoát là khác nữa, cái này đã vượt ra khỏi ngũ uẩn vì thế học thiền mà không khéo là mình nhận thức làm chân tâm, cái này trong nhà thiền cũng đã nói rất nhiều. Mình đang nói về thức thực, chính chỗ này mình mới phá được chấp thủ về cái thấy biết của mình, chính mình thấy, mình nghe, mình cảm thọ, cảm xúc nên mình nghĩ chuyện đó là đúng nhưng thật ra là sai vì mình thấy theo nghiệp. Ví dụ khi vào rừng thì lâm tặc thấy cây gỗ là nhìn theo chiều hướng chặt cây đi bán lấy tiền, thầy thuốc nhìn cây thì thấy cây làm thuốc, thú rừng, chim chóc nhìn cây lại thấy khác nữa cho nên cái biết đó là biết theo nghiệp chứ không phải cái biết theo chánh trí, theo chân lý. Vì thế học để phá vỡ kiến chấp về nhận thức của mình, mình hay cho cái hiểu biết, cái thấy biết của mình là đúng, mình thấy, mình nghe rõ ràng, mình có cảm xúc rõ ràng nhưng đó là trò ảo thuật của thức, Đức Phật đã nói thức giống như trò ảo thuật.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại... hoặc xa hay gần; Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, bài Bọt Nước)
Tâm thức của mình là một nhà ảo thuật đại tài, khi nào thành tựu chánh tri kiến, thấy được ngũ uẩn thì chúng ta mới biết được nó ảo thuật như thế nào, còn bình thường đều tin tưởng vào nó, cho nó là sự thật nhưng thật ra nó là trò ảo thuật. Có những vụ án oan phải ở tù mấy chục năm, thậm chí có những vụ án rõ ràng nhưng sau một thời gian phải lật lại vụ án điều tra tiếp tục hoặc có những vụ án mãi mãi là bí ẩn, không ai biết được chân tướng thật sự là gì cho nên cái thấy biết của chúng ta không đúng dù cho mắt thấy tai nghe nhưng chỉ là trò ảo thuật của tâm, đây là chỗ rất thâm sâu, tu từ từ rồi nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy trò ảo thuật khủng khiếp trong tâm của mình. Thức này là thứ thâm sâu trong ngũ uẩn và rất khó nhận biết được nó vì nó cực kì vi tế. Sau đây chúng ta sẽ qua bảy trí về thọ, đầu tiên là giải thích về thọ.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Ðáng Ðược Ăn)
Nếu mình không học những lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì thử hỏi bất cứ một ai tại sao có cảm giác thì ai trả lời được cho nên mình đừng nghĩ ba mươi bảy phẩm trợ đạo hay Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế mới là những pháp Đức Phật chứng ngộ còn cái này thì không phải, thực ra đây đều là những pháp được ngài chứng ngộ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, nói Tiếng Việt là tại sao có cảm giác, đó là do có sự tiếp xúc, ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra thì trên toàn cầu này không ai giải thích được, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, đây là duyên sanh pháp của thân tâm và thế giới, do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Nếu không thấy cảnh đẹp ở Thiền viện Trúc Lâm thì làm sao hồi tưởng được? Làm sao có hình bóng của Trúc Lâm phụng hoàng được? Làm sao có cảm thọ, cảm xúc đối với Thiền viện Trúc Lâm được? Phải có sự tiếp xúc mới hồi tưởng được. Nếu không gặp cô gái đó thì lấy gì tưởng mơ hình bóng cô gái đó trong tâm, làm sao có cảm giác dễ thương, dễ mến được? Tất cả đều do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật. Do tiếp xúc nên mới sanh khởi ra cảm giác.
Thưa thầy cho con hỏi thêm về căn – trần – thức. Một căn tiếp xúc với hai ba trần một lúc thì sanh ra mấy thức, sẽ xuất hiện ra mấy xúc? Ví dụ một con mắt tiếp xúc với người mình thích và người mình không thích thì sẽ phát sanh ra một quá trình tiếp xúc hay hai quá trình tiếp xúc? Nếu là vật mình thích thì phát sinh ra cảm giác dễ chịu, còn vật không thích sẽ phát sinh ra cảm giác khó chịu, vậy thì đây là một hay hai cảm giác?
Xin thầy chú tâm vào bài, thọ sanh là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, thọ diệt là do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Không tiếp xúc nữa thì không có cảm giác đối với cái mà mình tiếp xúc, trong bộ truyện "Kỳ duyên tái thế" khi thiên kim tiểu thư đi chùa thì cô thấy thư pháp trên cột chùa có giấy viết chữ thư pháp rất đẹp nên cô thích thú và mong muốn gặp được người viết ra những chữ đó. Ngày xưa rất lễ giáo, nam nữ thọ thọ bất thân trong khi đây lại là thiên kim tiểu thư là con của quan lớn thì làm sao tiếp xúc được với thầy chùa, đó lại là thầy hương đăng nhỏ lo dọn dẹp lư hương, chậu bông, bình hoa chứ không phải thầy trụ trì hay thầy quản chúng, thầy tri sự thì còn dễ gặp. Vì lẽ đó nên cô tiểu thư nghĩ ra cách cúng dường trai Tăng thì tất cả các thầy sẽ lên, trong đó sẽ có cả thầy viết thư pháp. Với nguyện vọng của gia chủ lại là con nhà quan xin cúng trai Tăng phải có mặt tất cả các thầy trong chùa không được thiếu người nào nhưng vị thầy này mặc cảm vì bị tật nguyền xấu xí vì thế thầy xin không ra dự lễ trai Tăng nhưng cuối cùng vẫn phải ra. Khi bước ra gặp mặt thì cô tiểu thư ngất xỉu vì sự dị tật, dị dạng của vị thầy, trong truyện viết lại vị thầy này buồn bã muốn quyên sinh không thiết sống nữa. Vừa rồi Minh Thành có đi từ thiện ở một vùng rất sâu của Đắk Nông, khi phát quà cho một cô bị dị tật thì Minh Thành cảm xúc làm thành một bài kệ.
Xót xa nghèo bệnh lại tật nguyền
Dị dạng, dị hình, cảnh đau thương
Chẳng dám nhìn ai, buồn số phận
Mang kiếp con người đầy tai ương.
Đã nghèo, bị bệnh lại còn bị tật nguyền, hình dáng cô có vẻ giống bị tạt Axit vì tay chân đều biến dạng. Những người như vậy họ rất ngại tiếp xúc, đặt mình vào hoàn cảnh của người ta sẽ thấy rất xót xa, khi đó Minh Thành còn nhỏ thì có một người đang đi bình thường, vui vẻ nhưng khi thấy mình là họ sửa tướng, họ cúi đầu và e dè, họ rất tủi thân, tủi phận vì thân không lành lặn, tật nguyền. Họ rất ngại tiếp xúc cho nên những cảnh đó thật đau thương, không dám chơi với ai vì sợ bị kì thị, cũng trong cảnh ngộ này nên vị thầy nhỏ hương đăng kia buồn bã muốn tự vẫn. Thầy đã treo sợi dây lên thì thầy trụ trì phát hiện ra tháo xuống và động viên cố gắng lễ lạy sám hối, lễ Phật Dược Sư, vị thầy này nghe theo nên siêng năng lạy sám hối những ác nghiệp trong quá khứ, trong những kiếp về sau vị này sanh ra thành Ngọc Lâm quốc sư, đó là tiền kiếp của ngài Ngọc Lâm. Đời này cô tiểu thư kia gặp vị thầy này thì ngất xỉu nhưng những đời sau khi gặp ngài cô lại mê, đi theo ngài trong những đời sau. Chỗ chúng ta đang muốn nói là khi xúc tập khởi thì thọ tập khởi, xúc đoạn diệt thì thọ đoạn diệt, sau này cô lại bệnh tương tư không dậy nổi nên cô nói với cha làm sao xin để ngài hoàn tục. Vì để cứu sinh mạng cô tiểu thư nên Hòa Thượng đã nói với ngài chuyến đi này phải làm rạng danh tổ tông, chuyến đi này là cứu người nên phải thành công, vậy là ngài ra đi, đến buổi lễ song hỷ lâm môn, lâm là đến, môn là cửa. Sau khi đã nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường và cuối cùng là động phòng hoa chúc thì ngài Ngọc Lâm mới cầm một bó nhang đi thiền hành, đó còn gọi là hành hương, nghĩa là cầm nhang rồi đi kinh hành.
Ngài Ngọc Lâm đưa ra yêu cầu trước, nếu muốn ngài hoàn tục thì ngài nói gì cô tiểu thư phải nghe cái đó. Bây giờ ngài cầm nhang đi kinh hành rồi cô cũng phải đi theo, lúc đầu ngài đi chậm nhưng sau đó đi nhanh dần lên khắp phòng, cô tiểu thư đi theo một lúc thì mồ hôi chảy ra, son phấn lem luốt, đầu tóc rối bù nên ngài gọi cô nhìn vào gương rồi so sánh gương mặt cô và gương mặt ngài lúc đó má đỏ hồng, mắt sáng, mặt rạng rỡ, dung mạo khả quan. Cô tiểu thư lem luốt, xấu xí thì làm sao xứng với ngài, sau đó ngài thuyết cho bài pháp thì cô nhận ra sai lầm của mình nhưng điều đặc biệt là sau này cô lại xin đi xuất gia nên ngài Ngọc Lâm đặt tên cho cô là "Giác Chúng" nghĩa là giác ngộ cho chúng sanh. Điều đặt biệt mình muốn nói chính là ngài cắt duyên xúc không bao giờ gặp cô nữa, ngài tránh mặt cho đến khi ngài viên tịch. Đây là điều rất sâu sắc mà nếu không có trí tuệ ngũ uẩn thì có đọc truyện cũng không hiểu được, cứ hễ tiếp xúc là sanh ra cảm giác cho nên người có cảm giác với nhau mà ở gần nhau là không thể nào dứt ra được, đó là lửa gần rơm lâu ngày cũng bén cho nên sự tiếp xúc rất nguy hiểm. Trong thời gian Đức Thế Tôn tu độc cư thì ngài cắt tất cả duyên xúc, ngài ở trong rừng không tiếp xúc với bất kì ai chứ không phải chỉ ngồi 49 ngày là đắc đạo. Nếu mình đọc vào chỉ biết như vậy thì có khi mình cũng vào ngồi sáng đêm rồi mong đắc pháp là không phải.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Chúng ta phải nhìn thấy được hết tất cả những khía cạnh của thân tâm, từ thân xác cho đến những nghĩ tưởng, nhận thức, cảm giác, nó vận hành bên trong như thế nào, cái gì làm cho nó sanh, cái gì làm cho nó diệt, phải nắm thật vững những định lý, nhân quả hệ đó rồi mình cắt nó thì mới hết được. Trong lịch sử Việt Nam có vị Hoàng Cô thương một vị thầy đến nỗi vị thầy đó nhập thất mà cũng xin thầy đưa tay ra chỉ để được chạm vào tay thôi, đến khi chết cũng muốn được thờ chung cho nên cái xúc rất ghê gớm, các thầy ở đây có phước báo vô cùng lớn vì được cắt duyên xúc bên ngoài, còn duyên xúc tế nhị thì tự mỗi người phải biết. Có khi cắt cái này lại mọc ra cái khác, nó đòi hỏi trí tuệ cẩn trọng và quán chiếu thâm sâu của mình, không phải chỉ nhìn bên ngoài mà được, cần phải có sự sâu sắc bên trong ngũ uẩn của mình. Vì thế đến khi chết ngài Ngọc Lâm cũng không gặp lại Giác Chúng, đó là chúng ta nói duyên xúc tiêu cực về tình cảm, còn duyên xúc tích cực lại là phương diện khác. Chúng ta ngồi đây vẫn đang tiếp xúc với sự thật, xúc với Thánh pháp, xúc với định lý chứng ngộ của Đức Phật cho nên nếu nói rằng bây giờ tu rồi không gặp cha mẹ nữa là hay nhưng chưa chắc, có khi mình gặp để mình thấy cha mẹ càng ngày càng già, bệnh tật nhiều hơn, tóc bạc nhiều hơn, da nhăn nhiều hơn, lưng còng gối mỏi nhiều hơn để mình sanh khởi cảm thọ mạnh mẽ để báo hiếu tu hành tinh tấn cho nên còn một pháp nữa là đặt tâm đúng hướng trong cái xúc. Vì thế nếu không đặt tâm đúng hướng thì có khi mình xúc thiện pháp nhưng lại trở thành bất thiện, nếu mình đặt tâm đúng hướng trong khi tiếp xúc, mình như lý tác ý thì mình sẽ lớn mạnh trong pháp và luật, trong thiền định, trí tuệ.
Cho nên không phải đi tu rồi là không về nhà nữa, "tôi 10 năm rồi chưa về", nói câu đó nghe có vẻ tự hào nhưng chưa chắc. Không về nhà nhưng tâm hiếu đạo mình có không hay cũng lãng quên luôn? Mình có siêng năng tinh tấn để thành tựu cứu cánh phạm hạnh để báo hiếu cho cha mẹ không hay cũng quên mất bổn phận làm con? Vì thế có rất nhiều khía cạnh trong sự tu học chứ không hề đơn giản như mình nghĩ. Quay trở lại thì thọ sanh là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, thọ diệt là do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt, không tiếp xúc nữa thì mình không có cảm giác đối với những cái mà mình tiếp xúc.
"Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Ðáng Ðược Ăn)
"Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là sự xuất ly của thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Bảy Xứ)
Khi mình nghe thầy quản chúng thông báo được đi về miền Tây thăm viếng các chùa thì mình có thấy được thọ; tưởng; hành khi đó vận hành thế nào không? Có thấy lạc hỷ trong đó không? Trong tâm mình lúc đó có hình bóng các thiền viện mình muốn đến thì đó là tưởng, mình có cảm giác vui thích là lạc thọ, sở dĩ cảm giác vui sanh khởi là do mình nghe tin được đi, thọ do nhĩ xúc sanh, bắt đầu có những cảm giác, hình bóng, có những sự nghĩ ngợi.
Cảm thọ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Có nhiều khi trong chuyến đi về gần nhà thì người thân, bạn học cũ đến thăm thế là tiếp xúc lại sanh ra thọ. Trong vị ngọt của thọ có sự nguy hiểm, nếu không cẩn thận, không có chánh niệm tỉnh giác thì khi tiếp xúc sẽ sanh ra những cảm giác, hồi tưởng lại ngày xưa đi học chung thế nào, vui thế nào. Nếu không nhiếp phục chế ngự, đoạn tận thì những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó sẽ dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo mình. Tất cả cảm giác đều đổi thay, đều biến hoại, đó là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, dù cho vui sướng đến mức nào thì sau đó cũng tan biến và mình đau khổ.
"Cuộc vui những ước vô ngần
Nào hay vui vẫn là nhân chuốc sầu"
(Sám Khuyến Tu)
Đó là sự nguy hiểm của cảm thọ, sau đó mình đau khổ vì những cảm thọ đó vì nó biến đổi, tan hoại. Nếu biết nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với các cảm thọ đó thì mình sẽ xuất ly, thoát ra khỏi cảm thọ. Trong ba mươi lăm loại trí tuệ đều là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn thôi, nếu chúng ta không biết thực chất, bản chất vô thường, đau khổ, bất an, hiểm nạn, tai họa trong ngũ uẩn thì không thể nào mình nhiếp phục được nó cho nên quán sự nguy hại rất quan trọng trong sự tu, khi nhìn cái gì cũng nhìn về khía cạnh nguy hiểm và tác hại của nó chứ đừng chỉ nhìn vị ngọt của nó. Nếu mình yêu thích, chấp thủ, nắm giữ vào cái chuông này mà hôm nào bị rớt bể thì mình đau khổ vì sắc này là vô thường, thọ vô thường cho nên tất cả sự tu hành của chúng ta là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Đó là tổng cương lĩnh, là cốt lõi của Thánh giáo, là con mắt của mười hai phần giáo, là trái tim của ba tạng Thánh điển. Nếu chúng ta không nắm vững được cương lĩnh này thì đi đến đâu tu cũng không biết cái gì, không biết đầu đường Niết-bàn ở đâu mà cuối đường Niết-bàn chỗ nào cũng không biết.
Có một nhóm Tỳ-kheo thưa với Thế Tôn rằng họ muốn đi du hành ở phương xa thì Thế Tôn hỏi rằng các vị đã lên chào tôn giả Xá-lợi-phất chưa. Các vị thưa rằng chưa thì Thế Tôn bảo họ hãy chào ngài Xá-lợi-phất sẽ được lợi ích lâu dài, ngài Xá-lợi-phất nói rằng các ngài đi phương xa đường dài sẽ gặp nhiều tri thức, học giả, triết nhân. Nếu người ta hỏi các thầy bậc đạo sư của các thầy nói những gì, dạy những gì thì các thầy trả lời thế nào? Các vị Tỳ-kheo ngày xưa rất chân chất, hiền trí, khi được bậc chí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất hỏi thì tất cả đều im lặng và xin ngài hãy nói cho mọi người biết thì ngài Xá-lợi-phất nói rằng nếu có người hỏi Thế Tôn, bậc đại đạo sư nói gì, giảng dạy cái gì thì hãy nói rằng bậc đạo sư chúng tôi nói và giảng dạy về sự nhiế phục dục tham và đoạn tận dục tham. Bậc đạo sư của chúng ta thuyết giảng, dạy dỗ, giáo huấn về sự nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham. Ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp, nếu người ta hỏi nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với cái gì thì các ngài trả lời ra sao thì các thầy Tỳ-kheo xin tôn giả nói cho biết, đến đây ngài Xá-lợi-phất nói nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với năm uẩn, đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Những điều này khi chưa học kinh Nikāya thì chúng ta học rất chung chung, cứ nói bớt tham, giảm tham nhưng bớt tham đối với cái gì thì chỉ nói chung chung là tiền vàng, đất đai, nhà cửa, chức vị… Những cái này rất nhỏ nhặt, còn ngũ uẩn là tóm thâu tất cả các pháp, phải ly tham đối với ngũ uẩn cho nên khi chưa học ngũ uẩn thì nhận thức của mình rất hạn hẹp, không viên mãn được tất cả phương diện của các pháp. Làm sao mình biết được trong cảm giác của mình cũng có sự ham thích? Làm sao mình biết được trong suy nghĩ của mình vẫn có sự ham thích trong đó? Mình có sự yêu thích hình bóng lờ mờ trong tâm nếu không học Thánh trí ngũ uẩn là mình không biết được điều này. Nếu mình nói chiều nay mình ra vườn rau làm việc thì khi nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy trong tâm có hình bóng của tự thân, hình bóng lờ mờ của mình ra vườn rau làm việc và hình bóng đó chính là thân kiến, đó là sự ảo tưởng của một tự ngã cư trú trong tâm. Khi mình nói "tôi sẽ làm…" thì tự động trong tâm sẽ có hình bóng lờ mờ về tự ngã hiện ra và mình yêu thích hình bóng đó, mình tham ái đối với hình bóng đó, chỉ khi nào phá được thân kiến mới Nhập Lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn thứ nhất. Khi mình nói cái gì mà có "tôi" trong đó là sẽ có hình bóng tự thân trong tâm hiện ra vì vậy khi nói nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với năm thủ uẩn là cả một công phu tu tập, phải có sự kiên trì, bền chí, luôn phải ở trong trận chiến, bất cứ mỗi giờ mỗi phút chúng ta đều là chiến sĩ. Mỗi một ý nghĩ, hình bóng, cảm thọ trong tâm đều phải nhìn ra, mỗi một nhận thức đều phải nhìn ra, nếu không là cứ dính chùm vào nhau, cho mọi thứ đều là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thế là một bản ngã được thành lập, một tự ngã được thành lập, tôi, ta, mi, tớ, nhân ngã bỉ thủ, mình người cao thấp, hơn thua sẽ sanh khởi.
Chúng ta đừng nghĩ người ta tự cao tự đại là có bản ngã mà người tự ti, hay hạ thấp mình cũng có bản ngã. Nói cái gì cũng "tôi yếu lắm làm không được đâu", "tôi kém lắm, nghiệp tôi nặng lắm", "tôi tu không được đâu, tôi gieo duyên đời này thôi"… tất cả cũng là bản ngã chứ không phải nói vậy là không có bản ngã vì thế "tôi hơn", "tôi bằng", "tôi thua" đều là bản ngã. Vì có "tôi" nên mới có hơn, có bằng, có thua, nếu chỉ thấy là ngũ uẩn thì làm gì có ai để hơn thua, bằng nhau cho nên nói một lúc là so sánh mình với người ta, đối chiếu mình với người ta, nói một lúc là phân cao thấp, đúng sai, đó là do không thoát khỏi được ý niệm về tự ngã, không thấy ngũ uẩn mà chỉ thấy một cái tôi to tướng.
Khi nhìn vào bên trong mà thấy trong đó là một mớ cảm giác, một mớ những hình bóng, một mớ những suy nghĩ, nhận thức, một mớ tim, gan, phèo phổi, phân, nước tiểu trong này, chẳng có ai cả chỉ là một đống duyên sanh, đầy rẫy trong này là tham, sân, si, vô minh và bản ngã, khát ái, ham muốn. Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, không có cái tôi trong này vì thế sự tu hành này để nhìn ra được ngũ uẩn là cả một trí tuệ cho nên phải tập nhìn từ từ. Nhìn vào sắc uẩn, nhìn những suy nghĩ, nhìn những hình bóng trong tâm, nhìn vào cảm giác, vào những nhận thức, nhận diện tức là nhận ra được bộ mặt thật của nó. Trước đây mình cho nó là mình nhưng bây giờ mình nhận ra nó là năm nhóm, là năm tổ hợp chứ không còn là mình, là của mình nữa. Ngoài kia có biết bao người chết vì dịch bệnh, vừa mới thấy hơn thua, cãi nhau, đấu đá vậy mà ngã xuống là chấm dứt tất cả, nó chỉ là sự vận hành của tứ đại, sự vận hành của đất, nước, gió, lửa, nó chỉ là những dòng hơi khí bốc lên, sự tức giận cũng là dòng khí bốc lên, dục cũng là khí bốc lên làm cho mình thèm khát hoặc là thiêu đốt, hủy diệt, không thì cũng trì trệ, lờ đờ, đó là si ám, vô minh, đây cũng là ba dòng cảm thọ tham, sân, si. Phải thường quán chiếu, thường nhìn thấy rồi từ từ mình ly tham đối với chúng, mình không còn nhận nó là mình nữa, tách ra khỏi nó từ từ, ngày xưa mình cho nó là mình còn giờ mình thấy nó là đối tượng của mình, cũng như ngày xưa mình cho vọng tưởng là mình còn giờ mình thấy được nó là tưởng uẩn, nhìn thân này thì thấy đây là sắc uẩn, từ từ mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những sự tham muốn, ham thích, thèm thuồng, nô lệ cho tham ái trong ngũ uẩn này thì từ từ mình giảm bớt khổ đau, mình nhẹ nhàng.
Một người không còn muốn sắc gì cả, không còn muốn những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, nhận thức thì không có gì làm cho họ khổ được, đó là bất động tâm giải thoát, là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài người, là bậc ly tham đối với ngũ uẩn. Tất cả chư Thiên cũng phải lạy dưới chân người đó, còn tất cả chúng sanh bị quay cuồng, áp đảo trong ngũ uẩn không thoát ra được. Tất cả những suy nghĩ, tưởng tượng, nhận thức của mình đều nằm trong năm uẩn, Đức Phật ví dụ con chó bị cột vào cây bằng sợi dây thừng, nó có đi thì cũng lòng vòng quanh cây cột, có nằm cũng nằm trong cây cột đó, nó làm cái gì cũng vòng quanh cây cột đó, chúng sanh cũng giống như vậy, có nghĩ cái gì cũng nghĩ trong năm uẩn, có tưởng cái gì cũng tưởng trong năm uẩn, có nhận thức cái gì cũng ở trong năm uẩn, có cảm giác gì cũng trong năm uẩn và sợi dây đó là sợi dây của tham ái, sợi dây của tái sanh.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, bài Sợi Dây Tái Sanh)
./.
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 12
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Chúng ta cần cố gắng học thuộc lòng bảy trí về sắc, chỉ cần quên rồi thay thế chữ nghĩa của mình vào định nghĩa được Đức Phật dạy là lập tức làm mất đi Thánh đạo, đây là chỗ đặc biệt của kinh Nikāya, không phải muốn nói sao là nói. Những gì chúng ta đọc trong kinh là toàn bộ định lý chứng ngộ của Đức Phật, đó là chỗ đặc biệt của cách học kinh Nikāya, chỉ cần sai một chữ thôi là nghĩa sẽ khác.
Chúng ta đang học và đang thực tập để thành tựu trí về năm uẩn thì chúng ta mới có thể đi vào được Trung Bộ Kinh hay đi vào được tạng kinh Nikāya, nếu mình không biết năm uẩn thì có đọc kinh cũng vậy thôi, chỉ hiểu trên chữ nghĩa chứ mình không hiểu được thật chất những lời Đức Phật dạy cho nên chúng ta đang chuẩn bị Thánh trí năm uẩn. Bốn loại thức ăn đoàn thực, xúc thức, thức thực và tư niệm thực rất thâm sâu, chúng ta mới đi vào nên chỉ có thể học tổng quát, căn bản như vậy. Hôm trước chúng ta đi đến phần thức thực sẽ có nhiều vị bất ngờ vì thường thì mình nghĩ cái biết của mình là cái biết rộng lớn, bao trùm nhưng không phải vậy, cái biết của mình rất nhỏ hẹp, giới hạn. Cái biết này do duyên sanh, thiếu một duyên là không thấy, không nghe, ở đằng trước không nghe tiếng đang nói trong này vì bị cách âm, nếu mở cửa trống ra hết thì kế bên sẽ nghe cho nên trong kinh Nikāya Đức Phật nói rằng sáu thức chỉ hoạt động trong giới vực, phạm vi, tầm nhận thức của nó thôi chứ không phải cái biết này thông suốt mà cái biết này là do nương dựa, kết hợp tạo thành.
Bây giờ trước cổng chùa có ai chửi mình thì mình không giận vì mình không nghe được họ nói gì, mình không sân lên, không tức giận, còn khi nghe được là giận, đó là do tiếng nói đó nằm ngoài tầm nghe của chúng ta. Chúng ta chỉ nghe được khi âm thanh đó ở trong phạm vi có thể nghe thôi, chúng ta cũng chỉ có thể thấy được khi nó nằm trong phạm vi của nhãn thức thôi, vách tường ngăn cách là mình không thấy được phía sau đó, thậm chí chư Thiên có ở đây mình cũng không thấy được, Long Thiên Bát Bộ hay Long Thần, Địa Thần, Thọ Thần hay Kim Cang lực sĩ có đứng đây mình cũng không thấy được cho nên nhãn thức của chúng ta rất hạn hẹp vì nó chấp thủ vào trong cái biết này, gọi là thức thủ uẩn. Nó chấp thủ vào trong con mắt, lỗ tai, vào trong cái thấy, cái nghe nên cái biết nhỏ hẹp, sai lệch, là cạn cợt, là giới hạn cho nên trong Tâm Kinh Bát Nhã có câu "nhãn thức giới, nhĩ thức giới" thì chữ "giới" đó có nghĩa là giới vức, là phạm trù, là ranh giới, nghĩa là trong phạm trù của nó thì mới biết được, ngoài phạm trù là không biết được vì thế nhĩ thức chỉ nghe thôi chứ không thấy được, không cảm nhận được, ý thức chỉ biết được thọ; tưởng; hành thôi chứ không biết được sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài. Biết được bên ngoài là năm thức trước nhưng cái thức nào chỉ biết được trong phạm trù của nó thôi chứ không có lẫn lộn, nó riêng lẻ với nhau chứ không phải có một cái biết chung hết.
Những điều này cần phải tìm hiểu sâu hơn vào trong kinh tạng Nikāya thì mới thấy được hết, còn tâm bất động giải thoát là khác nữa, cái này đã vượt ra khỏi ngũ uẩn vì thế học thiền mà không khéo là mình nhận thức làm chân tâm, cái này trong nhà thiền cũng đã nói rất nhiều. Mình đang nói về thức thực, chính chỗ này mình mới phá được chấp thủ về cái thấy biết của mình, chính mình thấy, mình nghe, mình cảm thọ, cảm xúc nên mình nghĩ chuyện đó là đúng nhưng thật ra là sai vì mình thấy theo nghiệp. Ví dụ khi vào rừng thì lâm tặc thấy cây gỗ là nhìn theo chiều hướng chặt cây đi bán lấy tiền, thầy thuốc nhìn cây thì thấy cây làm thuốc, thú rừng, chim chóc nhìn cây lại thấy khác nữa cho nên cái biết đó là biết theo nghiệp chứ không phải cái biết theo chánh trí, theo chân lý. Vì thế học để phá vỡ kiến chấp về nhận thức của mình, mình hay cho cái hiểu biết, cái thấy biết của mình là đúng, mình thấy, mình nghe rõ ràng, mình có cảm xúc rõ ràng nhưng đó là trò ảo thuật của thức, Đức Phật đã nói thức giống như trò ảo thuật.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại... hoặc xa hay gần; Tỳ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỳ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, bài Bọt Nước)
Tâm thức của mình là một nhà ảo thuật đại tài, khi nào thành tựu chánh tri kiến, thấy được ngũ uẩn thì chúng ta mới biết được nó ảo thuật như thế nào, còn bình thường đều tin tưởng vào nó, cho nó là sự thật nhưng thật ra nó là trò ảo thuật. Có những vụ án oan phải ở tù mấy chục năm, thậm chí có những vụ án rõ ràng nhưng sau một thời gian phải lật lại vụ án điều tra tiếp tục hoặc có những vụ án mãi mãi là bí ẩn, không ai biết được chân tướng thật sự là gì cho nên cái thấy biết của chúng ta không đúng dù cho mắt thấy tai nghe nhưng chỉ là trò ảo thuật của tâm, đây là chỗ rất thâm sâu, tu từ từ rồi nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy trò ảo thuật khủng khiếp trong tâm của mình. Thức này là thứ thâm sâu trong ngũ uẩn và rất khó nhận biết được nó vì nó cực kì vi tế. Sau đây chúng ta sẽ qua bảy trí về thọ, đầu tiên là giải thích về thọ.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Ðáng Ðược Ăn)
Nếu mình không học những lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì thử hỏi bất cứ một ai tại sao có cảm giác thì ai trả lời được cho nên mình đừng nghĩ ba mươi bảy phẩm trợ đạo hay Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Đế mới là những pháp Đức Phật chứng ngộ còn cái này thì không phải, thực ra đây đều là những pháp được ngài chứng ngộ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, nói Tiếng Việt là tại sao có cảm giác, đó là do có sự tiếp xúc, ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra thì trên toàn cầu này không ai giải thích được, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo, đây là duyên sanh pháp của thân tâm và thế giới, do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi. Nếu không thấy cảnh đẹp ở Thiền viện Trúc Lâm thì làm sao hồi tưởng được? Làm sao có hình bóng của Trúc Lâm phụng hoàng được? Làm sao có cảm thọ, cảm xúc đối với Thiền viện Trúc Lâm được? Phải có sự tiếp xúc mới hồi tưởng được. Nếu không gặp cô gái đó thì lấy gì tưởng mơ hình bóng cô gái đó trong tâm, làm sao có cảm giác dễ thương, dễ mến được? Tất cả đều do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật. Do tiếp xúc nên mới sanh khởi ra cảm giác.
Thưa thầy cho con hỏi thêm về căn – trần – thức. Một căn tiếp xúc với hai ba trần một lúc thì sanh ra mấy thức, sẽ xuất hiện ra mấy xúc? Ví dụ một con mắt tiếp xúc với người mình thích và người mình không thích thì sẽ phát sanh ra một quá trình tiếp xúc hay hai quá trình tiếp xúc? Nếu là vật mình thích thì phát sinh ra cảm giác dễ chịu, còn vật không thích sẽ phát sinh ra cảm giác khó chịu, vậy thì đây là một hay hai cảm giác?
Xin thầy chú tâm vào bài, thọ sanh là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, thọ diệt là do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Không tiếp xúc nữa thì không có cảm giác đối với cái mà mình tiếp xúc, trong bộ truyện "Kỳ duyên tái thế" khi thiên kim tiểu thư đi chùa thì cô thấy thư pháp trên cột chùa có giấy viết chữ thư pháp rất đẹp nên cô thích thú và mong muốn gặp được người viết ra những chữ đó. Ngày xưa rất lễ giáo, nam nữ thọ thọ bất thân trong khi đây lại là thiên kim tiểu thư là con của quan lớn thì làm sao tiếp xúc được với thầy chùa, đó lại là thầy hương đăng nhỏ lo dọn dẹp lư hương, chậu bông, bình hoa chứ không phải thầy trụ trì hay thầy quản chúng, thầy tri sự thì còn dễ gặp. Vì lẽ đó nên cô tiểu thư nghĩ ra cách cúng dường trai Tăng thì tất cả các thầy sẽ lên, trong đó sẽ có cả thầy viết thư pháp. Với nguyện vọng của gia chủ lại là con nhà quan xin cúng trai Tăng phải có mặt tất cả các thầy trong chùa không được thiếu người nào nhưng vị thầy này mặc cảm vì bị tật nguyền xấu xí vì thế thầy xin không ra dự lễ trai Tăng nhưng cuối cùng vẫn phải ra. Khi bước ra gặp mặt thì cô tiểu thư ngất xỉu vì sự dị tật, dị dạng của vị thầy, trong truyện viết lại vị thầy này buồn bã muốn quyên sinh không thiết sống nữa. Vừa rồi Minh Thành có đi từ thiện ở một vùng rất sâu của Đắk Nông, khi phát quà cho một cô bị dị tật thì Minh Thành cảm xúc làm thành một bài kệ.
Xót xa nghèo bệnh lại tật nguyền
Dị dạng, dị hình, cảnh đau thương
Chẳng dám nhìn ai, buồn số phận
Mang kiếp con người đầy tai ương.
Đã nghèo, bị bệnh lại còn bị tật nguyền, hình dáng cô có vẻ giống bị tạt Axit vì tay chân đều biến dạng. Những người như vậy họ rất ngại tiếp xúc, đặt mình vào hoàn cảnh của người ta sẽ thấy rất xót xa, khi đó Minh Thành còn nhỏ thì có một người đang đi bình thường, vui vẻ nhưng khi thấy mình là họ sửa tướng, họ cúi đầu và e dè, họ rất tủi thân, tủi phận vì thân không lành lặn, tật nguyền. Họ rất ngại tiếp xúc cho nên những cảnh đó thật đau thương, không dám chơi với ai vì sợ bị kì thị, cũng trong cảnh ngộ này nên vị thầy nhỏ hương đăng kia buồn bã muốn tự vẫn. Thầy đã treo sợi dây lên thì thầy trụ trì phát hiện ra tháo xuống và động viên cố gắng lễ lạy sám hối, lễ Phật Dược Sư, vị thầy này nghe theo nên siêng năng lạy sám hối những ác nghiệp trong quá khứ, trong những kiếp về sau vị này sanh ra thành Ngọc Lâm quốc sư, đó là tiền kiếp của ngài Ngọc Lâm. Đời này cô tiểu thư kia gặp vị thầy này thì ngất xỉu nhưng những đời sau khi gặp ngài cô lại mê, đi theo ngài trong những đời sau. Chỗ chúng ta đang muốn nói là khi xúc tập khởi thì thọ tập khởi, xúc đoạn diệt thì thọ đoạn diệt, sau này cô lại bệnh tương tư không dậy nổi nên cô nói với cha làm sao xin để ngài hoàn tục. Vì để cứu sinh mạng cô tiểu thư nên Hòa Thượng đã nói với ngài chuyến đi này phải làm rạng danh tổ tông, chuyến đi này là cứu người nên phải thành công, vậy là ngài ra đi, đến buổi lễ song hỷ lâm môn, lâm là đến, môn là cửa. Sau khi đã nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường và cuối cùng là động phòng hoa chúc thì ngài Ngọc Lâm mới cầm một bó nhang đi thiền hành, đó còn gọi là hành hương, nghĩa là cầm nhang rồi đi kinh hành.
Ngài Ngọc Lâm đưa ra yêu cầu trước, nếu muốn ngài hoàn tục thì ngài nói gì cô tiểu thư phải nghe cái đó. Bây giờ ngài cầm nhang đi kinh hành rồi cô cũng phải đi theo, lúc đầu ngài đi chậm nhưng sau đó đi nhanh dần lên khắp phòng, cô tiểu thư đi theo một lúc thì mồ hôi chảy ra, son phấn lem luốt, đầu tóc rối bù nên ngài gọi cô nhìn vào gương rồi so sánh gương mặt cô và gương mặt ngài lúc đó má đỏ hồng, mắt sáng, mặt rạng rỡ, dung mạo khả quan. Cô tiểu thư lem luốt, xấu xí thì làm sao xứng với ngài, sau đó ngài thuyết cho bài pháp thì cô nhận ra sai lầm của mình nhưng điều đặc biệt là sau này cô lại xin đi xuất gia nên ngài Ngọc Lâm đặt tên cho cô là "Giác Chúng" nghĩa là giác ngộ cho chúng sanh. Điều đặt biệt mình muốn nói chính là ngài cắt duyên xúc không bao giờ gặp cô nữa, ngài tránh mặt cho đến khi ngài viên tịch. Đây là điều rất sâu sắc mà nếu không có trí tuệ ngũ uẩn thì có đọc truyện cũng không hiểu được, cứ hễ tiếp xúc là sanh ra cảm giác cho nên người có cảm giác với nhau mà ở gần nhau là không thể nào dứt ra được, đó là lửa gần rơm lâu ngày cũng bén cho nên sự tiếp xúc rất nguy hiểm. Trong thời gian Đức Thế Tôn tu độc cư thì ngài cắt tất cả duyên xúc, ngài ở trong rừng không tiếp xúc với bất kì ai chứ không phải chỉ ngồi 49 ngày là đắc đạo. Nếu mình đọc vào chỉ biết như vậy thì có khi mình cũng vào ngồi sáng đêm rồi mong đắc pháp là không phải.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống)
Chúng ta phải nhìn thấy được hết tất cả những khía cạnh của thân tâm, từ thân xác cho đến những nghĩ tưởng, nhận thức, cảm giác, nó vận hành bên trong như thế nào, cái gì làm cho nó sanh, cái gì làm cho nó diệt, phải nắm thật vững những định lý, nhân quả hệ đó rồi mình cắt nó thì mới hết được. Trong lịch sử Việt Nam có vị Hoàng Cô thương một vị thầy đến nỗi vị thầy đó nhập thất mà cũng xin thầy đưa tay ra chỉ để được chạm vào tay thôi, đến khi chết cũng muốn được thờ chung cho nên cái xúc rất ghê gớm, các thầy ở đây có phước báo vô cùng lớn vì được cắt duyên xúc bên ngoài, còn duyên xúc tế nhị thì tự mỗi người phải biết. Có khi cắt cái này lại mọc ra cái khác, nó đòi hỏi trí tuệ cẩn trọng và quán chiếu thâm sâu của mình, không phải chỉ nhìn bên ngoài mà được, cần phải có sự sâu sắc bên trong ngũ uẩn của mình. Vì thế đến khi chết ngài Ngọc Lâm cũng không gặp lại Giác Chúng, đó là chúng ta nói duyên xúc tiêu cực về tình cảm, còn duyên xúc tích cực lại là phương diện khác. Chúng ta ngồi đây vẫn đang tiếp xúc với sự thật, xúc với Thánh pháp, xúc với định lý chứng ngộ của Đức Phật cho nên nếu nói rằng bây giờ tu rồi không gặp cha mẹ nữa là hay nhưng chưa chắc, có khi mình gặp để mình thấy cha mẹ càng ngày càng già, bệnh tật nhiều hơn, tóc bạc nhiều hơn, da nhăn nhiều hơn, lưng còng gối mỏi nhiều hơn để mình sanh khởi cảm thọ mạnh mẽ để báo hiếu tu hành tinh tấn cho nên còn một pháp nữa là đặt tâm đúng hướng trong cái xúc. Vì thế nếu không đặt tâm đúng hướng thì có khi mình xúc thiện pháp nhưng lại trở thành bất thiện, nếu mình đặt tâm đúng hướng trong khi tiếp xúc, mình như lý tác ý thì mình sẽ lớn mạnh trong pháp và luật, trong thiền định, trí tuệ.
Cho nên không phải đi tu rồi là không về nhà nữa, "tôi 10 năm rồi chưa về", nói câu đó nghe có vẻ tự hào nhưng chưa chắc. Không về nhà nhưng tâm hiếu đạo mình có không hay cũng lãng quên luôn? Mình có siêng năng tinh tấn để thành tựu cứu cánh phạm hạnh để báo hiếu cho cha mẹ không hay cũng quên mất bổn phận làm con? Vì thế có rất nhiều khía cạnh trong sự tu học chứ không hề đơn giản như mình nghĩ. Quay trở lại thì thọ sanh là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, thọ diệt là do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt, không tiếp xúc nữa thì mình không có cảm giác đối với những cái mà mình tiếp xúc.
"Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Ðáng Ðược Ăn)
"Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là sự xuất ly của thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, bài Bảy Xứ)
Khi mình nghe thầy quản chúng thông báo được đi về miền Tây thăm viếng các chùa thì mình có thấy được thọ; tưởng; hành khi đó vận hành thế nào không? Có thấy lạc hỷ trong đó không? Trong tâm mình lúc đó có hình bóng các thiền viện mình muốn đến thì đó là tưởng, mình có cảm giác vui thích là lạc thọ, sở dĩ cảm giác vui sanh khởi là do mình nghe tin được đi, thọ do nhĩ xúc sanh, bắt đầu có những cảm giác, hình bóng, có những sự nghĩ ngợi.
Cảm thọ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Có nhiều khi trong chuyến đi về gần nhà thì người thân, bạn học cũ đến thăm thế là tiếp xúc lại sanh ra thọ. Trong vị ngọt của thọ có sự nguy hiểm, nếu không cẩn thận, không có chánh niệm tỉnh giác thì khi tiếp xúc sẽ sanh ra những cảm giác, hồi tưởng lại ngày xưa đi học chung thế nào, vui thế nào. Nếu không nhiếp phục chế ngự, đoạn tận thì những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng đó sẽ dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo mình. Tất cả cảm giác đều đổi thay, đều biến hoại, đó là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, dù cho vui sướng đến mức nào thì sau đó cũng tan biến và mình đau khổ.
"Cuộc vui những ước vô ngần
Nào hay vui vẫn là nhân chuốc sầu"
(Sám Khuyến Tu)
Đó là sự nguy hiểm của cảm thọ, sau đó mình đau khổ vì những cảm thọ đó vì nó biến đổi, tan hoại. Nếu biết nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với các cảm thọ đó thì mình sẽ xuất ly, thoát ra khỏi cảm thọ. Trong ba mươi lăm loại trí tuệ đều là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn thôi, nếu chúng ta không biết thực chất, bản chất vô thường, đau khổ, bất an, hiểm nạn, tai họa trong ngũ uẩn thì không thể nào mình nhiếp phục được nó cho nên quán sự nguy hại rất quan trọng trong sự tu, khi nhìn cái gì cũng nhìn về khía cạnh nguy hiểm và tác hại của nó chứ đừng chỉ nhìn vị ngọt của nó. Nếu mình yêu thích, chấp thủ, nắm giữ vào cái chuông này mà hôm nào bị rớt bể thì mình đau khổ vì sắc này là vô thường, thọ vô thường cho nên tất cả sự tu hành của chúng ta là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Đó là tổng cương lĩnh, là cốt lõi của Thánh giáo, là con mắt của mười hai phần giáo, là trái tim của ba tạng Thánh điển. Nếu chúng ta không nắm vững được cương lĩnh này thì đi đến đâu tu cũng không biết cái gì, không biết đầu đường Niết-bàn ở đâu mà cuối đường Niết-bàn chỗ nào cũng không biết.
Có một nhóm Tỳ-kheo thưa với Thế Tôn rằng họ muốn đi du hành ở phương xa thì Thế Tôn hỏi rằng các vị đã lên chào tôn giả Xá-lợi-phất chưa. Các vị thưa rằng chưa thì Thế Tôn bảo họ hãy chào ngài Xá-lợi-phất sẽ được lợi ích lâu dài, ngài Xá-lợi-phất nói rằng các ngài đi phương xa đường dài sẽ gặp nhiều tri thức, học giả, triết nhân. Nếu người ta hỏi các thầy bậc đạo sư của các thầy nói những gì, dạy những gì thì các thầy trả lời thế nào? Các vị Tỳ-kheo ngày xưa rất chân chất, hiền trí, khi được bậc chí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất hỏi thì tất cả đều im lặng và xin ngài hãy nói cho mọi người biết thì ngài Xá-lợi-phất nói rằng nếu có người hỏi Thế Tôn, bậc đại đạo sư nói gì, giảng dạy cái gì thì hãy nói rằng bậc đạo sư chúng tôi nói và giảng dạy về sự nhiế phục dục tham và đoạn tận dục tham. Bậc đạo sư của chúng ta thuyết giảng, dạy dỗ, giáo huấn về sự nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham. Ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp, nếu người ta hỏi nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với cái gì thì các ngài trả lời ra sao thì các thầy Tỳ-kheo xin tôn giả nói cho biết, đến đây ngài Xá-lợi-phất nói nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với năm uẩn, đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Những điều này khi chưa học kinh Nikāya thì chúng ta học rất chung chung, cứ nói bớt tham, giảm tham nhưng bớt tham đối với cái gì thì chỉ nói chung chung là tiền vàng, đất đai, nhà cửa, chức vị… Những cái này rất nhỏ nhặt, còn ngũ uẩn là tóm thâu tất cả các pháp, phải ly tham đối với ngũ uẩn cho nên khi chưa học ngũ uẩn thì nhận thức của mình rất hạn hẹp, không viên mãn được tất cả phương diện của các pháp. Làm sao mình biết được trong cảm giác của mình cũng có sự ham thích? Làm sao mình biết được trong suy nghĩ của mình vẫn có sự ham thích trong đó? Mình có sự yêu thích hình bóng lờ mờ trong tâm nếu không học Thánh trí ngũ uẩn là mình không biết được điều này. Nếu mình nói chiều nay mình ra vườn rau làm việc thì khi nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy trong tâm có hình bóng của tự thân, hình bóng lờ mờ của mình ra vườn rau làm việc và hình bóng đó chính là thân kiến, đó là sự ảo tưởng của một tự ngã cư trú trong tâm. Khi mình nói "tôi sẽ làm…" thì tự động trong tâm sẽ có hình bóng lờ mờ về tự ngã hiện ra và mình yêu thích hình bóng đó, mình tham ái đối với hình bóng đó, chỉ khi nào phá được thân kiến mới Nhập Lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn thứ nhất. Khi mình nói cái gì mà có "tôi" trong đó là sẽ có hình bóng tự thân trong tâm hiện ra vì vậy khi nói nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với năm thủ uẩn là cả một công phu tu tập, phải có sự kiên trì, bền chí, luôn phải ở trong trận chiến, bất cứ mỗi giờ mỗi phút chúng ta đều là chiến sĩ. Mỗi một ý nghĩ, hình bóng, cảm thọ trong tâm đều phải nhìn ra, mỗi một nhận thức đều phải nhìn ra, nếu không là cứ dính chùm vào nhau, cho mọi thứ đều là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thế là một bản ngã được thành lập, một tự ngã được thành lập, tôi, ta, mi, tớ, nhân ngã bỉ thủ, mình người cao thấp, hơn thua sẽ sanh khởi.
Chúng ta đừng nghĩ người ta tự cao tự đại là có bản ngã mà người tự ti, hay hạ thấp mình cũng có bản ngã. Nói cái gì cũng "tôi yếu lắm làm không được đâu", "tôi kém lắm, nghiệp tôi nặng lắm", "tôi tu không được đâu, tôi gieo duyên đời này thôi"… tất cả cũng là bản ngã chứ không phải nói vậy là không có bản ngã vì thế "tôi hơn", "tôi bằng", "tôi thua" đều là bản ngã. Vì có "tôi" nên mới có hơn, có bằng, có thua, nếu chỉ thấy là ngũ uẩn thì làm gì có ai để hơn thua, bằng nhau cho nên nói một lúc là so sánh mình với người ta, đối chiếu mình với người ta, nói một lúc là phân cao thấp, đúng sai, đó là do không thoát khỏi được ý niệm về tự ngã, không thấy ngũ uẩn mà chỉ thấy một cái tôi to tướng.
Khi nhìn vào bên trong mà thấy trong đó là một mớ cảm giác, một mớ những hình bóng, một mớ những suy nghĩ, nhận thức, một mớ tim, gan, phèo phổi, phân, nước tiểu trong này, chẳng có ai cả chỉ là một đống duyên sanh, đầy rẫy trong này là tham, sân, si, vô minh và bản ngã, khát ái, ham muốn. Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái, không có cái tôi trong này vì thế sự tu hành này để nhìn ra được ngũ uẩn là cả một trí tuệ cho nên phải tập nhìn từ từ. Nhìn vào sắc uẩn, nhìn những suy nghĩ, nhìn những hình bóng trong tâm, nhìn vào cảm giác, vào những nhận thức, nhận diện tức là nhận ra được bộ mặt thật của nó. Trước đây mình cho nó là mình nhưng bây giờ mình nhận ra nó là năm nhóm, là năm tổ hợp chứ không còn là mình, là của mình nữa. Ngoài kia có biết bao người chết vì dịch bệnh, vừa mới thấy hơn thua, cãi nhau, đấu đá vậy mà ngã xuống là chấm dứt tất cả, nó chỉ là sự vận hành của tứ đại, sự vận hành của đất, nước, gió, lửa, nó chỉ là những dòng hơi khí bốc lên, sự tức giận cũng là dòng khí bốc lên, dục cũng là khí bốc lên làm cho mình thèm khát hoặc là thiêu đốt, hủy diệt, không thì cũng trì trệ, lờ đờ, đó là si ám, vô minh, đây cũng là ba dòng cảm thọ tham, sân, si. Phải thường quán chiếu, thường nhìn thấy rồi từ từ mình ly tham đối với chúng, mình không còn nhận nó là mình nữa, tách ra khỏi nó từ từ, ngày xưa mình cho nó là mình còn giờ mình thấy nó là đối tượng của mình, cũng như ngày xưa mình cho vọng tưởng là mình còn giờ mình thấy được nó là tưởng uẩn, nhìn thân này thì thấy đây là sắc uẩn, từ từ mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những sự tham muốn, ham thích, thèm thuồng, nô lệ cho tham ái trong ngũ uẩn này thì từ từ mình giảm bớt khổ đau, mình nhẹ nhàng.
Một người không còn muốn sắc gì cả, không còn muốn những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, nhận thức thì không có gì làm cho họ khổ được, đó là bất động tâm giải thoát, là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài người, là bậc ly tham đối với ngũ uẩn. Tất cả chư Thiên cũng phải lạy dưới chân người đó, còn tất cả chúng sanh bị quay cuồng, áp đảo trong ngũ uẩn không thoát ra được. Tất cả những suy nghĩ, tưởng tượng, nhận thức của mình đều nằm trong năm uẩn, Đức Phật ví dụ con chó bị cột vào cây bằng sợi dây thừng, nó có đi thì cũng lòng vòng quanh cây cột, có nằm cũng nằm trong cây cột đó, nó làm cái gì cũng vòng quanh cây cột đó, chúng sanh cũng giống như vậy, có nghĩ cái gì cũng nghĩ trong năm uẩn, có tưởng cái gì cũng tưởng trong năm uẩn, có nhận thức cái gì cũng ở trong năm uẩn, có cảm giác gì cũng trong năm uẩn và sợi dây đó là sợi dây của tham ái, sợi dây của tái sanh.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?
-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, bài Sợi Dây Tái Sanh)
./.