Nghĩ Về Con Bướm Chết - Kết Hợp Để Làm Khổ Hay Giúp Đỡ Nhau - Lấy Bệnh Khổ Làm Thầy 1
Nghĩ Về Con Bướm Chết
Kết Hợp Để Làm Khổ Hay Giúp Đỡ Nhau?
Lấy Bệnh Khổ Làm Thầy!
Thích Minh Thành
Ngày 25 tháng 11 năm 2022
I. Trình pháp
Kính bạch chư tôn thiền đức, các bậc hiền trí.
Chúng ta có những vị ở xa vừa về núi đúng không ạ?
Phật tử số 1 trình pháp:
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Phật tử con pháp danh Quảng Châu, con cũng từ phương xa, cách nửa vòng Trái đất được trở về ngôi nhà thân thương. Đây là lần đầu tiên con được bước chân lên đến Linh Quy Pháp Ấn nhưng con thấy thật thân thương, rất xúc động. Nhân duyên con đến với Chánh pháp Nikāya này cũng được hơn một năm, vào tháng bảy năm 2021, con có một biến cố gia đình, giờ con là mẹ đơn thân. Biến cố xảy ra từ 2019, tức là từ 2017 đến 2019 con như sống chết, con đi khắp nơi tìm kiếm chùa này chùa kia, thầy này thầy kia để giải quyết cái khổ nhưng con không biết cái khổ của con là gì và cái gì tạo ra cái khổ.
Con cũng đã gặp nhiều vị thầy, cũng giúp cho con nhưng không giải quyết được vấn đề gốc, đến khi người cuối cùng là cô Phật tử tại gia, sau khi con đứng trước bàn Phật, con khóc rất nhiều, con nói tại sao con khổ quá mà con không biết cách giải quyết.
Ngày đó con gặp cô Phật tử tại gia là người giúp đỡ cho con và cô đưa cho con bài giảng của thầy, bài giảng về Tứ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí mà thầy giảng cho các quý thầy. Con tìm được đây là Chánh pháp, con rất xúc động, hạnh phúc và con nghe Chánh pháp Nikāya bài giảng của thầy hầu như mỗi ngày. Và con đã giải quyết được phần nào khổ của con là do tham, sân, si, vô minh, khát ái và không thấy được ngũ uẩn.
Con rất biết ơn, tri ơn sâu sắc đến Đức Thế Tôn và đến bậc ân sư của mình. Giờ duyên lành con được về đến chùa, sự tu tập của con còn rất nhiều thiếu sót và con chưa nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc, tinh tấn nên lần này con quyết tâm về đến chùa, nhờ sự hướng dẫn của bậc ân sư và các quý thầy cô, các bạn đạo hữu chỉ dẫn cho con, giúp cho con nhận rõ được ngũ uẩn, thực tập ba pháp.
Con kính trên thầy.
Sư phụ giảng giải:
Cô thấy Chánh pháp giúp cho cô giải bớt những đau khổ như thế nào?
Phật tử:
Con lập gia đình lúc mười chín tuổi thì con theo chồng qua Mỹ năm hai mươi tuổi. Cuộc sống hôn nhân của con nó không hạnh phúc, có rất nhiều mâu thuẫn đối với gia đình bên chồng và giữa chồng và gia đình của con. Mâu thuẫn đó, ngày nào con cũng đứng trước bàn Phật, con xin Phật gia hộ cho con, cho gia đình hai bên được vui vẻ, thông cảm với nhau, nhưng không giải quyết được, rồi sự mâu thuẫn càng ngày càng nặng nề, đến lúc đường ai nấy đi.
Cũng có nhiều nguyên nhân khác, nhưng mỗi lần con nghĩ đến gia đình chồng của con trước khi con vào dòng Chánh pháp này thì con rất khó chịu. Con rất giận, nhưng từ khi học Chánh pháp, con có duyên lành đọc được cuốn Tâm từ vi diệu của thầy, cách oan gia trái chủ và học được trải tâm xả, xả đi những lòng thù hằn, oán giận và sám hối oan gia trái chủ. Thì bây giờ, khi con nghĩ đến chồng con và gia đình chồng con thì con không cảm thấy khó chịu, không giận gì nữa mà con thấy rất thương họ.
Con có hướng dẫn cho chồng con đến với Chánh pháp này, anh ấy cũng là một Phật tử tu tại gia nhưng không có duyên. Nhưng nhờ Chánh pháp này, tâm con rất nhẹ nhõm, rất an lạc và con biết cách trải tâm từ cho chính mình, biết thương chính mình một cách đúng đắn, biết cách chăm sóc cảm thọ của mình, không để tham, sân, si dày vò. Con cũng thường xuyên nhìn vào cảm thọ, mỗi lần có cảm thọ sân hay tham thì con cũng biết được, cũng đôi lần nhiếp phục.
Con xin kính trên sư phụ.
Sư phụ:
Rất tốt. Cô có thuộc bài Niệm chúng sanh không? Nếu cô nhớ nên đọc lại.
Phật tử:
Tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy buông xả và mau tỉnh thức, sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời, nhận diện ngũ uẩn, thể nhập Thánh trí, diệt tham, sân, si, thoát ly sanh tử.
Sư phụ:
Cô lấy bài Niệm chúng sanh này làm đề tài thiền quán, tu tập, cho đến khi nào hoàn toàn những cảm thọ oán hờn, trách móc, tức giận được diệt tận, suy nghĩ về những người thân bằng một tâm từ, bằng tình thương, bằng một sự ngọt ngào khi mình nghĩ về họ, người đã từng làm khổ cho mình. Đến khi nào mình nghĩ về họ mà tâm mình vẫn ngọt ngào, vẫn thương, vẫn dạt dào một tâm cảm thông, thấu hiểu nỗi khổ của mình và nỗi khổ của người thì lúc đó hóa giải được những nội kết, hờn oán trong tâm, giờ chỉ là hóa giải được phần thô, tiếp tục tu tập nữa, cho đến cái tế, diệt.
Sư trình pháp:
Cung kính, bái bạch trên thượng tọa, kính bạch chư tôn thiền đức tăng ni, kính thưa quý đạo hữu nam nữ.
Diễn phúc thay con được một nhân duyên lành biết đến thượng tọa, biết đến nơi Linh Quy Pháp Ấn này, với cuộc sống và sự nghiệp tu học trên con đường xuất gia của con. Mặc dù thời gian tu học, xuất gia chỉ mới đây nhưng con được biết đến thượng tọa và được thực hành. Con nhận thấy pháp thực hành và thượng tọa đã chỉ dạy cho chúng con thiết thực và gần gũi, giúp cho mọi người thực hành theo và đạt đến sự Chánh niệm, an lạc và giải thoát ở hiện tại.
Hôm nay, con có duyên về đây, con mong trên thượng tọa từ bi, hoan hỷ, cho con nương theo pháp này và thực hành ngõ hầu cho bản thân con được sự an lạc, chánh niệm và giải thoát ở hiện tại.
Con xin thành kính tri ân thượng tọa và chư tôn thiền đức tăng ni, quý vị Phật tử đã hứa khả và cho con đến nơi này vào giờ phút này.
II. Khổ Thánh Đế
Sư phụ giảng giải:
Trong sự trình pháp vừa rồi của Phật tử đã cho chúng ta bài học rất lớn, là một đề tài tu tập rất lớn.
Khổ trên thế gian này nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ, chúng ta không biết tu thì mình hội tụ lại với nhau để làm khổ cho nhau. Nhóm họp lại với nhau để làm sầu đau cho nhau. Kết hợp với nhau để khiến cho nhau tuôn chảy những dòng nước mắt tận cùng thương đau.
Dù cho mình có tu nhưng tu không đúng Chánh pháp thì mình vẫn làm khổ cho nhau, vì mình không thấy được tâm mình, không nhìn tâm mình một cách chính xác, đầy đủ, vì mình không phát giác, phát hiện được những cảm thọ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã, phóng dật, hơn thua. Nên mình kết hợp lại với nhau phần nhiều làm đau khổ cho nhau.
Kết hợp này có khi là mình chủ động, có khi là mình bị động, nhưng nhìn sâu vào thì tất cả đều là bị động. Ví dụ mình sanh ra trong một gia đình, thì đó là mình không có quyền chọn lựa, mình không có quyền chọn ai là cha là mẹ, là anh, là em, mình không có quyền chọn mình mang tấm thân nam hay nữ, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo. Những hoàn cảnh đó là nghiệp quyết định, nên mình bị động, để mình kết hợp với nhau trong một gia đình gọi là bà con, huyết thống, anh, chị, em. Vậy mà sự kết hợp đó là do vô minh, nghiệp, nhân quả.
Vô minh là mình không thấy, không biết gì, mình không có quyền chọn lựa, trước khi mình sanh ra thì mình có chọn được không? Đó là vô minh. Giống như mình đi mà mình không thấy đường phía trước là gì. Vô minh và lý lịch trích ngang là dừng ở chỗ đó. Tức là mình không muốn, không chọn được, không thấy, không biết thì lấy gì chọn.
Đó là điều thứ nhất giải thích cho chúng ta dễ hiểu. Bài đó khi nào chúng ta thể nhập vào Thánh trí mới có thể hiểu được bài đó, mình không thấy, không biết.
Khi nãy Minh Thành xá Thánh tượng Đức Thế Tôn bước qua, trên đường đi qua có những con bướm chết. Thường khi Minh Thành xá Thánh tượng Thế Tôn thì Minh Thành hay nhìn xuống, thường có những chúng sanh nằm ở dưới, có khi sống khi chết. Một tấm thân cũng đầy đủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nằm trơ trọi như vậy, không có danh phận, không ai thèm nhìn ngó tới, sống chết chẳng ai quan tâm. Có ai biết ngũ uẩn này tên là gì, nhà ở đâu, học ngành gì, bằng cấp gì?
Tất cả chúng ta vô lượng vô biên kiếp đã từng như vậy, nên thấy có một số người tu học nhưng sợ cái này sợ cái kia sợ cái nọ. Chưa thấy được nỗi khổ của luân hồi, chưa thấy được nỗi khổ của ngũ uẩn. Đó là tên gì, họ gì, nhà ở đâu, học trình độ cấp mấy, bằng cấp gì? Tất cả chỉ là vô nghĩa, trống rỗng, không có gì, nằm ở đó như vậy. Chết rồi cũng không ai biết, nhiều khi người ta đạp trên đầu, dẫm nát cũng không cần quan tâm.
Khi mình đi có dẫm những con kiến chết không? Hay đạp trúng những con gián, con trùng không? Có ai làm đám ma cho nó không? Đó cũng là một ngũ uẩn, cũng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì mình chấp vào thân xác này, mình chấp vào hình hài này, mình chấp vào bản ngã hơn thua này rồi thì mình ngu si, vô minh, mê muội trong này. Vài ngày nữa mình chết thì người ta đi mả lạng người ta đạp lên trên đó.
Như hôm trước ở ngoài miền Trung núi sạt xuống, những con kiến bò lại ăn, chín giai đoạn của một tử thi không phải chỉ ở con người. Chúng ta nhìn những con kiến đang bu lại, nó xơi thức ăn của nó. Không phải đi vào nghĩa địa mới nhìn thấy, ngay trước mắt chúng ta, nhiều khi chúng ta không thấy. Nãy giờ lên tu quý vị có thấy con đó không? Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, không tác ý cho chúng ta thì chúng ta không thấy.
Đó là kinh Tứ Niệm Xứ, không phải là mở trang kinh Tứ Niệm Xứ là thấy được Tứ Niệm Xứ trong đó, Tứ Niệm Xứ là ở trước mắt, trước mặt, ở kế bên mình, ở bên phải, bên trái mình, trước mặt mình. Mình không thấy nên Đức Phật mới gọi mình là vô minh, đó là thân hành niệm, là quán thân trên thân. Còn bao nhiêu những thứ mà chúng ta không thấy mà mình lại nghĩ là mình thông minh lắm, mình biết hết, nói tới mình là “Đâu có đâu!” Nói tới là vậy, vô minh và bản ngã dày đặc, bao biện, bao che, bao vây, ngụy biện, quanh co, che chắn đủ thứ. Không tu được. Chỉ có một chút ở trước mắt mà mình còn không thấy.
Ở ngoài miền Trung, mấy tháng nay mưa gió làm sạt lở, núi sạt xuống, đá đất tràn xuống, một số lấp hết mộ, một số mộ bị trồi ra, trào lên, lộn xộn xương của người này người kia. Hàng mấy chục, hàng trăm ngôi mộ, một số chôn vùi, một số bị bốc trào lên, nước chảy, đất đá sạt xuống nên bị trào lên. Một số thì bị nhấn chìm xuống, một số thì bị bật lên.
Cũng giống với thời kì dịch bệnh, chôn tập thể, một số bị thiêu tập thể, ở Ấn Độ lấy những tro cốt thiêu rồi người ta xây lên làm một công viên để tưởng niệm chung cho những người chết ở thành phố đó, vì không biết ai là ai.
Mình là gì? Tên tuổi này là gì? Mặt mũi này là gì? Hình hài này là gì? Vì vô minh, ngu si, vì chấp ngã, khăng khăng trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm giác, mỗi hình bóng, nhận thức nào cũng ráng dán nhãn tôi vô hết để rồi mình đau khổ, mình khó chịu, bực bội, để rồi mình ray rứt, thao thức, bỏ ăn, mất ngủ, trầm cảm, điên loạn, sát hại, tham lam, dục vọng, hơn thua. Vậy mà mình không biết cuộc sống này là vô nghĩa.
Những tình cảm mà lúc trước khi mà mình mới bắt đầu kết hợp với nhau, nó ngọt ngào như thế nào? Đến bây giờ chia tay đắng cay như thế nào? Mình dành cho nhau như thế nào? Và tới giờ này nỗi niềm uất hận trong lòng mình như thế nào? Vô thường, vô ngã, vô tình, vô nghĩa là đời sống này, những vở tuồng của ngũ uẩn. Nhân duyên, nhân quả như vậy, tiếp xúc, gặp gỡ như vậy nên sanh ra những thọ, tưởng, hành, thức như vậy. Sau đó duyên biến thì thọ, tưởng, hành đổi thay, thức đổi thay.
Mình không phải mới đau khổ đây, mình không phải mới đau khổ từ việc này. Sáng nay từ Thánh Pháp Viện Minh Thành đi qua giảng đường chỗ ông Năm, sau đó Minh Thành xuống ngồi thiền một lúc với đại chúng. Trên đường đi thấy một con mèo, nó gặp Minh Thành hai mắt nhìn tròn xoe và rúc người lại vì trời lạnh, sương, dưới gốc cây trà. Nhưng nó nhìn bằng ánh mắt rất xót thương, ánh mắt hiền từ, ánh mắt như cầu xin, ngẩng mặt lên, người thì rúc lại dưới gốc cây trà, mặt thì ngẩng lên, mắt thì hướng lên với ánh mắt như cầu xin.
Minh Thành đứng lại nói ba pháp quy y trong tâm. Như vậy thì từ đó đi qua tới rồi xuống đây mà cảm thọ cũng còn chưa tan, xót xa cho những đời sống trong vòng luân hồi này. Vô đây rồi thấy những con bướm, con kiến, những con người, cũng là con, những con người cũng mang vác những tấm thân đầy rẫy những nhơ nhớp, bệnh tật, đầy rẫy những tham, sân, si, ngã mạn, kiêu căng, cao ngạo, ngạo mạn.
Lúc nhúc là những con chìm trong biển khổ, biển lửa, biển dục, biển khổ, biển vô minh, chìm ngập trong những biển lửa của hơn thua tranh đấu. Từng suy nghĩ là không chịu thua, thua người chẳng chịu người thua mới vừa. Chỉ suy nghĩ súc vật, súc sanh, những suy nghĩ của hổ báo, cọp sói, hơn thua, giành giựt, đấu đá, đâm chém, đánh đập. Những suy nghĩ của ích kỷ, lợi dụng, phản trắc, nghịch tử, bất hiếu, phản phúc, vô ơn rồi ra những tấm thân đầy rẫy những bất an, tai họa như vậy.
Những tấm thân ngạo mạn, kiêu căng, bóng đêm bao trùm, bao phủ hết thân tâm của mình nên mình phải nhìn ra được những suy nghĩ, thầm ý trong tâm để diệt nó, diệt những mầm móng địa ngục, ngạ quỷ súc sanh. Nhiều khi mình nằm nhắm mắt không ngủ nhưng bên trong thọ, tưởng, hành vận hành thì Minh Thành vẫn chửi như thường, trong này quân tập những cái xấu xa, bẩn thỉu, chấp thủ. Để rồi nó tạo ra những khổ đau cho nhau, kết hợp lại làm cha, mẹ, con, anh, em, cô chú, dì rồi bắt đầu hành tội, hành hạ, hành xác với nhau.
Vì vô minh, ngu si, nghiệp. Nếu mình không gặp dòng pháp này thì mình có hành hạ với nhau không? Giờ khi mình vào dòng pháp này rồi thì lâu lâu mình có hành hạ với nhau không? Còn làm khổ cho nhau? Đừng nói chi là mình không vào dòng pháp. Nên đó là mình kết hợp lại làm khổ cho nhau, kết hợp tạm gọi là chủ động, tức là gọi là kết hợp yêu đương vợ chồng, bạn bè, là mình chủ động. Mình có quyền chọn bạn không? Mình có quyền chọn người thương để lập gia đình không? Đó là chủ động. Nhưng dù là chủ động nhưng cũng bị động trong nghiệp.
Bạn bè là do mình chọn, người yêu thương là do mình chọn, gia đình là do mình suy nghĩ kĩ bao nhiêu năm rồi mình mới kết hợp. Đến cuối cùng kết hợp vậy với nhau là nghiệp và nhân quả, làm khổ cho nhau. Vì trong này người nào cũng đầy rẫy tham, sân, si, hơn thua, bản ngã. Bản ngã này đụng với bản ngã kia, tham này gặp tham kia, sân này chạm tới sân kia, vô minh này tấn công vô minh kia, như vậy, sự kết hợp của khổ đau được thành lập, sự kết hợp trong đau khổ, bóng đêm, những tham, sân, si, bản ngã.
Nên điều này Minh Thành có tu ở đời trước rồi, vì từ lúc nhỏ sinh ra, đến khi mấy tuổi thì cũng không thấy yêu thương với ai sâu sắc tận cùng sống chết. Từ lúc nhỏ xíu mấy tuổi Minh Thành đã thấy khổ dài dài, cha mẹ, anh em, mình nhìn thấy những người lớn, vợ chồng, cho đến khi vào chùa tu cũng không có tình cảm đậm đà, siết chặt, huynh đệ đồng môn, tâm phái, đều không có tư tưởng đó.
Cho tới bây giờ, nếu mình không thành tựu Chánh tri kiến kết hợp lại để làm gì? Khi nghe quý ni sư tâm sự cuộc đời tu trong nước mắt, quý ni sư về ngồi kể cho Minh Thành nghe suốt mấy tiếng đồng hồ ở trong nước mắt, người tu với nhau mà hành hạ, hành tội với nhau.
Nên những cô tu ở đây rất phước báo nhưng không biết trân trọng, mất phước rồi thì khổ lắm. Tu với nhau mà dày vò, hành hạ, đay nghiến, làm cho nhau đau khổ. Nhưng không phải bên ni như vậy mà bên tăng cũng như vậy. Tăng có tham, sân, si không hay là chỉ ni mới có, bản ngã còn dữ hơn, không biết tu là cũng kết hợp lại, tăng là đoàn thể đẹp đi trên con đường vui, phải là thấy đúng thì mới đi trên đường vui được, còn không thấy đúng thì tụ hội lại chỉ để gây lộn, hội họp lại để cãi lộn.
Nên tất cả sự tụ hội phải là sự tụ hội của bậc Đa Văn Thánh đệ tử, tụ hội đó mới là chứng hội tinh ba, còn không là chứng hội cặn bã. Tụ họp lại để làm đau khổ cho nhau. Từ trong câu chuyện đó mình nhìn rộng ra, quán chiếu ra, tụ hội thì bắt đầu của sự hội tụ là nước mắt mà sau khi chia tay rồi cũng bằng nước mắt, tụ hội mà trong luyến ái gặp nhau có khổ không? Ái biệt ly khổ. Đó là bắt đầu của sự hội tụ là trong nước mắt, sự kết thúc cũng trong nước mắt, ở giữa có nước mắt không?
Nhưng chúng sanh lại thấy vui, thích, ham, mê trong đó, như vậy mới gọi là vô minh. Nên Minh Thành học theo Đức Phật dạy viễn ly nên né tránh càng sớm càng tốt, mình thấy người khác lại kiếm chuyện thì mình né. Đi tới để giúp nhau tu học, tăng thượng giới đức thiền định trí tuệ, tăng thượng sự ly tham, nhàm chán, thoát ra thì đó là cần quý kính nhau, đảnh lễ, tôn trọng nhau. Còn nếu đến để tham, sân, si, bản ngã nhau thì đừng đến, đừng hội tụ để làm gì.
Vậy nên trong khuyến tấn đạo tràng thì chúng ta hội tụ trong gì? Sau đó thì giải tán trong gì? Mình làm được những câu trong quyển Nghi thức tu học Nikāya là thành công. Những cái đó đều là những chất liệu quý giá, vô giá, vô thượng. Chúng ta ở đây có hòa ái không? Có an vui không? Không có tuyệt đối nhưng có khá không? Còn nếu không hòa ái thì nhìn mặt đã thấy sợ, nhìn bặm trợn như vậy?
Nên vô minh, nghiệp và nhân quả phải quán chiếu kĩ những điều này. Mình có nghiệp thì người ở chung mình cũng có nghiệp, thông cảm nghiệp cho người ta. Mình cũng có nghiệp, người ta cũng có nghiệp, sao mình không hiểu cho người ta? Và tất cả đều có nhân quả, nhiều khi có nhân quả mình gặp người này, gặp chuyện này, mình ở trong hoàn cảnh này là có nhân quả, không trách ai mà trách mình.
III. Lấy bệnh khổ làm thầy
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Qua ba tháng mấy con ở Linh Quy Pháp Ấn thì con cũng nhìn được tham khi nó trỗi lên, thúc giục thì con lúc đó cũng chưa nhìn nhận được, một lúc sau thì con mới chế ngự được đôi chút. Khi con sân thì con biết cái đó là không tốt, con thấy cái đó thì con nói “Tâm này là tâm súc sanh, đừng nổi lên như vậy.”
Khi vào dòng pháp này phải hiểu dùng như lý tác ý đánh đuổi nó ra “Mày đã chìm ngập lâu lắm rồi. Mày muốn bị đọa nữa sao?” Khi con si, trong lúc hôn trầm, con đấu tranh rất nhiều. Con quán lại Chín giai đoạn tử thi “Mày còn ngủ nữa không? Mày muốn chết à?” Trong lúc đó con mới đỡ được một chút, con mở mắt to và trợn lên để cho nó tỉnh.
Con thực hành ba pháp thì con cũng làm được nó đỡ đau, đỡ nhức, trong lúc con bệnh thì con nhìn thấy cảm thọ rất đau khổ. Con mới tác ý rằng, chỉ là cảm thọ, đừng chấp vào chỗ đau đó nữa, con sống lạc quan, con không bận vì chỗ đau. Có đôi chút thì con cũng chịu không nổi, quên tác ý hình bóng chỗ đau cứ dày vò con miết. Con cố làm cho quên nhưng không được, suy nghĩ “Chỉ là nghiệp, mày ráng trả đi.” Dần dần con tác ý thân đau, tâm không được gục ngã thì tâm con mới cứng cỏi nếu không con không đi được.
Vết mổ của con đã rất lâu nhưng không ngờ hôm nay nó lại làm con đau khổ, trong lúc con bệnh, con nhìn thấy được thân tứ đại này rất là đau khổ. Con nhờ các sư cô, các quý cô động viên con thì con rất dũng mãnh, không còn sợ hãi nữa.
Sư phụ giảng giải:
Khi tu học, lấy bệnh khổ làm thầy. Người không thấy đúng về pháp thì khỏe người ta tu không được hay bệnh người ta tu cũng không được. Khỏe thì đi theo buông lung phóng dật, tham dục, tham ái, còn bệnh thì dính mắc vào cảm thọ khó chịu, khổ sở, đau đớn. Còn người thấy đúng pháp, hoàn cảnh nào cũng tu được, nhất là hoàn cảnh bệnh, lại là một cơ hội rất dễ để cho mình thể nhập trí tuệ, thấm thía về bệnh khổ của tứ đại ngũ uẩn này, của đời sống này.
Nên như khi nãy cô chia sẻ rất là tốt, không phải mình lạc quan và cũng không phải là mình bi quan mà mình là tuệ quán. Chúng ta nhớ từ lạc quan, bi quan của thế gian. Thế nào gọi là lạc quan, thế nào gọi là bi quan?
Bi quan là cách nhìn, bi là buồn bã, bi ai, là cách nhìn theo kiểu buồn đau. Còn lạc quan là cách nhìn theo kiểu vui sướng. Hai cái đó không phải là trí tuệ, nó chỉ là những phần nhiều nằm trên tưởng của phàm phu, còn cách nhìn của mình là tuệ quán như thật tuệ tri, quán chiếu thì mình nhìn sâu vào, nếu như lúc nào mà nó buồn chán, tâm mình chùng xuống thì lúc đó mình phải tác ý hỷ lạc. Tuy rằng thân mình bệnh nhưng tâm không bệnh, tuy là thân mình bệnh nhưng mình gặp được pháp bất tử.
Lúc nào tâm mình buồn, chán, nản thì mình phải thoát ra khỏi tâm bất lạc đó. Bất lạc nghĩ là không vui, không vui nghĩa là buồn. Lúc nào tu mà tâm mình nói “Tu mà sao nhìn thấy còn tham, sân, si, bản ngã nhiều quá, lậu hoặc nhiều quá thì tu biết đến chừng nào cho xong? Khó quá, lạnh quá, bệnh quá, tu học nhiều quá.” Lâu lâu chúng ta có nghĩ như vậy không? Như vậy thì chúng ta phải trị nó.
Mình phải tác ý mình diệt cái đó, rồi mình tác ý hỷ lạc hân hoan lên, tác ý pháp bất tử. Mình đem thân sanh tử này, thân bệnh khổ này để mình đạt được tâm bất động giải thoát để mình gõ cánh cửa bất tử, bước vào cánh cửa bất tử, thể nhập vào cửa bất tử. Mình làm cho hân hoan, hỷ lạc lên.
Đó là một phương diện, còn phương diện thứ hai là mình cho nó thấm thía cái khổ này tận cùng, mình lấy bệnh đó làm đề tài sống của thiền quán để cơ hội đó là thể nhập Khổ Thánh Trí. Nên mỗi lần Minh Thành bệnh là Minh Thành bước lên một cấp bậc mới, mỗi lần bệnh vậy là trí tuệ thành tựu lên thêm một bậc nữa. Nên nhiều khi bệnh thì Minh Thành cũng không chống đối cơn bệnh hay mong muốn nhanh nhanh để hết bệnh mà để cho mình thấm thía bệnh đó, thấm thía cảm thọ khổ này. Đây là cơ hội để cho mình thể nhập trí tuệ thâm sâu nhất mà trước nay mình chưa có cơ hội, nên thường là mình lấy bệnh khổ làm thầy. Mình bị người ta trù dập, bị người ta chỉ trích, chê bai, mắng chửi thì mình lấy cái khổ đó để mình thể nhập luôn.
Ví dụ con thỏ bị mắc bẫy thì sẽ bị người thợ săn túm lấy, còn nếu bẫy thỏ đó mà voi đạp vào thì nó sẽ lôi đi luôn. Nếu voi đạp trúng bẫy của những con thỏ, hươu, nai thì nó đạp, kéo bẫy đó đi luôn, nó đạp, dẫm nát hết.
Cũng vậy, người không biết tu, người có trí kém, tuệ cạn, không thành tựu Chánh kiến thì khi mình bị một chút khó khổ là mình nản. “Thầy không thương, thầy chỉ rầy thôi, huynh đệ không thương, huynh đệ chỉ chỉ trích lỗi của mình, mình bệnh không ai quan tâm mình hết!” Ngồi đó rồi tà tư duy, phi như lý tác ý, rồi lại tủi thân, trách phận, buồn cái này cái kia rồi nửa đêm quải đãi đi xuống núi, không chào sư phụ hay thầy chúng gì mà nửa đêm âm thầm cuốn gói đi. Đó là ma đưa lối, quỷ dẫn đường, tìm những chỗ đoạn trường mà đi. Những lời đó là những lời của ma, lời của vô minh, ngu si, tham ái, chấp ngã, phàm tình, mê tình, si tình, thường tình, vọng tình, tình chấp, không phải là lời của trí tuệ.
Lời của trí tuệ là thầy thương mình thầy mới rầy đó. Thầy lo cho mình nên thầy mới nhắc nhở. Thầy muốn cho mình tốt, muốn cho mình tăng thượng, thầy mới đẽo gọt cho mình khúc gỗ thành tượng Phật. “Như vậy nhà ngươi muốn khúc gỗ này để mãi để đốt lửa cho bếp hay là để nó thành củi mục? Hay là nhà ngươi muốn khúc gỗ này được đẽo thành tượng Phật? Muốn cái nào? Mỗi lần nói tới ngươi là ngươi khó chịu, bực bội, súc sanh, súc vật.”
Như vậy là Chánh tư duy, Thánh tư duy, là như lý tác ý, còn đây là nhắc đến chút là mặt khó chịu, mấy ngày sau gặp là né, thấy bóng là lủi lủi vào bụi cây. Phải Chánh tư duy, phải hân hoan, vui mừng, học thì học giống như chỉ chỗ chôn vàng nhưng đến lúc thật thì chạy hết và không thấy chỗ chôn vàng. Minh Thành để ý rất nhiều. Nên mình không hưởng được lợi ích lớn, an lạc lớn, hạnh phúc dài lâu, mình không hưởng được. Mình thích an an ổn ổn, bình bình yên yên, như lục bình trôi sông, lại thích như vậy.
Giờ là huynh đệ tốt, hảo huynh đệ, huynh đệ hiền trí, mới có một sự nhìn nhận giúp cho mình nhìn. Mình chỉ có hai mắt nên nhìn không thấy nhưng người ta có mười mắt, hai chục con mắt người ta nhìn cho mình. Hảo huynh đệ tốt, quỳ xuống cám ơn, nếu không thì đến chỗ lạy Phật hay chỗ tác ý thì mình phải tác ý cảm ơn.
Bệnh thì cảm ơn bệnh, nhờ có bệnh mà mình mới thấy được cuộc đời này khổ. Nhờ có bệnh mà mình mới thấy được tứ đại này là vô thường. Nhờ có bệnh mà mình mới vạch trần được sự thật bị đóng kín, gói lại ngàn năm. Mình mới nhìn ra được ổ vi trùng, vi rút, vi khuẩn này, mới nhìn ra được bao máu mủ đầy tai ương, ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn… Đều là nhờ bệnh này mình mới giảm bớt buông lung phóng dật, dục, tham, ái. Tham ăn quá nhiều nhưng nay bệnh ăn hết được thì cảm ơn.
Đức Phật có dạy bài kinh Trai giới, kẻ trai giới người chăn bò, cứ nay ăn gì, sáng ăn gì, trưa ăn gì, chiều ăn gì. Đức Phật chia ra trai giới có mấy loại? Thứ nhất là trai giới người chăn bò, thứ hai là trai giới của ngoại đạo, thứ ba là trai giới của bậc Thánh.
Trai giới người chăn bò là chỉ hỏi ăn không, ăn món gì, là trai giới trong sự tham dục, tham cầu. Trai giới của ngoại đạo là trai giới trong sự nói dối, tu trên ảo tưởng, nói là “Tôi không có gì hết, tôi buông xả hết tôi không có gì hết” mà chỉ nói miệng, trong tâm lại có hết. Cứ nói “Tôi vì tất cả mọi người, tôi vì vô ngã, vị tha, tôi vì Tam Bảo thôi. Tôi không vì tôi.” Nhưng đó chỉ là nói trên miệng, trên suy nghĩ, không có thực chứng.
Thế nào là trai giới các bậc Thánh?
Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi.
(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)
Ý nói, trai giới của bậc Thánh là trai giới tẩy sạch tâm cấu uế.
Vậy nên khổ giúp cho mình tu, cô nhờ khổ đó mới có mặt ở Linh Quy đúng không? Như cô Quảng Châu, nhờ cái khổ mới có mặt ở Linh Quy, không có khổ thì không có mặt ở đây, giờ đang tung tăng ở Mỹ. Như vậy nên cảm ơn cái khổ, quỳ xuống, mỗi ngày lạy cái khổ đó, tôn cái khổ đó là thầy.
“Minh Thành cảm ơn ông Năm bà Năm, anh Tý, anh Giác, chị Mai!” Nếu lúc trước không gặp cảnh ông Năm cầm chổi rượt bà Năm ở ngoài đường thì không có đi tu, là nhờ ông ấy rượt bà ấy. Nếu ngày xưa Minh Thành không bị đánh bầm mình thì Minh Thành đã không đi tu.
Nên cảm ơn cái khổ, lấy khổ làm thầy, mỗi ngày lạy cái khổ đó, vào bàn thờ lạy, thời khóa xong rồi thì cám ơn cái khổ, cảm ơn cái bệnh, lạy cái bệnh. Tu xong thời khóa rồi thì đứng lại một mình rồi lạy cái bệnh, cảm ơn cái bệnh, bệnh mới ở đây, nếu khỏe khoắn, tươi trẻ thì chưa chắc đã ở đây.
Mình vui, mình khỏe, mình trẻ, mình đẹp mình giàu, tất cả thuận duyên hết thì tu làm chi? Tu làm gì? Như Nguyên Tú giờ bệnh nhiều, giờ là quyết tử, bỏ hết học vị, bằng cấp, danh lợi, chùa chiền, hưởng thụ gì đều bỏ hết. Nên cảm ơn bệnh, lạy bệnh, kêu bệnh là sư phụ. “Con cảm ơn sư phụ!” Lạy mỗi ngày, lạy sư phụ đó.
Nên bệnh không nên tủi thân chút nào mà bệnh là lạy bệnh, cảm ơn bệnh, tôn kính bệnh, bệnh này là thầy, là sự thật, là chân lý, là Thánh trí, ngày nào cũng lạy bệnh đó, không sân với bệnh, lạy bệnh đó. Lấy bệnh khổ làm thầy.
Nên nhiều khi những người làm cho Minh Thành đau lòng thì Minh Thành nói cảm ơn những người đó, vì nhờ họ mình mới thấy được bản chất, sự thật của cuộc đời này. Mình hướng dẫn cho tu học đến ngày cuối cùng ra đi thì lại trách mình, oán hờn thì Minh Thành nói “Cảm ơn, rất cảm ơn. Giúp cho Minh Thành thấy được sự thật vô thường, vô ngã, vô tình, vô nghĩa.” Đúng sự thật như vậy, tứ vô.
Cuộc đời của Minh Thành và ông Năm cũng giống vậy, đều là làm cho người ta xong lại mang tiếng xấu nhưng cảm ơn, rất cảm ơn, để mình thấy được bản chất thật sự của ngũ uẩn, của đời sống này đều là vậy. Rồi mình mang tiếng xấu, khi mình đem hết cả tấm lòng, đem hết tình thương, nhưng cuối cùng thì mình lại mang tiếng xấu. Minh Thành cảm ơn những vị đó nhưng Minh Thành chúc phúc cho các vị đó, cảm ơn nhưng thương vì họ sẽ đau khổ, vì họ không nhìn thấy, nên tại sao Minh Thành thường hay nhắc tự thân mình, nhắc nhở tất cả chúng ta bốn chữ biết ơn nhớ ơn, mỗi giây phút đều không quên.
Thế Tôn đã nói:
Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Năm Pháp – Phẩm Bà – La - Môn - Bài kinh Bà La Môn Pingiyàni)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, thật sự rất ít, rất là ít, hiếm có, hy hữu, khó gặp, là báu vật trên đời này, tức là biết ơn, nhớ ơn.
Đức Phật không nói báo ơn, đền ơn mà Ngài nói biết ơn và nhớ ơn, đó là báu vật hy hữu trên thế gian này.
Nên đó là tại sao ngày vừa rồi Minh Thành quỳ xuống lạy luôn cả người nấu bếp, là để nhắc cho tự thân mình và Minh Thành cũng muốn nhắc cho đại chúng. Vì Minh Thành đã chứng kiến rất nhiều người không nhớ ơn, biết ơn.
Nên Minh Thành thăm giáo sư Nguyễn Khuê tám mươi mấy tuổi có lên đây, thầy ấy rất xúc động. Vì thầy cũng là thầy giáo, Minh Thành cũng là thầy tu nên kêu Minh Thành là thầy nhưng Minh Thành chỉ xưng là con. Giáo sư thì gọi thầy ơi, có khi là giáo sư xưng với Minh Thành là con “Con dạy rất nhiều khóa nhưng người có thể về thăm con hiếm lắm thầy ơi. Biết bao nhiêu người, từ ngoài đời đến trong đạo. Con học đã hai mươi mấy năm giờ con vẫn trở về thăm thầy và con bị la rầy rất dữ dằn, nhưng nhờ bị la rầy thì con lại nhớ và học giỏi, trở thành học sinh xuất sắc, là nhờ la rầy.”
Vì lớp người ta học một năm chữ nho, Hán tự, cổ văn, học một năm thì con mới vào. Vào rồi thì con không biết chữ chi mà dịch thành chữ bà, nhưng học lúc đó không hẳn là một tháng, hai tháng nhưng ở giữa lớp thầy nói thầy không biết gì hết, thầy la mạnh, rầy mạnh. Nên lúc đó con cảm thấy xấu hổ, con cố gắng học thì cuối cùng trở thành một trong những học sinh xuất sắc. Thầy thương lắm, đi đâu thầy cũng dắt lên học viện dạy thầy cũng dắt.
Khi Minh Thành quay về thăm là thầy đã hơn tám mươi tuổi, tóc bạc phơ, Minh Thành mời thầy lên đây. Nói chung, thật sự là khó trên đời này người biết ơn và nhớ ơn. Phải nhớ, không được quên, dù cho người đó làm ơn cho mình nhỏ nhất, một chút thôi thì mình cũng đừng quên, huống chi là cha mẹ, thầy tổ.
Nên những người nào lên xin Minh Thành ở đây tu học mà lại nói xấu sư phụ của họ là Minh Thành không nhận. Sư phụ của họ mà họ còn nói xấu thì mình sau này chắc cũng vậy. Và ngày đầu tiên chưa gì mới lên gặp mà đã nói xấu thầy của mình thì như vậy là vong ơn, bội nghĩa. Dù thầy có làm bất cứ điều gì thì ân đức của mình là học trò. Này các Tỳ-kheo, thật là khó kiếm, khó gặp, hy hữu trên cuộc đời này là người sống biết ơn và nhớ ơn.
Sau này về già, gần chết cũng kể chuyện cho chúng ta nghe, hay không biết còn sống tới già không? Nghe là quý vị bất ngờ vì có thể đóng thành phim nhiều tập. Nhờ tâm mình biết ơn, nhớ ơn như vậy nên mình mới gặp được bậc chân nhân còn nếu mình không có được tâm đó thì không thể nào vào pháp này được. Nên biết ơn bệnh, khổ, biết ơn những người đã gây chướng ngại cho mình.
Mình cảm ơn những người thiện tri thức ở trong gia đình của mình đã giúp cho mình thấy khổ. Mình cảm ơn những người ở thành thị giúp cho mình thấy được sự thật. Mình cảm ơn những người ở núi rừng giúp cho mình thấy được sự thật, họ đối xử với mình phũ phàng thì cũng cảm ơn. Đến cuối cùng mình thấy được sự cứu cánh là sự viễn ly, thoát ra mới được, không có chỗ nào là chỗ an ổn trong ngũ uẩn này hết. Dù là đi trong rừng sâu cũng đầy rẫy tham, sân, si bên trong, lừa gạt bên trong. Chỉ có một khách đi ra khỏi ngũ uẩn thì mới thật sự là đại an ổn, cứu cánh của bình an, còn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là còn tai họa, còn bất an, còn nhiều ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan.
IV. Trình pháp 2
Phật tử số 4 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý ni sư, quý chư tăng ni và các bạn đồng tu.
Hiện tại thì con cảm thấy rất may mắn, vì đã được thức tỉnh sớm. Con nhớ lại ngày trước con như một người khác, hiện tại con là một người khác.
Lúc trước con không biết về đạo, gia đình con không ai theo đạo hết. Trong đại dịch, trong sự khốn khó, sự mông lung đó, mệt mỏi đó thì có một sư ông, nhờ nghe pháp thoại thì con đã tỉnh thức bằng một tình thương, bằng một sự an lạc đó. Sau đó thì con không biết gì về kiến thức Phật giáo mà con chỉ nghĩ về khổ quá rồi, quá mệt mỏi thì con quyết tâm là hướng theo những người thiện lành, những gì an lạc nhất thì con sẽ đi theo. Và từ đó trong sự không biết gì hết thì con nghĩ cứ đi theo thiện tri thức thì con sẽ là người thiện tri thức, con sẽ được thiện lành.
Theo dấu chân của sư ông thì con đi tìm những quyển sách hay những nơi mà người đã đến để mà có thể tìm thấy một cái gì đó để an lạc. Vô tình con đọc được quyển sách của sư phụ, sách xuất gia toàn tập tập ba, con thấy được một nội lực trong đó, sau đó con vô tình thấy được bài Tham, sân, si thì con lên được tới đây.
Con nói sơ khởi như vậy để cảm thấy được sự an lạc của mọi người sẽ giúp ích cho rất nhiều người ở ngoài kia, nên bản thân con sẽ cố gắng, cố gắng mình cũng được an lạc để lan tỏa được năng lượng này.
Khi đến được Linh Quy Pháp Ấn, cho đến hiện tại thì con thấy rõ về sự khổ mà ban đầu con cảm nhận được chỉ là một cái rất nhỏ. Chỉ cái nhỏ đó mà hành hạ thân của con cũng như con và mọi người. Giờ mở rộng hơn về sự khổ thì mới thoát ra được.
Và con cũng hiểu được tình thương rộng lớn hơn, không những tình thương đó có một sự gò bó, ràng buộc, mà đó rất rộng lớn, hiểu và thương cho nhau. Nên đây là con hiểu được hơn lý do vì sao con có mặt ở đây, mọi người có mặt ở đây và tại sao mọi người khổ. Đó là một sự không thấy rõ được bản chất thật sự của cuộc sống này, thân tâm này là do sự chấp thủ, nắm giữ, và sự tan hoại, mình không rõ được sự tan hoại và biến đổi này, mình cứ cho là mình nên khi mà bất như ý xảy ra, mình đau khổ, mình còn đưa đau khổ cho người khác nữa, con bắt đầu hiểu ra thì con dễ dàng chấp nhận, con chấp nhận học pháp một cách dễ hơn một chút tuy là vẫn chưa hoàn toàn.
Còn về phương pháp tu học, hiện tại con nhìn được thân tâm của con, con cũng chỉ nhìn được phần thô thôi, một ít, nhưng cũng đang gặp một ít khó khăn là trong khi thực hành, tâm con rất dao động, con chưa định tâm được nhiều nên việc con nhận diện ngũ uẩn thì lúc rõ, lúc chưa rõ. Bình thường trong lúc sinh hoạt, có lúc con chánh niêm được thì con nhìn được, do con đã nhìn lại thân của mình rất nhiều nhưng tâm của con rất dao động.
Con xin bạch sư phụ và đại chúng hướng dẫn thêm cho con. Khi con ngồi thiền thì con bị áp lực về nhận diện ngũ uẩn, sau đó con còn bị vọng tưởng rất nhiều, có khi con bị dẫn đi, vướng mắt rất nhiều. Lâu lâu con mới thỏa ra được một chút nên hiện tại con chỉ quay về hơi thở của con và con đành phải nhịn hơi thở, có tất cả hình ảnh hay suy nghĩ thì con cũng sẽ cho đi ra. Cái này con không biết là như vậy có đúng không thì nhờ sư phụ dẫn thêm cho con.
Trong một buổi ngồi thiền của con thì ban đầu, con bị vọng tưởng nhiều còn về phần cuối thì con cũng có được một ít lợi lạc từ chính cái đau trong cơ thể của con. Do con tập ngồi kiết già nên lúc đau nhưng chính vì cái đau này thì lúc đó con mới thấy rõ được mà mình đang bị mắc, dính vào thọ đó rất nhiều. Sau đó con quán chiếu, tác ý cho mình rất ít là “Thân này mình còn chấp nhiều, nên mình mà thấy thọ này tồn tại và thọ này, thức này rồi cũng sẽ tan hoại, cũng sẽ biến đổi khi con tháo chân ra thôi.” Và cũng có thân này đau là ai đau, chỉ là sự duyên hợp, nhưng tại sao mình cứ bị đau hoài, mình cứ bị khó chịu. Lúc đó thì con tự tác ý được là con hiểu là quay về nói “Cảm thọ ơi nhẹ nhàng đi, an tịnh, dễ chịu lắm!”
Lúc đó thì bỗng dưng con tách được một ít là mặc dù con biết được chân đau nhưng thật sự là con cảm thấy được sự an lạc trong tâm của con. Tuy cái này không nhiều nhưng đó là một động lực để con tiếp tục cho sự quán chiếu này.
Sư phụ giảng giải:
Cô cứ thực tập ba pháp cho vững, dù chưa nắm được phần căn bản. Thực tập ba pháp cho vững rồi từ từ thực tập nhận diện ngũ uẩn, trước là hai điều đó. Tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, trong nói còn dục rất nhiều, còn thúc giục. Mình tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là tuyệt đối quan trọng trong đạo tràng, khi chưa được an tịnh lắng dịu mà bên trong còn thúc giục, còn mau, nhanh, lẹ thì tham, sân, si mình sẽ không kiểm soát được. Nếu mình không nhận diện được ngũ uẩn thì mình sẽ không kiểm soát được tham, sân, si.
Vậy nên mình phải đi từ căn bản. Và muốn học pháp này đầu tiên là phải hạ gục được bản ngã, bản ngã của mình lớn quá thì mình không học được đâu.
Thầy Thiện Huệ trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Con xin được trình pháp lên sư phụ và các bậc hiền trí.
Trong thời gian vừa qua, trong sự tu học của con thì con nhìn ra được: thứ nhất là sân, con nhìn nhận ra được nó, nhưng nhất là ở trong thân con. Như vậy nên mỗi ngày con đều thực tập tâm hiền, sự an tịnh, lắng dịu để con nhiếp phục phần sân của con. Kế đó là con thường xuyên thiền quán bài tâm từ của sư phụ, con hướng về đó để con diệt cái sân vi tế bên trong. Con quán chiếu trên thân hành niệm, Ba mươi hai thể trượt, Quán bất tịnh để con có trí tuệ để nhiếp phục dục tham, đó là công phu mỗi ngày của con.
Con kính trình lên sư phụ.
Và gần đây ý hành của con cũng phát hiện ra được, tuy là bên trong thiện pháp nhưng ý hành cũng có sự dằn co, cũng có sự chống đối qua lại nên nó cũng làm con mệt mỏi về phần ý hành bên trong.
Ví dụ như lúc sáng, khi con đang ngồi thiền thì thân tâm con có sự an tịnh nhẹ nhàng, có sự khinh an, lúc đó con đang tác ý để con hướng vào sơ thiền, nhưng nó dằn co với nhau, sâu bên trong là một sự thúc giục, nó nói “Bây giờ chọn lựa đi. Một là ngồi thiền luôn.” Một là xả thiền ra để nghe pháp sư phụ giảng buổi sáng, nhưng con nhìn kĩ bên trong thì ý hành vẫn là có tham ái, dính mắc vào cảm thọ hỷ lạc giữa thân tâm khi con đang ngồi thiền.
Nhưng lúc trước con tính xả thiền để chuẩn bị về cho kịp giờ nghe sư phụ thuyết pháp, nhưng con tác ý, con nghĩ ngồi thiền cũng là thiện pháp, nghe pháp sư phụ giảng cũng là thiện pháp. Nhưng ý hành cũng có dằn co với nhau, nên nhiều lúc nó bắt con phải chọn lựa, một là phải ngồi thiền, hai là xả thiền là nghe sư phụ thuyết pháp.
Đó cũng là một vấn đề khó khăn đối với con, con kính mong sư phụ từ bi, hoan hỷ, sách tấn, chỉ dạy thêm cho con phần này. Lúc đó con nên ngồi thiền luôn hay là con nên xả thiền để nghe pháp sư phụ giảng trực tiếp cùng với đại chúng. Ngoài ra con cũng kết hợp với oai nghi, đi, đứng, ngồi thì con cũng có tác ý bắt cho nó đi chậm nói nhẹ, khi mình làm việc gì thì con cũng nhắc nhở, huấn luyện sắc thân cho nó đừng thô tháo. Vì công phu của con ngay lúc này vẫn đang thực tập tâm hiền, tâm từ và nhiếp phục bản ngã. Đó là công phu mỗi ngày của con đang thực hành, con thấy cũng có hiệu quả trong lúc con thực hành. Con kính trình pháp qua sư phụ và đại chúng.
Sư phụ giảng giải:
Những pháp thầy thực hành là căn bản nên rất quan trọng, đó cũng là sự nhắc nhở lại cho tất cả trong đạo tràng. Còn vấn đề ngồi thiền hay nghe pháp, cái này cũng nên linh hoạt, nếu lúc đó, đối với thầy Thiện Huệ, nếu thầy thấy có những trạng thái hỷ lạc sâu sắc, có thể tiến sâu vào các tầng thiền thì được, cứ ngồi tiếp tục rồi nghe pháp lại sau.
Hoặc là lúc đó mình đang thiền quán, đang có cảm thọ thâm sâu, thẩm thấu thì mình tiếp tục trú trong thiền quán đó, lát sau mình nghe lại.
Đối với ngày bình thường thì mình phải cố gắng nghe pháp cho đều, không thì sẽ thấy nó mượn cớ. Nên cần nhớ rõ, không phải là “Sư phụ kêu rồi lúc đó ngồi là ngồi được luôn”. Ngồi lúc đó là ngồi ngủ là không được. Mình thấy có những trường hợp thăng tiến trong sự tự tu của mình, thì có thể lúc đó có trường hợp đặc biệt, mình tiến sâu vào thiền trí hoặc là thiền quán rồi lúc sau mình nghe lại, còn những lúc bình thường thì thời khóa mình đã biết rồi thì cứ giữ như vậy để mình nuôi lớn các thiện pháp.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Kết Hợp Để Làm Khổ Hay Giúp Đỡ Nhau?
Lấy Bệnh Khổ Làm Thầy!
Thích Minh Thành
Ngày 25 tháng 11 năm 2022
I. Trình pháp
Kính bạch chư tôn thiền đức, các bậc hiền trí.
Chúng ta có những vị ở xa vừa về núi đúng không ạ?
Phật tử số 1 trình pháp:
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Phật tử con pháp danh Quảng Châu, con cũng từ phương xa, cách nửa vòng Trái đất được trở về ngôi nhà thân thương. Đây là lần đầu tiên con được bước chân lên đến Linh Quy Pháp Ấn nhưng con thấy thật thân thương, rất xúc động. Nhân duyên con đến với Chánh pháp Nikāya này cũng được hơn một năm, vào tháng bảy năm 2021, con có một biến cố gia đình, giờ con là mẹ đơn thân. Biến cố xảy ra từ 2019, tức là từ 2017 đến 2019 con như sống chết, con đi khắp nơi tìm kiếm chùa này chùa kia, thầy này thầy kia để giải quyết cái khổ nhưng con không biết cái khổ của con là gì và cái gì tạo ra cái khổ.
Con cũng đã gặp nhiều vị thầy, cũng giúp cho con nhưng không giải quyết được vấn đề gốc, đến khi người cuối cùng là cô Phật tử tại gia, sau khi con đứng trước bàn Phật, con khóc rất nhiều, con nói tại sao con khổ quá mà con không biết cách giải quyết.
Ngày đó con gặp cô Phật tử tại gia là người giúp đỡ cho con và cô đưa cho con bài giảng của thầy, bài giảng về Tứ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí mà thầy giảng cho các quý thầy. Con tìm được đây là Chánh pháp, con rất xúc động, hạnh phúc và con nghe Chánh pháp Nikāya bài giảng của thầy hầu như mỗi ngày. Và con đã giải quyết được phần nào khổ của con là do tham, sân, si, vô minh, khát ái và không thấy được ngũ uẩn.
Con rất biết ơn, tri ơn sâu sắc đến Đức Thế Tôn và đến bậc ân sư của mình. Giờ duyên lành con được về đến chùa, sự tu tập của con còn rất nhiều thiếu sót và con chưa nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc, tinh tấn nên lần này con quyết tâm về đến chùa, nhờ sự hướng dẫn của bậc ân sư và các quý thầy cô, các bạn đạo hữu chỉ dẫn cho con, giúp cho con nhận rõ được ngũ uẩn, thực tập ba pháp.
Con kính trên thầy.
Sư phụ giảng giải:
Cô thấy Chánh pháp giúp cho cô giải bớt những đau khổ như thế nào?
Phật tử:
Con lập gia đình lúc mười chín tuổi thì con theo chồng qua Mỹ năm hai mươi tuổi. Cuộc sống hôn nhân của con nó không hạnh phúc, có rất nhiều mâu thuẫn đối với gia đình bên chồng và giữa chồng và gia đình của con. Mâu thuẫn đó, ngày nào con cũng đứng trước bàn Phật, con xin Phật gia hộ cho con, cho gia đình hai bên được vui vẻ, thông cảm với nhau, nhưng không giải quyết được, rồi sự mâu thuẫn càng ngày càng nặng nề, đến lúc đường ai nấy đi.
Cũng có nhiều nguyên nhân khác, nhưng mỗi lần con nghĩ đến gia đình chồng của con trước khi con vào dòng Chánh pháp này thì con rất khó chịu. Con rất giận, nhưng từ khi học Chánh pháp, con có duyên lành đọc được cuốn Tâm từ vi diệu của thầy, cách oan gia trái chủ và học được trải tâm xả, xả đi những lòng thù hằn, oán giận và sám hối oan gia trái chủ. Thì bây giờ, khi con nghĩ đến chồng con và gia đình chồng con thì con không cảm thấy khó chịu, không giận gì nữa mà con thấy rất thương họ.
Con có hướng dẫn cho chồng con đến với Chánh pháp này, anh ấy cũng là một Phật tử tu tại gia nhưng không có duyên. Nhưng nhờ Chánh pháp này, tâm con rất nhẹ nhõm, rất an lạc và con biết cách trải tâm từ cho chính mình, biết thương chính mình một cách đúng đắn, biết cách chăm sóc cảm thọ của mình, không để tham, sân, si dày vò. Con cũng thường xuyên nhìn vào cảm thọ, mỗi lần có cảm thọ sân hay tham thì con cũng biết được, cũng đôi lần nhiếp phục.
Con xin kính trên sư phụ.
Sư phụ:
Rất tốt. Cô có thuộc bài Niệm chúng sanh không? Nếu cô nhớ nên đọc lại.
Phật tử:
Tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả. Hãy buông xả và mau tỉnh thức, sống đúng trách nhiệm, sống đẹp với đời, nhận diện ngũ uẩn, thể nhập Thánh trí, diệt tham, sân, si, thoát ly sanh tử.
Sư phụ:
Cô lấy bài Niệm chúng sanh này làm đề tài thiền quán, tu tập, cho đến khi nào hoàn toàn những cảm thọ oán hờn, trách móc, tức giận được diệt tận, suy nghĩ về những người thân bằng một tâm từ, bằng tình thương, bằng một sự ngọt ngào khi mình nghĩ về họ, người đã từng làm khổ cho mình. Đến khi nào mình nghĩ về họ mà tâm mình vẫn ngọt ngào, vẫn thương, vẫn dạt dào một tâm cảm thông, thấu hiểu nỗi khổ của mình và nỗi khổ của người thì lúc đó hóa giải được những nội kết, hờn oán trong tâm, giờ chỉ là hóa giải được phần thô, tiếp tục tu tập nữa, cho đến cái tế, diệt.
Sư trình pháp:
Cung kính, bái bạch trên thượng tọa, kính bạch chư tôn thiền đức tăng ni, kính thưa quý đạo hữu nam nữ.
Diễn phúc thay con được một nhân duyên lành biết đến thượng tọa, biết đến nơi Linh Quy Pháp Ấn này, với cuộc sống và sự nghiệp tu học trên con đường xuất gia của con. Mặc dù thời gian tu học, xuất gia chỉ mới đây nhưng con được biết đến thượng tọa và được thực hành. Con nhận thấy pháp thực hành và thượng tọa đã chỉ dạy cho chúng con thiết thực và gần gũi, giúp cho mọi người thực hành theo và đạt đến sự Chánh niệm, an lạc và giải thoát ở hiện tại.
Hôm nay, con có duyên về đây, con mong trên thượng tọa từ bi, hoan hỷ, cho con nương theo pháp này và thực hành ngõ hầu cho bản thân con được sự an lạc, chánh niệm và giải thoát ở hiện tại.
Con xin thành kính tri ân thượng tọa và chư tôn thiền đức tăng ni, quý vị Phật tử đã hứa khả và cho con đến nơi này vào giờ phút này.
II. Khổ Thánh Đế
Sư phụ giảng giải:
Trong sự trình pháp vừa rồi của Phật tử đã cho chúng ta bài học rất lớn, là một đề tài tu tập rất lớn.
Khổ trên thế gian này nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ, chúng ta không biết tu thì mình hội tụ lại với nhau để làm khổ cho nhau. Nhóm họp lại với nhau để làm sầu đau cho nhau. Kết hợp với nhau để khiến cho nhau tuôn chảy những dòng nước mắt tận cùng thương đau.
Dù cho mình có tu nhưng tu không đúng Chánh pháp thì mình vẫn làm khổ cho nhau, vì mình không thấy được tâm mình, không nhìn tâm mình một cách chính xác, đầy đủ, vì mình không phát giác, phát hiện được những cảm thọ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã, phóng dật, hơn thua. Nên mình kết hợp lại với nhau phần nhiều làm đau khổ cho nhau.
Kết hợp này có khi là mình chủ động, có khi là mình bị động, nhưng nhìn sâu vào thì tất cả đều là bị động. Ví dụ mình sanh ra trong một gia đình, thì đó là mình không có quyền chọn lựa, mình không có quyền chọn ai là cha là mẹ, là anh, là em, mình không có quyền chọn mình mang tấm thân nam hay nữ, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo. Những hoàn cảnh đó là nghiệp quyết định, nên mình bị động, để mình kết hợp với nhau trong một gia đình gọi là bà con, huyết thống, anh, chị, em. Vậy mà sự kết hợp đó là do vô minh, nghiệp, nhân quả.
Vô minh là mình không thấy, không biết gì, mình không có quyền chọn lựa, trước khi mình sanh ra thì mình có chọn được không? Đó là vô minh. Giống như mình đi mà mình không thấy đường phía trước là gì. Vô minh và lý lịch trích ngang là dừng ở chỗ đó. Tức là mình không muốn, không chọn được, không thấy, không biết thì lấy gì chọn.
Đó là điều thứ nhất giải thích cho chúng ta dễ hiểu. Bài đó khi nào chúng ta thể nhập vào Thánh trí mới có thể hiểu được bài đó, mình không thấy, không biết.
Khi nãy Minh Thành xá Thánh tượng Đức Thế Tôn bước qua, trên đường đi qua có những con bướm chết. Thường khi Minh Thành xá Thánh tượng Thế Tôn thì Minh Thành hay nhìn xuống, thường có những chúng sanh nằm ở dưới, có khi sống khi chết. Một tấm thân cũng đầy đủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nằm trơ trọi như vậy, không có danh phận, không ai thèm nhìn ngó tới, sống chết chẳng ai quan tâm. Có ai biết ngũ uẩn này tên là gì, nhà ở đâu, học ngành gì, bằng cấp gì?
Tất cả chúng ta vô lượng vô biên kiếp đã từng như vậy, nên thấy có một số người tu học nhưng sợ cái này sợ cái kia sợ cái nọ. Chưa thấy được nỗi khổ của luân hồi, chưa thấy được nỗi khổ của ngũ uẩn. Đó là tên gì, họ gì, nhà ở đâu, học trình độ cấp mấy, bằng cấp gì? Tất cả chỉ là vô nghĩa, trống rỗng, không có gì, nằm ở đó như vậy. Chết rồi cũng không ai biết, nhiều khi người ta đạp trên đầu, dẫm nát cũng không cần quan tâm.
Khi mình đi có dẫm những con kiến chết không? Hay đạp trúng những con gián, con trùng không? Có ai làm đám ma cho nó không? Đó cũng là một ngũ uẩn, cũng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì mình chấp vào thân xác này, mình chấp vào hình hài này, mình chấp vào bản ngã hơn thua này rồi thì mình ngu si, vô minh, mê muội trong này. Vài ngày nữa mình chết thì người ta đi mả lạng người ta đạp lên trên đó.
Như hôm trước ở ngoài miền Trung núi sạt xuống, những con kiến bò lại ăn, chín giai đoạn của một tử thi không phải chỉ ở con người. Chúng ta nhìn những con kiến đang bu lại, nó xơi thức ăn của nó. Không phải đi vào nghĩa địa mới nhìn thấy, ngay trước mắt chúng ta, nhiều khi chúng ta không thấy. Nãy giờ lên tu quý vị có thấy con đó không? Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, không tác ý cho chúng ta thì chúng ta không thấy.
Đó là kinh Tứ Niệm Xứ, không phải là mở trang kinh Tứ Niệm Xứ là thấy được Tứ Niệm Xứ trong đó, Tứ Niệm Xứ là ở trước mắt, trước mặt, ở kế bên mình, ở bên phải, bên trái mình, trước mặt mình. Mình không thấy nên Đức Phật mới gọi mình là vô minh, đó là thân hành niệm, là quán thân trên thân. Còn bao nhiêu những thứ mà chúng ta không thấy mà mình lại nghĩ là mình thông minh lắm, mình biết hết, nói tới mình là “Đâu có đâu!” Nói tới là vậy, vô minh và bản ngã dày đặc, bao biện, bao che, bao vây, ngụy biện, quanh co, che chắn đủ thứ. Không tu được. Chỉ có một chút ở trước mắt mà mình còn không thấy.
Ở ngoài miền Trung, mấy tháng nay mưa gió làm sạt lở, núi sạt xuống, đá đất tràn xuống, một số lấp hết mộ, một số mộ bị trồi ra, trào lên, lộn xộn xương của người này người kia. Hàng mấy chục, hàng trăm ngôi mộ, một số chôn vùi, một số bị bốc trào lên, nước chảy, đất đá sạt xuống nên bị trào lên. Một số thì bị nhấn chìm xuống, một số thì bị bật lên.
Cũng giống với thời kì dịch bệnh, chôn tập thể, một số bị thiêu tập thể, ở Ấn Độ lấy những tro cốt thiêu rồi người ta xây lên làm một công viên để tưởng niệm chung cho những người chết ở thành phố đó, vì không biết ai là ai.
Mình là gì? Tên tuổi này là gì? Mặt mũi này là gì? Hình hài này là gì? Vì vô minh, ngu si, vì chấp ngã, khăng khăng trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm giác, mỗi hình bóng, nhận thức nào cũng ráng dán nhãn tôi vô hết để rồi mình đau khổ, mình khó chịu, bực bội, để rồi mình ray rứt, thao thức, bỏ ăn, mất ngủ, trầm cảm, điên loạn, sát hại, tham lam, dục vọng, hơn thua. Vậy mà mình không biết cuộc sống này là vô nghĩa.
Những tình cảm mà lúc trước khi mà mình mới bắt đầu kết hợp với nhau, nó ngọt ngào như thế nào? Đến bây giờ chia tay đắng cay như thế nào? Mình dành cho nhau như thế nào? Và tới giờ này nỗi niềm uất hận trong lòng mình như thế nào? Vô thường, vô ngã, vô tình, vô nghĩa là đời sống này, những vở tuồng của ngũ uẩn. Nhân duyên, nhân quả như vậy, tiếp xúc, gặp gỡ như vậy nên sanh ra những thọ, tưởng, hành, thức như vậy. Sau đó duyên biến thì thọ, tưởng, hành đổi thay, thức đổi thay.
Mình không phải mới đau khổ đây, mình không phải mới đau khổ từ việc này. Sáng nay từ Thánh Pháp Viện Minh Thành đi qua giảng đường chỗ ông Năm, sau đó Minh Thành xuống ngồi thiền một lúc với đại chúng. Trên đường đi thấy một con mèo, nó gặp Minh Thành hai mắt nhìn tròn xoe và rúc người lại vì trời lạnh, sương, dưới gốc cây trà. Nhưng nó nhìn bằng ánh mắt rất xót thương, ánh mắt hiền từ, ánh mắt như cầu xin, ngẩng mặt lên, người thì rúc lại dưới gốc cây trà, mặt thì ngẩng lên, mắt thì hướng lên với ánh mắt như cầu xin.
Minh Thành đứng lại nói ba pháp quy y trong tâm. Như vậy thì từ đó đi qua tới rồi xuống đây mà cảm thọ cũng còn chưa tan, xót xa cho những đời sống trong vòng luân hồi này. Vô đây rồi thấy những con bướm, con kiến, những con người, cũng là con, những con người cũng mang vác những tấm thân đầy rẫy những nhơ nhớp, bệnh tật, đầy rẫy những tham, sân, si, ngã mạn, kiêu căng, cao ngạo, ngạo mạn.
Lúc nhúc là những con chìm trong biển khổ, biển lửa, biển dục, biển khổ, biển vô minh, chìm ngập trong những biển lửa của hơn thua tranh đấu. Từng suy nghĩ là không chịu thua, thua người chẳng chịu người thua mới vừa. Chỉ suy nghĩ súc vật, súc sanh, những suy nghĩ của hổ báo, cọp sói, hơn thua, giành giựt, đấu đá, đâm chém, đánh đập. Những suy nghĩ của ích kỷ, lợi dụng, phản trắc, nghịch tử, bất hiếu, phản phúc, vô ơn rồi ra những tấm thân đầy rẫy những bất an, tai họa như vậy.
Những tấm thân ngạo mạn, kiêu căng, bóng đêm bao trùm, bao phủ hết thân tâm của mình nên mình phải nhìn ra được những suy nghĩ, thầm ý trong tâm để diệt nó, diệt những mầm móng địa ngục, ngạ quỷ súc sanh. Nhiều khi mình nằm nhắm mắt không ngủ nhưng bên trong thọ, tưởng, hành vận hành thì Minh Thành vẫn chửi như thường, trong này quân tập những cái xấu xa, bẩn thỉu, chấp thủ. Để rồi nó tạo ra những khổ đau cho nhau, kết hợp lại làm cha, mẹ, con, anh, em, cô chú, dì rồi bắt đầu hành tội, hành hạ, hành xác với nhau.
Vì vô minh, ngu si, nghiệp. Nếu mình không gặp dòng pháp này thì mình có hành hạ với nhau không? Giờ khi mình vào dòng pháp này rồi thì lâu lâu mình có hành hạ với nhau không? Còn làm khổ cho nhau? Đừng nói chi là mình không vào dòng pháp. Nên đó là mình kết hợp lại làm khổ cho nhau, kết hợp tạm gọi là chủ động, tức là gọi là kết hợp yêu đương vợ chồng, bạn bè, là mình chủ động. Mình có quyền chọn bạn không? Mình có quyền chọn người thương để lập gia đình không? Đó là chủ động. Nhưng dù là chủ động nhưng cũng bị động trong nghiệp.
Bạn bè là do mình chọn, người yêu thương là do mình chọn, gia đình là do mình suy nghĩ kĩ bao nhiêu năm rồi mình mới kết hợp. Đến cuối cùng kết hợp vậy với nhau là nghiệp và nhân quả, làm khổ cho nhau. Vì trong này người nào cũng đầy rẫy tham, sân, si, hơn thua, bản ngã. Bản ngã này đụng với bản ngã kia, tham này gặp tham kia, sân này chạm tới sân kia, vô minh này tấn công vô minh kia, như vậy, sự kết hợp của khổ đau được thành lập, sự kết hợp trong đau khổ, bóng đêm, những tham, sân, si, bản ngã.
Nên điều này Minh Thành có tu ở đời trước rồi, vì từ lúc nhỏ sinh ra, đến khi mấy tuổi thì cũng không thấy yêu thương với ai sâu sắc tận cùng sống chết. Từ lúc nhỏ xíu mấy tuổi Minh Thành đã thấy khổ dài dài, cha mẹ, anh em, mình nhìn thấy những người lớn, vợ chồng, cho đến khi vào chùa tu cũng không có tình cảm đậm đà, siết chặt, huynh đệ đồng môn, tâm phái, đều không có tư tưởng đó.
Cho tới bây giờ, nếu mình không thành tựu Chánh tri kiến kết hợp lại để làm gì? Khi nghe quý ni sư tâm sự cuộc đời tu trong nước mắt, quý ni sư về ngồi kể cho Minh Thành nghe suốt mấy tiếng đồng hồ ở trong nước mắt, người tu với nhau mà hành hạ, hành tội với nhau.
Nên những cô tu ở đây rất phước báo nhưng không biết trân trọng, mất phước rồi thì khổ lắm. Tu với nhau mà dày vò, hành hạ, đay nghiến, làm cho nhau đau khổ. Nhưng không phải bên ni như vậy mà bên tăng cũng như vậy. Tăng có tham, sân, si không hay là chỉ ni mới có, bản ngã còn dữ hơn, không biết tu là cũng kết hợp lại, tăng là đoàn thể đẹp đi trên con đường vui, phải là thấy đúng thì mới đi trên đường vui được, còn không thấy đúng thì tụ hội lại chỉ để gây lộn, hội họp lại để cãi lộn.
Nên tất cả sự tụ hội phải là sự tụ hội của bậc Đa Văn Thánh đệ tử, tụ hội đó mới là chứng hội tinh ba, còn không là chứng hội cặn bã. Tụ họp lại để làm đau khổ cho nhau. Từ trong câu chuyện đó mình nhìn rộng ra, quán chiếu ra, tụ hội thì bắt đầu của sự hội tụ là nước mắt mà sau khi chia tay rồi cũng bằng nước mắt, tụ hội mà trong luyến ái gặp nhau có khổ không? Ái biệt ly khổ. Đó là bắt đầu của sự hội tụ là trong nước mắt, sự kết thúc cũng trong nước mắt, ở giữa có nước mắt không?
Nhưng chúng sanh lại thấy vui, thích, ham, mê trong đó, như vậy mới gọi là vô minh. Nên Minh Thành học theo Đức Phật dạy viễn ly nên né tránh càng sớm càng tốt, mình thấy người khác lại kiếm chuyện thì mình né. Đi tới để giúp nhau tu học, tăng thượng giới đức thiền định trí tuệ, tăng thượng sự ly tham, nhàm chán, thoát ra thì đó là cần quý kính nhau, đảnh lễ, tôn trọng nhau. Còn nếu đến để tham, sân, si, bản ngã nhau thì đừng đến, đừng hội tụ để làm gì.
Vậy nên trong khuyến tấn đạo tràng thì chúng ta hội tụ trong gì? Sau đó thì giải tán trong gì? Mình làm được những câu trong quyển Nghi thức tu học Nikāya là thành công. Những cái đó đều là những chất liệu quý giá, vô giá, vô thượng. Chúng ta ở đây có hòa ái không? Có an vui không? Không có tuyệt đối nhưng có khá không? Còn nếu không hòa ái thì nhìn mặt đã thấy sợ, nhìn bặm trợn như vậy?
Nên vô minh, nghiệp và nhân quả phải quán chiếu kĩ những điều này. Mình có nghiệp thì người ở chung mình cũng có nghiệp, thông cảm nghiệp cho người ta. Mình cũng có nghiệp, người ta cũng có nghiệp, sao mình không hiểu cho người ta? Và tất cả đều có nhân quả, nhiều khi có nhân quả mình gặp người này, gặp chuyện này, mình ở trong hoàn cảnh này là có nhân quả, không trách ai mà trách mình.
III. Lấy bệnh khổ làm thầy
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Qua ba tháng mấy con ở Linh Quy Pháp Ấn thì con cũng nhìn được tham khi nó trỗi lên, thúc giục thì con lúc đó cũng chưa nhìn nhận được, một lúc sau thì con mới chế ngự được đôi chút. Khi con sân thì con biết cái đó là không tốt, con thấy cái đó thì con nói “Tâm này là tâm súc sanh, đừng nổi lên như vậy.”
Khi vào dòng pháp này phải hiểu dùng như lý tác ý đánh đuổi nó ra “Mày đã chìm ngập lâu lắm rồi. Mày muốn bị đọa nữa sao?” Khi con si, trong lúc hôn trầm, con đấu tranh rất nhiều. Con quán lại Chín giai đoạn tử thi “Mày còn ngủ nữa không? Mày muốn chết à?” Trong lúc đó con mới đỡ được một chút, con mở mắt to và trợn lên để cho nó tỉnh.
Con thực hành ba pháp thì con cũng làm được nó đỡ đau, đỡ nhức, trong lúc con bệnh thì con nhìn thấy cảm thọ rất đau khổ. Con mới tác ý rằng, chỉ là cảm thọ, đừng chấp vào chỗ đau đó nữa, con sống lạc quan, con không bận vì chỗ đau. Có đôi chút thì con cũng chịu không nổi, quên tác ý hình bóng chỗ đau cứ dày vò con miết. Con cố làm cho quên nhưng không được, suy nghĩ “Chỉ là nghiệp, mày ráng trả đi.” Dần dần con tác ý thân đau, tâm không được gục ngã thì tâm con mới cứng cỏi nếu không con không đi được.
Vết mổ của con đã rất lâu nhưng không ngờ hôm nay nó lại làm con đau khổ, trong lúc con bệnh, con nhìn thấy được thân tứ đại này rất là đau khổ. Con nhờ các sư cô, các quý cô động viên con thì con rất dũng mãnh, không còn sợ hãi nữa.
Sư phụ giảng giải:
Khi tu học, lấy bệnh khổ làm thầy. Người không thấy đúng về pháp thì khỏe người ta tu không được hay bệnh người ta tu cũng không được. Khỏe thì đi theo buông lung phóng dật, tham dục, tham ái, còn bệnh thì dính mắc vào cảm thọ khó chịu, khổ sở, đau đớn. Còn người thấy đúng pháp, hoàn cảnh nào cũng tu được, nhất là hoàn cảnh bệnh, lại là một cơ hội rất dễ để cho mình thể nhập trí tuệ, thấm thía về bệnh khổ của tứ đại ngũ uẩn này, của đời sống này.
Nên như khi nãy cô chia sẻ rất là tốt, không phải mình lạc quan và cũng không phải là mình bi quan mà mình là tuệ quán. Chúng ta nhớ từ lạc quan, bi quan của thế gian. Thế nào gọi là lạc quan, thế nào gọi là bi quan?
Bi quan là cách nhìn, bi là buồn bã, bi ai, là cách nhìn theo kiểu buồn đau. Còn lạc quan là cách nhìn theo kiểu vui sướng. Hai cái đó không phải là trí tuệ, nó chỉ là những phần nhiều nằm trên tưởng của phàm phu, còn cách nhìn của mình là tuệ quán như thật tuệ tri, quán chiếu thì mình nhìn sâu vào, nếu như lúc nào mà nó buồn chán, tâm mình chùng xuống thì lúc đó mình phải tác ý hỷ lạc. Tuy rằng thân mình bệnh nhưng tâm không bệnh, tuy là thân mình bệnh nhưng mình gặp được pháp bất tử.
Lúc nào tâm mình buồn, chán, nản thì mình phải thoát ra khỏi tâm bất lạc đó. Bất lạc nghĩ là không vui, không vui nghĩa là buồn. Lúc nào tu mà tâm mình nói “Tu mà sao nhìn thấy còn tham, sân, si, bản ngã nhiều quá, lậu hoặc nhiều quá thì tu biết đến chừng nào cho xong? Khó quá, lạnh quá, bệnh quá, tu học nhiều quá.” Lâu lâu chúng ta có nghĩ như vậy không? Như vậy thì chúng ta phải trị nó.
Mình phải tác ý mình diệt cái đó, rồi mình tác ý hỷ lạc hân hoan lên, tác ý pháp bất tử. Mình đem thân sanh tử này, thân bệnh khổ này để mình đạt được tâm bất động giải thoát để mình gõ cánh cửa bất tử, bước vào cánh cửa bất tử, thể nhập vào cửa bất tử. Mình làm cho hân hoan, hỷ lạc lên.
Đó là một phương diện, còn phương diện thứ hai là mình cho nó thấm thía cái khổ này tận cùng, mình lấy bệnh đó làm đề tài sống của thiền quán để cơ hội đó là thể nhập Khổ Thánh Trí. Nên mỗi lần Minh Thành bệnh là Minh Thành bước lên một cấp bậc mới, mỗi lần bệnh vậy là trí tuệ thành tựu lên thêm một bậc nữa. Nên nhiều khi bệnh thì Minh Thành cũng không chống đối cơn bệnh hay mong muốn nhanh nhanh để hết bệnh mà để cho mình thấm thía bệnh đó, thấm thía cảm thọ khổ này. Đây là cơ hội để cho mình thể nhập trí tuệ thâm sâu nhất mà trước nay mình chưa có cơ hội, nên thường là mình lấy bệnh khổ làm thầy. Mình bị người ta trù dập, bị người ta chỉ trích, chê bai, mắng chửi thì mình lấy cái khổ đó để mình thể nhập luôn.
Ví dụ con thỏ bị mắc bẫy thì sẽ bị người thợ săn túm lấy, còn nếu bẫy thỏ đó mà voi đạp vào thì nó sẽ lôi đi luôn. Nếu voi đạp trúng bẫy của những con thỏ, hươu, nai thì nó đạp, kéo bẫy đó đi luôn, nó đạp, dẫm nát hết.
Cũng vậy, người không biết tu, người có trí kém, tuệ cạn, không thành tựu Chánh kiến thì khi mình bị một chút khó khổ là mình nản. “Thầy không thương, thầy chỉ rầy thôi, huynh đệ không thương, huynh đệ chỉ chỉ trích lỗi của mình, mình bệnh không ai quan tâm mình hết!” Ngồi đó rồi tà tư duy, phi như lý tác ý, rồi lại tủi thân, trách phận, buồn cái này cái kia rồi nửa đêm quải đãi đi xuống núi, không chào sư phụ hay thầy chúng gì mà nửa đêm âm thầm cuốn gói đi. Đó là ma đưa lối, quỷ dẫn đường, tìm những chỗ đoạn trường mà đi. Những lời đó là những lời của ma, lời của vô minh, ngu si, tham ái, chấp ngã, phàm tình, mê tình, si tình, thường tình, vọng tình, tình chấp, không phải là lời của trí tuệ.
Lời của trí tuệ là thầy thương mình thầy mới rầy đó. Thầy lo cho mình nên thầy mới nhắc nhở. Thầy muốn cho mình tốt, muốn cho mình tăng thượng, thầy mới đẽo gọt cho mình khúc gỗ thành tượng Phật. “Như vậy nhà ngươi muốn khúc gỗ này để mãi để đốt lửa cho bếp hay là để nó thành củi mục? Hay là nhà ngươi muốn khúc gỗ này được đẽo thành tượng Phật? Muốn cái nào? Mỗi lần nói tới ngươi là ngươi khó chịu, bực bội, súc sanh, súc vật.”
Như vậy là Chánh tư duy, Thánh tư duy, là như lý tác ý, còn đây là nhắc đến chút là mặt khó chịu, mấy ngày sau gặp là né, thấy bóng là lủi lủi vào bụi cây. Phải Chánh tư duy, phải hân hoan, vui mừng, học thì học giống như chỉ chỗ chôn vàng nhưng đến lúc thật thì chạy hết và không thấy chỗ chôn vàng. Minh Thành để ý rất nhiều. Nên mình không hưởng được lợi ích lớn, an lạc lớn, hạnh phúc dài lâu, mình không hưởng được. Mình thích an an ổn ổn, bình bình yên yên, như lục bình trôi sông, lại thích như vậy.
Giờ là huynh đệ tốt, hảo huynh đệ, huynh đệ hiền trí, mới có một sự nhìn nhận giúp cho mình nhìn. Mình chỉ có hai mắt nên nhìn không thấy nhưng người ta có mười mắt, hai chục con mắt người ta nhìn cho mình. Hảo huynh đệ tốt, quỳ xuống cám ơn, nếu không thì đến chỗ lạy Phật hay chỗ tác ý thì mình phải tác ý cảm ơn.
Bệnh thì cảm ơn bệnh, nhờ có bệnh mà mình mới thấy được cuộc đời này khổ. Nhờ có bệnh mà mình mới thấy được tứ đại này là vô thường. Nhờ có bệnh mà mình mới vạch trần được sự thật bị đóng kín, gói lại ngàn năm. Mình mới nhìn ra được ổ vi trùng, vi rút, vi khuẩn này, mới nhìn ra được bao máu mủ đầy tai ương, ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn… Đều là nhờ bệnh này mình mới giảm bớt buông lung phóng dật, dục, tham, ái. Tham ăn quá nhiều nhưng nay bệnh ăn hết được thì cảm ơn.
Đức Phật có dạy bài kinh Trai giới, kẻ trai giới người chăn bò, cứ nay ăn gì, sáng ăn gì, trưa ăn gì, chiều ăn gì. Đức Phật chia ra trai giới có mấy loại? Thứ nhất là trai giới người chăn bò, thứ hai là trai giới của ngoại đạo, thứ ba là trai giới của bậc Thánh.
Trai giới người chăn bò là chỉ hỏi ăn không, ăn món gì, là trai giới trong sự tham dục, tham cầu. Trai giới của ngoại đạo là trai giới trong sự nói dối, tu trên ảo tưởng, nói là “Tôi không có gì hết, tôi buông xả hết tôi không có gì hết” mà chỉ nói miệng, trong tâm lại có hết. Cứ nói “Tôi vì tất cả mọi người, tôi vì vô ngã, vị tha, tôi vì Tam Bảo thôi. Tôi không vì tôi.” Nhưng đó chỉ là nói trên miệng, trên suy nghĩ, không có thực chứng.
Thế nào là trai giới các bậc Thánh?
Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi.
(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Ba Pháp – Phẩm Nhỏ - Bài kinh Các Lễ Uposatha)
Ý nói, trai giới của bậc Thánh là trai giới tẩy sạch tâm cấu uế.
Vậy nên khổ giúp cho mình tu, cô nhờ khổ đó mới có mặt ở Linh Quy đúng không? Như cô Quảng Châu, nhờ cái khổ mới có mặt ở Linh Quy, không có khổ thì không có mặt ở đây, giờ đang tung tăng ở Mỹ. Như vậy nên cảm ơn cái khổ, quỳ xuống, mỗi ngày lạy cái khổ đó, tôn cái khổ đó là thầy.
“Minh Thành cảm ơn ông Năm bà Năm, anh Tý, anh Giác, chị Mai!” Nếu lúc trước không gặp cảnh ông Năm cầm chổi rượt bà Năm ở ngoài đường thì không có đi tu, là nhờ ông ấy rượt bà ấy. Nếu ngày xưa Minh Thành không bị đánh bầm mình thì Minh Thành đã không đi tu.
Nên cảm ơn cái khổ, lấy khổ làm thầy, mỗi ngày lạy cái khổ đó, vào bàn thờ lạy, thời khóa xong rồi thì cám ơn cái khổ, cảm ơn cái bệnh, lạy cái bệnh. Tu xong thời khóa rồi thì đứng lại một mình rồi lạy cái bệnh, cảm ơn cái bệnh, bệnh mới ở đây, nếu khỏe khoắn, tươi trẻ thì chưa chắc đã ở đây.
Mình vui, mình khỏe, mình trẻ, mình đẹp mình giàu, tất cả thuận duyên hết thì tu làm chi? Tu làm gì? Như Nguyên Tú giờ bệnh nhiều, giờ là quyết tử, bỏ hết học vị, bằng cấp, danh lợi, chùa chiền, hưởng thụ gì đều bỏ hết. Nên cảm ơn bệnh, lạy bệnh, kêu bệnh là sư phụ. “Con cảm ơn sư phụ!” Lạy mỗi ngày, lạy sư phụ đó.
Nên bệnh không nên tủi thân chút nào mà bệnh là lạy bệnh, cảm ơn bệnh, tôn kính bệnh, bệnh này là thầy, là sự thật, là chân lý, là Thánh trí, ngày nào cũng lạy bệnh đó, không sân với bệnh, lạy bệnh đó. Lấy bệnh khổ làm thầy.
Nên nhiều khi những người làm cho Minh Thành đau lòng thì Minh Thành nói cảm ơn những người đó, vì nhờ họ mình mới thấy được bản chất, sự thật của cuộc đời này. Mình hướng dẫn cho tu học đến ngày cuối cùng ra đi thì lại trách mình, oán hờn thì Minh Thành nói “Cảm ơn, rất cảm ơn. Giúp cho Minh Thành thấy được sự thật vô thường, vô ngã, vô tình, vô nghĩa.” Đúng sự thật như vậy, tứ vô.
Cuộc đời của Minh Thành và ông Năm cũng giống vậy, đều là làm cho người ta xong lại mang tiếng xấu nhưng cảm ơn, rất cảm ơn, để mình thấy được bản chất thật sự của ngũ uẩn, của đời sống này đều là vậy. Rồi mình mang tiếng xấu, khi mình đem hết cả tấm lòng, đem hết tình thương, nhưng cuối cùng thì mình lại mang tiếng xấu. Minh Thành cảm ơn những vị đó nhưng Minh Thành chúc phúc cho các vị đó, cảm ơn nhưng thương vì họ sẽ đau khổ, vì họ không nhìn thấy, nên tại sao Minh Thành thường hay nhắc tự thân mình, nhắc nhở tất cả chúng ta bốn chữ biết ơn nhớ ơn, mỗi giây phút đều không quên.
Thế Tôn đã nói:
Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
(Tăng Chi Bộ Kinh - Chương Năm Pháp – Phẩm Bà – La - Môn - Bài kinh Bà La Môn Pingiyàni)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, thật sự rất ít, rất là ít, hiếm có, hy hữu, khó gặp, là báu vật trên đời này, tức là biết ơn, nhớ ơn.
Đức Phật không nói báo ơn, đền ơn mà Ngài nói biết ơn và nhớ ơn, đó là báu vật hy hữu trên thế gian này.
Nên đó là tại sao ngày vừa rồi Minh Thành quỳ xuống lạy luôn cả người nấu bếp, là để nhắc cho tự thân mình và Minh Thành cũng muốn nhắc cho đại chúng. Vì Minh Thành đã chứng kiến rất nhiều người không nhớ ơn, biết ơn.
Nên Minh Thành thăm giáo sư Nguyễn Khuê tám mươi mấy tuổi có lên đây, thầy ấy rất xúc động. Vì thầy cũng là thầy giáo, Minh Thành cũng là thầy tu nên kêu Minh Thành là thầy nhưng Minh Thành chỉ xưng là con. Giáo sư thì gọi thầy ơi, có khi là giáo sư xưng với Minh Thành là con “Con dạy rất nhiều khóa nhưng người có thể về thăm con hiếm lắm thầy ơi. Biết bao nhiêu người, từ ngoài đời đến trong đạo. Con học đã hai mươi mấy năm giờ con vẫn trở về thăm thầy và con bị la rầy rất dữ dằn, nhưng nhờ bị la rầy thì con lại nhớ và học giỏi, trở thành học sinh xuất sắc, là nhờ la rầy.”
Vì lớp người ta học một năm chữ nho, Hán tự, cổ văn, học một năm thì con mới vào. Vào rồi thì con không biết chữ chi mà dịch thành chữ bà, nhưng học lúc đó không hẳn là một tháng, hai tháng nhưng ở giữa lớp thầy nói thầy không biết gì hết, thầy la mạnh, rầy mạnh. Nên lúc đó con cảm thấy xấu hổ, con cố gắng học thì cuối cùng trở thành một trong những học sinh xuất sắc. Thầy thương lắm, đi đâu thầy cũng dắt lên học viện dạy thầy cũng dắt.
Khi Minh Thành quay về thăm là thầy đã hơn tám mươi tuổi, tóc bạc phơ, Minh Thành mời thầy lên đây. Nói chung, thật sự là khó trên đời này người biết ơn và nhớ ơn. Phải nhớ, không được quên, dù cho người đó làm ơn cho mình nhỏ nhất, một chút thôi thì mình cũng đừng quên, huống chi là cha mẹ, thầy tổ.
Nên những người nào lên xin Minh Thành ở đây tu học mà lại nói xấu sư phụ của họ là Minh Thành không nhận. Sư phụ của họ mà họ còn nói xấu thì mình sau này chắc cũng vậy. Và ngày đầu tiên chưa gì mới lên gặp mà đã nói xấu thầy của mình thì như vậy là vong ơn, bội nghĩa. Dù thầy có làm bất cứ điều gì thì ân đức của mình là học trò. Này các Tỳ-kheo, thật là khó kiếm, khó gặp, hy hữu trên cuộc đời này là người sống biết ơn và nhớ ơn.
Sau này về già, gần chết cũng kể chuyện cho chúng ta nghe, hay không biết còn sống tới già không? Nghe là quý vị bất ngờ vì có thể đóng thành phim nhiều tập. Nhờ tâm mình biết ơn, nhớ ơn như vậy nên mình mới gặp được bậc chân nhân còn nếu mình không có được tâm đó thì không thể nào vào pháp này được. Nên biết ơn bệnh, khổ, biết ơn những người đã gây chướng ngại cho mình.
Mình cảm ơn những người thiện tri thức ở trong gia đình của mình đã giúp cho mình thấy khổ. Mình cảm ơn những người ở thành thị giúp cho mình thấy được sự thật. Mình cảm ơn những người ở núi rừng giúp cho mình thấy được sự thật, họ đối xử với mình phũ phàng thì cũng cảm ơn. Đến cuối cùng mình thấy được sự cứu cánh là sự viễn ly, thoát ra mới được, không có chỗ nào là chỗ an ổn trong ngũ uẩn này hết. Dù là đi trong rừng sâu cũng đầy rẫy tham, sân, si bên trong, lừa gạt bên trong. Chỉ có một khách đi ra khỏi ngũ uẩn thì mới thật sự là đại an ổn, cứu cánh của bình an, còn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là còn tai họa, còn bất an, còn nhiều ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan.
IV. Trình pháp 2
Phật tử số 4 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý ni sư, quý chư tăng ni và các bạn đồng tu.
Hiện tại thì con cảm thấy rất may mắn, vì đã được thức tỉnh sớm. Con nhớ lại ngày trước con như một người khác, hiện tại con là một người khác.
Lúc trước con không biết về đạo, gia đình con không ai theo đạo hết. Trong đại dịch, trong sự khốn khó, sự mông lung đó, mệt mỏi đó thì có một sư ông, nhờ nghe pháp thoại thì con đã tỉnh thức bằng một tình thương, bằng một sự an lạc đó. Sau đó thì con không biết gì về kiến thức Phật giáo mà con chỉ nghĩ về khổ quá rồi, quá mệt mỏi thì con quyết tâm là hướng theo những người thiện lành, những gì an lạc nhất thì con sẽ đi theo. Và từ đó trong sự không biết gì hết thì con nghĩ cứ đi theo thiện tri thức thì con sẽ là người thiện tri thức, con sẽ được thiện lành.
Theo dấu chân của sư ông thì con đi tìm những quyển sách hay những nơi mà người đã đến để mà có thể tìm thấy một cái gì đó để an lạc. Vô tình con đọc được quyển sách của sư phụ, sách xuất gia toàn tập tập ba, con thấy được một nội lực trong đó, sau đó con vô tình thấy được bài Tham, sân, si thì con lên được tới đây.
Con nói sơ khởi như vậy để cảm thấy được sự an lạc của mọi người sẽ giúp ích cho rất nhiều người ở ngoài kia, nên bản thân con sẽ cố gắng, cố gắng mình cũng được an lạc để lan tỏa được năng lượng này.
Khi đến được Linh Quy Pháp Ấn, cho đến hiện tại thì con thấy rõ về sự khổ mà ban đầu con cảm nhận được chỉ là một cái rất nhỏ. Chỉ cái nhỏ đó mà hành hạ thân của con cũng như con và mọi người. Giờ mở rộng hơn về sự khổ thì mới thoát ra được.
Và con cũng hiểu được tình thương rộng lớn hơn, không những tình thương đó có một sự gò bó, ràng buộc, mà đó rất rộng lớn, hiểu và thương cho nhau. Nên đây là con hiểu được hơn lý do vì sao con có mặt ở đây, mọi người có mặt ở đây và tại sao mọi người khổ. Đó là một sự không thấy rõ được bản chất thật sự của cuộc sống này, thân tâm này là do sự chấp thủ, nắm giữ, và sự tan hoại, mình không rõ được sự tan hoại và biến đổi này, mình cứ cho là mình nên khi mà bất như ý xảy ra, mình đau khổ, mình còn đưa đau khổ cho người khác nữa, con bắt đầu hiểu ra thì con dễ dàng chấp nhận, con chấp nhận học pháp một cách dễ hơn một chút tuy là vẫn chưa hoàn toàn.
Còn về phương pháp tu học, hiện tại con nhìn được thân tâm của con, con cũng chỉ nhìn được phần thô thôi, một ít, nhưng cũng đang gặp một ít khó khăn là trong khi thực hành, tâm con rất dao động, con chưa định tâm được nhiều nên việc con nhận diện ngũ uẩn thì lúc rõ, lúc chưa rõ. Bình thường trong lúc sinh hoạt, có lúc con chánh niêm được thì con nhìn được, do con đã nhìn lại thân của mình rất nhiều nhưng tâm của con rất dao động.
Con xin bạch sư phụ và đại chúng hướng dẫn thêm cho con. Khi con ngồi thiền thì con bị áp lực về nhận diện ngũ uẩn, sau đó con còn bị vọng tưởng rất nhiều, có khi con bị dẫn đi, vướng mắt rất nhiều. Lâu lâu con mới thỏa ra được một chút nên hiện tại con chỉ quay về hơi thở của con và con đành phải nhịn hơi thở, có tất cả hình ảnh hay suy nghĩ thì con cũng sẽ cho đi ra. Cái này con không biết là như vậy có đúng không thì nhờ sư phụ dẫn thêm cho con.
Trong một buổi ngồi thiền của con thì ban đầu, con bị vọng tưởng nhiều còn về phần cuối thì con cũng có được một ít lợi lạc từ chính cái đau trong cơ thể của con. Do con tập ngồi kiết già nên lúc đau nhưng chính vì cái đau này thì lúc đó con mới thấy rõ được mà mình đang bị mắc, dính vào thọ đó rất nhiều. Sau đó con quán chiếu, tác ý cho mình rất ít là “Thân này mình còn chấp nhiều, nên mình mà thấy thọ này tồn tại và thọ này, thức này rồi cũng sẽ tan hoại, cũng sẽ biến đổi khi con tháo chân ra thôi.” Và cũng có thân này đau là ai đau, chỉ là sự duyên hợp, nhưng tại sao mình cứ bị đau hoài, mình cứ bị khó chịu. Lúc đó thì con tự tác ý được là con hiểu là quay về nói “Cảm thọ ơi nhẹ nhàng đi, an tịnh, dễ chịu lắm!”
Lúc đó thì bỗng dưng con tách được một ít là mặc dù con biết được chân đau nhưng thật sự là con cảm thấy được sự an lạc trong tâm của con. Tuy cái này không nhiều nhưng đó là một động lực để con tiếp tục cho sự quán chiếu này.
Sư phụ giảng giải:
Cô cứ thực tập ba pháp cho vững, dù chưa nắm được phần căn bản. Thực tập ba pháp cho vững rồi từ từ thực tập nhận diện ngũ uẩn, trước là hai điều đó. Tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, trong nói còn dục rất nhiều, còn thúc giục. Mình tập an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là tuyệt đối quan trọng trong đạo tràng, khi chưa được an tịnh lắng dịu mà bên trong còn thúc giục, còn mau, nhanh, lẹ thì tham, sân, si mình sẽ không kiểm soát được. Nếu mình không nhận diện được ngũ uẩn thì mình sẽ không kiểm soát được tham, sân, si.
Vậy nên mình phải đi từ căn bản. Và muốn học pháp này đầu tiên là phải hạ gục được bản ngã, bản ngã của mình lớn quá thì mình không học được đâu.
Thầy Thiện Huệ trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Con xin được trình pháp lên sư phụ và các bậc hiền trí.
Trong thời gian vừa qua, trong sự tu học của con thì con nhìn ra được: thứ nhất là sân, con nhìn nhận ra được nó, nhưng nhất là ở trong thân con. Như vậy nên mỗi ngày con đều thực tập tâm hiền, sự an tịnh, lắng dịu để con nhiếp phục phần sân của con. Kế đó là con thường xuyên thiền quán bài tâm từ của sư phụ, con hướng về đó để con diệt cái sân vi tế bên trong. Con quán chiếu trên thân hành niệm, Ba mươi hai thể trượt, Quán bất tịnh để con có trí tuệ để nhiếp phục dục tham, đó là công phu mỗi ngày của con.
Con kính trình lên sư phụ.
Và gần đây ý hành của con cũng phát hiện ra được, tuy là bên trong thiện pháp nhưng ý hành cũng có sự dằn co, cũng có sự chống đối qua lại nên nó cũng làm con mệt mỏi về phần ý hành bên trong.
Ví dụ như lúc sáng, khi con đang ngồi thiền thì thân tâm con có sự an tịnh nhẹ nhàng, có sự khinh an, lúc đó con đang tác ý để con hướng vào sơ thiền, nhưng nó dằn co với nhau, sâu bên trong là một sự thúc giục, nó nói “Bây giờ chọn lựa đi. Một là ngồi thiền luôn.” Một là xả thiền ra để nghe pháp sư phụ giảng buổi sáng, nhưng con nhìn kĩ bên trong thì ý hành vẫn là có tham ái, dính mắc vào cảm thọ hỷ lạc giữa thân tâm khi con đang ngồi thiền.
Nhưng lúc trước con tính xả thiền để chuẩn bị về cho kịp giờ nghe sư phụ thuyết pháp, nhưng con tác ý, con nghĩ ngồi thiền cũng là thiện pháp, nghe pháp sư phụ giảng cũng là thiện pháp. Nhưng ý hành cũng có dằn co với nhau, nên nhiều lúc nó bắt con phải chọn lựa, một là phải ngồi thiền, hai là xả thiền là nghe sư phụ thuyết pháp.
Đó cũng là một vấn đề khó khăn đối với con, con kính mong sư phụ từ bi, hoan hỷ, sách tấn, chỉ dạy thêm cho con phần này. Lúc đó con nên ngồi thiền luôn hay là con nên xả thiền để nghe pháp sư phụ giảng trực tiếp cùng với đại chúng. Ngoài ra con cũng kết hợp với oai nghi, đi, đứng, ngồi thì con cũng có tác ý bắt cho nó đi chậm nói nhẹ, khi mình làm việc gì thì con cũng nhắc nhở, huấn luyện sắc thân cho nó đừng thô tháo. Vì công phu của con ngay lúc này vẫn đang thực tập tâm hiền, tâm từ và nhiếp phục bản ngã. Đó là công phu mỗi ngày của con đang thực hành, con thấy cũng có hiệu quả trong lúc con thực hành. Con kính trình pháp qua sư phụ và đại chúng.
Sư phụ giảng giải:
Những pháp thầy thực hành là căn bản nên rất quan trọng, đó cũng là sự nhắc nhở lại cho tất cả trong đạo tràng. Còn vấn đề ngồi thiền hay nghe pháp, cái này cũng nên linh hoạt, nếu lúc đó, đối với thầy Thiện Huệ, nếu thầy thấy có những trạng thái hỷ lạc sâu sắc, có thể tiến sâu vào các tầng thiền thì được, cứ ngồi tiếp tục rồi nghe pháp lại sau.
Hoặc là lúc đó mình đang thiền quán, đang có cảm thọ thâm sâu, thẩm thấu thì mình tiếp tục trú trong thiền quán đó, lát sau mình nghe lại.
Đối với ngày bình thường thì mình phải cố gắng nghe pháp cho đều, không thì sẽ thấy nó mượn cớ. Nên cần nhớ rõ, không phải là “Sư phụ kêu rồi lúc đó ngồi là ngồi được luôn”. Ngồi lúc đó là ngồi ngủ là không được. Mình thấy có những trường hợp thăng tiến trong sự tự tu của mình, thì có thể lúc đó có trường hợp đặc biệt, mình tiến sâu vào thiền trí hoặc là thiền quán rồi lúc sau mình nghe lại, còn những lúc bình thường thì thời khóa mình đã biết rồi thì cứ giữ như vậy để mình nuôi lớn các thiện pháp.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.