DÒNG SÔNG TÌNH THƯƠNG VI DIỆU 1
DÒNG SÔNG TÌNH THƯƠNG VI DIỆU 1
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tình cảm của người xuất gia: PAGEREF _Toc50295575 \h 1
II. Dục liên hệ đến thế tục: PAGEREF _Toc50295576 \h 4
III. Đạo tình: PAGEREF _Toc50295577 \h 8
IV. Từ bỏ bất thiện, nỗ lực với các thiện pháp: PAGEREF _Toc50295578 \h 11
V. Kiểm chứng sự tu tập: PAGEREF _Toc50295579 \h 13
VI. Tỷ kheo dễ nói: PAGEREF _Toc50295580 \h 17
VII. Năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu: PAGEREF _Toc50295581 \h 21
VIII. Tâm từ: PAGEREF _Toc50295582 \h 26
I. Tình cảm của người xuất gia:
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh “Kinh Ví Dụ Cái Cưa” bài kinh số 21, Trung Bộ Kinh.
Chúng ta nhớ ông Cấp Cô Độc đòi mua miếng vườn của thế tử Kỳ-đà, thái tử đâu có nghèo đâu mà cần bán. Thái tử nói đùa “chừng nào ông trải vàng hết khu vườn, lúc đó tôi mới bán”. Không ngờ ông Cấp Cô Độc làm thật, ông về mở kho vàng ra, cho xe bò chợ đến lót. Thế tử thì đâu nói đùa được, ông Cấp Cô Độc lót hết, thế tử rất bất ngờ, không biết Phật là ai mà ông Cấp Cô Độc lại tôn kính như vậy. Sau đó ông mới cúng cái cây, tại vì những cái cây đó vàng không trải lên được nên mình gọi là rừng Kỳ-đà, vườn ông Cấp Cô Độc.
Trong bài kinh, hiện Thế Tôn đang ở chỗ đó.
“Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc)”.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliyaphagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliyaphagguna liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliyaphagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”.
Đây là chỗ hôm trước con đã nói, cái này hết sức quan trọng. Chúng ta dễ rơi vào hai thái cực khi mình xuất gia. Một là sống vô tình, vô nghĩa, không còn biết tới ai nữa hết, sống rất ích kỷ, chỉ biết bản thân mình thôi “ẩn dương nương Phật”, lánh nặng tìm nhẹ, muốn có được một đời sống an ổn, trường hợp này nhiều. Ngay cả cha mẹ, thân quyến của mình, mình cũng bỏ mặc, mình lấy cớ là người tu, không thèm quan tâm. Đây là rơi vào thái cực vô tình, vô nghĩa, vong ơn, bội nghĩa.
Hai là khi mình vào chùa rồi, mình trở thành gắn kết tình thân, cái này cũng nhiều lắm “chị chị, em em, huynh huynh, đệ đệ”, trở thành một cái thường tình, phàm tình, mà cái tình này không đáng có. Nếu so với thiên luân của cha mẹ mình, thì cái tình này chẳng là gì hết. Thiên luân là luân lý tự nhiên, mà nhất định phải có trên cuộc đời này, đó là cha, mẹ, ông, bà, huyết thống của mình.
Thành ra từ ngày con xuất gia, con luôn luôn sợ cái này, tại vì con nhìn chung quanh hết sức là nhiều. Đây là trở thành gắn kết một cách thái quá, quá độ, liên hệ quá độ giữa Tăng và Ni. Mình mở rộng ra để mình thấy hai thái cực, một là vô tình vô nghĩa, một là thường tình của phàm phu. Rồi con thấy, nhiều khi người này dọn qua chùa khác ở, hay như thế nào đó, mà người kia khóc (cái này chắc mấy sư cô ở lâu trong chùa cũng thấy, cũng hiểu rất rõ phải không?) Đó là một sự thất bại. Mình không có trạch pháp, thất giác chi mình không có tu tập. Rồi phân nhóm ra, tệ hơn nữa là lập bè phái, đây là việc hết sức đau lòng. Đây là những điều không thể có đối với người xuất gia.
Cho nên, người xuất gia là Đạo tình nó vượt lên cái vô tình, vô nghĩa, và nó vượt lên thường tình của thế gian này. Nếu mà đi tu mà vô tình, vô nghĩa, thì đừng có đi tu, đi tu như vậy là tai họa. Nếu phải chọn, thà chọn có tình, có nghĩa, mà đời sau còn được làm người. Đạo tình là phải có trạch pháp nhãn (mắt pháp), mở ra mới thấy được thế nào là Đạo tình. Cái tình thương đó bằng từ tâm (chúng ta sẽ học), tình thương đó là sự thấy biết, về ngũ uẩn, tham, sân, si, lậu hoặc. Thấy được nỗi đau khổ của chính mình, và những người xung quanh mình, thì mới khởi lên tình thương, thì đó mới là Đạo tình.
Thấy được ngũ uẩn, thấy được tính chất vô thường, đau khổ, tan hoại của ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, thấy được vô minh, bản ngã. Thấy được những thứ đó làm đau khổ cho mình, đau khổ cho người, đau khổ cho hữu tình, chúng sanh. Mình khởi lên một lòng bi mẫn, dào dạt, cảm thông, vì mình cũng vậy. Thì tình thương đó mới gọi là Đạo tình. Thương để dìu dắt nhau cùng tu, thương để làm tăng trưởng thiện pháp của nhau, thương để cùng nhau đồng hành trên Thánh đạo, thương để hỗ trợ cùng nhau thể nhập Thánh trí, thương để đẩy nhau mau bước tới Thánh quả, đó mới gọi là Đạo tình, pháp lữ (bạn pháp).
Thành ra, chỗ này phải tu “Trạch pháp giác chi” mới nhìn thấy. Còn nếu không, một thời gian là nó thành thường tình. Rồi lại phát triển thêm vụ Sư bác, Sư thúc, Sư chú, Sư bà, Sư ông, Sư em, Sư chị, Sư anh… bày vẽ ra những thứ để nó buộc trong luân hồi nhiều hơn. Mình căn cứ trong kinh Nikāya có thấy trong này là có Sư chị, Sư anh, Sư em, Sư thúc, Sư bá gì không? Kêu bằng Hiền giả, kêu bằng Tôn giả, Tỳ-kheo, mình đừng có đi lệch. Thành ra chỗ này là chỗ hết sức khéo léo, phải tinh mắt, tinh trí, nhất là mình nhận diện được ngũ uẩn mình mới thấy đó là gì, nó là từ hay nó là ái.
Mình nhớ năm chữ “liên hệ đến mục đích”, tất cả những gì trong sinh hoạt, tu tập của mình, mà không liên hệ đến mục đích là phải đào thải, loại bỏ. Liên hệ đến những mục đích gì? Tăng trưởng giới hạnh, thiền định trí tuệ giải thoát, tri kiến giải thoát, nhiếp phục tham, sân, si và diệt tận các lậu hoặc, đó là mục đích, ngoài cái đó ra không có gì khác nữa hết. Còn bằng không, cái tâm hữu lậu này bày vẽ ra rất nhiều, mình bị sập bẫy ở trong đó, mình tự nguyện chết ở trong cái bẫy mình giăng ra.
Thực sự con thấy hết sức sợ, cái bẫy của một ngôi chùa, cái bẫy của một bằng cấp, học vị, cái bẫy của một địa vị ở trong chùa, cái bẫy của công việc, ở trong công việc mình đang làm, chính là bẫy nói giăng trong đó. Chỗ nào cũng có bẫy hết, bên phải, bên trái, trước mặt, sau lưng, chỗ nào cũng có gai hết, không cẩn thận là đạp gai. Mà cái gai đó êm ái mới chết, chứ không phải là cái gai đau, nhưng trong cái êm ái, ngọt ngào đó, thì cái đau đớn, nhức nhối, nó từ từ. Không phải đạp vô là nó đau liền, mà ở trên là nó trải nhung, trải thảm, còn ở dưới thì là lớp gai. Thành ra cái này là hết sức quan trọng, là kim chỉ nam đời tu của con, từ ngày xuất gia cho đến bây giờ. Lúc chưa học cái này, con đã cẩn trọng, đã nhìn thấy điều đó.
Tỷ, muội, huynh, đệ, thúc, bá, Sư chị, Sư em, Sư anh, Sư chú, Sư bác, rồi Sư má, Sư ba luôn. Rồi làm sao ra khỏi vòng tham ái, luyến ái đó?
II. Dục liên hệ đến thế tục:
Mình tiếp theo bài kinh. (Khi nghe chê người này là người kia giận lên, chê người kia là người này giận lên)
“Có một Tỷ-kheo khác đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliyaphagguna nói xấu các Tỷ-kheoni ấy, Tôn giả Moliyaphagguna liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliyaphagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay.
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.
Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo khác và bảo:
– Này Tỷ-kheo, hãy đi, nhân danh Ta, cho gọi Tỷ-kheo Moliyaphagguna: “Hiền giả Phagguna bậc Đạo Sư gọi Hiền giả”.
– Bạch Thế Tôn, vâng!
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Moliyaphagguna, khi đến xong, liền thưa Tôn giả Moliyaphagguna:
– Hiền giả Moliyaphagguna, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.
– Vâng, Hiền giả. Tỷ-kheo Moliyaphagguna vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.”
Đức phật không bao giờ kêu ai lên mà kết tội hết, Đức Phật đều hỏi phải sự việc đó không? Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng để chúng ta học. Chúng ta nghe người nào nói là mình kết tội đó liền, mình nghe ai mà nói rằng “người kia nói mình như vậy đó” là trong lòng phừng phừng lên, sân lên, gặp người kia mình sổ lên, chứ mình không bình tĩnh, mình gặp mà mình hỏi “phải vậy không?”, mà luôn nghe người ta nói. Cái này là mình học, lúc nào Đức Phật nghe một vị cư sĩ, hay một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni trong tứ chúng nói về một vị nào đó như vậy, thì Đức Phật kêu cho mời “nói là bậc Đạo sư mời vị đó lên”. Khi lên tới chỗ, giáp mặt, thì Đức Phật hỏi sự việc đó như thế nào? Để chính người đó trình bày, sau đó Đức Phật mới hướng dẫn, dạy.
Điều này hết sức quan trọng, thực tế, để cho mình ứng dụng trong đời sống tu học của mình. Bảy mươi phần trăm mà mình phiền não, là mình không ứng dụng cái này, mình nghe người ta nói, rồi tự mình suy tưởng ra. Khi nghe “Thầy mới la chị đó” là mình “vậy hả?”. Rồi xong, buồn, mà không chịu lên hỏi “Thưa thầy, thầy có la con gì không? Con có sai chỗ nào thầy chỉ cho con”. Không cần lên hỏi gì hết, mà bắt đầu ở dưới thì buồn, sân giận, rồi phiền não lên. Người nói thì tâm ở trong vô minh, người nghe cũng trong tâm vô minh, sân hận. Huynh đệ cũng vậy “sư tử kia nói đệ, muội như vậy đó”, nghe xong là “vậy hả” là sân si lên. Mình không có Niệm, không có Định, không có Tuệ, thì tất cả khổ nằm ở chỗ đó. Phải bình tĩnh, nghe kỹ, rồi mình gặp người kia, mình thưa hỏi “phải là em có lỗi như vậy không? Sư tỷ chỉ dạy em”. Cái này mình chỉ cần xúc một cái thôi, là thọ mình bùng vỡ ra. Chỉ bấy nhiêu đây thôi là bớt khổ biết bao nhiêu, học một cái thôi. Đức Phật nói “hãy nhân danh ta đi mời Tỷ-kheo đó đến”, học trong kinh mình thấy, lúc nào cũng vậy.
Cái vụ nói qua nói lại là hết sức nguy hiểm, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong lời nói, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong khi nghe, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong các cảm xúc, cảm thọ, là mình chết, đau khổ dài dài, chết chìm, chết cháy, ngủ rồi đi luôn đó là ví dụ cho ba cái tham, sân, si. Chết chìm là cảm giác tham dục, chết cháy là cảm giác sân, còn cái chết mà ngủ một giấc rồi đi luôn, đang ngủ rồi bị lũ nó cuốn đi luôn, trôi nhà, người thì chết luôn, đó là chết trong si, chết trong ba cảm giác đó.
“Thế Tôn nói với Tôn giả Moliyaphagguna đang ngồi xuống một bên:
– Này Phagguna, có đúng sự thật không, như lời người ta đồn là Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Người ta đồn Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: “Nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Ông nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Ông liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Ông, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”.
Này Phagguna, có phải Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy?.
– Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Chúng ta thấy không? Ngày xưa đi tu sao chứng Thánh quả mau như vậy? Vì người ta chân thật lắm, có là nói có. Còn mình thì đâu có, bị hỏi là “Bạch Thế Tôn không có”. Bây giờ tu không chứng quả là như vậy đó, mới vừa nói chạm đến là “Dạ con không có, tại ông kia kìa”. Mà rõ ràng trách nhiệm của mình, mà hở là đổ cho người ta “Dạ không, con không có”. Cái tâm quanh co, bất chánh, không trung trực, không chính trực, không chân thật, không chân thành, thì làm sao thành tựu được chân pháp, chân trí. Mới vừa bị hỏi thôi, là trả lời liền “không phải, tại ông kia, tại cô kia”. Tất cả đều là không có sức Niệm Định Tuệ, không bình tĩnh để lắng nghe, nghe chưa hết câu, mới vừa bị nói thôi là nhảy lên, phản ứng ngay lập tức, không có tu tập, nhiếp phục cảm thọ.
Tỷ-kheo Phagguna bị hỏi là “Bạch Thế Tôn, dạ đúng có như vậy!”, cho nên những cái này phải học từng chút, từng chút. Phải nghiền ngẫm trong đó, chứ không phải đọc hết qua, đọc ro ro cho xong bài kinh, không phải. Học từng chút một thâm ý, pháp ở trong này.
“– Này Phagguna, có phải Ông là Thiện nam tử, vì lòng tin, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Con là một người thanh niên thiện tâm, con có lòng tin đối với Đức Thế Tôn, với giáo pháp với Tăng đoàn. Cho nên con bỏ gia đình, con sống một đời sống không có nhà)
– Này Phagguna, thật không xứng đáng cho Ông, một Thiện nam tử, vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mà sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.
Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”.
Chúng ta thấy không? “Những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy, suy nghĩ liên hệ đến thế tục, ông phải từ bỏ”. Tình thương của huynh đệ cùng chung một sư phụ, hay tình thương của Tăng phái cùng một chi nhánh, cùng một tu viện, cùng một ngôi chùa, cùng một thiền viện chẳng hạn. Đó là “dục liên hệ đến thế tục, tư duy liên hệ đến thế tục”.
“Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!”
Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy”.
Khi mình chưa đi xuất gia, mình đâu có thân với mấy huynh đệ đó đâu, mình đâu có biết mấy người đó. Mà mình thân với cha mẹ, anh chị em.
“Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến đổi, ô nhiễm, mong rằng ta sẽ không nói những lời ác, mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi, không ôm lòng sân hận, ông phải học tập như vậy”.
Theo lời Đức Phật nói, bước thứ nhất “khi nghe người ta nói xấu các Tỷ-kheo- ni ấy, thì ông phải từ bỏ những sự gọi là dục liên hệ đến thế tục (cái thường tình) và những suy nghĩ liên hệ đến thế tục của thường tình, là huynh, đệ, tỷ, muội”.
Bước thứ hai “nếu có ai trước mặt ông đánh các vị Tỷ-kheo-ni ấy, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục và những tư duy, suy nghĩ liên hệ đến thế tục”.
III. Đạo tình:
Như vậy thì Sư Tăng nào gặp Sư Ni bị người ta đánh là im re phải không? Người ta đánh thì kệ người ta đánh phải không? Hay là sao? Mình hiểu câu này như thế nào? Đây là chỗ trắc nghiệm đó. Đức Phật nói là “ông hãy từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”. Chứ Đức Phật không có nói rằng ông hãy để mặc cho người ta đánh, không phải, mình phải nhớ chỗ đó.
“Bỏ những ý niệm thường tình, phàm tình, phàm tục. Sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi”. Thấy chưa? Mình không học kỹ, mà mình đọc lướt qua thì mình hiểu trật lất hết. Tâm từ bi là mình có bảo vệ không? Có giúp đỡ, che chở không? Có. Nhưng mà không có những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục, đó là chỗ Đạo tình đó. Sự tương trợ, giúp đỡ, hỗ trợ, mà không bị dính mắc, ràng buộc ở trong ái dục thường tình của thế gian. Cần lúc giúp đỡ là giúp đỡ, bảo vệ, rồi là xong.
Có những bài kinh sau này chúng ta sẽ học, Đức Phật dạy các Tỷ-kheo “người ta có chửi mắng Như Lai, chửi mắng các thầy Tỷ-kheo, các ông không có được sân hận, tâm phải bình tĩnh, định tĩnh”, nó cũng y như vậy thôi.
“Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông nói xấu (ai), này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”. Cái này là mở rộng ra, lúc nãy chỉ nói với các Tỷ-kheo-ni đó thôi, bây giờ bất cứ ai nói xấu, hay nói xấu ai, hoặc bất cứ gì.
“Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông lấy tay đánh, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục.
Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy”.
Mình thấy có những chuyện hết sức đau lòng, hai người đánh lộn với nhau, người kia vô can, mà người can này bị mất mạng. Thậm chí lúc đầu người này nhảy vô họ muốn can, nhưng một hồi họ sân luôn. Có những trường hợp đóng phim hành động, tới đoạn họ đánh lộn với nhau là đánh giả, nhưng vào thì đánh mạnh quá, họ nổi nóng lên, họ sân lên, họ đánh thật, rồi xảy ra thương vong, tai nạn, án mạng ngay trên phim trường. Tại sao vậy? Vì không làm chủ được cảm xúc, chỗ này cũng là quán thọ ở trên thọ.
Thí dụ mình nghe một người nào đó nói xấu huynh đệ của mình, mà người huynh đệ này mình rất mến, vì mình thấy người này rất hiền, rất tốt, nhưng mà có một người cư sĩ nọ lại nói xấu cô đó, thì lúc đó tâm mình sao? Tâm của mình sanh khởi cái gì? Khó chịu không? Cái khó chịu đó là dục liên hệ đến thế tục, tư duy liên hệ đến với tục. Tại vì mình nghĩ “người đó là muội của tôi, tỷ của tôi, bạn của tôi, bạn thân nhất của tôi”. Cái này mình bị nhiều không? Khi nào mình nghe người ta nói như vậy, chê như vậy mà mình vẫn an trú cảm giác toàn thân, Chánh niệm trước mặt, thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, đó mới gọi là mình có tu tập. Lúc đó mình có lòng bi mẫn, tâm từ đối với người đang nói, “cái này khó hay dễ vậy thầy Cảm Tuệ?”, khó là phải thực tập. Lúc đầu chỉ nghe nói xấu thôi, giờ là thấy bị đánh, ném bằng đất, bằng đá, đánh bằng gậy. Đây là những cấp độ sâu sắc của người xuất gia.
Thành ra, sự tu tập của mình về lời nói tới bốn giới hết sức quan trọng. Thật sự có những người, khi họ mở miệng ra mình thấy không khác gì những mũi tên có tẩm độc ghê gớm. Mình không có Chánh niệm tỉnh giác, thì mình nghe mình rất là nguy hiểm, mình bị tổn thương ngay lập tức. Còn nếu mình có Chánh niệm tỉnh giác, thì những lời nói của họ mình thấy mình run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ và mình muốn bỏ chạy. Những lời nói đó nó phát xuất từ một ác tâm, sân tâm, hại tâm, trong đó có tẩm độc ở đầu mũi tên. Những lời phát ra như vậy, thật sự đau khổ rất lâu dài cho những người như vậy.
Mình hết sức cẩn thận, mình phải mặc áo giáp bằng đồng, bằng sắt, khi nghe nói chuyện. “Không biết là đại chúng mình có gặp trường hợp này chưa? Có không? Nếu có thì giờ mình hạ quyết tâm, mình không rơi vào trường hợp đó”. Tại mình vô minh, mình sân, mình nói một hồi là vô đó mà mình không biết. Cái tâm mình sân hận lên, mình bực bội, mình giận ai lên, là mình dùng hết tất cả các ngôn ngữ. Lúc đó là ác khẩu, ác ngữ, ác nghiệp, phải chiêu cảm lấy quả báo, khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai.
Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn nhắc nhở rất nhiều lần là “mong rằng tâm của ta không bị biến đổi, ô nhiễm. Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác, mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không có ôm lòng sân hận”. Dù cho có nghe những lời xấu ác, chỉ trích, hay có thấy những cảnh đánh chửi, mắng, đập, đâm chém, phải lo quay trở lại nhiếp phục tâm của mình, sống với lòng từ, đừng có sân hận với người ta, phải an trú trong tâm từ.
Mình thấy có những trường hợp rất là thương, đúng ra làm mất một món đồ nhỏ thôi, nhưng mà dẫn đến mất mạng. Ví dụ như nhiều khi ăn cướp, ăn trộm vô nhà, mình thấy nó lấy món đồ. Thay vì mình thông minh, người không tiếc của, biết quý mạng sống của mình, thì mình cứ im re, mình giả bộ ngủ đi. Đằng này mình la lên, nhào lại, cuối cùng bị tai nạn. Có câu chuyện khác hết sức đau lòng mà một Phật tử kể lại: Trong một gia đình, cô này bị bệnh tai biến. Lần thứ nhất cổ được may mắn chữa được, tuy không được khỏe mạnh như người bình thường, nhưng còn đi lại được. Cô đó có một đứa con, nhưng nó là đứa con hư, tụ tập hút xì ke, ma túy. Mỗi lần nó về nhà là nó lấy tiền, lấy đồ đem đi bán. Tối hôm đó đứa con về, nó lục cái tủ của cổ, lúc đó cổ còn được năm trăm đô la Mỹ, lúc đó cổ đang nằm trên giường cổ thấy, cổ nhào tới giành lại. Nó hất cổ, nó giật lại, quăng mẹ nó ra một bên. Lúc đó cổ vừa xúc động mạnh, vừa tiếc của, nên cổ tai biến lần thứ hai, và nằm mười tám năm, vì năm trăm đô đó. Nếu như lúc đó cổ ngủ, hay là lúc đó cổ mặc kệ, thì không phải nằm mười tám năm như vậy.
Cho nên lòng tham, tiếc của hay là lòng sân, nó đưa mình tới rất là nhiều tai nạn, hiểm nguy. Đức Phật dạy mình đó “mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi, không ôm lòng sân hận”.
IV. Từ bỏ bất thiện, nỗ lực với các thiện pháp:
Lời dạy tiếp theo của Đức Phật:
“Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Người mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp luật này”.
“Hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp”. Chúng ta đang ngồi đây, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Sáng chúng ta thức khuya, dậy sớm, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta ngồi trên Bồ đoàn để chiến đấu với cơn buồn ngủ, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta cố gắng học thuộc các bài kinh, là đang nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta bụng đói mà vẫn ngồi nghe pháp hoan hỷ, hỷ lạc, tới chín, mười giờ trưa, ngồi năm, sáu tiếng tiếng đồng hồ, đó là chúng ta nỗ lực đối với các thiện pháp. Nhờ vậy mà chúng ta mới thành tựu, trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp và luật.
Thầy:“Hôm qua trà đạo pháp đàm chia tay tới mấy giờ?”. Dạ“Mười giờ”. Vậy chúng ta cũng là nỗ lực đối với các thiện pháp. Ngồi ở ngoài trời lạnh lẽo như vậy (ngồi ngoài sân) mà chúng ta đâu có thấy lạnh, tại vì chúng ta có thiện pháp. Những cảm thọ, những cảm giác, cảm xúc của thiện pháp đó của trí tuệ, an lạc, từ tâm, hòa hợp, cung kính với nhau, nó đánh bật hết những cảm giác lo lắng, sợ hãi, bệnh hoạn hay lạnh lẽo, đó là chúng ta vượt qua rất nhiều. Cho nên “này các Tỷ-kheo hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp”, nỗ lực, dốc sức, ra công. Như vậy thì “các vị sẽ thành tựu, sự trưởng thành, hưng thịnh lớn mạnh trong pháp luật này”, chúng ta đang trưởng thành, chúng ta đang hưng thịnh, chúng ta đang lớn mạnh trong pháp luật này.
Trong mỗi buổi nghe pháp, trong mỗi buổi ngồi thiền, trong mỗi buổi đọc kinh tạng Nikāya, trong mỗi cây chổi quét nhà, mỗi một lần rửa chén, mỗi buổi dọn lên từng món ăn cho đại chúng, tất cả những cái đó là đang lớn mạnh, trưởng thành, tăng trưởng, hưng thịnh, thành tựu trong thiện pháp. Phải vui thích trong tất cả sự tu học, như Đức Phật nói “hoan hỷ ngày đêm tu tập thiện pháp”. Mình làm gì mình cũng thấy vui, cái này là thiện pháp. Tác ý làm cho mình hoan hỷ, phấn khởi, vui sướng trong thiện pháp, chứ mình không tác ý là mình ngồi “trời ơi khổ, đói bụng, lạnh, mà sao bắt mình ngồi lâu dữ vậy” ở trong đó nó sanh khởi lên cái hành như vậy, rồi mình đi theo nó, là xong rồi. Trong ý hành đó nói đủ thứ, đủ kiểu, mà mình nghe theo nó là thiện pháp mình không tăng trưởng.
Cho nên chúng ta thấy, chúng ta nâng cấp không? Ngày xưa con giảng có một tiếng à, sau này con nâng lên một tiếng rưỡi, sau nâng lên hai tiếng, sau nâng lên ba tiếng, có bữa lên bốn tiếng, nghe pháp lên thành bốn tiếng. Mà càng ngày đại chúng càng hoan hỷ, hỷ lạc, hạnh phúc trong pháp, đó là sự hưng thịnh, trưởng thành, tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển. Bữa nào nâng quá lên mà các cô qụy tại chỗ, thì lúc đó là sanh thiên luôn, nhiều khi lên tới tịnh cư thiên luôn, Bất Lai Quả. Tại vì đang tới chỗ pháp thâm sâu, mà đi là đi thẳng luôn. Thành ra không có ngại đối với thiện pháp.
Đức Phật ví dụ “Cũng như gần một thôn làng hay thị trấn nhỏ, có khu rừng cây tala lớn, khu rừng bị các cây leo y lan bao phủ. Có một người đến khu rừng này, muốn lợi ích cho khu rừng, muốn hạnh phúc, muốn an ổn khỏi các ách phược cho ngôi rừng. Người ấy chặt đứt các nhành cây cong thiếu hẳn sinh lực, vất chúng ra khỏi khu rừng, dọn dẹp trong rừng sạch sẽ. Người ấy săn sóc kỹ lưỡng các nhánh cây tala thẳng thắn, khéo mọc. Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, ngôi rừng như vậy được trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Người hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Người mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp luật này”.
Tức là mình đang cắt và chặt những dây leo, mình đang mé những cành không sức sống, cong quẹo, xấu xí. Chặt đi để cho nó phát triển lên một rừng cây tươi đẹp, xanh mượt, cổ thụ. Cũng vậy, mình đang từ bỏ những ác bất thiện pháp, để tăng trưởng các thiện pháp.
V. Kiểm chứng sự tu tập:
Đức Phật đưa ra thêm một ví dụ, mà câu chuyện này rất nổi tiếng trong kinh Nikāya.
“Chư Tỷ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỷ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”.
Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận, chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!”
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta-làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ! Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
– Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: “Hôm nay Ngươi dậy trễ”, rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu.
Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!”.
Đức Phật lấy câu chuyện đó để nói với người tu chúng ta
“Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa.
Chư Tỷ-kheo, Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng như y áo, món ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khi vị ấy thành tựu được tánh dễ nói. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy khi không được các vật dụng như y áo, thức ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, không còn là dễ nói, không còn thành tựu tánh dễ nói”.
Chúng ta hiểu câu này chưa? Đức Phật nói “Chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói không có vừa lòng, xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là hiền hòa”. Thứ nhất Đức Phật nói người được tu mà gọi là hiền, mà khi không ai đụng chạm tới, thì chưa gọi là hiền. Mà khi bị chỉ trích, bị những lời nói xúc phạm, mạ lậy, mà Tỷ-kheo đó vẫn ôn hòa, vẫn hiền lành, vẫn nhu thuận, thì như vậy mới gọi được xem là người thực sự là hiền lành, ôn hòa, nhu thuận. Cũng giống như cô nữ chủ đó, khi bị chọc tức, bị những hành động trái ý, nghịch lòng, thì lúc đó mới biết được người đó là sân hận hay người đó hiền thục. Thì người xuất gia cũng vậy, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói không vừa lòng, xúc phạm, mà người ấy vẫn nhu thuận, hiền lành, ôn hòa, thì như vậy người ta mới là Tỷ-kheo hiền lành thật sự.
Còn mình thì sao? Mình có hiền thật chưa? Có cần tu tâm hiền thêm không? Có cần tu tâm từ thêm không? Bình thường thấy thì hiền, mà có khi bình thường cũng chưa hiền nữa, nhìn hai con mắt trợn, lên bình thường còn chưa hiền, chứ đừng nói khi đụng chuyện. Phải hiền thật, phải nhu hòa, phải hiền thục, phải ôn hòa. Cho nên sự tu tập tâm hiền, tu tập tâm hòa kính, tu tập tâm từ, là tu suốt cuộc đời. Đừng bao giờ thấy là đủ hết, đừng bao giờ nói “bây giờ tôi tu tâm hiền đủ rồi, tôi hiền rồi. Bộ tôi dữ lắm sao mà kêu tôi tu tâm hiền?”, thì câu đó là hiền hay dữ? Kêu tu tập tâm hiền là nói “bộ tôi dữ sao? Tôi hiền rồi”, thì câu nói đó chính là dữ đó. Cho nên mình phải thấy rằng, cái thật nó phải cần có những thử thách, hữu sự, có chuyện xảy ra mới biết được năng lực thật sự của mình, chứ còn bình thường thì chưa. Lúc nào là lúc mình thấy mình rõ tâm mình nhất? Là khi mình bị chỉ trích, hủy nhục, xúc phạm, thì lúc đó mới thấy rõ tâm mình nhất.
Người ta gọi là gì? “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần”, có nghĩa là: Ở nhà nghèo mới biết được đứa con nào thực sự là đứa con có hiếu. Nước loạn mới thấy được bề tôi nào thực sự là kẻ trung thần. Trong sự tu của mình cũng vậy “hoạn nạn kiến chân tình”, bình thường bạn bè nhiều lắm, mời ăn, mời nhậu, mời này kia nọ. Tới chừng bị phá sản, điện thoại không ai bắt máy hết, đến nhà thì đóng cửa, kêu không có nhà. Thì trong sự tu tập của mình cũng giống vậy, khi hữu sự mình mới thấy được, thực sự cái tâm của mình ở mức độ nào trong sự tu tập.
Chính vì vậy con chia sẻ là, các thầy, các cô hay các huynh đệ, các chú lên đây tu học, thì con không nhìn cái bình thường, con nhìn những lúc có chuyện xảy ra, con coi tâm của người đó, mới biết được thật sự mức độ tâm người đó tới đâu. Ở chỗ này Đức Phật nói “chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm”. Tới lúc đó mình phản trắc, mình muốn quay lưng lại phản phúc, thì mầm mống nguy hiểm trong đó hiện lên sân hận. Phải coi tâm mình trong đó, những lúc mình làm bài tập, bài thi, thi tốt nghiệp, lúc đó là lúc nội soi thật sự, nhìn thấy thân tâm của mình.
VI. Tỷ kheo dễ nói:
Cái thứ hai là “Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng”, tức là người này, vị tu sĩ, vị Tỷ-kheo mà hóa được dễ dàng món ăn, sàng tọa, thuốc men, phòng ốc, chỗ ở, dễ được, có được đầy đủ các món đó, thì người này rất là dễ nói, người ấy không sân hận. Tại vì có gì đâu mà sân, cơm cũng có ăn, chỗ ở cũng có, thuốc men cũng có, phòng ốc cũng có, y áo cũng sẵn sàng hết, thì có gì đâu mà khó chịu. Nhưng mà khi khó có mấy cái đó, đi khất thực không ai cho, hoặc là cho một ít thôi thì sao? Hôm nay lên bếp có một chút rau luộc với một miếng kho quẹt thôi thì sao? (Bữa nào nhà bếp làm thử một bữa, không sao hết cứ làm thử)
Mình tu luôn như vậy đó, ra cho mỗi người một tô mì gói như vậy đó, xem lúc đó có dễ nói không? Phải có những bài tập để thấy tâm mình, cho nên “chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không được các vật dụng như vậy, không còn là dễ nói, không thành tựu tánh dễ nói”. Khi thiếu thốn, khi khó khăn, khi không có được những nhu cầu mình muốn, thì coi lúc đó có dễ nói không? Có ôn hòa, hiền lành không? Hay là bực bội? “Làm gì không có gì ăn hết trơn vậy? Ai nấu vậy? Hôm nay ca ai trực vậy? Ăn gì kì vậy?” Thì coi lúc đó có dễ nói không? Hay mình nói “ờ, đây là cơ hội mình kiểm tra tâm của mình, mình đang làm bài tập”. Ở đây Đức Thế Tôn đưa ra những nghịch cảnh để đo cái tâm mình, chỗ này tuyệt vời, hay lắm.
“Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cho nên những việc mà khó khăn, bị bệnh, như vậy mà tu tập, đó thực sự là người chịu tu, người chịu khó tu. Còn mấy người khỏe mà ngồi nghe pháp thì bình thường, không có gì hết. Hôm nào mà mệt mỏi, khó chịu, mình vẫn nhiếp phục được, thì cái đó mới gọi là có tinh thần tu học. Chịu đói, chịu khát, thiếu thốn như vậy, mà mình vẫn nhiếp phục được, còn đại đa số người tu bây giờ là tìm cái dễ thôi.
Hôm nay con xin thú thật với đại chúng, con là chuyên môn tìm cái khó, con đường đó con để cho khó đi như vậy đó, ai lên thì lên, không lên thì thôi, con thật sự là tìm cái khó. Mình cứ tìm cái dễ thì mai mốt cái khó mình không làm được, mình nhiếp phục được những cái khó, thì sau này không có cái gì khó với mình hết, không có cái gì trên đời là khó với mình nữa. Cho nên, khi con nói làm cái gì, mà mấy thầy, mấy chú nói “thầy ơi, khó” là con buồn lắm. Cái tánh quen của mình là hễ có chuyện gì đó mình đưa ra, là ở bên trong nó suy nghĩ ngược lại, ngộ vậy đó, có thấy điều đó không? Ý hành của mình quen như vậy, nó không có tùy thuận với pháp.
Thí dụ trời nóng thì mình muốn gắn máy lạnh, mình lên chỗ lạnh thì mình nói sao? Hôm trước mình học bài kinh “Thi Ca La Việt” đó: “lạnh quá tu không được, nóng quá tu không được, đói quá tu không được, no quá tu không được”, nó nghĩ ngược như vậy không à, mà không nghĩ thuận theo pháp. Nếu mình nghĩ “lạnh là cơ hội mình nhiếp phục cảm thọ, nóng là cơ hội để mình rèn luyện, mệt là cơ hội để mình chiến thắng” thấy không? Nghĩ như vậy là mình thuận theo pháp, và mình có cơ hội trưởng thành, lớn mạnh, hưng thịnh ở trong pháp luật. Cứ gặp hoàn cảnh càng khó thì mình càng phải chinh phục nó, bước qua nó, đạp đổ lên nó để mà đi, thì mình sẽ trở thành sức mạnh. Mình nhìn đi, thái tử Tất-đạt-đa tu như thế nào? Mà bây giờ mình toàn đòi dễ không à, khó chút là không chịu, ăn thiếu một chút cũng không chịu, ngủ thiếu một chút cũng bực bội, phiền não. Cứ tìm cái gì đó cho nó thuận với cái ái của mình, thì làm sao nó tăng thượng được? Sao mình hướng thượng được? Phải gặp nghịch cảnh, phải gặp những điều bất như ý, trái ý nghịch lòng với mình, mà mình coi nó nhẹ như lông hồng, mình coi nó là cơ hội để rèn luyện thân tâm của mình.
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói.
Chư Tỷ-kheo, các Người phải học tập như vậy”.
Hôm qua con có nói, cái này là xuyên suốt trong cả tạng kinh Nikāya. Bài đầu tiên mình học Đức Thế Tôn còn thờ pháp nữa, mình nhớ không? Bài kinh “Kinh Cung Kính” mình học đó. Tại sao mình thành dễ nói? Vì tôn trọng pháp chứ không nghĩ là “ừ cái đó là thầy, cái đó là sư huynh, sư tỷ ăn hiếp tôi”, không phải. Vì tôn kính pháp, chứ không có ai ở đây hết, để cho mình thành tựu pháp, mình phải nhiếp phục những cảm thọ này. Mình mà cứ nhìn thấy là thầy, là cô, là sư phụ, người lớn kia, người này, người nọ, đối xử với mình như vậy, là không bao giờ mình tu tiến được hết. Chỉ có pháp mà thôi, không có thấy người, không thấy ai hết, mà chỉ có pháp. Vì mình tôn kính pháp, mình nhiếp phục cảm thọ này. Vì tôn sùng pháp, mình vượt qua cảm xúc này. Vì mình tôn thờ pháp, mình phải chinh phục được cái cảm xúc này, hóa giải, giải phá, giải phóng, giải thoát cảm giác sân hận, hơn thua, ta đây, bản ngã này. Vì pháp, vì thành tựu Chánh Pháp tối thượng này, đó ta gọi là Tỷ-kheo dễ nói, đây là bí kíp của Chánh Pháp. Hay lắm, tuyệt vời lắm, tối thượng lắm.
Khi mình luôn luôn suy nghĩ, cho nên “Chư Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ, chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp, chúng ta sẽ trở thành người dễ nói”. Như vậy thì dẫu cho mình có ngồi đau, mỏi mệt, tê chân, ngồi thiền buồn ngủ, mình vẫn đánh đuổi, vẫn thành tựu được. Vì mình tôn kính pháp, mình muốn thành tựu pháp, cho nên mình không khó nói, không chống cự, không sân hận với các bậc đồng Phạm hạnh. Mình không chống đối với các vị quản chúng, các bậc trưởng thượng, tôn trưởng. Mình có thành tựu pháp, vì tôn sùng pháp, cung kính pháp, chứ không phải vì ai hết, “vì làm cho ông thầy vui” không phải, vì thành tựu pháp.
“Thầy vui thì có được gì đâu, cô vui có được gì đâu”, thành tựu pháp mới được liên hệ đến mục đích cứu cánh của đời sống Phạm hạnh, tuyệt vời lắm. Tất cả những cái này là vì pháp, không có cái nào đi ra ngoài pháp hết. Mình không có sân hận, mình nhiếp phục được cảm giác sân hận cũng vì pháp, vì mình thành tựu được pháp tâm từ bi. Mình phải nhiếp phục, giải phá cảm thọ này, mình phải thành tựu tâm từ bi, mình mới thành tựu được Thánh trí huệ. Cho nên mình phải phá vỡ cái thân kiến, chấp ngã này, vì thành tựu pháp.
Chỉ có thành tựu pháp, mình mới giúp, mới báo ơn hết tất cả. Không thành tựu pháp thì mình làm cái gì đi nữa, nhiều khi càng làm thì càng xảy ra khổ thêm, tai họa thêm, càng thảm hại, thảm bại thêm. Làm trong vô minh, trong dục, trong sân hận, đó gọi là thương, thương nhưng mà làm hại nhau. Nói thương người này, người kia sân, nói xấu kia, người này sân, có thương người đâu, hại nhau chứ có thương gì đâu, cái đó Đức Thế Tôn gọi là “không xứng đáng”, cho nên câu này mình phải học thuộc lòng.
“Chúng ta cùng nhau đọc lại nha”
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói.
Chư Tỷ-kheo, các Người phải học tập như vậy”.
VII. Năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu:
Tiếp theo, chúng ta sẽ bước qua năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu trong bài kinh này. Năm loại ngôn ngữ này là cái cực kỳ quan trọng.
“Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Người có thể dùng khi nói với các người khác:
-Thứ nhất: Đúng thời hay phi thời, (đúng lúc hay là không đúng lúc)
-Thứ hai: Chơn thực hay không chơn thực, (lời nói đó chân thật hay là không chân thật)
- Thứ ba: Nhu nhuyến hay thô bạo, (lời nói đó nhu nhuyến, mềm mại hay là lời nói đó thô bỉ)
- Thứ tư: Lời nói có lợi ích hay không lợi ích,
- Thứ năm: Nói với từ tâm hay với sân tâm”.
Cái này phải có trí tuệ, học thuộc lòng xong rồi mình chiêm nghiệm, mình phải có sự quán xét, khi mình nói lời nói đó đúng lúc hay không đúng lúc? Cái này quan trọng. Mình coi thời điểm đó là đúng không và phù hợp không để mình nói. Chứ không phải muốn nói là nhào lên nói, nói trong dục nói, trong vô minh, muốn nói là nói. Phải xem thời điểm đó, trong lúc đó, với người đó, trong hoàn cảnh đó phù hợp để mình nói điều đó hay không? Cho nên cái này không có Niệm Định Tuệ thì làm sao mình biết là đúng lúc hay không đúng lúc? Đúng thời hay là phi thời? Nhiều người cứ tưởng là lòng tốt, nhưng nói ra thì cuối cùng nhận kết quả là xấu. Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn có hại nữa, tại vì sao? Vì nói không đúng thời, không đúng lúc.
Thí dụ như người này mình biết cái bản ngã họ cao, giữa chỗ đông người mà mình nói lỗi người ta ra, thì lúc đó là đúng thời hay không đúng thời? Đương nhiên là dẫu cho mình nói đúng lỗi, nhưng người ta không nhận, người ta sân hận lên, thì cái đó là nói không đúng thời. Dù cho mình nói bằng từ tâm, mình muốn xây dựng, đóng góp cho người đó tốt, nhưng vì bản ngã họ cao, mà ở giữa chỗ đông người mà nói cái xấu của họ, tuy rằng đúng, chính xác, nhưng họ cũng không chấp nhận, vì nói không đúng lúc, có muốn nói thì nói riêng.
Cho nên chữ “đúng thời hay phi thời” này rất nhiều khía cạnh. Hoàn cảnh đó, con người đó, thời điểm đó, trường hợp đó, thì mới nói chuyện đó, tức là trước khi mình nói mình phải quán xét. Còn thấy khổ, vô minh, dục, sân mà mình muốn nói, thì mình cứ nói bất kể, không biết thời điểm, không cần biết quán chiếu, quán xét gì, trong này thúc giục là mình nói. Chúng ta lâu lâu có bị cái này không? Là mình không quán xét, nó muốn nói là mình nói.
Thứ hai là “chân thật hay là không chân thật”. Khi mình nói lời đó, mình xem nó có phải là sự thật hay không? Hay là mình chỉ nghe người ta nói, rồi mình nói lại. Nếu mình chỉ nghe người ta nói rồi mình nói lại, mà lời nói đó không phải là chân thật, thì mình thành nói dối. Cho nên khi nói về ai là hết sức cẩn thận, nếu mình nói pháp thì nó còn dễ, mà nói về khuyết điểm của người nào đó, thì cái này phải hết sức cẩn thận. Mình nói sai, nói trật, nói không đúng, là mình tội. Rồi mình lây dịch bệnh của sự sai lầm, sân hận đó cho một người nghe, mà người nghe này họ nghe xong rồi họ đi nói nữa chứ đâu phải họ im đâu. Thành ra bệnh này cũng tương đối là khá nặng, bệnh này hết sức nặng, nên phải nói chân thật, phải đúng sự thật, hết sức cẩn thận đối với chuyện phải quấy của người khác, mình không tu được là cũng tại vụ này.
“Nói lời cho nó nhu nhuyến, mềm mại hay là lời thô bạo”, từ khi con nhập thất để tập phương pháp nhiếp phục bản ngã, con thấy lời nói của con cũng có mềm lại chút xíu. Ngày xưa con đâu có xưng là “con” đâu, mình phải tập thôi, mỗi một pháp mình phải tập, con thấy dạo này hình như mọi người cũng có thương con hơn chút đỉnh. Lời nói của mình nó nhu nhuyến, mềm mại một chút, còn lời nói của mình thô bạo, nó nặng nề, thì người ta nghe, người ta thấy nó mệt lắm.
Thí dụ chị em làm việc chung với nhau trong bếp, ví dụ người ta lỡ để dư bột ngọt, muối, dầu, đường hay gì đó, thì mình nói nhẹ nhàng thôi. Chứ mình la cho một trận, là người ta đi lùi, phải không? Hay là bất cứ trong công việc gì cũng vậy, nói lời nhẹ nhàng. Cũng lời nói đó, mà nhiều khi người ta thấm, người ta nghe hơn. Còn mình nói lời kia thì nhiều khi người ta sân, dẫu cho nói đúng, nhưng mà nó thô bạo, làm người ta sân, người ta không nghe, người ta chống đối lại, mà người ta chống lại thì thì khỏe hay mệt? Riết rồi người ta bỏ cho mình làm một mình, mà vụ này nhiều không ta? Nhiều khi cũng ngộ, có người “việc này tôi làm một mình à, đừng ai vô hết trơn, tôi thích làm một mình tôi à”, đó không phải người tu, đó đâu thành Tăng đoàn đâu.
Nếu lời nói không nhu nhuyến, lời nói thô bạo, lời nói không dễ thương thì tập lời nói mềm mại, nhẹ nhàng lại, nhưng mà cũng đừng quá sự thật, không thôi ngọt quá người ta nghe người ta cũng nghe rợn người lắm. Phải chân thật, mà nó nhu nhuyến, nhẹ nhàng, chứ không phải mình làm cho nó ngọt quá xá ngọt, nó không có tự nhiên, nó ra mình làm quá. Nhưng nếu như mình có tật là lời nói thô bạo, thì thà mình chọn cái ngọt ngào (ngọt quá ta cho một miếng nước sôi vô để pha cho nó loãng, cũng không sao). Còn cái nặng nề là khổ lắm, nó chua chát, nó cay đắng những cảm thọ.
Nên mình tu, mình học trong kinh Đức Phật dạy hay lắm: “Người chỉ thuần đưa một cảm thật ngọt ngào, nhẹ nhàng, hoan hỷ cho người ta. Sau khi chết, sanh ở một thế giới toàn là cảm thọ nhẹ nhàng, ngọt ngào.
Người mà phân nửa ngọt ngào, phân nửa đau khổ, hành hạ người ta. Thì người đó đời sau, sống cả trong một thế giới phân nửa cảm giác ngọt ngào, phân nửa cảm giác đau khổ, hành hạ.
Con người mà đi đến đâu cũng đem đến cảm giác đau khổ, cực khổ, thống khổ, khốc liệt, kịch liệt cho người ta. Thì đời sau sanh ra ở trong thế giới toàn bộ, tất cả cảm giác người này chịu đựng là khốc liệt, kịch liệt, đau khổ, thống khổ”. Cái nhân quả này mình thấy hay lắm, nó rất là rõ. Đức Phật nói “ba cảnh giới của sự thọ sanh là do cảm thọ mình lan tỏa cho người chung quanh”. Do vậy, mình nên có lời nói nhu nhuyến, không thô bạo.
Đại chúng mình về đây ở, thấy có nhu nhuyến, nhẹ nhàng không? Đừng ai sử dụng lời thô bạo, nói nhức đầu, nhức óc, nặng đầu, nặng cổ lắm. Nói người ta bỏ cơm, ăn không được, về bệnh, khổ lắm, đừng nói những lời như vậy, phải tu tập lời nói.
“Nói lời có lợi ích, đừng nói lời không lợi ích” đây là nói lời gì? Trong bốn giới miệng của mình thì gọi là “lời nói phù phiếm”, nói thao thao, nói hoài mà không lời nói nào có lợi ích hết, nhiều khi có hại nữa. Nói là nói pháp, nói sự thực tập ở trong pháp, đừng có nói lời vô ích, nói lời có ích, nói lời lợi lạc. Thí dụ mình biết người đó hay nói lời phù phiếm, họ đến nói chuyện với mình thì giả bộ hỏi “bài kinh này chị có thuộc không? Em quên bài này rồi”. Khi chị đó đọc bài kinh đó xong rồi mình hỏi tiếp “bài kinh đó chị giải thích dùm em đi”, tự nhiên người ta hết nói phù phiếm, nói xong bài kinh đó thì mình xin chào. Mình lái người ta qua chỗ khác, phải không? Đây là nghệ thuật khi nói chuyện đó.
Mình thấy họ bắt đầu quẹo qua một đường hiểm, đường tối, thì mình lái họ lại “bữa nay em có học cái bài kinh Ví dụ Cái Cưa, mà có câu này em không hiểu, không biết năm lời nói trong đó là sao hết”, thí dụ vậy đó, hay là câu chuyện nào đó, trong bài kinh nào đó, mình lái qua. Cái tâm chúng sanh dễ bị lái lắm, mình có tu là mình điều khiển được cái tâm. Có sự Niệm Định Tuệ là mình điều khiển tâm của người khác, mà người đó hoàn toàn không biết gì hết. Tại vì người đó trong vô minh, còn mình có Chánh niệm tỉnh giác, mình có thể điều khiển được tâm của người. Còn mình không có Chánh niệm tỉnh giác, thì người ta điều khiển tâm của mình. Mình có trí huệ thì mình điều khiển tâm người, còn mình không có trí huệ thì họ điều khiển tâm mình. Mà cùng có trí huệ với nhau hết là đi vào trong pháp, cho nên mình thấy họ đưa qua cái này, cái kia, thì mình lái họ đi vào pháp nó đỡ hơn, cái này là bí kíp võ công, cái này hay lắm, tu tập lời nói hay lắm.
“Với từ tâm hay với sân tâm”, khi mình nói chuyện là mình nói với cái tâm vì thương người đó hay là mình nói vì tức giận? Cái này quan trọng. Nếu mà sân tâm, thì mình đừng nói, vì mình nói chắc chắn không có kết quả tốt, dẫu cho mình muốn nói lời đó tốt, nhưng với tâm sân thì lời nói đó trở thành không tốt. Thành ra nếu khi sân, khi giận, thì đừng nói, đừng làm gì hết. Khi giận thì đi ra bụi trúc, ra tảng đá nào đó, kiếm gốc cây nào đó, ra đó ngồi, giải phá hết cảm giác sân. Chừng nào lắng dịu, an tịnh hoàn toàn, trải tâm từ hết rồi, lúc đó nói chuyện sau, còn có tâm sân thì đừng nên nói. “Cái này dễ hay khó, con thưa thầy Pháp An?”.
Khi cái tâm mình đang sân, mà để mình im im là cũng khó, chứ không phải dễ đâu. Mình chiến thắng được khẩu hành của mình, trong khi mình đang sân, đừng cho nó nói.
“Chư Tỷ-kheo, khi nói với người khác các vị có thể nói đúng thời hay phi thời. Khi nói với người khác các vị có thể nói với lời chân thật hay không chân thật. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời nhu nhuyến hay lời thô bạo. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời từ tâm hay nói với lời sân tâm”
VIII. Tâm từ:
Tiếp theo bài kinh, “chúng ta cùng đọc đoạn này”
“Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Người cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
Chư Tỷ-kheo, như vậy các Người cần phải học tập”.
Tuyệt vời lắm, chúng ta lạy Phật lúc khuya cần phải đọc đoạn này, trong đây con thích nhất câu này “chúng ta sẽ sống bao phủ người này, với tâm câu hữu với từ (cùng chung lòng từ)” câu này hay lắm, phải làm đề mục tu. Chúng ta phải giữ tâm của mình đừng bị biến đổi, ô nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, xót thương với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Nhắc mình, niệm câu đó nhắc mình, đó là tác ý, mình phải sống như vậy, mình phải sống với lòng lân mẫn, mình phải sống với tâm từ bi.
Mình phải không sống với tâm sân hận, mình sống bao phủ người này với tâm cùng chung từ bi, với tâm cùng chung tình thương, chúng ta sẽ sống bao phủ người này. Người làm cho mình giận, người làm hận, làm cho mình tức đó, mình tác ý “mình phải sống cho tình thương của mình lan tỏa hết con người của mình, rồi lan tỏa qua người kia, rồi nó bao bọc người kia bằng tâm từ của mình”, thì mình thấy giống như mình lấy một cái mền thật ấm, thật đẹp, thật thơm, mình trùm lên, khoác lên người của người đó. Hay mình lấy một tấm vải thật đẹp, mình phủ lên từ đầu đến chân người đó, thì lòng từ của mình giống như tấm vải, giống như cái mền đó vậy. Mình bao trùm người đó bằng tâm từ, bằng tình thương của mình, để mình hóa giải cái sân hận, sống bao phủ người đó, đây mới gọi là bậc đại nhân (người lớn) có tâm lượng lớn. Phải bao phủ được người kia, người làm cho mình giận, người làm cho mình tức, người làm cho mình khổ đau, phải bao bọc, che chở, bao phủ họ bằng tình thương, bằng lòng từ.
Người này chính là đối tượng tu tập của mình, chứ bây giờ không còn là hình ở trên Chánh Điện nữa, mà đối tượng tu tập của mình chính là người làm cho mình sân hận, bực bội, trải lòng từ, cảm thông, tha thứ, tình thương đến họ. Thương họ cũng giống như là thương mình, mình đã đau khổ như thế nào, thì họ cũng đau khổ như thế ấy. Mình bị thiêu đốt như thế nào, họ cũng bị thiêu đốt như thế ấy. Bao nhiêu nước mắt mình tuôn xuống, thì nước mắt của họ cũng tuôn xuống như thế ấy. Lấy mình hiểu được người khác “tương tâm tỷ tâm”, đem cái tâm để so sánh với cái tâm. Lòng mình nhủ lòng mình “hãy sống với tình thương, hãy sống với tâm bi mẫn, hãy sống với tâm từ, hãy sống bao phủ người kia, người đang đau khổ, người đang sân hận, người đang bị thiêu đốt. Phải bao phủ, phải lan tỏa, bao trùm, che chở, bảo bọc họ bằng tâm từ, bằng tình thương”
Mình quán tâm từ thường xuyên, như ngày hôm qua chúng ta học “Quán Tâm Từ”. Phải sống biến mãn cùng khắp thế giới này, cái tâm mình cùng chung với lòng từ đó, quảng đại, vô biên, rộng lớn, không có bờ mé gì hết, không hận, không sân. Tất cả núi đồi, tường vách, tâm tư của mình đi xuyên qua hết tất cả, tung nóc nhà nó đi lên chín tầng mây, tâm từ của mình khi mình trải tại, xuyên thủng qua hết tất cả các chướng ngại vật.
Bài “Trải Tâm Từ” trong khóa tu Nikāya bây giờ mấy chú chưa có dựng ra nữa, mình trải tâm từ mười phương ngay ở phía trước. Phải xuyên thủng qua hết tất cả chướng ngại vật, để tâm từ mình bung ra mười phương, vô lượng, vô biên, không bờ, không mé. Hay lắm, tu tâm từ này đã lắm, sung sướng, hạnh phúc lắm. Mình ngồi đó mình thấy nó dào dạt, tình thương mình bao la. Những người làm hại mình, mình ngồi, mình mỉm cười, thương xót, bi mẫn, mình không sân, sống bao phủ họ với tâm từ. Ví dụ tấm vải đẹp nhất trên thế giới, mình đem phủ lên người họ, mình quán chiếu tâm từ mình giống như vậy.
Đức Phật nói nhiều ví dụ hay lắm, những ví dụ tuyệt diệu vô cùng, nghe đến đây cảm động, cảm xúc, xúc động, rung động.
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm xẻng và thúng, nói như sau: “Tôi sẽ làm cho đất lớn này không thành đất nữa”, và người ấy đào chỗ này chỗ kia, rải đất chỗ này chỗ kia, nhổ nước miếng chỗ này chỗ kia, đi tiểu tiện chỗ này chỗ kia, với ý nghĩ: “Ngươi trở thành không phải đất, Ngươi trở thành không phải đất”.
Chư Tỷ-kheo, nghĩ thế nào? Người ấy có thể làm cho đất lớn này trở thành không phải đất chăng?
– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì đất lớn này thâm sâu và vô lượng, không dễ gì khiến cho đất lớn này trở thành không phải đất, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại”.
Đất lớn (đại địa) này là thâm sâu vô lượng, làm sao một cái người cầm cái xẻng, cái thúng mà đòi xới những đất này lên, làm cho đất này không phải là đất. Tu tập tâm từ bằng sức mạnh kiên trú, vững chắc giống như đại địa, như đất lớn, địa cầu, mặt đất bao la. Lòng từ của mình, hàng ngày thực tập tâm từ của mình, thành đại địa, căn cứ địa, tâm từ của mình là trái đất. Mỗi khi con trải tâm từ là con trải, con quán chiếu tâm từ của con bao bọc hết quả địa cầu này, con trải tâm từ ra, mình trải rộng ra, thấm nhuần, thấm đượm cùng khắp tất cả. Làm sao mà người cầm cuốc, xẻng có thể làm cho mặt đất này không thể là đất được? Cái tâm từ của mình không thể nào có một ai làm mất tâm từ của mình được.
Bất cứ một người nào trên thế giới này, họ nhổ nước miếng chỗ này, nhổ nước miếng chỗ kia, họ tiểu tiện, đại tiện như vậy, phân, nước tiểu như vậy, họ muốn làm cho mặt đất này không còn là mặt đất, không thể được, đại địa vẫn là đại địa. Tu tâm từ đến mức độ như vậy đó, thành căn cứ địa, thành địa cầu, trái đất, thành mặt đất lớn lao. Thật là tuyệt vời bao la tâm từ này, rộng lớn tâm từ này, thật là vững chắc, kiên trú, tình thương này. Vô lượng, vô biên, vô tận, bao phủ, bao bọc, trùm khắp lòng bi mẫn, xót thương tự thân mình và chúng hữu tình. Tất cả chúng sanh luôn luôn dào dạt, bao la, biến mãn, trùm khắp.
Hãy ngồi lên tảng đá, hãy bước lên đỉnh núi, hãy trải tâm từ rộng khắp mười phương, hãy đi thong dong một mình giữa núi rừng này, hãy nhìn thấy tâm từ biến mãn, đại ngàn mỗi ngày.
“Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Người cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
Trong bài kinh này, Đức Thế Tôn nói lập tới lập lui năm lời nói này, rất nhiều lần, là điệp khúc, là liên khúc về năm cách nói chuyện này, trong bài kinh.
Chúng ta đến ví dụ tiếp theo:
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm màu sơn, màu vàng, màu xanh sẫm hay màu đỏ tía. Người ấy có thể nói như sau: “Ta sẽ viết các hình sắc trên hư không này. Ta sẽ làm cho các hình sắc hiển hiện”. Các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể viết các hình sắc trên hư không và làm cho các hình sắc hiển hiện được không?
– Bạch Thế Tôn, không thể được. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, hư không là vô sắc, không thể thấy được. Ở đây, không dễ gì viết các hình sắc và làm hình sắc hiển hiện, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại”.
Tâm từ của chúng ta giống như hư không rộng lớn, bao la, vô sắc. Những người đến làm cho mình sân hận, giống như những người cầm thùng sơn và cây cọ, muốn quét lên, muốn tô màu lên hư không, viết chữ lên hư không, điều đó không thể được. Tu tập tâm từ thành hư không bao la, rộng lớn, vô biên. Tu tập tâm từ giống như hư không, để những lời chỉ trích, hành động, những sự sân hận đến với mình không thể nào tô vẽ lên trong hư không này được. Luyện tâm từ, tu tâm từ, tập tâm từ, trải tâm từ như hư không bao la, rộng lớn, thênh thang, vô lượng, vô tận, mỗi ngày phải thực tập.
Hư không bao bọc, trùm khắp, bao trùm hết tất cả. Hư không nói rằng “tôi chứa cái này, cái kia nhưng tôi không có chứa. Người này tôi chứa, người kia tôi không chứa” không có, hư không chứa đựng tất cả. Tâm từ mình cũng vậy, bao bọc trùm phủ, dung chứa hết tất cả, không ai phá được tâm từ của mình, không ai có thể làm biến đổi tâm từ của mình, người sân hận chỉ bị mệt nhoài và thất bại. Đức Phật tiếp tục nhắc lại năm lời nói đó, mỗi một ví dụ xong Đức Phật sẽ nhắc lại năm lời nói đó, không hận, không sân.
“Những ví dụ hết sức đặc biệt”
Ví dụ tiếp theo:
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm một bó cỏ khô đang cháy và nói như sau: “Ta với bó cỏ khô đang cháy này sẽ hâm nóng và đun sôi sông Hằng này”.
Chúng ta có người đi qua Ấn Độ và nhìn thấy Hằng hà rồi đó, bây giờ có người cầm bó đuốc đi lại bên dòng sông rồi họ nói ta đun sôi, hâm nóng dòng sông này có được không?
Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, với bỏ cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được không?”
“– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì sông Hằng thâm sâu và vô lượng, không dễ gì với bó cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được, trước khi người ấy mệt nhoài và bị thất bại”.
Tu tập tâm từ giống như dòng sông, giống như sông Hằng, giống như biển cả. Với một tâm sân hận nhỏ xíu giống như một bó đuốc như vậy, giống như bó cỏ khô như vậy, thì làm sao đốt được dòng sông tâm từ sâu rộng, mênh mông đó. Phải tu tập tâm từ như đại địa, như hư không, như dòng sông.
Có cô chia sẻ khi cô làm dâu ở xa xứ, cô gặp những điều bất như ý, đau khổ tích tụ ở trong lòng lâu ngày thành một khối sân hận khủng khiếp, cổ đau khổ cùng cực. Cổ mới nhớ lại ngày xưa cô tắm trên dòng sông quê hương của mình (dòng sông Đồng Nai), cô quán chiếu dòng sông đó là dòng sông của tâm từ, thật mát mẻ, thật ngọt ngào, thật thoải mái, cô lội trong dòng sông đó. Cô quán tâm từ để hoá giải sân hận, và cuối cùng cổ thành công. Cho nên, những hình ảnh này toàn là các phương pháp cho mình quán, những ví dụ Đức Phật đưa ra là những pháp quán. Dòng sông quê hương mà mình đã bơi lội trong đó, mình đã tung tăng trong đó, mình đã ngâm mình ở trong đó, ngọt ngào, mát mẻ, thoải mái, bình an.
Mình phải quán chiếu mình như một dòng sông, “thì với một người sân đến nói mấy câu, hay là ánh mắt nhìn, hành động chút xíu, giống như cầm bó đuốc, mấy cọng cỏ khô hay mấy tàu lá dừa như vậy, thì làm sao đốt được biển Vũng Tàu”. Mình quán chiến như vậy sẽ hóa giải được, mình dùng nước của biển Vũng Tàu, nước sông Hằng, nước dòng sông quê hương của mình, mình dập tắt dễ dàng, thật dễ dàng, không có tốn bao nhiêu công sức hết. Mình tắm trong dòng sông, mình bơi lội tung tăng trong dòng sông từ bi, từ tâm đó, mát mẻ, dịu hiền “thật là mát mẻ, thật là ngọt ngào, thật là thoải mái”.
Vừa rồi con đi về quê, đi ngang dòng sông con từng tắm lội dưới đó và có những lúc gần như chết hụt trong đó, hồi xưa đi ngang nhìn thấy nó rất là lớn, bây giờ nhìn thấy nó nhỏ bé. Khi mình thấy các dòng sông đó, thấy biển cả, đại dương, dòng sông quê hương, mình phải tu tập tâm từ của mình giống như dòng sông tươi mát, ngọt ngào. Mình đi đến đâu là mát mẻ đến đó, những người gần mình dễ chịu, thoải mái.
Mấy cái này đều là thiền quán nên phải nói từ từ, để cho mọi người tự quán chiếu là nó tuyệt vời lắm. Nãy giờ chúng ta hình ảnh phải không? Đợi để thâm sâu, vô lượng, hư không, rộng lớn vô biên, dòng sông mát mẻ, ngọt ngào, đó là những hình ảnh của tâm từ, của tình thương.
Xin mời đại chúng an trú tâm từ của mình vào ba hình ảnh trên hoặc chọn một trong ba, luôn luôn, liên tục suốt ngày nay cho tới ngày mai, an trú trong dòng sông từ bi đó, trong mặt đất từ tâm đó, ngọt ngào, mát mẻ, dễ chịu, an lạc.
Thật là tuyệt vời tâm từ này, tình thương này “ta nhất định ta nguyện không làm đau khổ cho nhau, không đốt cháy lẫn nhau, làm cho nhau mát mẻ, tươi tắn, thoải mái, hòa thuận khi sống chung với nhau”. Những dòng sông Hằng đang có mặt ở tại Linh Quy Pháp Ấn. Mỗi một trái tim ở đây là một dòng sông, dòng sông của tình thương, dòng sông của sự bi mẫn, dòng sông của sự cảm thông. Dòng sông Hằng đang chảy tại Linh Quy Pháp Ấn này, để cho chúng sanh đang nhiệt não, nóng bứt, khát khao, được tắm, được gội, được uống, được mát mẻ.
Thật là mát mẻ khi mọi người đến gần dòng sông tại Linh Quy Pháp Ấn này, đến đây không chỉ có núi, mà còn có sông, có biển, có trời, có tâm từ bao la của quý thầy, quý cô, quý Phật tử, có tình thương rộng lớn, mát dịu, ngọt ngào.
“Thật là những lời vi diệu thay, thưa tôn giả Gotama!” những lời của Đức Phật, những lời pháp của Thế Tôn, những ví dụ, những hình ảnh của Như Lai thật là vi diệu, thật là thù thắng. Để sau ba ngàn năm, chúng con vẫn còn tắm mát trong dòng sông Hằng này, dòng sông từ tâm của Thế Tôn, dòng sông từ bi của Như Lai. Dòng sông vi diệu, hi hữu, chảy xuyên suốt ba ngàn năm nay. Chúng con ngồi đây giống như đang được tắm, đang được bơi lội trong dòng sông từ ái thâm sâu, rộng lớn, vô lượng của Thế Tôn. Thật là ngọt ngào, thật là mát mẻ, thật là bình an. Con muốn tắm mãi trong dòng sông này của Như Lai.
Con muốn được bơi lội trong dòng sông của từ tâm, con muốn được tung tăng trong đại dương của sự bi mẫn này, để thấm đượm từng lỗ chân lông của con, và lòng từ bi của Như Lai, lòng từ bi của chúng con, từ tâm chúng con, bi mẫn của chúng con, khi thấu hiểu được dòng pháp thiêng liêng, vi diệu, cao thượng này. Hạnh phúc, thật là hạnh phúc cho chúng ta, thật là an lạc cho chúng ta, thật là mát mẻ cho chúng ta, đang tắm mình trong dòng Thánh thủy của đại bi.
Từng lỗ chân lông của chúng ta thấm đượm, rung cảm, chấn cảm, xúc cảm, chấn động, cảm xúc. Một cảm thọ từ bi, dào dạt, mênh mông, bao la, vi diệu này. Chúng ta đã từng tắm biết bao nhiêu dòng sông, tắm biết bao nhiêu biển cả (Nha Trang, Vũng Tàu, Phan Thiết). Tất cả những dòng sông, những biển cả đó, không thể so sánh được với dòng Thánh thủy này. Chúng ta đang được đắm mình trong dòng Thánh thủy của từ bi, mát mẻ không? Tươi thắm không? Dào dạt một tình thương của trí tuệ, của sự thấu hiểu, sự cảm thông nỗi khổ của mình và những người xung quanh, cảm thông muôn loài hữu tình đang đau khổ.
Cảm thông một người cha vì kiếm hai, ba triệu để đóng tiền học cho đứa con, bắt con rắn hổ mang chúa dài hai thước rưỡi mà nắm hoài, đưa vào bệnh viện cũng không buông ra, vì về bán có tiền đóng tiền học cho đứa con. Vì hai, ba triệu tiền học phí cho đứa con, phải đương đầu với rắn hổ mang chúa, bị cắn rồi, đưa vào trong bệnh viện vẫn cầm chặt con rắn, vì không có tiền lo cho con. Thật là đau khổ cho cuộc đời này, chúng sanh bị chìm sâu trong vô minh, trong tham ái. Bao nhiêu những dòng nước mắt, đau đớn, quằn quại, những nỗi khổ cùng khắp thế giới này.
Hãy tưới tẩm, hãy tu tập từ tâm, làm cho tâm từ này sung mãn, biến mãn cùng khắp, để vơi bớt nỗi khổ cuộc đời này, muôn ngàn vạn ức nỗi khổ đau đang có mặt. Nhà bị cuốn trôi, đang ngủ mất mạng, tài sản theo dòng thác lũ. Mới ngày hôm qua, hôm kia, có cô này đang chạy xe máy trên đường, chạy ngang đống rác đang đốt cháy, bất thình lình một tiếng nổ vang lên, cô này tức tưởi ngã ra chết ngay tại chỗ. Chết không biết tại vì sao mình chết? Trong đống rác đó có thể có đạn, có mìn thời chiến tranh còn sót lại. Thêm nữa, mới cách đây hai ba ngày thôi, có chú này đang đứng bên lề đường, có một chiếc xe tải mất thắng, tông vô chết ngay tại chỗ.
Vô số là những cái chết, từng giờ, từng phút đang diễn ra xung quanh chúng ta. Hãy trải tình thương, tâm từ của mình rộng lớn, hãy nỗ lực tu vào Thánh pháp này.
./.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tình cảm của người xuất gia: PAGEREF _Toc50295575 \h 1
II. Dục liên hệ đến thế tục: PAGEREF _Toc50295576 \h 4
III. Đạo tình: PAGEREF _Toc50295577 \h 8
IV. Từ bỏ bất thiện, nỗ lực với các thiện pháp: PAGEREF _Toc50295578 \h 11
V. Kiểm chứng sự tu tập: PAGEREF _Toc50295579 \h 13
VI. Tỷ kheo dễ nói: PAGEREF _Toc50295580 \h 17
VII. Năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu: PAGEREF _Toc50295581 \h 21
VIII. Tâm từ: PAGEREF _Toc50295582 \h 26
I. Tình cảm của người xuất gia:
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh “Kinh Ví Dụ Cái Cưa” bài kinh số 21, Trung Bộ Kinh.
Chúng ta nhớ ông Cấp Cô Độc đòi mua miếng vườn của thế tử Kỳ-đà, thái tử đâu có nghèo đâu mà cần bán. Thái tử nói đùa “chừng nào ông trải vàng hết khu vườn, lúc đó tôi mới bán”. Không ngờ ông Cấp Cô Độc làm thật, ông về mở kho vàng ra, cho xe bò chợ đến lót. Thế tử thì đâu nói đùa được, ông Cấp Cô Độc lót hết, thế tử rất bất ngờ, không biết Phật là ai mà ông Cấp Cô Độc lại tôn kính như vậy. Sau đó ông mới cúng cái cây, tại vì những cái cây đó vàng không trải lên được nên mình gọi là rừng Kỳ-đà, vườn ông Cấp Cô Độc.
Trong bài kinh, hiện Thế Tôn đang ở chỗ đó.
“Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc)”.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliyaphagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliyaphagguna liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliyaphagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”.
Đây là chỗ hôm trước con đã nói, cái này hết sức quan trọng. Chúng ta dễ rơi vào hai thái cực khi mình xuất gia. Một là sống vô tình, vô nghĩa, không còn biết tới ai nữa hết, sống rất ích kỷ, chỉ biết bản thân mình thôi “ẩn dương nương Phật”, lánh nặng tìm nhẹ, muốn có được một đời sống an ổn, trường hợp này nhiều. Ngay cả cha mẹ, thân quyến của mình, mình cũng bỏ mặc, mình lấy cớ là người tu, không thèm quan tâm. Đây là rơi vào thái cực vô tình, vô nghĩa, vong ơn, bội nghĩa.
Hai là khi mình vào chùa rồi, mình trở thành gắn kết tình thân, cái này cũng nhiều lắm “chị chị, em em, huynh huynh, đệ đệ”, trở thành một cái thường tình, phàm tình, mà cái tình này không đáng có. Nếu so với thiên luân của cha mẹ mình, thì cái tình này chẳng là gì hết. Thiên luân là luân lý tự nhiên, mà nhất định phải có trên cuộc đời này, đó là cha, mẹ, ông, bà, huyết thống của mình.
Thành ra từ ngày con xuất gia, con luôn luôn sợ cái này, tại vì con nhìn chung quanh hết sức là nhiều. Đây là trở thành gắn kết một cách thái quá, quá độ, liên hệ quá độ giữa Tăng và Ni. Mình mở rộng ra để mình thấy hai thái cực, một là vô tình vô nghĩa, một là thường tình của phàm phu. Rồi con thấy, nhiều khi người này dọn qua chùa khác ở, hay như thế nào đó, mà người kia khóc (cái này chắc mấy sư cô ở lâu trong chùa cũng thấy, cũng hiểu rất rõ phải không?) Đó là một sự thất bại. Mình không có trạch pháp, thất giác chi mình không có tu tập. Rồi phân nhóm ra, tệ hơn nữa là lập bè phái, đây là việc hết sức đau lòng. Đây là những điều không thể có đối với người xuất gia.
Cho nên, người xuất gia là Đạo tình nó vượt lên cái vô tình, vô nghĩa, và nó vượt lên thường tình của thế gian này. Nếu mà đi tu mà vô tình, vô nghĩa, thì đừng có đi tu, đi tu như vậy là tai họa. Nếu phải chọn, thà chọn có tình, có nghĩa, mà đời sau còn được làm người. Đạo tình là phải có trạch pháp nhãn (mắt pháp), mở ra mới thấy được thế nào là Đạo tình. Cái tình thương đó bằng từ tâm (chúng ta sẽ học), tình thương đó là sự thấy biết, về ngũ uẩn, tham, sân, si, lậu hoặc. Thấy được nỗi đau khổ của chính mình, và những người xung quanh mình, thì mới khởi lên tình thương, thì đó mới là Đạo tình.
Thấy được ngũ uẩn, thấy được tính chất vô thường, đau khổ, tan hoại của ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, thấy được vô minh, bản ngã. Thấy được những thứ đó làm đau khổ cho mình, đau khổ cho người, đau khổ cho hữu tình, chúng sanh. Mình khởi lên một lòng bi mẫn, dào dạt, cảm thông, vì mình cũng vậy. Thì tình thương đó mới gọi là Đạo tình. Thương để dìu dắt nhau cùng tu, thương để làm tăng trưởng thiện pháp của nhau, thương để cùng nhau đồng hành trên Thánh đạo, thương để hỗ trợ cùng nhau thể nhập Thánh trí, thương để đẩy nhau mau bước tới Thánh quả, đó mới gọi là Đạo tình, pháp lữ (bạn pháp).
Thành ra, chỗ này phải tu “Trạch pháp giác chi” mới nhìn thấy. Còn nếu không, một thời gian là nó thành thường tình. Rồi lại phát triển thêm vụ Sư bác, Sư thúc, Sư chú, Sư bà, Sư ông, Sư em, Sư chị, Sư anh… bày vẽ ra những thứ để nó buộc trong luân hồi nhiều hơn. Mình căn cứ trong kinh Nikāya có thấy trong này là có Sư chị, Sư anh, Sư em, Sư thúc, Sư bá gì không? Kêu bằng Hiền giả, kêu bằng Tôn giả, Tỳ-kheo, mình đừng có đi lệch. Thành ra chỗ này là chỗ hết sức khéo léo, phải tinh mắt, tinh trí, nhất là mình nhận diện được ngũ uẩn mình mới thấy đó là gì, nó là từ hay nó là ái.
Mình nhớ năm chữ “liên hệ đến mục đích”, tất cả những gì trong sinh hoạt, tu tập của mình, mà không liên hệ đến mục đích là phải đào thải, loại bỏ. Liên hệ đến những mục đích gì? Tăng trưởng giới hạnh, thiền định trí tuệ giải thoát, tri kiến giải thoát, nhiếp phục tham, sân, si và diệt tận các lậu hoặc, đó là mục đích, ngoài cái đó ra không có gì khác nữa hết. Còn bằng không, cái tâm hữu lậu này bày vẽ ra rất nhiều, mình bị sập bẫy ở trong đó, mình tự nguyện chết ở trong cái bẫy mình giăng ra.
Thực sự con thấy hết sức sợ, cái bẫy của một ngôi chùa, cái bẫy của một bằng cấp, học vị, cái bẫy của một địa vị ở trong chùa, cái bẫy của công việc, ở trong công việc mình đang làm, chính là bẫy nói giăng trong đó. Chỗ nào cũng có bẫy hết, bên phải, bên trái, trước mặt, sau lưng, chỗ nào cũng có gai hết, không cẩn thận là đạp gai. Mà cái gai đó êm ái mới chết, chứ không phải là cái gai đau, nhưng trong cái êm ái, ngọt ngào đó, thì cái đau đớn, nhức nhối, nó từ từ. Không phải đạp vô là nó đau liền, mà ở trên là nó trải nhung, trải thảm, còn ở dưới thì là lớp gai. Thành ra cái này là hết sức quan trọng, là kim chỉ nam đời tu của con, từ ngày xuất gia cho đến bây giờ. Lúc chưa học cái này, con đã cẩn trọng, đã nhìn thấy điều đó.
Tỷ, muội, huynh, đệ, thúc, bá, Sư chị, Sư em, Sư anh, Sư chú, Sư bác, rồi Sư má, Sư ba luôn. Rồi làm sao ra khỏi vòng tham ái, luyến ái đó?
II. Dục liên hệ đến thế tục:
Mình tiếp theo bài kinh. (Khi nghe chê người này là người kia giận lên, chê người kia là người này giận lên)
“Có một Tỷ-kheo khác đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliyaphagguna nói xấu các Tỷ-kheoni ấy, Tôn giả Moliyaphagguna liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliyaphagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay.
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.
Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo khác và bảo:
– Này Tỷ-kheo, hãy đi, nhân danh Ta, cho gọi Tỷ-kheo Moliyaphagguna: “Hiền giả Phagguna bậc Đạo Sư gọi Hiền giả”.
– Bạch Thế Tôn, vâng!
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Moliyaphagguna, khi đến xong, liền thưa Tôn giả Moliyaphagguna:
– Hiền giả Moliyaphagguna, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.
– Vâng, Hiền giả. Tỷ-kheo Moliyaphagguna vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.”
Đức phật không bao giờ kêu ai lên mà kết tội hết, Đức Phật đều hỏi phải sự việc đó không? Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng để chúng ta học. Chúng ta nghe người nào nói là mình kết tội đó liền, mình nghe ai mà nói rằng “người kia nói mình như vậy đó” là trong lòng phừng phừng lên, sân lên, gặp người kia mình sổ lên, chứ mình không bình tĩnh, mình gặp mà mình hỏi “phải vậy không?”, mà luôn nghe người ta nói. Cái này là mình học, lúc nào Đức Phật nghe một vị cư sĩ, hay một vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni trong tứ chúng nói về một vị nào đó như vậy, thì Đức Phật kêu cho mời “nói là bậc Đạo sư mời vị đó lên”. Khi lên tới chỗ, giáp mặt, thì Đức Phật hỏi sự việc đó như thế nào? Để chính người đó trình bày, sau đó Đức Phật mới hướng dẫn, dạy.
Điều này hết sức quan trọng, thực tế, để cho mình ứng dụng trong đời sống tu học của mình. Bảy mươi phần trăm mà mình phiền não, là mình không ứng dụng cái này, mình nghe người ta nói, rồi tự mình suy tưởng ra. Khi nghe “Thầy mới la chị đó” là mình “vậy hả?”. Rồi xong, buồn, mà không chịu lên hỏi “Thưa thầy, thầy có la con gì không? Con có sai chỗ nào thầy chỉ cho con”. Không cần lên hỏi gì hết, mà bắt đầu ở dưới thì buồn, sân giận, rồi phiền não lên. Người nói thì tâm ở trong vô minh, người nghe cũng trong tâm vô minh, sân hận. Huynh đệ cũng vậy “sư tử kia nói đệ, muội như vậy đó”, nghe xong là “vậy hả” là sân si lên. Mình không có Niệm, không có Định, không có Tuệ, thì tất cả khổ nằm ở chỗ đó. Phải bình tĩnh, nghe kỹ, rồi mình gặp người kia, mình thưa hỏi “phải là em có lỗi như vậy không? Sư tỷ chỉ dạy em”. Cái này mình chỉ cần xúc một cái thôi, là thọ mình bùng vỡ ra. Chỉ bấy nhiêu đây thôi là bớt khổ biết bao nhiêu, học một cái thôi. Đức Phật nói “hãy nhân danh ta đi mời Tỷ-kheo đó đến”, học trong kinh mình thấy, lúc nào cũng vậy.
Cái vụ nói qua nói lại là hết sức nguy hiểm, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong lời nói, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong khi nghe, không có Chánh niệm tỉnh giác ở trong các cảm xúc, cảm thọ, là mình chết, đau khổ dài dài, chết chìm, chết cháy, ngủ rồi đi luôn đó là ví dụ cho ba cái tham, sân, si. Chết chìm là cảm giác tham dục, chết cháy là cảm giác sân, còn cái chết mà ngủ một giấc rồi đi luôn, đang ngủ rồi bị lũ nó cuốn đi luôn, trôi nhà, người thì chết luôn, đó là chết trong si, chết trong ba cảm giác đó.
“Thế Tôn nói với Tôn giả Moliyaphagguna đang ngồi xuống một bên:
– Này Phagguna, có đúng sự thật không, như lời người ta đồn là Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Người ta đồn Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: “Nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Ông nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Ông liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Ông, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”.
Này Phagguna, có phải Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy?.
– Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Chúng ta thấy không? Ngày xưa đi tu sao chứng Thánh quả mau như vậy? Vì người ta chân thật lắm, có là nói có. Còn mình thì đâu có, bị hỏi là “Bạch Thế Tôn không có”. Bây giờ tu không chứng quả là như vậy đó, mới vừa nói chạm đến là “Dạ con không có, tại ông kia kìa”. Mà rõ ràng trách nhiệm của mình, mà hở là đổ cho người ta “Dạ không, con không có”. Cái tâm quanh co, bất chánh, không trung trực, không chính trực, không chân thật, không chân thành, thì làm sao thành tựu được chân pháp, chân trí. Mới vừa bị hỏi thôi, là trả lời liền “không phải, tại ông kia, tại cô kia”. Tất cả đều là không có sức Niệm Định Tuệ, không bình tĩnh để lắng nghe, nghe chưa hết câu, mới vừa bị nói thôi là nhảy lên, phản ứng ngay lập tức, không có tu tập, nhiếp phục cảm thọ.
Tỷ-kheo Phagguna bị hỏi là “Bạch Thế Tôn, dạ đúng có như vậy!”, cho nên những cái này phải học từng chút, từng chút. Phải nghiền ngẫm trong đó, chứ không phải đọc hết qua, đọc ro ro cho xong bài kinh, không phải. Học từng chút một thâm ý, pháp ở trong này.
“– Này Phagguna, có phải Ông là Thiện nam tử, vì lòng tin, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Con là một người thanh niên thiện tâm, con có lòng tin đối với Đức Thế Tôn, với giáo pháp với Tăng đoàn. Cho nên con bỏ gia đình, con sống một đời sống không có nhà)
– Này Phagguna, thật không xứng đáng cho Ông, một Thiện nam tử, vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mà sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.
Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”.
Chúng ta thấy không? “Những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy, suy nghĩ liên hệ đến thế tục, ông phải từ bỏ”. Tình thương của huynh đệ cùng chung một sư phụ, hay tình thương của Tăng phái cùng một chi nhánh, cùng một tu viện, cùng một ngôi chùa, cùng một thiền viện chẳng hạn. Đó là “dục liên hệ đến thế tục, tư duy liên hệ đến thế tục”.
“Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!”
Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy”.
Khi mình chưa đi xuất gia, mình đâu có thân với mấy huynh đệ đó đâu, mình đâu có biết mấy người đó. Mà mình thân với cha mẹ, anh chị em.
“Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến đổi, ô nhiễm, mong rằng ta sẽ không nói những lời ác, mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi, không ôm lòng sân hận, ông phải học tập như vậy”.
Theo lời Đức Phật nói, bước thứ nhất “khi nghe người ta nói xấu các Tỷ-kheo- ni ấy, thì ông phải từ bỏ những sự gọi là dục liên hệ đến thế tục (cái thường tình) và những suy nghĩ liên hệ đến thế tục của thường tình, là huynh, đệ, tỷ, muội”.
Bước thứ hai “nếu có ai trước mặt ông đánh các vị Tỷ-kheo-ni ấy, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục và những tư duy, suy nghĩ liên hệ đến thế tục”.
III. Đạo tình:
Như vậy thì Sư Tăng nào gặp Sư Ni bị người ta đánh là im re phải không? Người ta đánh thì kệ người ta đánh phải không? Hay là sao? Mình hiểu câu này như thế nào? Đây là chỗ trắc nghiệm đó. Đức Phật nói là “ông hãy từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”. Chứ Đức Phật không có nói rằng ông hãy để mặc cho người ta đánh, không phải, mình phải nhớ chỗ đó.
“Bỏ những ý niệm thường tình, phàm tình, phàm tục. Sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi”. Thấy chưa? Mình không học kỹ, mà mình đọc lướt qua thì mình hiểu trật lất hết. Tâm từ bi là mình có bảo vệ không? Có giúp đỡ, che chở không? Có. Nhưng mà không có những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục, đó là chỗ Đạo tình đó. Sự tương trợ, giúp đỡ, hỗ trợ, mà không bị dính mắc, ràng buộc ở trong ái dục thường tình của thế gian. Cần lúc giúp đỡ là giúp đỡ, bảo vệ, rồi là xong.
Có những bài kinh sau này chúng ta sẽ học, Đức Phật dạy các Tỷ-kheo “người ta có chửi mắng Như Lai, chửi mắng các thầy Tỷ-kheo, các ông không có được sân hận, tâm phải bình tĩnh, định tĩnh”, nó cũng y như vậy thôi.
“Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông nói xấu (ai), này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục”. Cái này là mở rộng ra, lúc nãy chỉ nói với các Tỷ-kheo-ni đó thôi, bây giờ bất cứ ai nói xấu, hay nói xấu ai, hoặc bất cứ gì.
“Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông lấy tay đánh, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục.
Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy”.
Mình thấy có những chuyện hết sức đau lòng, hai người đánh lộn với nhau, người kia vô can, mà người can này bị mất mạng. Thậm chí lúc đầu người này nhảy vô họ muốn can, nhưng một hồi họ sân luôn. Có những trường hợp đóng phim hành động, tới đoạn họ đánh lộn với nhau là đánh giả, nhưng vào thì đánh mạnh quá, họ nổi nóng lên, họ sân lên, họ đánh thật, rồi xảy ra thương vong, tai nạn, án mạng ngay trên phim trường. Tại sao vậy? Vì không làm chủ được cảm xúc, chỗ này cũng là quán thọ ở trên thọ.
Thí dụ mình nghe một người nào đó nói xấu huynh đệ của mình, mà người huynh đệ này mình rất mến, vì mình thấy người này rất hiền, rất tốt, nhưng mà có một người cư sĩ nọ lại nói xấu cô đó, thì lúc đó tâm mình sao? Tâm của mình sanh khởi cái gì? Khó chịu không? Cái khó chịu đó là dục liên hệ đến thế tục, tư duy liên hệ đến với tục. Tại vì mình nghĩ “người đó là muội của tôi, tỷ của tôi, bạn của tôi, bạn thân nhất của tôi”. Cái này mình bị nhiều không? Khi nào mình nghe người ta nói như vậy, chê như vậy mà mình vẫn an trú cảm giác toàn thân, Chánh niệm trước mặt, thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, đó mới gọi là mình có tu tập. Lúc đó mình có lòng bi mẫn, tâm từ đối với người đang nói, “cái này khó hay dễ vậy thầy Cảm Tuệ?”, khó là phải thực tập. Lúc đầu chỉ nghe nói xấu thôi, giờ là thấy bị đánh, ném bằng đất, bằng đá, đánh bằng gậy. Đây là những cấp độ sâu sắc của người xuất gia.
Thành ra, sự tu tập của mình về lời nói tới bốn giới hết sức quan trọng. Thật sự có những người, khi họ mở miệng ra mình thấy không khác gì những mũi tên có tẩm độc ghê gớm. Mình không có Chánh niệm tỉnh giác, thì mình nghe mình rất là nguy hiểm, mình bị tổn thương ngay lập tức. Còn nếu mình có Chánh niệm tỉnh giác, thì những lời nói của họ mình thấy mình run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ và mình muốn bỏ chạy. Những lời nói đó nó phát xuất từ một ác tâm, sân tâm, hại tâm, trong đó có tẩm độc ở đầu mũi tên. Những lời phát ra như vậy, thật sự đau khổ rất lâu dài cho những người như vậy.
Mình hết sức cẩn thận, mình phải mặc áo giáp bằng đồng, bằng sắt, khi nghe nói chuyện. “Không biết là đại chúng mình có gặp trường hợp này chưa? Có không? Nếu có thì giờ mình hạ quyết tâm, mình không rơi vào trường hợp đó”. Tại mình vô minh, mình sân, mình nói một hồi là vô đó mà mình không biết. Cái tâm mình sân hận lên, mình bực bội, mình giận ai lên, là mình dùng hết tất cả các ngôn ngữ. Lúc đó là ác khẩu, ác ngữ, ác nghiệp, phải chiêu cảm lấy quả báo, khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai.
Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn nhắc nhở rất nhiều lần là “mong rằng tâm của ta không bị biến đổi, ô nhiễm. Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác, mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không có ôm lòng sân hận”. Dù cho có nghe những lời xấu ác, chỉ trích, hay có thấy những cảnh đánh chửi, mắng, đập, đâm chém, phải lo quay trở lại nhiếp phục tâm của mình, sống với lòng từ, đừng có sân hận với người ta, phải an trú trong tâm từ.
Mình thấy có những trường hợp rất là thương, đúng ra làm mất một món đồ nhỏ thôi, nhưng mà dẫn đến mất mạng. Ví dụ như nhiều khi ăn cướp, ăn trộm vô nhà, mình thấy nó lấy món đồ. Thay vì mình thông minh, người không tiếc của, biết quý mạng sống của mình, thì mình cứ im re, mình giả bộ ngủ đi. Đằng này mình la lên, nhào lại, cuối cùng bị tai nạn. Có câu chuyện khác hết sức đau lòng mà một Phật tử kể lại: Trong một gia đình, cô này bị bệnh tai biến. Lần thứ nhất cổ được may mắn chữa được, tuy không được khỏe mạnh như người bình thường, nhưng còn đi lại được. Cô đó có một đứa con, nhưng nó là đứa con hư, tụ tập hút xì ke, ma túy. Mỗi lần nó về nhà là nó lấy tiền, lấy đồ đem đi bán. Tối hôm đó đứa con về, nó lục cái tủ của cổ, lúc đó cổ còn được năm trăm đô la Mỹ, lúc đó cổ đang nằm trên giường cổ thấy, cổ nhào tới giành lại. Nó hất cổ, nó giật lại, quăng mẹ nó ra một bên. Lúc đó cổ vừa xúc động mạnh, vừa tiếc của, nên cổ tai biến lần thứ hai, và nằm mười tám năm, vì năm trăm đô đó. Nếu như lúc đó cổ ngủ, hay là lúc đó cổ mặc kệ, thì không phải nằm mười tám năm như vậy.
Cho nên lòng tham, tiếc của hay là lòng sân, nó đưa mình tới rất là nhiều tai nạn, hiểm nguy. Đức Phật dạy mình đó “mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, tâm từ bi, không ôm lòng sân hận”.
IV. Từ bỏ bất thiện, nỗ lực với các thiện pháp:
Lời dạy tiếp theo của Đức Phật:
“Này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Người mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp luật này”.
“Hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp”. Chúng ta đang ngồi đây, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Sáng chúng ta thức khuya, dậy sớm, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta ngồi trên Bồ đoàn để chiến đấu với cơn buồn ngủ, là nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta cố gắng học thuộc các bài kinh, là đang nỗ lực đối với các thiện pháp. Chúng ta bụng đói mà vẫn ngồi nghe pháp hoan hỷ, hỷ lạc, tới chín, mười giờ trưa, ngồi năm, sáu tiếng tiếng đồng hồ, đó là chúng ta nỗ lực đối với các thiện pháp. Nhờ vậy mà chúng ta mới thành tựu, trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp và luật.
Thầy:“Hôm qua trà đạo pháp đàm chia tay tới mấy giờ?”. Dạ“Mười giờ”. Vậy chúng ta cũng là nỗ lực đối với các thiện pháp. Ngồi ở ngoài trời lạnh lẽo như vậy (ngồi ngoài sân) mà chúng ta đâu có thấy lạnh, tại vì chúng ta có thiện pháp. Những cảm thọ, những cảm giác, cảm xúc của thiện pháp đó của trí tuệ, an lạc, từ tâm, hòa hợp, cung kính với nhau, nó đánh bật hết những cảm giác lo lắng, sợ hãi, bệnh hoạn hay lạnh lẽo, đó là chúng ta vượt qua rất nhiều. Cho nên “này các Tỷ-kheo hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp”, nỗ lực, dốc sức, ra công. Như vậy thì “các vị sẽ thành tựu, sự trưởng thành, hưng thịnh lớn mạnh trong pháp luật này”, chúng ta đang trưởng thành, chúng ta đang hưng thịnh, chúng ta đang lớn mạnh trong pháp luật này.
Trong mỗi buổi nghe pháp, trong mỗi buổi ngồi thiền, trong mỗi buổi đọc kinh tạng Nikāya, trong mỗi cây chổi quét nhà, mỗi một lần rửa chén, mỗi buổi dọn lên từng món ăn cho đại chúng, tất cả những cái đó là đang lớn mạnh, trưởng thành, tăng trưởng, hưng thịnh, thành tựu trong thiện pháp. Phải vui thích trong tất cả sự tu học, như Đức Phật nói “hoan hỷ ngày đêm tu tập thiện pháp”. Mình làm gì mình cũng thấy vui, cái này là thiện pháp. Tác ý làm cho mình hoan hỷ, phấn khởi, vui sướng trong thiện pháp, chứ mình không tác ý là mình ngồi “trời ơi khổ, đói bụng, lạnh, mà sao bắt mình ngồi lâu dữ vậy” ở trong đó nó sanh khởi lên cái hành như vậy, rồi mình đi theo nó, là xong rồi. Trong ý hành đó nói đủ thứ, đủ kiểu, mà mình nghe theo nó là thiện pháp mình không tăng trưởng.
Cho nên chúng ta thấy, chúng ta nâng cấp không? Ngày xưa con giảng có một tiếng à, sau này con nâng lên một tiếng rưỡi, sau nâng lên hai tiếng, sau nâng lên ba tiếng, có bữa lên bốn tiếng, nghe pháp lên thành bốn tiếng. Mà càng ngày đại chúng càng hoan hỷ, hỷ lạc, hạnh phúc trong pháp, đó là sự hưng thịnh, trưởng thành, tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển. Bữa nào nâng quá lên mà các cô qụy tại chỗ, thì lúc đó là sanh thiên luôn, nhiều khi lên tới tịnh cư thiên luôn, Bất Lai Quả. Tại vì đang tới chỗ pháp thâm sâu, mà đi là đi thẳng luôn. Thành ra không có ngại đối với thiện pháp.
Đức Phật ví dụ “Cũng như gần một thôn làng hay thị trấn nhỏ, có khu rừng cây tala lớn, khu rừng bị các cây leo y lan bao phủ. Có một người đến khu rừng này, muốn lợi ích cho khu rừng, muốn hạnh phúc, muốn an ổn khỏi các ách phược cho ngôi rừng. Người ấy chặt đứt các nhành cây cong thiếu hẳn sinh lực, vất chúng ra khỏi khu rừng, dọn dẹp trong rừng sạch sẽ. Người ấy săn sóc kỹ lưỡng các nhánh cây tala thẳng thắn, khéo mọc. Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, ngôi rừng như vậy được trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Người hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Người mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp luật này”.
Tức là mình đang cắt và chặt những dây leo, mình đang mé những cành không sức sống, cong quẹo, xấu xí. Chặt đi để cho nó phát triển lên một rừng cây tươi đẹp, xanh mượt, cổ thụ. Cũng vậy, mình đang từ bỏ những ác bất thiện pháp, để tăng trưởng các thiện pháp.
V. Kiểm chứng sự tu tập:
Đức Phật đưa ra thêm một ví dụ, mà câu chuyện này rất nổi tiếng trong kinh Nikāya.
“Chư Tỷ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỷ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”.
Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận, chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!”
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta-làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali!
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ! Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
– Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: “Hôm nay Ngươi dậy trễ”, rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu.
Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!”.
Đức Phật lấy câu chuyện đó để nói với người tu chúng ta
“Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa.
Chư Tỷ-kheo, Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng như y áo, món ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khi vị ấy thành tựu được tánh dễ nói. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy khi không được các vật dụng như y áo, thức ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, không còn là dễ nói, không còn thành tựu tánh dễ nói”.
Chúng ta hiểu câu này chưa? Đức Phật nói “Chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói không có vừa lòng, xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là hiền hòa”. Thứ nhất Đức Phật nói người được tu mà gọi là hiền, mà khi không ai đụng chạm tới, thì chưa gọi là hiền. Mà khi bị chỉ trích, bị những lời nói xúc phạm, mạ lậy, mà Tỷ-kheo đó vẫn ôn hòa, vẫn hiền lành, vẫn nhu thuận, thì như vậy mới gọi được xem là người thực sự là hiền lành, ôn hòa, nhu thuận. Cũng giống như cô nữ chủ đó, khi bị chọc tức, bị những hành động trái ý, nghịch lòng, thì lúc đó mới biết được người đó là sân hận hay người đó hiền thục. Thì người xuất gia cũng vậy, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói không vừa lòng, xúc phạm, mà người ấy vẫn nhu thuận, hiền lành, ôn hòa, thì như vậy người ta mới là Tỷ-kheo hiền lành thật sự.
Còn mình thì sao? Mình có hiền thật chưa? Có cần tu tâm hiền thêm không? Có cần tu tâm từ thêm không? Bình thường thấy thì hiền, mà có khi bình thường cũng chưa hiền nữa, nhìn hai con mắt trợn, lên bình thường còn chưa hiền, chứ đừng nói khi đụng chuyện. Phải hiền thật, phải nhu hòa, phải hiền thục, phải ôn hòa. Cho nên sự tu tập tâm hiền, tu tập tâm hòa kính, tu tập tâm từ, là tu suốt cuộc đời. Đừng bao giờ thấy là đủ hết, đừng bao giờ nói “bây giờ tôi tu tâm hiền đủ rồi, tôi hiền rồi. Bộ tôi dữ lắm sao mà kêu tôi tu tâm hiền?”, thì câu đó là hiền hay dữ? Kêu tu tập tâm hiền là nói “bộ tôi dữ sao? Tôi hiền rồi”, thì câu nói đó chính là dữ đó. Cho nên mình phải thấy rằng, cái thật nó phải cần có những thử thách, hữu sự, có chuyện xảy ra mới biết được năng lực thật sự của mình, chứ còn bình thường thì chưa. Lúc nào là lúc mình thấy mình rõ tâm mình nhất? Là khi mình bị chỉ trích, hủy nhục, xúc phạm, thì lúc đó mới thấy rõ tâm mình nhất.
Người ta gọi là gì? “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần”, có nghĩa là: Ở nhà nghèo mới biết được đứa con nào thực sự là đứa con có hiếu. Nước loạn mới thấy được bề tôi nào thực sự là kẻ trung thần. Trong sự tu của mình cũng vậy “hoạn nạn kiến chân tình”, bình thường bạn bè nhiều lắm, mời ăn, mời nhậu, mời này kia nọ. Tới chừng bị phá sản, điện thoại không ai bắt máy hết, đến nhà thì đóng cửa, kêu không có nhà. Thì trong sự tu tập của mình cũng giống vậy, khi hữu sự mình mới thấy được, thực sự cái tâm của mình ở mức độ nào trong sự tu tập.
Chính vì vậy con chia sẻ là, các thầy, các cô hay các huynh đệ, các chú lên đây tu học, thì con không nhìn cái bình thường, con nhìn những lúc có chuyện xảy ra, con coi tâm của người đó, mới biết được thật sự mức độ tâm người đó tới đâu. Ở chỗ này Đức Phật nói “chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm”. Tới lúc đó mình phản trắc, mình muốn quay lưng lại phản phúc, thì mầm mống nguy hiểm trong đó hiện lên sân hận. Phải coi tâm mình trong đó, những lúc mình làm bài tập, bài thi, thi tốt nghiệp, lúc đó là lúc nội soi thật sự, nhìn thấy thân tâm của mình.
VI. Tỷ kheo dễ nói:
Cái thứ hai là “Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng”, tức là người này, vị tu sĩ, vị Tỷ-kheo mà hóa được dễ dàng món ăn, sàng tọa, thuốc men, phòng ốc, chỗ ở, dễ được, có được đầy đủ các món đó, thì người này rất là dễ nói, người ấy không sân hận. Tại vì có gì đâu mà sân, cơm cũng có ăn, chỗ ở cũng có, thuốc men cũng có, phòng ốc cũng có, y áo cũng sẵn sàng hết, thì có gì đâu mà khó chịu. Nhưng mà khi khó có mấy cái đó, đi khất thực không ai cho, hoặc là cho một ít thôi thì sao? Hôm nay lên bếp có một chút rau luộc với một miếng kho quẹt thôi thì sao? (Bữa nào nhà bếp làm thử một bữa, không sao hết cứ làm thử)
Mình tu luôn như vậy đó, ra cho mỗi người một tô mì gói như vậy đó, xem lúc đó có dễ nói không? Phải có những bài tập để thấy tâm mình, cho nên “chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy không được các vật dụng như vậy, không còn là dễ nói, không thành tựu tánh dễ nói”. Khi thiếu thốn, khi khó khăn, khi không có được những nhu cầu mình muốn, thì coi lúc đó có dễ nói không? Có ôn hòa, hiền lành không? Hay là bực bội? “Làm gì không có gì ăn hết trơn vậy? Ai nấu vậy? Hôm nay ca ai trực vậy? Ăn gì kì vậy?” Thì coi lúc đó có dễ nói không? Hay mình nói “ờ, đây là cơ hội mình kiểm tra tâm của mình, mình đang làm bài tập”. Ở đây Đức Thế Tôn đưa ra những nghịch cảnh để đo cái tâm mình, chỗ này tuyệt vời, hay lắm.
“Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cho nên những việc mà khó khăn, bị bệnh, như vậy mà tu tập, đó thực sự là người chịu tu, người chịu khó tu. Còn mấy người khỏe mà ngồi nghe pháp thì bình thường, không có gì hết. Hôm nào mà mệt mỏi, khó chịu, mình vẫn nhiếp phục được, thì cái đó mới gọi là có tinh thần tu học. Chịu đói, chịu khát, thiếu thốn như vậy, mà mình vẫn nhiếp phục được, còn đại đa số người tu bây giờ là tìm cái dễ thôi.
Hôm nay con xin thú thật với đại chúng, con là chuyên môn tìm cái khó, con đường đó con để cho khó đi như vậy đó, ai lên thì lên, không lên thì thôi, con thật sự là tìm cái khó. Mình cứ tìm cái dễ thì mai mốt cái khó mình không làm được, mình nhiếp phục được những cái khó, thì sau này không có cái gì khó với mình hết, không có cái gì trên đời là khó với mình nữa. Cho nên, khi con nói làm cái gì, mà mấy thầy, mấy chú nói “thầy ơi, khó” là con buồn lắm. Cái tánh quen của mình là hễ có chuyện gì đó mình đưa ra, là ở bên trong nó suy nghĩ ngược lại, ngộ vậy đó, có thấy điều đó không? Ý hành của mình quen như vậy, nó không có tùy thuận với pháp.
Thí dụ trời nóng thì mình muốn gắn máy lạnh, mình lên chỗ lạnh thì mình nói sao? Hôm trước mình học bài kinh “Thi Ca La Việt” đó: “lạnh quá tu không được, nóng quá tu không được, đói quá tu không được, no quá tu không được”, nó nghĩ ngược như vậy không à, mà không nghĩ thuận theo pháp. Nếu mình nghĩ “lạnh là cơ hội mình nhiếp phục cảm thọ, nóng là cơ hội để mình rèn luyện, mệt là cơ hội để mình chiến thắng” thấy không? Nghĩ như vậy là mình thuận theo pháp, và mình có cơ hội trưởng thành, lớn mạnh, hưng thịnh ở trong pháp luật. Cứ gặp hoàn cảnh càng khó thì mình càng phải chinh phục nó, bước qua nó, đạp đổ lên nó để mà đi, thì mình sẽ trở thành sức mạnh. Mình nhìn đi, thái tử Tất-đạt-đa tu như thế nào? Mà bây giờ mình toàn đòi dễ không à, khó chút là không chịu, ăn thiếu một chút cũng không chịu, ngủ thiếu một chút cũng bực bội, phiền não. Cứ tìm cái gì đó cho nó thuận với cái ái của mình, thì làm sao nó tăng thượng được? Sao mình hướng thượng được? Phải gặp nghịch cảnh, phải gặp những điều bất như ý, trái ý nghịch lòng với mình, mà mình coi nó nhẹ như lông hồng, mình coi nó là cơ hội để rèn luyện thân tâm của mình.
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói.
Chư Tỷ-kheo, các Người phải học tập như vậy”.
Hôm qua con có nói, cái này là xuyên suốt trong cả tạng kinh Nikāya. Bài đầu tiên mình học Đức Thế Tôn còn thờ pháp nữa, mình nhớ không? Bài kinh “Kinh Cung Kính” mình học đó. Tại sao mình thành dễ nói? Vì tôn trọng pháp chứ không nghĩ là “ừ cái đó là thầy, cái đó là sư huynh, sư tỷ ăn hiếp tôi”, không phải. Vì tôn kính pháp, chứ không có ai ở đây hết, để cho mình thành tựu pháp, mình phải nhiếp phục những cảm thọ này. Mình mà cứ nhìn thấy là thầy, là cô, là sư phụ, người lớn kia, người này, người nọ, đối xử với mình như vậy, là không bao giờ mình tu tiến được hết. Chỉ có pháp mà thôi, không có thấy người, không thấy ai hết, mà chỉ có pháp. Vì mình tôn kính pháp, mình nhiếp phục cảm thọ này. Vì tôn sùng pháp, mình vượt qua cảm xúc này. Vì mình tôn thờ pháp, mình phải chinh phục được cái cảm xúc này, hóa giải, giải phá, giải phóng, giải thoát cảm giác sân hận, hơn thua, ta đây, bản ngã này. Vì pháp, vì thành tựu Chánh Pháp tối thượng này, đó ta gọi là Tỷ-kheo dễ nói, đây là bí kíp của Chánh Pháp. Hay lắm, tuyệt vời lắm, tối thượng lắm.
Khi mình luôn luôn suy nghĩ, cho nên “Chư Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ, chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp, chúng ta sẽ trở thành người dễ nói”. Như vậy thì dẫu cho mình có ngồi đau, mỏi mệt, tê chân, ngồi thiền buồn ngủ, mình vẫn đánh đuổi, vẫn thành tựu được. Vì mình tôn kính pháp, mình muốn thành tựu pháp, cho nên mình không khó nói, không chống cự, không sân hận với các bậc đồng Phạm hạnh. Mình không chống đối với các vị quản chúng, các bậc trưởng thượng, tôn trưởng. Mình có thành tựu pháp, vì tôn sùng pháp, cung kính pháp, chứ không phải vì ai hết, “vì làm cho ông thầy vui” không phải, vì thành tựu pháp.
“Thầy vui thì có được gì đâu, cô vui có được gì đâu”, thành tựu pháp mới được liên hệ đến mục đích cứu cánh của đời sống Phạm hạnh, tuyệt vời lắm. Tất cả những cái này là vì pháp, không có cái nào đi ra ngoài pháp hết. Mình không có sân hận, mình nhiếp phục được cảm giác sân hận cũng vì pháp, vì mình thành tựu được pháp tâm từ bi. Mình phải nhiếp phục, giải phá cảm thọ này, mình phải thành tựu tâm từ bi, mình mới thành tựu được Thánh trí huệ. Cho nên mình phải phá vỡ cái thân kiến, chấp ngã này, vì thành tựu pháp.
Chỉ có thành tựu pháp, mình mới giúp, mới báo ơn hết tất cả. Không thành tựu pháp thì mình làm cái gì đi nữa, nhiều khi càng làm thì càng xảy ra khổ thêm, tai họa thêm, càng thảm hại, thảm bại thêm. Làm trong vô minh, trong dục, trong sân hận, đó gọi là thương, thương nhưng mà làm hại nhau. Nói thương người này, người kia sân, nói xấu kia, người này sân, có thương người đâu, hại nhau chứ có thương gì đâu, cái đó Đức Thế Tôn gọi là “không xứng đáng”, cho nên câu này mình phải học thuộc lòng.
“Chúng ta cùng nhau đọc lại nha”
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói.
Chư Tỷ-kheo, các Người phải học tập như vậy”.
VII. Năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu:
Tiếp theo, chúng ta sẽ bước qua năm loại ngôn ngữ thù thắng vi diệu trong bài kinh này. Năm loại ngôn ngữ này là cái cực kỳ quan trọng.
“Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Người có thể dùng khi nói với các người khác:
-Thứ nhất: Đúng thời hay phi thời, (đúng lúc hay là không đúng lúc)
-Thứ hai: Chơn thực hay không chơn thực, (lời nói đó chân thật hay là không chân thật)
- Thứ ba: Nhu nhuyến hay thô bạo, (lời nói đó nhu nhuyến, mềm mại hay là lời nói đó thô bỉ)
- Thứ tư: Lời nói có lợi ích hay không lợi ích,
- Thứ năm: Nói với từ tâm hay với sân tâm”.
Cái này phải có trí tuệ, học thuộc lòng xong rồi mình chiêm nghiệm, mình phải có sự quán xét, khi mình nói lời nói đó đúng lúc hay không đúng lúc? Cái này quan trọng. Mình coi thời điểm đó là đúng không và phù hợp không để mình nói. Chứ không phải muốn nói là nhào lên nói, nói trong dục nói, trong vô minh, muốn nói là nói. Phải xem thời điểm đó, trong lúc đó, với người đó, trong hoàn cảnh đó phù hợp để mình nói điều đó hay không? Cho nên cái này không có Niệm Định Tuệ thì làm sao mình biết là đúng lúc hay không đúng lúc? Đúng thời hay là phi thời? Nhiều người cứ tưởng là lòng tốt, nhưng nói ra thì cuối cùng nhận kết quả là xấu. Chẳng những không đem lại lợi ích, mà còn có hại nữa, tại vì sao? Vì nói không đúng thời, không đúng lúc.
Thí dụ như người này mình biết cái bản ngã họ cao, giữa chỗ đông người mà mình nói lỗi người ta ra, thì lúc đó là đúng thời hay không đúng thời? Đương nhiên là dẫu cho mình nói đúng lỗi, nhưng người ta không nhận, người ta sân hận lên, thì cái đó là nói không đúng thời. Dù cho mình nói bằng từ tâm, mình muốn xây dựng, đóng góp cho người đó tốt, nhưng vì bản ngã họ cao, mà ở giữa chỗ đông người mà nói cái xấu của họ, tuy rằng đúng, chính xác, nhưng họ cũng không chấp nhận, vì nói không đúng lúc, có muốn nói thì nói riêng.
Cho nên chữ “đúng thời hay phi thời” này rất nhiều khía cạnh. Hoàn cảnh đó, con người đó, thời điểm đó, trường hợp đó, thì mới nói chuyện đó, tức là trước khi mình nói mình phải quán xét. Còn thấy khổ, vô minh, dục, sân mà mình muốn nói, thì mình cứ nói bất kể, không biết thời điểm, không cần biết quán chiếu, quán xét gì, trong này thúc giục là mình nói. Chúng ta lâu lâu có bị cái này không? Là mình không quán xét, nó muốn nói là mình nói.
Thứ hai là “chân thật hay là không chân thật”. Khi mình nói lời đó, mình xem nó có phải là sự thật hay không? Hay là mình chỉ nghe người ta nói, rồi mình nói lại. Nếu mình chỉ nghe người ta nói rồi mình nói lại, mà lời nói đó không phải là chân thật, thì mình thành nói dối. Cho nên khi nói về ai là hết sức cẩn thận, nếu mình nói pháp thì nó còn dễ, mà nói về khuyết điểm của người nào đó, thì cái này phải hết sức cẩn thận. Mình nói sai, nói trật, nói không đúng, là mình tội. Rồi mình lây dịch bệnh của sự sai lầm, sân hận đó cho một người nghe, mà người nghe này họ nghe xong rồi họ đi nói nữa chứ đâu phải họ im đâu. Thành ra bệnh này cũng tương đối là khá nặng, bệnh này hết sức nặng, nên phải nói chân thật, phải đúng sự thật, hết sức cẩn thận đối với chuyện phải quấy của người khác, mình không tu được là cũng tại vụ này.
“Nói lời cho nó nhu nhuyến, mềm mại hay là lời thô bạo”, từ khi con nhập thất để tập phương pháp nhiếp phục bản ngã, con thấy lời nói của con cũng có mềm lại chút xíu. Ngày xưa con đâu có xưng là “con” đâu, mình phải tập thôi, mỗi một pháp mình phải tập, con thấy dạo này hình như mọi người cũng có thương con hơn chút đỉnh. Lời nói của mình nó nhu nhuyến, mềm mại một chút, còn lời nói của mình thô bạo, nó nặng nề, thì người ta nghe, người ta thấy nó mệt lắm.
Thí dụ chị em làm việc chung với nhau trong bếp, ví dụ người ta lỡ để dư bột ngọt, muối, dầu, đường hay gì đó, thì mình nói nhẹ nhàng thôi. Chứ mình la cho một trận, là người ta đi lùi, phải không? Hay là bất cứ trong công việc gì cũng vậy, nói lời nhẹ nhàng. Cũng lời nói đó, mà nhiều khi người ta thấm, người ta nghe hơn. Còn mình nói lời kia thì nhiều khi người ta sân, dẫu cho nói đúng, nhưng mà nó thô bạo, làm người ta sân, người ta không nghe, người ta chống đối lại, mà người ta chống lại thì thì khỏe hay mệt? Riết rồi người ta bỏ cho mình làm một mình, mà vụ này nhiều không ta? Nhiều khi cũng ngộ, có người “việc này tôi làm một mình à, đừng ai vô hết trơn, tôi thích làm một mình tôi à”, đó không phải người tu, đó đâu thành Tăng đoàn đâu.
Nếu lời nói không nhu nhuyến, lời nói thô bạo, lời nói không dễ thương thì tập lời nói mềm mại, nhẹ nhàng lại, nhưng mà cũng đừng quá sự thật, không thôi ngọt quá người ta nghe người ta cũng nghe rợn người lắm. Phải chân thật, mà nó nhu nhuyến, nhẹ nhàng, chứ không phải mình làm cho nó ngọt quá xá ngọt, nó không có tự nhiên, nó ra mình làm quá. Nhưng nếu như mình có tật là lời nói thô bạo, thì thà mình chọn cái ngọt ngào (ngọt quá ta cho một miếng nước sôi vô để pha cho nó loãng, cũng không sao). Còn cái nặng nề là khổ lắm, nó chua chát, nó cay đắng những cảm thọ.
Nên mình tu, mình học trong kinh Đức Phật dạy hay lắm: “Người chỉ thuần đưa một cảm thật ngọt ngào, nhẹ nhàng, hoan hỷ cho người ta. Sau khi chết, sanh ở một thế giới toàn là cảm thọ nhẹ nhàng, ngọt ngào.
Người mà phân nửa ngọt ngào, phân nửa đau khổ, hành hạ người ta. Thì người đó đời sau, sống cả trong một thế giới phân nửa cảm giác ngọt ngào, phân nửa cảm giác đau khổ, hành hạ.
Con người mà đi đến đâu cũng đem đến cảm giác đau khổ, cực khổ, thống khổ, khốc liệt, kịch liệt cho người ta. Thì đời sau sanh ra ở trong thế giới toàn bộ, tất cả cảm giác người này chịu đựng là khốc liệt, kịch liệt, đau khổ, thống khổ”. Cái nhân quả này mình thấy hay lắm, nó rất là rõ. Đức Phật nói “ba cảnh giới của sự thọ sanh là do cảm thọ mình lan tỏa cho người chung quanh”. Do vậy, mình nên có lời nói nhu nhuyến, không thô bạo.
Đại chúng mình về đây ở, thấy có nhu nhuyến, nhẹ nhàng không? Đừng ai sử dụng lời thô bạo, nói nhức đầu, nhức óc, nặng đầu, nặng cổ lắm. Nói người ta bỏ cơm, ăn không được, về bệnh, khổ lắm, đừng nói những lời như vậy, phải tu tập lời nói.
“Nói lời có lợi ích, đừng nói lời không lợi ích” đây là nói lời gì? Trong bốn giới miệng của mình thì gọi là “lời nói phù phiếm”, nói thao thao, nói hoài mà không lời nói nào có lợi ích hết, nhiều khi có hại nữa. Nói là nói pháp, nói sự thực tập ở trong pháp, đừng có nói lời vô ích, nói lời có ích, nói lời lợi lạc. Thí dụ mình biết người đó hay nói lời phù phiếm, họ đến nói chuyện với mình thì giả bộ hỏi “bài kinh này chị có thuộc không? Em quên bài này rồi”. Khi chị đó đọc bài kinh đó xong rồi mình hỏi tiếp “bài kinh đó chị giải thích dùm em đi”, tự nhiên người ta hết nói phù phiếm, nói xong bài kinh đó thì mình xin chào. Mình lái người ta qua chỗ khác, phải không? Đây là nghệ thuật khi nói chuyện đó.
Mình thấy họ bắt đầu quẹo qua một đường hiểm, đường tối, thì mình lái họ lại “bữa nay em có học cái bài kinh Ví dụ Cái Cưa, mà có câu này em không hiểu, không biết năm lời nói trong đó là sao hết”, thí dụ vậy đó, hay là câu chuyện nào đó, trong bài kinh nào đó, mình lái qua. Cái tâm chúng sanh dễ bị lái lắm, mình có tu là mình điều khiển được cái tâm. Có sự Niệm Định Tuệ là mình điều khiển tâm của người khác, mà người đó hoàn toàn không biết gì hết. Tại vì người đó trong vô minh, còn mình có Chánh niệm tỉnh giác, mình có thể điều khiển được tâm của người. Còn mình không có Chánh niệm tỉnh giác, thì người ta điều khiển tâm của mình. Mình có trí huệ thì mình điều khiển tâm người, còn mình không có trí huệ thì họ điều khiển tâm mình. Mà cùng có trí huệ với nhau hết là đi vào trong pháp, cho nên mình thấy họ đưa qua cái này, cái kia, thì mình lái họ đi vào pháp nó đỡ hơn, cái này là bí kíp võ công, cái này hay lắm, tu tập lời nói hay lắm.
“Với từ tâm hay với sân tâm”, khi mình nói chuyện là mình nói với cái tâm vì thương người đó hay là mình nói vì tức giận? Cái này quan trọng. Nếu mà sân tâm, thì mình đừng nói, vì mình nói chắc chắn không có kết quả tốt, dẫu cho mình muốn nói lời đó tốt, nhưng với tâm sân thì lời nói đó trở thành không tốt. Thành ra nếu khi sân, khi giận, thì đừng nói, đừng làm gì hết. Khi giận thì đi ra bụi trúc, ra tảng đá nào đó, kiếm gốc cây nào đó, ra đó ngồi, giải phá hết cảm giác sân. Chừng nào lắng dịu, an tịnh hoàn toàn, trải tâm từ hết rồi, lúc đó nói chuyện sau, còn có tâm sân thì đừng nên nói. “Cái này dễ hay khó, con thưa thầy Pháp An?”.
Khi cái tâm mình đang sân, mà để mình im im là cũng khó, chứ không phải dễ đâu. Mình chiến thắng được khẩu hành của mình, trong khi mình đang sân, đừng cho nó nói.
“Chư Tỷ-kheo, khi nói với người khác các vị có thể nói đúng thời hay phi thời. Khi nói với người khác các vị có thể nói với lời chân thật hay không chân thật. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời nhu nhuyến hay lời thô bạo. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Khi nói với người khác các vị có thể nói lời từ tâm hay nói với lời sân tâm”
VIII. Tâm từ:
Tiếp theo bài kinh, “chúng ta cùng đọc đoạn này”
“Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Người cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
Chư Tỷ-kheo, như vậy các Người cần phải học tập”.
Tuyệt vời lắm, chúng ta lạy Phật lúc khuya cần phải đọc đoạn này, trong đây con thích nhất câu này “chúng ta sẽ sống bao phủ người này, với tâm câu hữu với từ (cùng chung lòng từ)” câu này hay lắm, phải làm đề mục tu. Chúng ta phải giữ tâm của mình đừng bị biến đổi, ô nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, xót thương với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Nhắc mình, niệm câu đó nhắc mình, đó là tác ý, mình phải sống như vậy, mình phải sống với lòng lân mẫn, mình phải sống với tâm từ bi.
Mình phải không sống với tâm sân hận, mình sống bao phủ người này với tâm cùng chung từ bi, với tâm cùng chung tình thương, chúng ta sẽ sống bao phủ người này. Người làm cho mình giận, người làm hận, làm cho mình tức đó, mình tác ý “mình phải sống cho tình thương của mình lan tỏa hết con người của mình, rồi lan tỏa qua người kia, rồi nó bao bọc người kia bằng tâm từ của mình”, thì mình thấy giống như mình lấy một cái mền thật ấm, thật đẹp, thật thơm, mình trùm lên, khoác lên người của người đó. Hay mình lấy một tấm vải thật đẹp, mình phủ lên từ đầu đến chân người đó, thì lòng từ của mình giống như tấm vải, giống như cái mền đó vậy. Mình bao trùm người đó bằng tâm từ, bằng tình thương của mình, để mình hóa giải cái sân hận, sống bao phủ người đó, đây mới gọi là bậc đại nhân (người lớn) có tâm lượng lớn. Phải bao phủ được người kia, người làm cho mình giận, người làm cho mình tức, người làm cho mình khổ đau, phải bao bọc, che chở, bao phủ họ bằng tình thương, bằng lòng từ.
Người này chính là đối tượng tu tập của mình, chứ bây giờ không còn là hình ở trên Chánh Điện nữa, mà đối tượng tu tập của mình chính là người làm cho mình sân hận, bực bội, trải lòng từ, cảm thông, tha thứ, tình thương đến họ. Thương họ cũng giống như là thương mình, mình đã đau khổ như thế nào, thì họ cũng đau khổ như thế ấy. Mình bị thiêu đốt như thế nào, họ cũng bị thiêu đốt như thế ấy. Bao nhiêu nước mắt mình tuôn xuống, thì nước mắt của họ cũng tuôn xuống như thế ấy. Lấy mình hiểu được người khác “tương tâm tỷ tâm”, đem cái tâm để so sánh với cái tâm. Lòng mình nhủ lòng mình “hãy sống với tình thương, hãy sống với tâm bi mẫn, hãy sống với tâm từ, hãy sống bao phủ người kia, người đang đau khổ, người đang sân hận, người đang bị thiêu đốt. Phải bao phủ, phải lan tỏa, bao trùm, che chở, bảo bọc họ bằng tâm từ, bằng tình thương”
Mình quán tâm từ thường xuyên, như ngày hôm qua chúng ta học “Quán Tâm Từ”. Phải sống biến mãn cùng khắp thế giới này, cái tâm mình cùng chung với lòng từ đó, quảng đại, vô biên, rộng lớn, không có bờ mé gì hết, không hận, không sân. Tất cả núi đồi, tường vách, tâm tư của mình đi xuyên qua hết tất cả, tung nóc nhà nó đi lên chín tầng mây, tâm từ của mình khi mình trải tại, xuyên thủng qua hết tất cả các chướng ngại vật.
Bài “Trải Tâm Từ” trong khóa tu Nikāya bây giờ mấy chú chưa có dựng ra nữa, mình trải tâm từ mười phương ngay ở phía trước. Phải xuyên thủng qua hết tất cả chướng ngại vật, để tâm từ mình bung ra mười phương, vô lượng, vô biên, không bờ, không mé. Hay lắm, tu tâm từ này đã lắm, sung sướng, hạnh phúc lắm. Mình ngồi đó mình thấy nó dào dạt, tình thương mình bao la. Những người làm hại mình, mình ngồi, mình mỉm cười, thương xót, bi mẫn, mình không sân, sống bao phủ họ với tâm từ. Ví dụ tấm vải đẹp nhất trên thế giới, mình đem phủ lên người họ, mình quán chiếu tâm từ mình giống như vậy.
Đức Phật nói nhiều ví dụ hay lắm, những ví dụ tuyệt diệu vô cùng, nghe đến đây cảm động, cảm xúc, xúc động, rung động.
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm xẻng và thúng, nói như sau: “Tôi sẽ làm cho đất lớn này không thành đất nữa”, và người ấy đào chỗ này chỗ kia, rải đất chỗ này chỗ kia, nhổ nước miếng chỗ này chỗ kia, đi tiểu tiện chỗ này chỗ kia, với ý nghĩ: “Ngươi trở thành không phải đất, Ngươi trở thành không phải đất”.
Chư Tỷ-kheo, nghĩ thế nào? Người ấy có thể làm cho đất lớn này trở thành không phải đất chăng?
– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì đất lớn này thâm sâu và vô lượng, không dễ gì khiến cho đất lớn này trở thành không phải đất, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại”.
Đất lớn (đại địa) này là thâm sâu vô lượng, làm sao một cái người cầm cái xẻng, cái thúng mà đòi xới những đất này lên, làm cho đất này không phải là đất. Tu tập tâm từ bằng sức mạnh kiên trú, vững chắc giống như đại địa, như đất lớn, địa cầu, mặt đất bao la. Lòng từ của mình, hàng ngày thực tập tâm từ của mình, thành đại địa, căn cứ địa, tâm từ của mình là trái đất. Mỗi khi con trải tâm từ là con trải, con quán chiếu tâm từ của con bao bọc hết quả địa cầu này, con trải tâm từ ra, mình trải rộng ra, thấm nhuần, thấm đượm cùng khắp tất cả. Làm sao mà người cầm cuốc, xẻng có thể làm cho mặt đất này không thể là đất được? Cái tâm từ của mình không thể nào có một ai làm mất tâm từ của mình được.
Bất cứ một người nào trên thế giới này, họ nhổ nước miếng chỗ này, nhổ nước miếng chỗ kia, họ tiểu tiện, đại tiện như vậy, phân, nước tiểu như vậy, họ muốn làm cho mặt đất này không còn là mặt đất, không thể được, đại địa vẫn là đại địa. Tu tâm từ đến mức độ như vậy đó, thành căn cứ địa, thành địa cầu, trái đất, thành mặt đất lớn lao. Thật là tuyệt vời bao la tâm từ này, rộng lớn tâm từ này, thật là vững chắc, kiên trú, tình thương này. Vô lượng, vô biên, vô tận, bao phủ, bao bọc, trùm khắp lòng bi mẫn, xót thương tự thân mình và chúng hữu tình. Tất cả chúng sanh luôn luôn dào dạt, bao la, biến mãn, trùm khắp.
Hãy ngồi lên tảng đá, hãy bước lên đỉnh núi, hãy trải tâm từ rộng khắp mười phương, hãy đi thong dong một mình giữa núi rừng này, hãy nhìn thấy tâm từ biến mãn, đại ngàn mỗi ngày.
“Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Người cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
Trong bài kinh này, Đức Thế Tôn nói lập tới lập lui năm lời nói này, rất nhiều lần, là điệp khúc, là liên khúc về năm cách nói chuyện này, trong bài kinh.
Chúng ta đến ví dụ tiếp theo:
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm màu sơn, màu vàng, màu xanh sẫm hay màu đỏ tía. Người ấy có thể nói như sau: “Ta sẽ viết các hình sắc trên hư không này. Ta sẽ làm cho các hình sắc hiển hiện”. Các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể viết các hình sắc trên hư không và làm cho các hình sắc hiển hiện được không?
– Bạch Thế Tôn, không thể được. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, hư không là vô sắc, không thể thấy được. Ở đây, không dễ gì viết các hình sắc và làm hình sắc hiển hiện, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại”.
Tâm từ của chúng ta giống như hư không rộng lớn, bao la, vô sắc. Những người đến làm cho mình sân hận, giống như những người cầm thùng sơn và cây cọ, muốn quét lên, muốn tô màu lên hư không, viết chữ lên hư không, điều đó không thể được. Tu tập tâm từ thành hư không bao la, rộng lớn, vô biên. Tu tập tâm từ giống như hư không, để những lời chỉ trích, hành động, những sự sân hận đến với mình không thể nào tô vẽ lên trong hư không này được. Luyện tâm từ, tu tâm từ, tập tâm từ, trải tâm từ như hư không bao la, rộng lớn, thênh thang, vô lượng, vô tận, mỗi ngày phải thực tập.
Hư không bao bọc, trùm khắp, bao trùm hết tất cả. Hư không nói rằng “tôi chứa cái này, cái kia nhưng tôi không có chứa. Người này tôi chứa, người kia tôi không chứa” không có, hư không chứa đựng tất cả. Tâm từ mình cũng vậy, bao bọc trùm phủ, dung chứa hết tất cả, không ai phá được tâm từ của mình, không ai có thể làm biến đổi tâm từ của mình, người sân hận chỉ bị mệt nhoài và thất bại. Đức Phật tiếp tục nhắc lại năm lời nói đó, mỗi một ví dụ xong Đức Phật sẽ nhắc lại năm lời nói đó, không hận, không sân.
“Những ví dụ hết sức đặc biệt”
Ví dụ tiếp theo:
“Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm một bó cỏ khô đang cháy và nói như sau: “Ta với bó cỏ khô đang cháy này sẽ hâm nóng và đun sôi sông Hằng này”.
Chúng ta có người đi qua Ấn Độ và nhìn thấy Hằng hà rồi đó, bây giờ có người cầm bó đuốc đi lại bên dòng sông rồi họ nói ta đun sôi, hâm nóng dòng sông này có được không?
Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, với bỏ cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được không?”
“– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì sông Hằng thâm sâu và vô lượng, không dễ gì với bó cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được, trước khi người ấy mệt nhoài và bị thất bại”.
Tu tập tâm từ giống như dòng sông, giống như sông Hằng, giống như biển cả. Với một tâm sân hận nhỏ xíu giống như một bó đuốc như vậy, giống như bó cỏ khô như vậy, thì làm sao đốt được dòng sông tâm từ sâu rộng, mênh mông đó. Phải tu tập tâm từ như đại địa, như hư không, như dòng sông.
Có cô chia sẻ khi cô làm dâu ở xa xứ, cô gặp những điều bất như ý, đau khổ tích tụ ở trong lòng lâu ngày thành một khối sân hận khủng khiếp, cổ đau khổ cùng cực. Cổ mới nhớ lại ngày xưa cô tắm trên dòng sông quê hương của mình (dòng sông Đồng Nai), cô quán chiếu dòng sông đó là dòng sông của tâm từ, thật mát mẻ, thật ngọt ngào, thật thoải mái, cô lội trong dòng sông đó. Cô quán tâm từ để hoá giải sân hận, và cuối cùng cổ thành công. Cho nên, những hình ảnh này toàn là các phương pháp cho mình quán, những ví dụ Đức Phật đưa ra là những pháp quán. Dòng sông quê hương mà mình đã bơi lội trong đó, mình đã tung tăng trong đó, mình đã ngâm mình ở trong đó, ngọt ngào, mát mẻ, thoải mái, bình an.
Mình phải quán chiếu mình như một dòng sông, “thì với một người sân đến nói mấy câu, hay là ánh mắt nhìn, hành động chút xíu, giống như cầm bó đuốc, mấy cọng cỏ khô hay mấy tàu lá dừa như vậy, thì làm sao đốt được biển Vũng Tàu”. Mình quán chiến như vậy sẽ hóa giải được, mình dùng nước của biển Vũng Tàu, nước sông Hằng, nước dòng sông quê hương của mình, mình dập tắt dễ dàng, thật dễ dàng, không có tốn bao nhiêu công sức hết. Mình tắm trong dòng sông, mình bơi lội tung tăng trong dòng sông từ bi, từ tâm đó, mát mẻ, dịu hiền “thật là mát mẻ, thật là ngọt ngào, thật là thoải mái”.
Vừa rồi con đi về quê, đi ngang dòng sông con từng tắm lội dưới đó và có những lúc gần như chết hụt trong đó, hồi xưa đi ngang nhìn thấy nó rất là lớn, bây giờ nhìn thấy nó nhỏ bé. Khi mình thấy các dòng sông đó, thấy biển cả, đại dương, dòng sông quê hương, mình phải tu tập tâm từ của mình giống như dòng sông tươi mát, ngọt ngào. Mình đi đến đâu là mát mẻ đến đó, những người gần mình dễ chịu, thoải mái.
Mấy cái này đều là thiền quán nên phải nói từ từ, để cho mọi người tự quán chiếu là nó tuyệt vời lắm. Nãy giờ chúng ta hình ảnh phải không? Đợi để thâm sâu, vô lượng, hư không, rộng lớn vô biên, dòng sông mát mẻ, ngọt ngào, đó là những hình ảnh của tâm từ, của tình thương.
Xin mời đại chúng an trú tâm từ của mình vào ba hình ảnh trên hoặc chọn một trong ba, luôn luôn, liên tục suốt ngày nay cho tới ngày mai, an trú trong dòng sông từ bi đó, trong mặt đất từ tâm đó, ngọt ngào, mát mẻ, dễ chịu, an lạc.
Thật là tuyệt vời tâm từ này, tình thương này “ta nhất định ta nguyện không làm đau khổ cho nhau, không đốt cháy lẫn nhau, làm cho nhau mát mẻ, tươi tắn, thoải mái, hòa thuận khi sống chung với nhau”. Những dòng sông Hằng đang có mặt ở tại Linh Quy Pháp Ấn. Mỗi một trái tim ở đây là một dòng sông, dòng sông của tình thương, dòng sông của sự bi mẫn, dòng sông của sự cảm thông. Dòng sông Hằng đang chảy tại Linh Quy Pháp Ấn này, để cho chúng sanh đang nhiệt não, nóng bứt, khát khao, được tắm, được gội, được uống, được mát mẻ.
Thật là mát mẻ khi mọi người đến gần dòng sông tại Linh Quy Pháp Ấn này, đến đây không chỉ có núi, mà còn có sông, có biển, có trời, có tâm từ bao la của quý thầy, quý cô, quý Phật tử, có tình thương rộng lớn, mát dịu, ngọt ngào.
“Thật là những lời vi diệu thay, thưa tôn giả Gotama!” những lời của Đức Phật, những lời pháp của Thế Tôn, những ví dụ, những hình ảnh của Như Lai thật là vi diệu, thật là thù thắng. Để sau ba ngàn năm, chúng con vẫn còn tắm mát trong dòng sông Hằng này, dòng sông từ tâm của Thế Tôn, dòng sông từ bi của Như Lai. Dòng sông vi diệu, hi hữu, chảy xuyên suốt ba ngàn năm nay. Chúng con ngồi đây giống như đang được tắm, đang được bơi lội trong dòng sông từ ái thâm sâu, rộng lớn, vô lượng của Thế Tôn. Thật là ngọt ngào, thật là mát mẻ, thật là bình an. Con muốn tắm mãi trong dòng sông này của Như Lai.
Con muốn được bơi lội trong dòng sông của từ tâm, con muốn được tung tăng trong đại dương của sự bi mẫn này, để thấm đượm từng lỗ chân lông của con, và lòng từ bi của Như Lai, lòng từ bi của chúng con, từ tâm chúng con, bi mẫn của chúng con, khi thấu hiểu được dòng pháp thiêng liêng, vi diệu, cao thượng này. Hạnh phúc, thật là hạnh phúc cho chúng ta, thật là an lạc cho chúng ta, thật là mát mẻ cho chúng ta, đang tắm mình trong dòng Thánh thủy của đại bi.
Từng lỗ chân lông của chúng ta thấm đượm, rung cảm, chấn cảm, xúc cảm, chấn động, cảm xúc. Một cảm thọ từ bi, dào dạt, mênh mông, bao la, vi diệu này. Chúng ta đã từng tắm biết bao nhiêu dòng sông, tắm biết bao nhiêu biển cả (Nha Trang, Vũng Tàu, Phan Thiết). Tất cả những dòng sông, những biển cả đó, không thể so sánh được với dòng Thánh thủy này. Chúng ta đang được đắm mình trong dòng Thánh thủy của từ bi, mát mẻ không? Tươi thắm không? Dào dạt một tình thương của trí tuệ, của sự thấu hiểu, sự cảm thông nỗi khổ của mình và những người xung quanh, cảm thông muôn loài hữu tình đang đau khổ.
Cảm thông một người cha vì kiếm hai, ba triệu để đóng tiền học cho đứa con, bắt con rắn hổ mang chúa dài hai thước rưỡi mà nắm hoài, đưa vào bệnh viện cũng không buông ra, vì về bán có tiền đóng tiền học cho đứa con. Vì hai, ba triệu tiền học phí cho đứa con, phải đương đầu với rắn hổ mang chúa, bị cắn rồi, đưa vào trong bệnh viện vẫn cầm chặt con rắn, vì không có tiền lo cho con. Thật là đau khổ cho cuộc đời này, chúng sanh bị chìm sâu trong vô minh, trong tham ái. Bao nhiêu những dòng nước mắt, đau đớn, quằn quại, những nỗi khổ cùng khắp thế giới này.
Hãy tưới tẩm, hãy tu tập từ tâm, làm cho tâm từ này sung mãn, biến mãn cùng khắp, để vơi bớt nỗi khổ cuộc đời này, muôn ngàn vạn ức nỗi khổ đau đang có mặt. Nhà bị cuốn trôi, đang ngủ mất mạng, tài sản theo dòng thác lũ. Mới ngày hôm qua, hôm kia, có cô này đang chạy xe máy trên đường, chạy ngang đống rác đang đốt cháy, bất thình lình một tiếng nổ vang lên, cô này tức tưởi ngã ra chết ngay tại chỗ. Chết không biết tại vì sao mình chết? Trong đống rác đó có thể có đạn, có mìn thời chiến tranh còn sót lại. Thêm nữa, mới cách đây hai ba ngày thôi, có chú này đang đứng bên lề đường, có một chiếc xe tải mất thắng, tông vô chết ngay tại chỗ.
Vô số là những cái chết, từng giờ, từng phút đang diễn ra xung quanh chúng ta. Hãy trải tình thương, tâm từ của mình rộng lớn, hãy nỗ lực tu vào Thánh pháp này.
./.