Pháp Đàm - Giới Tử Nam
Pháp Đàm Nikāya
Giới Tử Nam
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những câu hỏi PAGEREF _Toc213780388 \h 1
II. Tâm hiền PAGEREF _Toc213780389 \h 4
III. Bốn đôi tám chúng PAGEREF _Toc213780390 \h 8
IV. Trân quý, học tập Chánh Pháp PAGEREF _Toc213780391 \h 10
V. Đi đúng hướng PAGEREF _Toc213780392 \h 13
VI. Thế giới vô thường PAGEREF _Toc213780393 \h 15
I. Những câu hỏi
Sư Phụ: Xin hỏi cái hiền trí này là cái gì ạ? Chuyển Pháp Luân? Có huynh nói thập nhị nhân duyên, có vị nói bánh xe luân hồi. Đây chính là sắc, học là phải biết ứng dụng, khi mình ứng dụng được là mình có trí tuệ, còn không ứng dụng được thì pháp chỉ là pháp của Phật, của các bậc thánh thôi. Mình đem vào tâm của mình ứng dụng được thành pháp của mình, thành trí của mình, thành cái thấy biết của mình, thành cái tuệ giác của mình. Bây giờ đến các hiền trí, các giới tử hỏi, hôm nay là cái buổi hỏi đáp, các huynh đệ có cái gì nghi vấn chưa có hiểu rõ trong pháp học, pháp hành từ ngày đầu cho đến nay chúng ta hỏi, đừng ngại.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bạch sư phụ và các hiền giả, con có một cái suy nghĩ và cũng là một cái điều mà trăn trở rất nhiều năm rồi, mình cũng là người sống giữa đời, có gia đình có mối quan hệ, có công việc của mình và con cũng muốn là mình làm sao đó mà mình có thể tu tập, đi theo con đường chánh đạo của Đức Phật, có thể làm sao đó để đem nó vào trong đời sống thường ngày của mình để có thể tu tập cho bản thân cũng như những người xung quanh của mình và lan tỏa nó cho những người khác. Có lẽ là cái nhân duyên như thế nào đó mà mình vẫn chưa có thể bước vào con đường tu tập giải thoát giống như là quý thầy ở đây, dạ thì đó là trăn trở của con thì cũng rất là mong thầy khai thị cho con. Con cảm ơn.
Sư Phụ: Rồi chúng ta hỏi tiếp đi ạ.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ sư phụ cùng với các chư tôn hiền giả tại nơi đây. Dạ con muốn hỏi với sư phụ là hôm qua con có đọc cái bài kinh trong tạng Nikāya của Đức Phật thì con chưa có hiểu nghĩa của bốn đôi tám chúng là gì. Vì vậy ở đây con xin mạn phép hỏi sư phụ cũng mong là sư phụ khai thị cho con ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Có một vị làm thư ký ghi câu hỏi lại, rồi chúng ta hỏi tiếp, hỏi một lượt rồi Minh Thành sẽ chia sẻ chung một lần, tổng kết lại chia sẻ chung một lần. Chúng ta những cái buổi học từ hôm đầu tới nay đó có gì chưa hiểu, từ mấy hôm qua chúng ta chưa có đi vào kinh tạng mà chúng ta mới học những cái căn bản trí tuệ.
Giới tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ cho con hỏi câu hỏi về đời sống của con. Con và vợ con hai người cũng hiểu về Chánh Pháp và cũng tìm hiểu về đạo Phật, thầy chỉ dạy cho con cách diệt sân si mỗi ngày, hai vợ chồng cứ gặp nhau cứ sân hận, hai chồng rất là hiểu, vợ con cũng rất là hiểu, biết bao năm nay cũng có bao nhiêu đó, cứ tái đi tái lại. Con cũng chưa có biết cái phương pháp cụ thể để diệt tham, sân, si trong hai người gần nhất, con chưa có cái phương pháp nào để diệt tận. Mong thầy chỉ dẫn.
Giới tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con bạch thầy và các chư Tăng, các bậc hiền trí. Thưa thầy con có điều gì không phải xin thầy xá tội cho con, thực ra con cũng ngoài 60 rồi nhưng mà thời gian đi chùa chắc đếm trên đầu ngón tay, con không hiểu gì Phật pháp lắm thì con có hiện diện ở đây cùng với người nhà con thông qua một người em ở Hà Nội chia sẻ. Người em đấy ở ngoài xã hội gọi là tệ nạn xã hội và theo con được hiểu thì để tránh sự nghiện ngập của bạn ấy thì gần như là bó tay ạ, dù đông tây y kết hợp hoặc là giáo dưỡng thì vẫn cứ tái nghiện nhưng mà qua hai buổi bạn ấy tu nghiệp ở đây thì bạn về bạn thành con người khác.
Con cũng được nghe bạn ấy nói về ngũ uẩn, theo sự hiểu biết của con về sự logic thì con cực kỳ là khuất phục, qua mấy ngày ở đây thì thời gian chưa được nhiều cái sự hiểu biết của con về chi tiết cũng chưa được nhiều, nhưng mà con đào sâu những cái kiến thức của con và suy nghĩ ngũ uẩn và thêm vào ngày hôm qua về bài sám hối về bản ngã thì con thật sự là khuất phục. Khuất phục về kiến thức của pháp để đưa đến đời sống hằng ngày cho những quần chúng, con thiết nghĩ là sư thầy và giáo pháp tốt như vậy mà đến thời điểm này vẫn chưa được lan tỏa nhiều lắm. Bản thân con thì qua bao năm học tập ở trường, giáo dưỡng ở trường từ nhỏ đến lớn, rồi đến vào đại học thì cũng được học đạo đức, học các kiến thức nâng cao về xã hội nhưng mà cũng chỉ được hô hào là phải đối xử tốt bạn bè, không được nóng giận nhưng mà thực ra thì bản thân con cũng vậy, nhiều khi con thấy con có những hành động mà sau đấy con tát vào mặt con rất là đau để sau không lập lại nữa, nhưng thực ra là nó vẫn cứ lập lại bình thường, một thời gian qua nó lại lập lại thế vì bản chất là qua học ngũ uẩn thì con đã không xử lý được ngay khi nó manh nha.
Con muốn qua đây thì trong thâm tâm con những ngày ngồi thiền vừa rồi con nghĩ rất là nhiều, vì bản thân con chắc chắn là con sẽ lan tỏa về cái phương pháp đấy ra cộng đồng được đến đâu hay đến đấy nhưng mà con cũng không hiểu sao mà cái phương pháp tốt như vậy thì cái sự lan tỏa của Phật pháp gọi là tín ngưỡng thì con nghĩ là cũng hơi khó, nhưng mà một cách nào đấy, một cái nội dung nào đấy, ví dụ như là một cái kiến thức trong ngũ uẩn thì có cái biện pháp nào đấy để giáo dưỡng tốt hơn cho học đường. Con nghĩ là những trường hợp xảy ra như vừa rồi thầy lấy mấy ví dụ mà bọn con cũng đọc sách báo nhiều thì cực kỳ đau lòng. Con muốn thầy chia sẻ có những lý do gì đấy mà chưa lan tỏa được thì thầy cũng để cho chúng con biết ạ. Con xin biết ơn thầy.
Giới tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, hôm qua sư phụ có giảng cho con một ít nhưng mà con cũng chưa có thấm nhiều. Con muốn hỏi là mình không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vậy cái đứa mà nhận ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái đứa nào.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ và các bậc hiền trí con có câu hỏi. Hôm trước con có nghe thầy nói về cái dục là sự thúc giục, là làm cái gì cũng muốn cho nó nhanh, cho nó mau, nó lẹ, con bị mắc vô cái đó thì con xin phép sư phụ được hỏi mình làm thế nào để mình chữa được sự thúc giục ở trong con người mình. Lúc nào mình cũng làm cái gì cũng bộp chộp, cũng muốn làm cho nhanh, làm cho mau, cho lẹ thì con xin phép sư phụ khai thị cho con ạ. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, mình đang học giáo pháp của Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni nên chúng ta nhớ niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ bạch sư phụ cùng với các chư tôn hiền giả. Con có thêm một câu hỏi nữa là con có đọc trong kinh thì con có biết về Tứ Niệm Xứ, dạ cũng có biết về là bốn cách quán nhưng mà con vẫn chưa có hiểu rõ và định nghĩa sâu về nó lắm thì con cũng mong là sư phụ có thể khai thị thêm cho chúng con để hiểu về cái cách quán Tứ Niệm Xứ này ạ. Dạ con xin hết ạ.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy con vừa tu được mấy ngày, con học được những Phật pháp ngũ uẩn tham, sân, si. Con có tuổi rồi nên con tiếp thu con hơi chậm, bản thân con cũng hiểu biết được những điều của thầy dạy trong Phật pháp nhưng còn sống trong gia đình rất hiền hòa vì gia đình cũng được đạo Phật Nhưng không hiểu sao mỗi lần có vấn đề gì tự nhiên bản thân con nóng giận, bực tức, không kiềm chế được trong mọi người cũng như trong gia đình. Con nhờ thầy cứu giúp cho con trong khoảnh khắc tức giận ấy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ con có một câu hỏi mà lâu nay con cũng thắc mắc vì con tìm hiểu về đạo Phật của đức bổn sư Thích-ca là nhờ có nhân duyên của một vị thầy là tuy không bái sư nhưng mà con gọi đó là vị thầy đã giúp cho con hiểu được đạo Phật. Con hiểu được qua cuốn Đường Xưa Mây Trắng của sư Thích Nhất Hạnh, con đọc và nghe trong Đường Xưa Mây Trắng những lời pháp thoại của Đức Phật con cảm nghĩ giống trong cái pháp tu của mình trong đạo pháp ngày hôm nay. Con cần tìm hiểu, tập trung vào cái pháp môn này là con tập trung rồi nhưng mà con có nên tìm hiểu vào Đường Xưa Mây Trắng đó có đúng với chân lý của Phật không. Mong thầy khai thị cho con, con cảm ơn.
II. Tâm hiền
Sư Phụ: Dạ câu hỏi vậy chắc cũng đủ rồi. Câu thứ nhất là câu hỏi chung, có ba câu hỏi có ý nghĩa tương đồng với nhau là làm sao hóa giải nóng giận, chúng ta giải thích tuần tự những cái dễ rồi tới cái khó, cái cạn rồi tới cái sâu, những câu sau cũng trùng với cái ý giải quyết tâm sân thôi, cái tâm nóng giận.
Đầu tiên là nói cái thúc giục, mấy hôm nay chúng ta đang thực tập để nhiếp phục cái thúc giục là câu an tịnh, lắng dịu đó, cái cảm giác toàn thân. Trước tiên là mình phải biết cái cảm giác vì cái cảm giác nó điều khiển cái thân cho nên mình cảm nhận cảm giác toàn thân là mình nắm được cái tổng tư lệnh, bộ chỉ huy, thống soái của thân tâm này chính là cảm thọ, đó là tổng thư lệnh, là bộ chỉ huy, là đầu não, là thống soái tức là cảm thọ. Sắp tới chúng ta sẽ được học bảy trí tuệ về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bây giờ mình cũng biết sơ lược về cảm thọ, cảm giác toàn thân và mình có niệm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái đó là phải niệm thường giống như mình niệm Phật nhưng không phải là niệm ngoài môi, ngoài miệng mà mình hướng vào trong cái lồng ngực, mình hướng vào trong cảm giác toàn bộ cơ thể mà mình kêu nó, mình kêu cái cảm giác.
Mình ra cái pháp lệnh, mình ra lệnh cho thân tâm của mình làm theo, cho thân tâm của mình chấp hành và phải thường niệm cái đó, thường quay trở lại cảm giác toàn thân kêu an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi, đừng có khó chịu, đừng có bực bội nữa. Đó là cái căn bản nhất, rõ ràng phải không, không có gì mơ hồ vì cảm thọ mình là cái cảm thọ thúc giục, cái cảm thọ hối hả, cái cảm thọ vội vã, lăng xăng thì giờ mình kêu nó đừng lăn xăng nữa, đừng thúc giục nữa, đừng hối hả nữa, đừng tất bật nữa, an tịnh, lắng dịu đi. Mình hướng vào trong cái cảm thọ kêu nó, ra lệnh cho nó, nhắc nhở nó, có khi phải vừa sử dụng nhu vừa sử dụng cương, có lúc mình phải nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, có lúc mình phải rầy la, quở trách, đó là hai cái phương pháp để mình sử dụng huấn luyện cái tâm, Đức Phật thường sử dụng hai phương pháp đó là nhu và cương.
Có khi mình nói rất là nhẹ nhàng, rất là ngọt ngào nhưng mà có lúc mình rầy cái cảm thọ của mình, la cái cảm thọ, quở mắng "Tại sao ngươi cứ nổi loạn hoài vậy? Tại sao ngươi cứ bạo động hoài vậy? Tại sao cứ lăn xăng hoài vậy?", có lúc thì mình lại nói nhẹ nhàng "ngươi thấy mệt mỏi hay sao mà cứ muốn chạy cho lẹ để vấp té hay sao? Muốn tai nạn giao thông hay sao mà cứ tăng ga lên?". Mình rầy la, mình đưa ra những cái tai hại, những cái nguy hiểm, những cái tác hại, đó là quán về nguy hại của sự thúc giục. Bây giờ mình thường xuyên tưới tẩm cảm thọ dễ chịu, mát dịu, ngọt ngào, hiền hòa, một mặt là mình nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ thúc giục, hấp tấp, bất thiện, một mặt là mình làm tăng trưởng cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền hòa, hiền thiện.
Chúng ta thấy rõ cái vấn đề không ạ? Diệt ác sanh thiện, tức là mình là xử lý cái tiêu cực và mình phát huy cái tích cực. Một mặt là mình khai phá rừng hoang, một mặt là mình trồng hoa, mình làm rẫy, trồng cây trái lên chứ không phải mình chỉ diệt ác không mà mình không có tăng thiện, tức là mình chỉ nhiếp phục dục mà mình không có tưới tẩm những cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, từ ái. Sắp tới chúng ta sẽ được thực hành từ vô lượng tâm, mấy hôm nay là chúng ta đang chuẩn bị và sửa soạn để thực hiện từ vô lượng. Mình rửa cái dơ, cái bẩn rồi mình làm cho nó đẹp cái khuôn mặt của mình, cái gương mặt tâm linh của mình, như vậy là cái căn bản phải nhớ là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái đó là cái gốc rồi cái ngọn nó tủa ra ngoài cành nhánh là mình phải biết niệm.
Thí dụ như khi mình đi mình niệm "chậm chậm… chậm chậm… chậm chậm", "đi chậm… đi chậm… đi chậm", mình niệm là mình nhắc nhở đó. Khi mình nói mình cũng phải nhắc "nói chậm… nói chậm lại, làm chậm lại" và thực tập thiền định, thực tập ngồi yên được rất là tốt nhất là những cái giờ mình tu cố gắng tối đa làm sao đừng có dao động, chừng nào dữ lắm thì hãy động, còn không thì cố gắng nhiếp phục, chế ngự, chịu đựng, đó là kham nhẫn, đó là rèn luyện. Từ từ mình sẽ có một cái sức mạnh của nội tâm và mình kêu thì cái cảm thọ nó nghe lời, cái thân nó nghe tại vì cái thân là do cảm thọ điều khiển, mà giờ mình nắm ngay cái cảm thọ, ngay cái chủ chốt bên trong dạy dỗ thì đương nhiên cái thân sẽ nghe lời, cái cảm thọ nghe lời cái tâm dưới sự quán sát, soi xét, dòm ngó, canh chừng, kiểm soát, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ. Đó là một phần của niệm xứ đó, tức là quán thân đó, quán là mình dòm ngó, mình xem xét.
Mình nhìn là cảm thọ kêu nó an tịnh, lắng dịu, đó là quán thọ, mình nhìn sâu vô bên trong tâm mình thấy có nổi giận thì mình từ bỏ thì đó là quán thọ, nhìn vào trong tâm mình thấy có sự hơn thua mình nói "thôi hơn thua để làm gì? Hơn thua để được cái gì? Kết cuộc của hơn thua là cái gì?". Mình quán xét và mình làm cho tâm mình nó lắng dịu, nó nhẹ nhàng, nó buông xả những cái hơn thua đó, những cái sân hận thì lúc đó cũng chính là quán tâm luôn đó, thân – thọ – tâm – pháp luôn đó. Cái này thì chúng ta sẽ có những buổi học, mình luôn luôn nhìn cái thân, cái cử chỉ, hành động, lời nói, luôn luôn nhìn ở trong cái thân này, cái cảm thọ đó ra sao, trong đó có hình bóng gì, suy nghĩ gì, đó là tâm tức là quán tâm. Mình xem trong đó có hình bóng, suy nghĩ gì, cảm thọ gì, nếu như nó bất thiện thì mình từ bỏ, còn nếu nó thiện thì mình phát huy lên, cái đó là quán pháp đó, nó rất là đơn giản, khi mình hiểu rồi nó đơn giản lắm, đó là chỉ là một thôi nhưng mà bốn khía cạnh chứ không phải là bốn cái khác nhau.
Giống như cây trụ vậy có bốn cái mặt của nó nhưng mà cũng là một cái trụ thôi, thì quán thân – thọ – tâm – pháp chỉ là cái thân tâm này thôi. Thân là cái ở bên ngoài, cái vô tri, là sắc, cảm thọ ở bên trong nó điều khiển, nó chỉ huy rồi những cái suy nghĩ nó chạy lòng vòng, rồi những cái hình bóng chập chờn đi theo cái cảm thọ đó. Bây giờ mình quay trở vô, mình đừng có quay trở ra vì quay vô thì mới nhìn mới thấy được thọ; tưởng; hành, quay ra là nhìn thấy cảnh không à, mà nhìn thấy cảnh thì sẽ thấy người này đúng, người kia sai, người nọ là phải, người kia quấy. Nhưng nếu mình quay vô trong này thì mình thấy cái quấy của mình, mình lo nói người ta, mình coi mình kìa, tự nhiên mình nhìn vô trong mình thấy được cái nội tâm thì đó là quán tâm, còn cái kia là cái tâm hướng ngoại, cái này là cái tâm hướng nội.
Cho nên cái khác nhau của người tu và người không tu là một người hướng ngoại và một người hướng nội. Khi một người hướng ngoại là bất cứ chuyện gì xảy ra là họ đổ lỗi cho cái bên ngoài, gọi là oán người, hận đời, trách trời, đó là người không biết tu, có một chuyện gì xảy ra là họ oán hận người khác, họ đổ lỗi cho người khác, gọi là thích đổ thừa chứ không phải thích giác ngộ. Thí dụ mình đang đi thì vấp cục đá té thì đổ thừa cục đá, tức quá đá cục đá chảy máu chân luôn thì vậy là từ cái này chồng lên cái kia. Là do ai? Do cục đá hay là do cái chân? Do cái nết hả? Như vậy đâu phải tại cục đá cũng đâu phải tại cái chân, mình không để ý, mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình không có quán sát trước sau rõ ràng, không có chánh niệm ở trước mặt, không có rõ biết ở trước mặt, không có đặt niệm ở trước mặt cho nên mình đổ thừa cục đá rồi mình đổ thừa cái chân, tức quá mình đá cục đá chảy máu chân luôn, có khi là tróc móng chân ra luôn.
Chuyện này có nhiều không ạ? Cái ví dụ nhỏ thôi như mình nhìn ra nhiều cái khác phải không, bất cứ có một chuyện gì thì nó khác nhau giữa người biết tu và người không biết tu là cái hướng nội và hướng ngoại. Người không biết tu bị một lỗi lầm gì, người khác nhắc nhở là người này sân hận, tức hận lên, tức giận lên, phẫn nộ lên và nói "tại sao lại nói tôi như vậy?". Đối với người biết tu thì quay trở lại nhìn "Tại sao mình lại làm vậy?", mình trách mình để mình điều chỉnh ở bên trong con người của mình chứ không phải mình trách người. Người tu đặt tâm đúng hướng đó gọi là quán tâm, đó mà cũng gọi là đặt tâm đúng hướng, cũng gọi là thấy đúng, cũng gọi là chánh kiến, cũng gọi là cái thấy đúng của bậc thánh là nhìn lại nội tâm của mình, đó gọi là cách nhìn của bậc thánh, cách nhìn của người tu, cái nhìn của người hiền trí là luôn luôn quay về nội tâm của mình, không có thấy ai có lỗi hết, mình có lỗi, thậm chí người khác đúng.
Thật sự là người ta có lỗi mình cũng hỷ xả nữa, cái lỗi là tại sao người ta người ta tức giận với mình, chắc cái mặt mình cũng khó ưa hay sao chứ mặt dễ thương người ta đâu có kiếm chuyện. Cái mặt hiền từ dễ thương thì người ta đâu kiếm chuyện, tự nhiên gặp mặt mình người ta xỉa vô kiếm chuyện thì chắc cái mặt này cũng gây ra oán thù đời này, chắc kiếp trước cũng oan gia. Chúng ta có hiểu cái này không? Có những người nhiều khi mới gặp lần đầu chưa nói chuyện mà họ muốn kiếm chuyện với mình thì phải biết những người đó là oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp, mình chưa có nói chuyện gì hết, mới gặp là người ta liếc, người ta ghét rồi. Trở lại cái vấn đề ở đây thì cái quan trọng là muốn tu hay là Tứ Niệm Xứ đều là phải người hướng nội nhìn thân thể của mình, hành vi của mình, lời nói của mình, nhìn cảm thọ mình, nhìn nội tâm và nhìn những cái gì đang có mặt ở trong tâm, đó là thân – thọ – tâm – pháp.
Trong tâm mình đang có từ bi hay đang có sân si, trong tâm mình đang khiêm cung, khiêm hạ hay là một cái bản ngã to lớn, trong tâm mình đang sáng suốt, tỉnh táo, minh mẫn, chánh niệm hay trong tâm mình đang vô minh, si mê, trong tâm mình đang có sự hoan hi hay đang nó đang khó chịu, buồn phiền, trách hờn, trách móc, đủ thứ trách hết. Thành ra từ cái câu dục liên hệ đến Tứ Niệm Xứ để chúng ta thấy được cái tu của mình rất là thiết thực, hiện tại, đến mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có chờ đợi lúc nào hết, có khả năng hướng thượng, người trí sẽ tự mình giác hiểu.
III. Bốn đôi tám chúng
Cho nên luôn luôn chịu khó để ý lời nói, hành động của mình, luôn luôn chịu khó để ý cảm giác bên trong, coi cảm giác gì, để ý coi trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, đó là quán tâm, trong hình bóng, suy nghĩ đó là thiện hay là bất thiện là quán pháp. Có đơn giản không? Rõ không? Khi mình c nắm được cái pháp học và mình có sự thực hành thì mình sẽ nhìn cái pháp Tứ Niệm Xứ rất là rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, thực tế trong sinh hoạt đời sống hằng ngày của mình. Và bốn đôi tám chúng, đúng danh từ trong kinh là bốn đôi tám vị tức là tám cái thứ bậc của hiền thánh, bốn đôi là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, nói Tiếng Việt mình cho dễ hiểu là thánh quả thứ nhất, thánh quả thứ hai, thánh quả thứ ba, thánh quả thứ tư, đây là bốn thánh quả, tứ thánh quả mình thường nghe.
Có một bậc chưa có đi được vô bốn cái thánh quả này mà đang đi tới bốn thánh quả này thì vậy gọi là hướng. Hướng là đang đi tới giống như mình luyện thi đại học vậy đó, mình chưa có đậu mà mình đang luyện thì người ta dùng hướng tới thánh quả thứ nhất, hướng tới thánh quả thứ hai, hướng tới thánh quả thứ ba, hướng tới thánh quả thứ tư. Cho nên cái từ dùng là đạo với quả, bốn đạo, bốn quả, đạo là con đường, là đang đi, còn quả là đã đến thành ra có bốn cái quả và bốn cái bậc đang hướng tới bốn cái quả đó nên gọi là bốn đôi tám chúng, bốn đôi tám vị.
Như vậy thì làm sao để mình xác định được bốn đôi tám vị, bốn đôi tám chúng này khác với người phàm? Với người phàm phu Đức Phật dùng từ vô văn phàm phu là người phàm phu này không có nghe Nikāya, không nghe Chánh Pháp, không có học Chánh Pháp, không có tu Chánh Pháp, không có gặp bậc chân nhân, chánh kiến, không có gặp bậc hiền thánh, thánh nhân, không có nghe được Chánh Pháp thì người này không nghe Chánh Pháp cho nên người này đâu có biết ngũ uẩn mà người này cho ngũ uẩn là ta, là mình, là của ta, là tự ngã của ta. Cái người mà đã cho ngũ uẩn là ta, là tôi, là mình, là tao, là mi, là tự ngã của ta thì người này làm sao ra khỏi ngũ uẩn? Tới bao giờ ra khỏi ngũ uẩn? Không bao giờ có ngày ra khỏi trừ khi người này được nghe pháp của bậc thánh, được học pháp của bậc thánh, được tu pháp của bậc thánh, thuần thục pháp của bậc thánh, được tu tập pháp của bậc thánh, được thể nhập trí tuệ của bật thánh thì người này mới thấy được ngũ uẩn không phải là ta, không phải là của ta.
Từ khi người này được nhận diện ngũ uẩn cho đến tu tập để nhiếp phục ngũ uẩn, chế ngự ngũ uẩn, cho đến thoát ra khỏi ngũ uẩn thì trong cả cái quá trình đó đó, từ cái lúc nhìn thấy được ngũ uẩn, xác quyết ở trong lòng của mình nhất định mình sẽ tu để mình ra khỏi ngũ uẩn thì cái tâm hướng tới cái sự thoát ra khỏi ngũ uẩn thì cái tâm đó là tâm của hướng Dự Lưu. Nó lấy cái sự nhận biết ngũ uẩn làm cái quyết định của người tu, ở trong kinh Đức Phật nói sự đoạn trừ các lậu hoặc, các sự ô nhiễm, cấu uế, tham, sân, si, phiền não này là ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết, ta không có nói cho người không thấy, ta không có nói cho người không biết.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Tại vì người không thấy không biết thì họ giống như người mù, không có thấy ngũ uẩn thì làm sao họ thoát ra ngũ uẩn? Cho nên Đức Phật nói cái pháp để cho người có khả năng diệt được tham, sân, si là người đó phải thấy tham, sân, si. Mình không thấy, mình không biết tham, sân, si làm sao mình nhiếp phục tham, sân, si? Làm sao mình chế ngự tham, sân, si, mình diệt tận tham, sân, si, mình tẩy sạch tham, sân, si và thoát ra khỏi tham, sân, si? Cho nên muốn nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, thoát ra tham, sân, si thì phải thấy biết tham, sân, si mà trước nay mình đâu có được học, được chỉ, được thấy biết tham, sân, si đâu, thành ra ở trong bốn đôi tám chúng cũng vậy, tham, sân, si nằm trong ngũ uẩn vì thế thấy ngũ uẩn là thấy tham, sân, si. Bốn đôi tám chúng là các vị nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được tham, sân, si, nhìn thấy được sự cấu uế, ô nhiễm của thân tâm và các vị này hướng đến sự thoát ra, giải thoát, một cái tâm hướng đến rất là mạnh mẽ, rất là quyết liệt. Cái tâm hướng tới mạnh mẽ, quyết liệt sau khi thấy biết, hiểu biết thì các vị này gọi là Hướng Dự Lưu hết.
Nếu ở trong chúng chúng ta đây, các giới tử hiện tại, các nam hiền trí chúng ta sau khóa học này mà về vẫn nghe pháp, vẫn thực tập không có bỏ luôn, không có bỏ, có một cái niềm tin kiên trì, vững chí, nghe pháp, thực hành liên tục theo hoài như vậy thì tối thiểu mình cũng đi vào Hướng Dự Lưu tức là vào bốn chúng của Đức Phật. Nói cái danh từ bình dị nhất là chính thức là đệ tử của Phật gọi là thánh đệ tử, đệ tử của bậc thánh, nói cái từ khác, một góc độ khác, tức là các vị này là những hiền giả, những hiền trí. Tại sao vậy? Mình có trí là mình thấy được ngũ uẩn, mà thấy ngũ uẩn mà mình tu cái tâm hiền cho nên gọi là hiền trí, thành ra pháp danh ở đây nam đặt là Trí, nữ là Hiền.
Đó là chất liệu của thánh đệ tử, là cái chất liệu của người con Phật, là cái chất liệu của bốn đôi tám chúng là hiền trí và cũng là vào trong cái địa vị thấp nhất của bốn đôi tám chúng, thậm chí lên tới cao nhất luôn, tùy theo cái mức tinh tấn của mình. Còn chưa nghe Nikāya, chưa học Nikāya, chưa hiểu Nikāya, chưa tu Nikāya thì gặp được Chánh Pháp cũng đồng nghĩa chưa nghe ngũ uẩn, chưa học ngũ uẩn, chưa thấy ngũ uẩn, chưa tu để nhiếp phục ngũ uẩn thì cái đó vẫn là phàm phu, dù cho mình tu một ngàn kiếp cho tới trái đất này thành hoại tỷ lần đi nữa mình tu cái gì không biết mà ngoài cái thánh trí huệ này thì cái đó vẫn là phàm phu. Như lai nói rằng chỉ có cái người gặp được Như Lai, gặp được đệ tử Như Lai, nghe pháp hoặc là nghe được hai vị đó thì mới biết được cái trí tuệ này, chính như vậy mới nói rằng Chánh Pháp khó được nghe.
Hồi nãy có một vị hỏi tại sao Chánh Pháp lan tỏa khó vậy, đó là vì nó không phải dễ được nghe, vì Đức Phật nhập diệt đã 2.600 năm và sau khi Đức Phật diệt độ có năm trăm năm thì Chánh Pháp đã hết rồi, là bước qua thời kỳ tượng pháp rồi cho nên từ hai ngàn năm nay là tượng pháp, không phải Chánh Pháp nhưng mà một cái duyên lành may mắn cho chúng ta là có một bậc tu hành tự mình tìm ra được cái giáo pháp mai một ngàn năm trước. Vị này tự mình tìm, tự mình tu thành tựu rồi hướng dẫn lại cho con, hướng dẫn lại chúng ta cho nên chúng ta mới được may mắn ngồi đây giờ này mà nghe được cái pháp 2.600 năm trước vì cái này rất là khó tìm, hiện nay rất là khó tìm.
IV. Trân quý, học tập Chánh Pháp
Chúng ta đọc làu làu tâm kinh Bát Nhã phải không? Đọc thuộc ro ro, làu làu nhưng mà mình đâu có biết ngũ uẩn thậm chí những người hướng dẫn cho mình cũng không biết nữa. Vì thế mình rất có phước duyên là mình gặp được bậc tu hành có thành quả trao cái chìa khóa cho mình để mình mở ra căn nhà nội tâm, thì mình cố gắng mình học, mình tu có cái lợi ích, có kết quả rồi mình cố gắng bằng cái sức khả năng của mình chia sẻ đến những người nào có duyên chia sẻ đến những người nào có duyên với mình. Điều đó rất là phước báo, rất là lợi ích cho mình và cho người, đó là lý do Chánh Pháp khó được nghe, khó được gặp, không phải dễ, mà gặp rồi hiểu được là khó hơn, hiểu được rồi có thể thực hành được thì càng khó hơn, mà thực hành đi đến tận cùng lại càng khó hơn cho nên có nhiều cấp độ để mình tu học.
Bây giờ mình có hạnh phúc không? Chánh Pháp khó được nghe nhưng nay được nghe rồi, khó được hiểu bây giờ cũng hiểu rồi, mà khó được tu bây giờ mình đang tu. Còn nhiều cái thâm sâu nữa, chúng ta mới giờ bước vào chúng ta phải với một cái tâm của trẻ thơ, cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, cung kính đón nhận thánh trí tuệ của Đức Phật, cái học này không có giống như mấy cái học trước nay của chúng ta, mấy cái học trước nay của chúng ta tất cả cái học thậm chí mình học Phật giáo mà không có đi vào dòng Nikāya này thì đa số mình học là ở trên cái suy tưởng, suy luận, suy diễn. Chính vì học ở trên đó suy tưởng, suy luận, suy diễn rồi mình diễn hồi thì cái Chánh Pháp thành tượng pháp, mình đem cái suy tư của mình, suy tưởng của mình, suy diễn của mình để diễn thì Chánh Pháp từ từ mai một, còn Nikāya là không được phép, Nikāya là cái định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không có người nào dám chỉnh lý cái gì trong đó chút nào hết, phải y theo cái đó, giống như bài toán có đáp số sẵn, làm sao miễn ra trúng đáp số đó là được chứ không có nói ở ý tôi là vầy, Ý tôi là như thế kia, dẹp hết, không có ý kiến gì hết.
Vì ý của mình là ý của phàm phu, ý của vô minh, ý của bản ngã thành ra học Nikāya khác với mấy cái học khác cho nên mình phải học thuộc lòng, đó là cái chuẩn mực của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không một ai có thể điều chỉnh thay thế. Trong Trường Bộ Kinh Đức Phật nói Như Lai không có nói dư một chữ cũng không có nói thiếu một chữ, những gì Như Lai cần nói là Như Lai đã nói đầy đủ cho nên kinh Nikāya mình học là không được có ý kiến. Nếu như mình có nghi thì mình hỏi là cái nghi của mình, chứ mình không có được tại sao Phật nói vậy mà mình cố làm sao để mình thấy được giống như vậy thì mình thể nhập thánh trí, còn mình khư khư giữ chặt cái thấy của mình, cái biết của mình, cái quan điểm của mình thì mình ở trong phàm tình, phàm phu mãi mãi thôi.
Nếu mình muốn phàm phu, phàm tình, tham, sân, si thì mình cứ giữ ý của mình, không ai bắt mình đi theo hết, Đức Phật đâu có bắt ai đi theo. Nếu mình muốn học theo Đức Phật thì mình phải bỏ những cái thấy biết chấp ngã, kiến chấp, định kiến, tư kiến cá nhân của mình, những cái thành kiến, tư kiến, rồi định kiến, ngã kiến, rồi thân kiến, nhiều thứ kiến lắm mà tất cả cái đó là điều là những cái thấy biết là lệch lạc, sai lầm, đưa mình đi đến tham, sân, si, đưa mình đi đến khổ đau, phiền não, còn cái thấy biết Đức Phật gọi là thánh tri kiến, thánh kiến, cái tri kiến của bậc thánh. Mình chỉ cần y theo đó mình đi thì đúng cái đạo lộ mà trong đó Đức Phật đưa ra cái đạo lộ của ngài tuyệt vời lắm, ai muốn đi cõi người, cõi trời Đức Phật dạy cho đi cõi người, chỗ trời, tức là người này còn thích ngũ uẩn thì Đức Phật chỉ cho đi trong ngũ uẩn nhưng mà đi trong an lạc, hạnh phúc, cao đẹp. Còn có người nói "dạ không, con thấy giờ cõi trời, cõi người gì cũng khổ, cũng sanh, già, bệnh, chết, cũng luân hồi, hết phước trên trời lọt xuống làm con heo, lọt xuống địa ngục, lọt xuống làm con giòi, lọt xuống làm cô hồn, con ngán quá nên con không muốn luân hồi sanh tử nữa. Con muốn chấm dứt tái sanh", vậy ta dạy cho ngươi đạo lộ Niết-bàn ra khỏi ngũ uẩn.
Đức phật không có nói nhất định đi theo ta là phải tới cứu cánh hết, không có, Đức Phật dạy cho hàng cư sĩ khác, dạy cho hàng tu sĩ khác và Đức Phật coi cái căn người đó, cái tâm người đó thích muốn cái gì Đức Phật dạy tương ứng với cái đó, sau khi người đó thuần thục cái pháp đó rồi Đức Phật thấy người này có khả năng hướng thượng lên nữa thì dạy tiếp và cuối cùng này có khả năng nữa thì Đức Phật mới dạy cái pháp cứu cánh, dạy pháp bất tử. Thành ra mình học Chánh Pháp tuyệt vời lắm, người muốn học Chánh Pháp thì người này đó đầu tiên đi vô đạo tràng Nikāya phải có hai điều kiện, một là phải tu tâm hiền, hai là phải tu cái hạnh diệt ngã, hai cái này là yếu tố để đi vào đạo tràng Nikāya cũng là cái điều kiện tiên quyết để mình tu tập được Chánh Pháp. Tâm hiền và diệt cái ngã phải tương đối 70-80% thì mình mới vô tu được, còn mình hung dữ quá là tu không được, chống đối dữ lắm.
Hôm trước chúng ta có nhớ con có nói là cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi tổ, cãi trời, cãi Phật thì cái tâm đó là không tu được. Người tu Nikāya là cái tâm hiền lành, hiền thiện, chân thật, chân thành, nghe lời, tại vì đối với bậc thiền thánh mình không nghe lời thì mình trở thành dữ, ngược lại với hiền là dữ, ngược lại với thánh là hiền, mình cãi với hiền thánh thì mình phàm phu mãi mãi thôi. Chính vì vậy mà cái đầu tiên ở trong đạo tràng Nikāya tu học Chánh Pháp là phải hiền thiện và phải khiêm cung, diệt ngã, hai cái này là chất liệu để đi vào đạo tràng, không có hai cái này khá 70-80% thì không vô đây được, không vào đạo tràng được, không có tu thâm sâu được, chỉ cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên vậy thôi, học và biết thời gian rồi thì cũng bỏ vì người này mang cái tâm chống đối, cái tâm ta đây, hơn thua như vậy thì không có tu được, trong đó nó nhiều pháp. Từ từ nghe lời, phải biết nghe lời, phải biết chấp nhận học pháp của Phật và các bậc thánh.
Còn vấn đề làm sao để diệt cái sân hận thì có nhiều bài pháp lắm, chúng ta sẽ được nghe ở đây, mình không có thời gian nhiều thì chúng ta được nghe và chúng ta sẽ thực tập từ vô lượng tâm thì mình sẽ biết cách nhổ bứng luôn cái gốc của sân luôn, bứng luôn cái gốc ở trong cảm thọ luôn chứ không phải chỉ kiềm ở ngoài miệng. Mình không có biết tu ngũ uẩn, không có biết từ vô lượng tâm thì mình kiềm lần thứ nhất, kiềm lần thứ hai rồi nhất quá tâm ba bận cũng bùng nổ, nó cũng bung ra nhưng ở đây không có kiềm, mình hóa giải từ bên trong cái động cơ mà nó phát ra sân. Cho nên mình tu cái này không bao giờ có vấn đề gọi là trầm cảm, tu cái này là trị trầm cảm, nó giải quyết hết tất cả mọi vấn đề tâm lý, giải tỏa tâm lý, giải phóng tâm lý, giải thoát tâm lý cho nên cái quả cứu cánh của A-la-hán là tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tâm giải thoát là cái tâm ra khỏi tất cả dục tham, tuệ giải thoát là cái trí tuệ ra khỏi tất cả mọi cái, vô minh không còn nữa là tuệ giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát thì có những cái pháp thực tập cho chúng ta, từ đây cho đến cuối khóa chúng ta sẽ có nhiều bài thực tập về tâm từ và chúng ta phải học thuộc lòng. Chúng ta phải viết nhật ký tu học của mình, cảm nhận tu học của mình, đi khất thực làm sao, xuất gia làm sao, tâm mình chuyển đổi ra sao, thứ nhất là viết bài, thứ hai là phải học thuộc bài, kinh Nikāya là học thuộc lòng chứ không có nói "con nhớ Đức Phật nói vầy…", mình diễn ra mà sai một chữ là trật lất hết, chính cái chỗ mà mình diễn ra mà bây giờ là mạt pháp, nhiễu loạn Chánh Pháp tại vì Phật nói vậy nhưng mình diễn một hồi là pháp không còn nữa.
Bây giờ mình thấy những cái định lý. định luật mà sai chữ thôi thì còn định lý nữa không? Cái pháp cũng y vậy đó, diễn riết hai ngàn năm là xong luôn, chính vì vậy mà bây giờ mình bám tuyệt đối vào kinh tạng Nikāya thành ra có quý vị hỏi kinh này, kinh kia, rồi này kia là con xin thưa là con không có biết, ở đây chỉ tu theo kinh Nikāya thôi, tất cả những cái sách vở khác không có sử dụng.
V. Đi đúng hướng
Giới tử 9: Dạ mô Phật con cũng có một cái suy nghĩ cũng muốn xin ý kiến sư phụ là bây giờ nói bản thân con thì con cũng biết đến Phật pháp là từ 2011, sau một biến cố về công việc và gia đình và con cũng đi theo rất là nhiều những cái khóa tu, khóa học, những cái trường phái khác nhau, nhưng mà trong lòng thì không biết sao vẫn thấy có cái gì đó không ổn. Những ngày tu tập ở đây thì có thể nói con rất là cảm thấy may mắn vì đã gặp được Chánh Pháp, biết ơn sư phụ và có thể tìm thấy giống như là cái chân lý con đường mình đi và có thể tự thuyết phục được mình có lẽ là mình đã đi tìm đúng. Nhưng mà con thắc mắc là bây giờ làm sao để người ta biết được là người ta đi đúng đường? Dạ xin sư phụ khai thị cho con và mọi người.
Sư Phụ: Dạ bây giờ sao chú biết được chú đi đúng?
Giới tử 9: Tức là con cảm thấy là đúng và cảm thấy rằng mình tin tưởng.
Sư Phụ: Thứ nhất là kinh tạng Nikāya là có lịch sử, có sự thật, được khắc các cái bia đá ở tại các nước Phật giáo nguyên thủy, có lịch sử, có sự thật, được truyền thừa. Chữ Nikāya có ý nghĩa là được truyền thừa từ Đức Phật, những lời dạy nguyên gốc, nguyên bản, nguyên chất, nguyên thủy được truyền thừa từ Đức Phật, cái chữ Nikāya có nghĩa là vậy cho nên thứ nhất mình y cứ vào kinh tạng Nikāya là một bộ kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, cả thế giới các nhà nghiên cứu đều công nhận đó là bộ kinh cổ điển nhất của Phật giáo và được tất cả các nhà nghiên cứu lớn của Phật giáo trên thế giới công nhận và có lịch sử, có sự thật ở các nước Phật giáo nguyên thủy như là Myanmar, Tích Lan, Thái Lan, nhất là Myanmar còn khắc lại những bản kinh ở trên đá và có các vị Tam Tạng pháp sư học thuộc lòng những tạng kinh được truyền thừa hàng ngàn năm qua, đó là mình y cứ trên lịch sử, y cứ trên sự thậ.
Thứ hai là mình y cứ trên cái pháp ở bên trong tạng kinh đó nói, là bây giờ mình được hướng dẫn ngũ uẩn mình thấy rõ ngũ uẩn, mình không còn nghi ngờ gì nữa thì cái đó chính là câu trả lời lớn nhất, thuyết phục nhất là hướng dẫn cho họ thấy được ngũ uẩn. Sau khi họ thấy được ngũ uẩn đương nhiên họ sẽ nhận ra được tham, sân, si ở trong ngũ uẩn và khi họ nhận ra được tham, sân, si trong ngũ ẩn đồng nghĩa họ thấy được nguyên nhân của khổ và thấy được con đường diệt khổ. Tham, sân, si là nguyên nhân để làm cho mình khổ, bây giờ diệt hết tham, sân, si là hết nguyên nhân của khổ, hết nguyên nhân của khổ còn kết quả khổ không? Đó là Tứ Thánh Đế, đó là bốn sự thật của bậc thánh, như vậy thì ngũ ẩn và Tứ Thánh Đế là ở trong nhau, không có tách rời nhau, ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng vậy, Bát Chánh Đạo cũng vậy.
Khi mình thành tựu một cái trí tuệ chân chánh, chính xác, thấy đúng thì tất cả các pháp nó sẽ hiển lộ ra trong tâm của mình. Pháp ở trong lòng bàn tay, pháp ở trong tâm, pháp ở trong cái thấy biết của mình, pháp ở trong ngũ uẩn, không có ở ngoài ngũ uẩn. Bây giờ mình nhìn cả địa cầu này Đức Phật nói có một chữ là sắc, mình nghĩ là châu Mỹ, châu Âu, châu Úc rồi châu Á, Châu Phi, qua nước này nước kia mình mê mẫn, mình như tưởng tượng nhưng Đức Phật chỉ tóm gọn một chữ là sắc, là tứ đại thôi. Khi mình thấy được cái trí tuệ này, mình thành tựu được cái trí tuệ rồi mình nhìn tất cả mọi cái đó chẳng là cái gì hết, ở trong con mắt mình không có là gì hết, khi mình hiểu được, mình thấy được, mình sống được thì đối với mình tất cả chỉ là sắc pháp thôi, chỉ là đất, nước, gió, lửa tích tụ, kết hợp lại thôi, có cái gì đâu.
VI. Thế giới vô thường
Đó là mình nói cả thế giới này, cả hành tinh này, rồi cảnh vật này, núi đồi này có phải sắc không? Rồi cục thịt mấy chục ký lô ngồi đó là cái gì? Như vậy thì từ con người, cảnh vật cho đến thế giới thì Đức Phật chứng ngộ một chữ thôi, đó là sắc, đó là thánh trí đó, sắc uẩn và sự tụ tập lại của tứ đại thôi, dầu cho là đương kim hoàng hậu, đệ nhất phu nhân hay là một cô gái khùng đi ăn xin ở ngoài đường cũng là sắc uẩn thôi, đâu có rời sắc đâu, tất cả chỉ là sắc. Khi mình hiểu được điều đó rồi cái tâm phân biệt của mình sẽ giảm bớt xuống, mình sẽ có cái nhìn bình đẳng, mình sẽ có lòng thương, lòng từ chứ không phải mình nhìn thấy một người giàu có, sang trọng, chức quyền thì mình khúm núm, còn nhìn thấy một người nghèo khổ, ăn xin mình khinh khi. Ngược lại, mình sẽ có một cái nhìn bình đẳng, một cái tâm từ hiểu và thương, nghiệp và nhân quả, chẳng qua cái sắc này là ác nghiệp thì nó biểu hiện ra vậy, cái sắc kia là thiện nghiệp thì nó biểu hiện ra vậy thôi, chứ cái sắc nào mà không là đất, nước, gió, lửa, sắc nào mà không sanh, già, bệnh, chết, sắc nào mà không tham, sân, si, sắc nào cũng tham, sân, si hết.
Không phải người nghèo mới thiếu thốn đâu, mà người giàu thiếu còn dữ hơn người nghèo nữa, họ muốn cho nhiều nhiều lên, họ không phải đòi một đồng, hai đồng, mười đồng, trăm đồng mà họ đòi tỷ tỷ, ức ức, vạn vạn. Họ chính là cái người khao khát nhiều hơn những người nghèo nữa, con thỏ hay con trâu, con bò đi kiếm mấy cọng cỏ là xong à, nó đâu có cực phải không, cái tâm mình tham quá tham cho nên mình phải chạy cùng khắp cái địa cầu này để mình kiếm, mình hốt. Cuối cùng mình hốt trúng một cái nấm tro của chính mình, phải chưa? Chứ có gì đâu, thành ra mình tưởng đâu là sang trọng, cao quý, bằng cái thánh trí tuệ nhìn vô là họ đang đau khổ, tội nghiệp cho họ, đừng tưởng đâu đại gia là ngon, thật ra là đầy rẫy tham, sân, si, đầy rẫy những sự thiếu thốn bên trong, sự trống rỗng bên trong, chỉ có thánh pháp Đức Phật mới đưa cho mình đến sự bình an, đưa đến một cảm giác mà cái tâm mình hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, thỏa mãn, không còn khát khao. Trong kinh nói thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái, thân này là vô chủ, thân này là vô sở hữu, ra đi sẽ từ bỏ tất cả.
"-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
•'Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả', thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Cả cái thế giới này là nô lệ cho tham ái, bây giờ mình thấy chiến tranh nổ ra, ở bên bờ biển bên này lại mong muốn bờ biển bên kia, không có hài lòng với bờ biển bên này nên giờ lấn biển rất nhiều.
"Ta thấy người giàu sang ở đời,
Có của vì si không bố thí.
Vì tham, họ tích tụ tài vật,
Và chạy theo dục vọng càng nhiều.
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,
Vua trị vì cho đến hải biên,
Không thỏa mãn bờ biển bên này,
Và chạy theo bờ biển bên kia." (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Cho nên luôn luôn ở trong cái tâm tham ái, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho thâm ái thì làm sao có hạnh phúc? Vì thế mình học được cái pháp này mới là tối thượng chứ không phải sở hữu là mình hạnh phúc, nếu mình không có trí tuệ thì càng sở hữu càng lo lắng, càng sở hữu càng sợ hãi, càng sở hữu càng bất an càng lo sợ. Con hỏi thiệt các chư hiền trí cái ông giàu nhất nước Việt Nam này chịu lên đây tu hai tuần giống mình không? Ông giàu nhất thế giới này chịu ngồi thiền dưới gốc cây bảy ngày không? Có chịu tu không? Sao vậy? Bận tính tiền phải không? Vậy thì phải cảm ơn không có tiền nhiều, có mấy người cảm ơn thất nghiệp, nhờ thất nghiệp mới ngồi đây. Thành ra có khi dịch bệnh cũng là cái hay, đó là tiếng chuông thức tỉnh mình, có khi cái sự suy thoái cũng là cơ hội để cho mình nhìn lại cuộc đời của mình, đừng có mong muốn lúc nào cũng phải hưng thịnh hết, lúc nào cũng phải chạy rong ở ngoài thành ra tất cả hãy để cho các pháp nó vận hành, có khi từ cái khổ mới đưa mình tới sự tu. Giống như sáng mấy huynh đệ chia sẻ người thân của mình ra đi như vậy mình đau buồn thì mình hướng đến cái đạo, nếu người thân mình còn vui vẻ, hạnh phúc bên mình thì chưa chắc giờ này mình ngồi ở đây tu, đừng nói chi cạo đầu, rất khó phải không?
Như vậy thì nhìn cho sâu sắc để mình thấy được, mình tập chấp nhận mọi thứ trên đời nó xảy ra với mình. Cái quan trọng tối thượng là cái mình tìm ra được pháp, tất cả mọi thứ đều vô nghĩa ngay cả người thân và ngay cả bản thân mình nữa ra ta đi từ bỏ tất cả vì thân này là vô sở hữu mà. Tất cả đều vô nghĩa chỉ có cái pháp thôi, mình nắm được cái thánh trí tuệ của Đức Phật thì mình có lối thoát, mình có con đường đưa đến bình an, hạnh phúc, còn nếu mình không có cái đó thì mình sống đã tỷ tỷ kiếp rồi chứ không phải mới sống mấy chục năm nay đâu, ngồi đây vậy chứ mấy ngàn tuổi không à, cả tỷ năm không, kiếp trái đất trở lại không, từ thời Đức Phật ở dưới cội bồ đề là mấy vị cũng có ngồi đó cho nên giờ này mới được học Nikāya này. Nhưng do làm biếng, tu giải đãi nên mới trôi lăn, trôi dạt tới giờ phút này nhưng cuối cùng cũng có duyên gặp lại tại chỗ này, hạnh phúc không?
Thành ra chỉ có tìm ra được Chánh Pháp mới là tối thượng, ngoài ra tất cả cái khác đều vô nghĩa vô nghĩa hết. Bây giờ mình có cô vợ thiệt đẹp, thiệt giàu thì có lo không? Có ghen không? Quá đẹp rồi đi đâu cũng sợ, vừa ra khỏi nhà là gọi hỏi đi đâu, đi với ai, như vậy có khổ không? Còn vợ xấu thì đi đâu ai cũng chê "cưới vợ gì xấu quắc vậy?", khổ chưa? Còn vợ vừa vừa thì suốt ngày cằn nhằn mãi, khổ chưa? Hàng xóm bảo "cưới vợ gì cằn nhằn suốt ngày vậy? Thôi đi lên Linh Quy Pháp Ấn tu luôn đi", có được không? Nói để mình thấy nếu không biết pháp thì hoàn cảnh nào cũng thấy khổ, nghèo thiếu là đương nhiên khổ rồi, giàu cùng tột cũng khổ, vừa đủ ăn cũng khổ, khổ cái khác, nó không có khổ về vật chất mà khổ về gia đình, khổ về tình cảm, khổ về bệnh tật, khổ về tai nạn, khổ về chiến tranh, sóng thần, lũ lụt, động đất, biến đổi khí hậu, đủ thứ hết.
Thiên hạ đại loạn, lòng người đầy rẫy những dục vọng, những ác tham, những sự điên đảo, tất cả đạo đức, nhân nghĩa càng ngày càng sụp đổ, đại nghịch bất đạo, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa rất là nhiều. Cho nên bây giờ chúng ta ngồi đây là chúng ta đang hưởng hạnh phúc hơn cả cõi trời mà chư thiên còn phải khát sao nữa. các vị trời không được nghe Chánh Pháp này, thánh đệ tử thiên mới được nghe. Các vị trời là đệ tử Phật mà thành tựu chánh kiến, gặp được bậc thánh nhân mới được nghe, còn các vị trời khác bận đi chơi bận, hưởng thụ giống như người giàu vậy đó thì sao mà tu, có phước hoài, phất tay áo hiện lâu đài, đi mây về gió, thấy Tôn Ngộ Không không, thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu không, đó là trong phim thôi nha, như vậy rồi làm sao tu.
Bây giờ kêu ngồi thiền thì nói khó ngồi, tê chân thôi để đi chơi, mình có chiếc xe thôi mà còn là phượt tùm lum hết, phượt từ nam, trung, bắc vậy đó, giờ không cần xe chỉ cần phất một cái thôi là bay năm trăm dặm thì làm sao chịu ngồi thiền hai tuần ở đây tu, thấy chưa? Cho nên là mình có phước hơn chư thiên, sanh ở trong loài người Đức Phật tán thán là tối thắng, nhất là sanh trong thời điểm có Phật, có pháp, Tuy chúng ta xa Phật nhưng bây giờ chúng ta có pháp thì thật sự là hy hữu, hiếm có, khó gặp, quý báu vô cùng, không phải chuyện dễ, không phải chuyện đơn giản. Hồi nãy có câu hỏi này cũng rất quan trọng, bây giờ mình nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là ngũ uẩn, là thân tâm, giờ mình tu để thoát ra khỏi ngũ uẩn rồi sao?
Cái này nó sâu sắc lắm, tất cả chúng ta giống như nằm ở dưới Ngũ Hành Sơn, chúng ta nhớ Tôn Ngộ Không bay cỡ nào cũng bay không ra khỏi bàn tay Như Lai Phật Tổ phải không? Cái bàn tay Như Lai Phật Tổ đó là ngũ uẩn cho nên cái ý thức, thọ; tưởng; hành; thức này tâm thức làm sao ra khỏi được ngũ uẩn cho nên có bay cỡ nào cũng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có cách nào đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức bên bị đè xuống Ngũ Hành Sơn, núi Ngũ Hành Sơn đó chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sắc này luôn vận hành, tất cả sắc chất tứ đại này luôn vận hành, nó đâu có đứng yên, mình thấy mình ngồi im ru thì mình nói mình ngồi yên chứ đâu có yên, mình thấy cái chuông này mình tưởng đâu nó yên nhưng nó đang vận hành, mình thấy cây xe đứng yên thì tưởng là nó yên nhưng nó đang vận hành để đi đến chỗ hoại diệt.
Cảm thọ của mình có vận hành không? Cũng đang vận hành, đang đổi thay., Hình bóng trong tâm mình có vận hành không? Nó thay đổi liên tục hết hình này tới hình kia, hết bóng này tới bóng nọ. Suy nghĩ mình có vận hành không? Hết suy nghĩ này tới suy nghĩ khác, hết nói cái này tới nói cái khác. Rồi cái nhận thức của mình nó có vận hành không? Nó có thay đổi không? Tất nhiên là có, Đức Phật gọi từ chung là các hành là vô thường, các hành ở đây là chỉ cho sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành và sự vận hành của ngũ uẩn cho nên ngũ hành tức là năm cái sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức và chúng sanh là bị đè bẹp ở dưới đó, bị chà đạp ở dưới đó, bị chôn vùi ở dưới đó vô lượng, vô số, vô biên kiếp không đi ra khỏi, trừ khi được nghe pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, được gặp các bậc thánh đệ tử, được chỉ cho con đường xuất ly.
Bây giờ cái mà biết được sắc cái đó nó không phải là sắc, cái mà nhìn ra được cảm thọ thì cái đó đâu phải cảm thọ, chúng ta thấy không ạ? Cái mà nhìn ra được hình bóng trong tâm nó đâu phải là hình bóng, cái mà nhìn ra được suy nghĩ thì nó đâu phải là cái suy nghĩ, cái nhìn ra được rõ biết thì nó không phải là cái rõ biết của thức, thì cái nhìn ra được sắc nó không phải là sắc, cái nhìn ra được thọ nó không phải là thọ, cái nhìn ra được tưởng nó không phải là tưởng, cái nhìn ra được hành nó không phải là hành, cái nhìn ra được thức cái đó nó không phải là thức. Vậy cái đó là cái gì? Đó là thánh trí tuệ, thí dụ trong cảm thọ mình đang có một cảm thọ bực bội, sân hận lên mình có một cái biết rõ mình đang sân không? Cái đó nó không có sân, thấy rõ không? Bây giờ cái đó mới kêu "Thôi đừng có giận nữa, giận hoài mệt quá, thôi đừng có giận, thôi tha thứ, buông xả cho nó khỏe".
Mình dạy được cái cảm thọ hết giận, nó lắng dịu xuống thì như vậy từ đâu mà mình có được cái nhìn thấy ra được ngũ uẩn? Cái thánh trí mình học từ đâu? Từ pháp, mà cái pháp do ai nói? Như vậy đó là từ Đức Phật có ra pháp và từ pháp mà chúng ta thực hành, từ thực hành chúng ta sẽ có được cái trí tuệ, như vậy thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, thánh quả. Thánh pháp là Nikāya, khi chúng ta học được thánh pháp rồi chúng ta bắt đầu thực hành thánh pháp thì chúng ta đang đi trên thánh đạo, đi trên con đường thánh pháp, giống như cái bản đồ chỉ đường vậy đó, thánh đạo là con đường mà khi mình đi lên con đường đó thì gọi là đang đi trên thánh đạo, đi trên thánh đạo này mình nghe, mình học, mình thực tập, mình nghiền ngẫm, suy tư thì mình có ra cái thánh trí.
Những cái này từ từ thể nhập chứ không phải ngày bữa có ra cái trí tuệ của bậc thánh, có cái trí tuệ bậc thánh này đoạn tận tham, sân, si, các lậu hoặc thì đi tới thánh quả. Cho nên cái thánh pháp này được duy trì là nhờ các bậc thánh Tăng, đó là ân đức của tam bảo, nếu không có Phật thì không có pháp, mà không có pháp thì không có Tăng, mà không có Tăng thì không có của mình, đó là cái ân đức vĩ đại của tam bảo và mỗi ngày mình niệm ân đức của Phật, của Pháp, của Tăng để mình biết ơn Đức Phật, biết ơn giáo pháp, biết ơn các bậc thánh đã truyền trì, giữ gìn mấy ngàn năm cho mình, giờ này mình mới truyền thừa được. Đó là ân đức vĩ đại của tam bảo, mấy ngày nay chúng ta học riêng đó là cái nhóm cũ là tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, xúc động dạt dào dữ lắm nhưng mà các vị mới không có hiểu chuyện gì hết, vô mà nghe khóc như vậy là các vị sẽ sợ cho nên các vị chưa có hiểu cho nên tách riêng ra. Đó là tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, vị thầy của con đã truyền pháp cho chúng con nên mình niệm ân tam bảo rất quan trọng, mình học cái pháp biết ơn và nhớ ơn và sắp tới mình sẽ có buổi thiền biết ơn.
Mình thực tập thiền biết ơn rất là ý nghĩa, trở lại vấn đề trí tuệ nhìn được sắc, cái trí tuệ nhìn được thọ, cái trí tuệ nhìn được tưởng, cái trí tuệ nhìn được hành và cái trí tuệ nhìn được thức mà nếu như mình không có học Chánh Pháp, mình không được hướng dẫn, không được tu tập, không được hành trì thì làm sao mình có cái đó? Không bao giờ mình có cái trí về ngũ uẩn chính vì vậy mà Đức Phật nói rằng sự khác biệt của vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, vô văn là không được nghe Nikāya, không được học, không được tu Nikāya, còn đa văn là nghe nhiều, thực tập nhiều, tu học nhiều, đây là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, vô văn là không có nghe, đa văn là nghe nhiều thì sự khác biệt này rất là lớn.
Vì thế khi mình học cái này rồi mình thực tập quán chiếu ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si rồi mình sẽ thấy rằng nếu mà mình còn trở về nhà, sẽ có một số vị không trở về nhà sao cái khóa tu này. Nếu mình trở về nhà mà mình chịu khó vẫn nghe, thực tập này thì mình sẽ rất khác với những người khác không có biết tu cái pháp này, rất là khác. Mình có một cái trí tuệ bất cộng, không chung cùng với người không thấy ngũ uẩn, người bình thường đâu có biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, người ta nói là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi không à, cho nên cái bản ngã người ta rất là to, sân nhiều, tham nhiều, còn mình nhìn thấy mình, thấy cái tham, sân, si của mình, mình thấy xấu hổ, mình thấy cái tâm cấu uế của mình, mình thấy mình hổ thẹn.
Khi một người thường nhìn thấy thì tự động dòng pháp đưa người về phía trước, người này khi vào Nhập Lưu rồi thì người này sẽ bất thối chuyển, là không bao giờ quay trở lại nữa hết, chỉ tiến tới Niết-bàn luôn. Giống như cái dòng chảy vậy đó, khi bông hoa hay chiếc lá rơi xuống dòng suối hay là cái thác thì nước sẽ đưa lên phía trước, đó là cái dòng chảy của thánh trí, đó mới gọi là Nhập Lưu, tức là vào dòng chảy trí tuệ của bậc thánh. Sau khi mình được học, được thực tập, được hiểu mà mình kiên trì, bền chí, vững chắc, cho đến khi mà xác quyết trong tâm mình 100% là mình phải giải thoát luân hồi thì lúc đó Nhập Lưu. Bây giờ có khi mình sẽ do dự, lúc thì cũng muốn, mình cũng quyết liệt tu, vài bữa cũng tiếc muốn quay lại, rồi gặp chuyện gì đó đau khổ rồi "bây giờ Phật ơi con quyết con giải thoát", vài bữa cái chán chán, nản nản, quay lại nữa, làm như vậy chừng vài lần rồi cuối cùng bữa nay con quyết liệt 100% tới luôn, không bao giờ lùi lại là Nhập Lưu thánh quả.
Tức là chiếc lá vàng của mình được rơi xuống, rụng xuống dòng thác, dòng suối thánh trí tuệ và đưa mình ra đại dương của giải thoát, chịu không? Cơ hội này không phải ngàn năm có một, mà vô lượng, vô biên kiếp mới có thể gặp được Chánh Pháp, không có dễ. Đức Phật ví dụ dưới đáy đại dương có con rùa mù, một trăm năm từ dưới đáy biển nó nổi cái đầu nó lên trên mặt nước thì đúng ngay cái thời điểm một trăm năm mà nó nổi lên đó có cái bọng cây trôi ngang ngay ở trên đầu, nó chui vô cái bọng cây rồi gió thổi từ từ trôi dạt đưa vô bờ thì nó được lên trên bờ, trên đất liền, dễ hay khó? Một con rùa mù ở dưới đáy biển một trăm năm mới nổi lên một lần, khi nổi lên đâu có thấy đường thấy xá gì đâu vì nó mù mà, cái đầu nó mới vừa trồi lên thì cái bọng cây trôi ngay cái đầu nó để nó bám vô cái bọng cây, nó chui vô cái bọng cây rồi gió thổi từ từ cái bọng cây mới đưa vô trong bờ rồi nó lên đất liền, khó hay là dễ? Rất là khó, cực kỳ khó, thiên nan, vạn nan, tỷ nan, ức nan, triệu nan nhưng mà Đức Phật nói được làm người còn khó hơn cái đó nữa.
Mình nghĩ tám tỷ người là nhiều, không có nhiều, những loài kiến, những loài côn trùng sơ sơ là mình nhìn thấy nó khủng khiếp lắm, thành ra ở trong loài người mình rất là ít, trong các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la là thần đạo là nhiều lắm cho nên Đức Phật nói khó còn hơn con mù đó mà được làm người còn gặp được Chánh Pháp nữa là càng khó hơn cái đó nữa, mà gặp Chánh Pháp rồi còn hiểu được Chánh Pháp là khó hơn cái đó nữa, hiểu Chánh Pháp mà tu Chánh Pháp thì còn khó hơn cái đó nữa, mà tu Chánh Pháp đạt thành tựu được Chánh Pháp thì càng khó hơn nữa. Hôm nay mình được những cái khó đó, vậy thì phải bám chặt cái bọng cây để nó đưa vào đất liền, vuột cái này rồi là mình chơi vơi, mình chết chìm ở trong cái biển dục, biển ái, biển tham, biển khổ, máu, nước mắt, sầu, bi, ưu, não và tai họa ở trong ngũ uẩn,
Hãy trân quý giây phút hiện tại và cố gắng tu tập từ đây cho đến mãn khóa, đừng xem thường, trân trọng từng giờ, từng phút, từng giây của mình để thực hành pháp, học kinh, viết bài, trả bài.
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.
Giới Tử Nam
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những câu hỏi PAGEREF _Toc213780388 \h 1
II. Tâm hiền PAGEREF _Toc213780389 \h 4
III. Bốn đôi tám chúng PAGEREF _Toc213780390 \h 8
IV. Trân quý, học tập Chánh Pháp PAGEREF _Toc213780391 \h 10
V. Đi đúng hướng PAGEREF _Toc213780392 \h 13
VI. Thế giới vô thường PAGEREF _Toc213780393 \h 15
I. Những câu hỏi
Sư Phụ: Xin hỏi cái hiền trí này là cái gì ạ? Chuyển Pháp Luân? Có huynh nói thập nhị nhân duyên, có vị nói bánh xe luân hồi. Đây chính là sắc, học là phải biết ứng dụng, khi mình ứng dụng được là mình có trí tuệ, còn không ứng dụng được thì pháp chỉ là pháp của Phật, của các bậc thánh thôi. Mình đem vào tâm của mình ứng dụng được thành pháp của mình, thành trí của mình, thành cái thấy biết của mình, thành cái tuệ giác của mình. Bây giờ đến các hiền trí, các giới tử hỏi, hôm nay là cái buổi hỏi đáp, các huynh đệ có cái gì nghi vấn chưa có hiểu rõ trong pháp học, pháp hành từ ngày đầu cho đến nay chúng ta hỏi, đừng ngại.
Giới tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bạch sư phụ và các hiền giả, con có một cái suy nghĩ và cũng là một cái điều mà trăn trở rất nhiều năm rồi, mình cũng là người sống giữa đời, có gia đình có mối quan hệ, có công việc của mình và con cũng muốn là mình làm sao đó mà mình có thể tu tập, đi theo con đường chánh đạo của Đức Phật, có thể làm sao đó để đem nó vào trong đời sống thường ngày của mình để có thể tu tập cho bản thân cũng như những người xung quanh của mình và lan tỏa nó cho những người khác. Có lẽ là cái nhân duyên như thế nào đó mà mình vẫn chưa có thể bước vào con đường tu tập giải thoát giống như là quý thầy ở đây, dạ thì đó là trăn trở của con thì cũng rất là mong thầy khai thị cho con. Con cảm ơn.
Sư Phụ: Rồi chúng ta hỏi tiếp đi ạ.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ sư phụ cùng với các chư tôn hiền giả tại nơi đây. Dạ con muốn hỏi với sư phụ là hôm qua con có đọc cái bài kinh trong tạng Nikāya của Đức Phật thì con chưa có hiểu nghĩa của bốn đôi tám chúng là gì. Vì vậy ở đây con xin mạn phép hỏi sư phụ cũng mong là sư phụ khai thị cho con ạ. Con xin hết.
Sư Phụ: Có một vị làm thư ký ghi câu hỏi lại, rồi chúng ta hỏi tiếp, hỏi một lượt rồi Minh Thành sẽ chia sẻ chung một lần, tổng kết lại chia sẻ chung một lần. Chúng ta những cái buổi học từ hôm đầu tới nay đó có gì chưa hiểu, từ mấy hôm qua chúng ta chưa có đi vào kinh tạng mà chúng ta mới học những cái căn bản trí tuệ.
Giới tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ cho con hỏi câu hỏi về đời sống của con. Con và vợ con hai người cũng hiểu về Chánh Pháp và cũng tìm hiểu về đạo Phật, thầy chỉ dạy cho con cách diệt sân si mỗi ngày, hai vợ chồng cứ gặp nhau cứ sân hận, hai chồng rất là hiểu, vợ con cũng rất là hiểu, biết bao năm nay cũng có bao nhiêu đó, cứ tái đi tái lại. Con cũng chưa có biết cái phương pháp cụ thể để diệt tham, sân, si trong hai người gần nhất, con chưa có cái phương pháp nào để diệt tận. Mong thầy chỉ dẫn.
Giới tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con bạch thầy và các chư Tăng, các bậc hiền trí. Thưa thầy con có điều gì không phải xin thầy xá tội cho con, thực ra con cũng ngoài 60 rồi nhưng mà thời gian đi chùa chắc đếm trên đầu ngón tay, con không hiểu gì Phật pháp lắm thì con có hiện diện ở đây cùng với người nhà con thông qua một người em ở Hà Nội chia sẻ. Người em đấy ở ngoài xã hội gọi là tệ nạn xã hội và theo con được hiểu thì để tránh sự nghiện ngập của bạn ấy thì gần như là bó tay ạ, dù đông tây y kết hợp hoặc là giáo dưỡng thì vẫn cứ tái nghiện nhưng mà qua hai buổi bạn ấy tu nghiệp ở đây thì bạn về bạn thành con người khác.
Con cũng được nghe bạn ấy nói về ngũ uẩn, theo sự hiểu biết của con về sự logic thì con cực kỳ là khuất phục, qua mấy ngày ở đây thì thời gian chưa được nhiều cái sự hiểu biết của con về chi tiết cũng chưa được nhiều, nhưng mà con đào sâu những cái kiến thức của con và suy nghĩ ngũ uẩn và thêm vào ngày hôm qua về bài sám hối về bản ngã thì con thật sự là khuất phục. Khuất phục về kiến thức của pháp để đưa đến đời sống hằng ngày cho những quần chúng, con thiết nghĩ là sư thầy và giáo pháp tốt như vậy mà đến thời điểm này vẫn chưa được lan tỏa nhiều lắm. Bản thân con thì qua bao năm học tập ở trường, giáo dưỡng ở trường từ nhỏ đến lớn, rồi đến vào đại học thì cũng được học đạo đức, học các kiến thức nâng cao về xã hội nhưng mà cũng chỉ được hô hào là phải đối xử tốt bạn bè, không được nóng giận nhưng mà thực ra thì bản thân con cũng vậy, nhiều khi con thấy con có những hành động mà sau đấy con tát vào mặt con rất là đau để sau không lập lại nữa, nhưng thực ra là nó vẫn cứ lập lại bình thường, một thời gian qua nó lại lập lại thế vì bản chất là qua học ngũ uẩn thì con đã không xử lý được ngay khi nó manh nha.
Con muốn qua đây thì trong thâm tâm con những ngày ngồi thiền vừa rồi con nghĩ rất là nhiều, vì bản thân con chắc chắn là con sẽ lan tỏa về cái phương pháp đấy ra cộng đồng được đến đâu hay đến đấy nhưng mà con cũng không hiểu sao mà cái phương pháp tốt như vậy thì cái sự lan tỏa của Phật pháp gọi là tín ngưỡng thì con nghĩ là cũng hơi khó, nhưng mà một cách nào đấy, một cái nội dung nào đấy, ví dụ như là một cái kiến thức trong ngũ uẩn thì có cái biện pháp nào đấy để giáo dưỡng tốt hơn cho học đường. Con nghĩ là những trường hợp xảy ra như vừa rồi thầy lấy mấy ví dụ mà bọn con cũng đọc sách báo nhiều thì cực kỳ đau lòng. Con muốn thầy chia sẻ có những lý do gì đấy mà chưa lan tỏa được thì thầy cũng để cho chúng con biết ạ. Con xin biết ơn thầy.
Giới tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, hôm qua sư phụ có giảng cho con một ít nhưng mà con cũng chưa có thấm nhiều. Con muốn hỏi là mình không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vậy cái đứa mà nhận ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái đứa nào.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ và các bậc hiền trí con có câu hỏi. Hôm trước con có nghe thầy nói về cái dục là sự thúc giục, là làm cái gì cũng muốn cho nó nhanh, cho nó mau, nó lẹ, con bị mắc vô cái đó thì con xin phép sư phụ được hỏi mình làm thế nào để mình chữa được sự thúc giục ở trong con người mình. Lúc nào mình cũng làm cái gì cũng bộp chộp, cũng muốn làm cho nhanh, làm cho mau, cho lẹ thì con xin phép sư phụ khai thị cho con ạ. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, mình đang học giáo pháp của Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni nên chúng ta nhớ niệm Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính lễ bạch sư phụ cùng với các chư tôn hiền giả. Con có thêm một câu hỏi nữa là con có đọc trong kinh thì con có biết về Tứ Niệm Xứ, dạ cũng có biết về là bốn cách quán nhưng mà con vẫn chưa có hiểu rõ và định nghĩa sâu về nó lắm thì con cũng mong là sư phụ có thể khai thị thêm cho chúng con để hiểu về cái cách quán Tứ Niệm Xứ này ạ. Dạ con xin hết ạ.
Giới tử 7: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy con vừa tu được mấy ngày, con học được những Phật pháp ngũ uẩn tham, sân, si. Con có tuổi rồi nên con tiếp thu con hơi chậm, bản thân con cũng hiểu biết được những điều của thầy dạy trong Phật pháp nhưng còn sống trong gia đình rất hiền hòa vì gia đình cũng được đạo Phật Nhưng không hiểu sao mỗi lần có vấn đề gì tự nhiên bản thân con nóng giận, bực tức, không kiềm chế được trong mọi người cũng như trong gia đình. Con nhờ thầy cứu giúp cho con trong khoảnh khắc tức giận ấy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 8: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư phụ con có một câu hỏi mà lâu nay con cũng thắc mắc vì con tìm hiểu về đạo Phật của đức bổn sư Thích-ca là nhờ có nhân duyên của một vị thầy là tuy không bái sư nhưng mà con gọi đó là vị thầy đã giúp cho con hiểu được đạo Phật. Con hiểu được qua cuốn Đường Xưa Mây Trắng của sư Thích Nhất Hạnh, con đọc và nghe trong Đường Xưa Mây Trắng những lời pháp thoại của Đức Phật con cảm nghĩ giống trong cái pháp tu của mình trong đạo pháp ngày hôm nay. Con cần tìm hiểu, tập trung vào cái pháp môn này là con tập trung rồi nhưng mà con có nên tìm hiểu vào Đường Xưa Mây Trắng đó có đúng với chân lý của Phật không. Mong thầy khai thị cho con, con cảm ơn.
II. Tâm hiền
Sư Phụ: Dạ câu hỏi vậy chắc cũng đủ rồi. Câu thứ nhất là câu hỏi chung, có ba câu hỏi có ý nghĩa tương đồng với nhau là làm sao hóa giải nóng giận, chúng ta giải thích tuần tự những cái dễ rồi tới cái khó, cái cạn rồi tới cái sâu, những câu sau cũng trùng với cái ý giải quyết tâm sân thôi, cái tâm nóng giận.
Đầu tiên là nói cái thúc giục, mấy hôm nay chúng ta đang thực tập để nhiếp phục cái thúc giục là câu an tịnh, lắng dịu đó, cái cảm giác toàn thân. Trước tiên là mình phải biết cái cảm giác vì cái cảm giác nó điều khiển cái thân cho nên mình cảm nhận cảm giác toàn thân là mình nắm được cái tổng tư lệnh, bộ chỉ huy, thống soái của thân tâm này chính là cảm thọ, đó là tổng thư lệnh, là bộ chỉ huy, là đầu não, là thống soái tức là cảm thọ. Sắp tới chúng ta sẽ được học bảy trí tuệ về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bây giờ mình cũng biết sơ lược về cảm thọ, cảm giác toàn thân và mình có niệm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái đó là phải niệm thường giống như mình niệm Phật nhưng không phải là niệm ngoài môi, ngoài miệng mà mình hướng vào trong cái lồng ngực, mình hướng vào trong cảm giác toàn bộ cơ thể mà mình kêu nó, mình kêu cái cảm giác.
Mình ra cái pháp lệnh, mình ra lệnh cho thân tâm của mình làm theo, cho thân tâm của mình chấp hành và phải thường niệm cái đó, thường quay trở lại cảm giác toàn thân kêu an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi, đừng có khó chịu, đừng có bực bội nữa. Đó là cái căn bản nhất, rõ ràng phải không, không có gì mơ hồ vì cảm thọ mình là cái cảm thọ thúc giục, cái cảm thọ hối hả, cái cảm thọ vội vã, lăng xăng thì giờ mình kêu nó đừng lăn xăng nữa, đừng thúc giục nữa, đừng hối hả nữa, đừng tất bật nữa, an tịnh, lắng dịu đi. Mình hướng vào trong cái cảm thọ kêu nó, ra lệnh cho nó, nhắc nhở nó, có khi phải vừa sử dụng nhu vừa sử dụng cương, có lúc mình phải nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, có lúc mình phải rầy la, quở trách, đó là hai cái phương pháp để mình sử dụng huấn luyện cái tâm, Đức Phật thường sử dụng hai phương pháp đó là nhu và cương.
Có khi mình nói rất là nhẹ nhàng, rất là ngọt ngào nhưng mà có lúc mình rầy cái cảm thọ của mình, la cái cảm thọ, quở mắng "Tại sao ngươi cứ nổi loạn hoài vậy? Tại sao ngươi cứ bạo động hoài vậy? Tại sao cứ lăn xăng hoài vậy?", có lúc thì mình lại nói nhẹ nhàng "ngươi thấy mệt mỏi hay sao mà cứ muốn chạy cho lẹ để vấp té hay sao? Muốn tai nạn giao thông hay sao mà cứ tăng ga lên?". Mình rầy la, mình đưa ra những cái tai hại, những cái nguy hiểm, những cái tác hại, đó là quán về nguy hại của sự thúc giục. Bây giờ mình thường xuyên tưới tẩm cảm thọ dễ chịu, mát dịu, ngọt ngào, hiền hòa, một mặt là mình nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ thúc giục, hấp tấp, bất thiện, một mặt là mình làm tăng trưởng cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền hòa, hiền thiện.
Chúng ta thấy rõ cái vấn đề không ạ? Diệt ác sanh thiện, tức là mình là xử lý cái tiêu cực và mình phát huy cái tích cực. Một mặt là mình khai phá rừng hoang, một mặt là mình trồng hoa, mình làm rẫy, trồng cây trái lên chứ không phải mình chỉ diệt ác không mà mình không có tăng thiện, tức là mình chỉ nhiếp phục dục mà mình không có tưới tẩm những cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, từ ái. Sắp tới chúng ta sẽ được thực hành từ vô lượng tâm, mấy hôm nay là chúng ta đang chuẩn bị và sửa soạn để thực hiện từ vô lượng. Mình rửa cái dơ, cái bẩn rồi mình làm cho nó đẹp cái khuôn mặt của mình, cái gương mặt tâm linh của mình, như vậy là cái căn bản phải nhớ là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, cái đó là cái gốc rồi cái ngọn nó tủa ra ngoài cành nhánh là mình phải biết niệm.
Thí dụ như khi mình đi mình niệm "chậm chậm… chậm chậm… chậm chậm", "đi chậm… đi chậm… đi chậm", mình niệm là mình nhắc nhở đó. Khi mình nói mình cũng phải nhắc "nói chậm… nói chậm lại, làm chậm lại" và thực tập thiền định, thực tập ngồi yên được rất là tốt nhất là những cái giờ mình tu cố gắng tối đa làm sao đừng có dao động, chừng nào dữ lắm thì hãy động, còn không thì cố gắng nhiếp phục, chế ngự, chịu đựng, đó là kham nhẫn, đó là rèn luyện. Từ từ mình sẽ có một cái sức mạnh của nội tâm và mình kêu thì cái cảm thọ nó nghe lời, cái thân nó nghe tại vì cái thân là do cảm thọ điều khiển, mà giờ mình nắm ngay cái cảm thọ, ngay cái chủ chốt bên trong dạy dỗ thì đương nhiên cái thân sẽ nghe lời, cái cảm thọ nghe lời cái tâm dưới sự quán sát, soi xét, dòm ngó, canh chừng, kiểm soát, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ. Đó là một phần của niệm xứ đó, tức là quán thân đó, quán là mình dòm ngó, mình xem xét.
Mình nhìn là cảm thọ kêu nó an tịnh, lắng dịu, đó là quán thọ, mình nhìn sâu vô bên trong tâm mình thấy có nổi giận thì mình từ bỏ thì đó là quán thọ, nhìn vào trong tâm mình thấy có sự hơn thua mình nói "thôi hơn thua để làm gì? Hơn thua để được cái gì? Kết cuộc của hơn thua là cái gì?". Mình quán xét và mình làm cho tâm mình nó lắng dịu, nó nhẹ nhàng, nó buông xả những cái hơn thua đó, những cái sân hận thì lúc đó cũng chính là quán tâm luôn đó, thân – thọ – tâm – pháp luôn đó. Cái này thì chúng ta sẽ có những buổi học, mình luôn luôn nhìn cái thân, cái cử chỉ, hành động, lời nói, luôn luôn nhìn ở trong cái thân này, cái cảm thọ đó ra sao, trong đó có hình bóng gì, suy nghĩ gì, đó là tâm tức là quán tâm. Mình xem trong đó có hình bóng, suy nghĩ gì, cảm thọ gì, nếu như nó bất thiện thì mình từ bỏ, còn nếu nó thiện thì mình phát huy lên, cái đó là quán pháp đó, nó rất là đơn giản, khi mình hiểu rồi nó đơn giản lắm, đó là chỉ là một thôi nhưng mà bốn khía cạnh chứ không phải là bốn cái khác nhau.
Giống như cây trụ vậy có bốn cái mặt của nó nhưng mà cũng là một cái trụ thôi, thì quán thân – thọ – tâm – pháp chỉ là cái thân tâm này thôi. Thân là cái ở bên ngoài, cái vô tri, là sắc, cảm thọ ở bên trong nó điều khiển, nó chỉ huy rồi những cái suy nghĩ nó chạy lòng vòng, rồi những cái hình bóng chập chờn đi theo cái cảm thọ đó. Bây giờ mình quay trở vô, mình đừng có quay trở ra vì quay vô thì mới nhìn mới thấy được thọ; tưởng; hành, quay ra là nhìn thấy cảnh không à, mà nhìn thấy cảnh thì sẽ thấy người này đúng, người kia sai, người nọ là phải, người kia quấy. Nhưng nếu mình quay vô trong này thì mình thấy cái quấy của mình, mình lo nói người ta, mình coi mình kìa, tự nhiên mình nhìn vô trong mình thấy được cái nội tâm thì đó là quán tâm, còn cái kia là cái tâm hướng ngoại, cái này là cái tâm hướng nội.
Cho nên cái khác nhau của người tu và người không tu là một người hướng ngoại và một người hướng nội. Khi một người hướng ngoại là bất cứ chuyện gì xảy ra là họ đổ lỗi cho cái bên ngoài, gọi là oán người, hận đời, trách trời, đó là người không biết tu, có một chuyện gì xảy ra là họ oán hận người khác, họ đổ lỗi cho người khác, gọi là thích đổ thừa chứ không phải thích giác ngộ. Thí dụ mình đang đi thì vấp cục đá té thì đổ thừa cục đá, tức quá đá cục đá chảy máu chân luôn thì vậy là từ cái này chồng lên cái kia. Là do ai? Do cục đá hay là do cái chân? Do cái nết hả? Như vậy đâu phải tại cục đá cũng đâu phải tại cái chân, mình không để ý, mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình không có quán sát trước sau rõ ràng, không có chánh niệm ở trước mặt, không có rõ biết ở trước mặt, không có đặt niệm ở trước mặt cho nên mình đổ thừa cục đá rồi mình đổ thừa cái chân, tức quá mình đá cục đá chảy máu chân luôn, có khi là tróc móng chân ra luôn.
Chuyện này có nhiều không ạ? Cái ví dụ nhỏ thôi như mình nhìn ra nhiều cái khác phải không, bất cứ có một chuyện gì thì nó khác nhau giữa người biết tu và người không biết tu là cái hướng nội và hướng ngoại. Người không biết tu bị một lỗi lầm gì, người khác nhắc nhở là người này sân hận, tức hận lên, tức giận lên, phẫn nộ lên và nói "tại sao lại nói tôi như vậy?". Đối với người biết tu thì quay trở lại nhìn "Tại sao mình lại làm vậy?", mình trách mình để mình điều chỉnh ở bên trong con người của mình chứ không phải mình trách người. Người tu đặt tâm đúng hướng đó gọi là quán tâm, đó mà cũng gọi là đặt tâm đúng hướng, cũng gọi là thấy đúng, cũng gọi là chánh kiến, cũng gọi là cái thấy đúng của bậc thánh là nhìn lại nội tâm của mình, đó gọi là cách nhìn của bậc thánh, cách nhìn của người tu, cái nhìn của người hiền trí là luôn luôn quay về nội tâm của mình, không có thấy ai có lỗi hết, mình có lỗi, thậm chí người khác đúng.
Thật sự là người ta có lỗi mình cũng hỷ xả nữa, cái lỗi là tại sao người ta người ta tức giận với mình, chắc cái mặt mình cũng khó ưa hay sao chứ mặt dễ thương người ta đâu có kiếm chuyện. Cái mặt hiền từ dễ thương thì người ta đâu kiếm chuyện, tự nhiên gặp mặt mình người ta xỉa vô kiếm chuyện thì chắc cái mặt này cũng gây ra oán thù đời này, chắc kiếp trước cũng oan gia. Chúng ta có hiểu cái này không? Có những người nhiều khi mới gặp lần đầu chưa nói chuyện mà họ muốn kiếm chuyện với mình thì phải biết những người đó là oan gia trái chủ nhiều đời nhiều kiếp, mình chưa có nói chuyện gì hết, mới gặp là người ta liếc, người ta ghét rồi. Trở lại cái vấn đề ở đây thì cái quan trọng là muốn tu hay là Tứ Niệm Xứ đều là phải người hướng nội nhìn thân thể của mình, hành vi của mình, lời nói của mình, nhìn cảm thọ mình, nhìn nội tâm và nhìn những cái gì đang có mặt ở trong tâm, đó là thân – thọ – tâm – pháp.
Trong tâm mình đang có từ bi hay đang có sân si, trong tâm mình đang khiêm cung, khiêm hạ hay là một cái bản ngã to lớn, trong tâm mình đang sáng suốt, tỉnh táo, minh mẫn, chánh niệm hay trong tâm mình đang vô minh, si mê, trong tâm mình đang có sự hoan hi hay đang nó đang khó chịu, buồn phiền, trách hờn, trách móc, đủ thứ trách hết. Thành ra từ cái câu dục liên hệ đến Tứ Niệm Xứ để chúng ta thấy được cái tu của mình rất là thiết thực, hiện tại, đến mà thấy, có hiệu quả tức thời, không có chờ đợi lúc nào hết, có khả năng hướng thượng, người trí sẽ tự mình giác hiểu.
III. Bốn đôi tám chúng
Cho nên luôn luôn chịu khó để ý lời nói, hành động của mình, luôn luôn chịu khó để ý cảm giác bên trong, coi cảm giác gì, để ý coi trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, đó là quán tâm, trong hình bóng, suy nghĩ đó là thiện hay là bất thiện là quán pháp. Có đơn giản không? Rõ không? Khi mình c nắm được cái pháp học và mình có sự thực hành thì mình sẽ nhìn cái pháp Tứ Niệm Xứ rất là rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, thực tế trong sinh hoạt đời sống hằng ngày của mình. Và bốn đôi tám chúng, đúng danh từ trong kinh là bốn đôi tám vị tức là tám cái thứ bậc của hiền thánh, bốn đôi là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, nói Tiếng Việt mình cho dễ hiểu là thánh quả thứ nhất, thánh quả thứ hai, thánh quả thứ ba, thánh quả thứ tư, đây là bốn thánh quả, tứ thánh quả mình thường nghe.
Có một bậc chưa có đi được vô bốn cái thánh quả này mà đang đi tới bốn thánh quả này thì vậy gọi là hướng. Hướng là đang đi tới giống như mình luyện thi đại học vậy đó, mình chưa có đậu mà mình đang luyện thì người ta dùng hướng tới thánh quả thứ nhất, hướng tới thánh quả thứ hai, hướng tới thánh quả thứ ba, hướng tới thánh quả thứ tư. Cho nên cái từ dùng là đạo với quả, bốn đạo, bốn quả, đạo là con đường, là đang đi, còn quả là đã đến thành ra có bốn cái quả và bốn cái bậc đang hướng tới bốn cái quả đó nên gọi là bốn đôi tám chúng, bốn đôi tám vị.
Như vậy thì làm sao để mình xác định được bốn đôi tám vị, bốn đôi tám chúng này khác với người phàm? Với người phàm phu Đức Phật dùng từ vô văn phàm phu là người phàm phu này không có nghe Nikāya, không nghe Chánh Pháp, không có học Chánh Pháp, không có tu Chánh Pháp, không có gặp bậc chân nhân, chánh kiến, không có gặp bậc hiền thánh, thánh nhân, không có nghe được Chánh Pháp thì người này không nghe Chánh Pháp cho nên người này đâu có biết ngũ uẩn mà người này cho ngũ uẩn là ta, là mình, là của ta, là tự ngã của ta. Cái người mà đã cho ngũ uẩn là ta, là tôi, là mình, là tao, là mi, là tự ngã của ta thì người này làm sao ra khỏi ngũ uẩn? Tới bao giờ ra khỏi ngũ uẩn? Không bao giờ có ngày ra khỏi trừ khi người này được nghe pháp của bậc thánh, được học pháp của bậc thánh, được tu pháp của bậc thánh, thuần thục pháp của bậc thánh, được tu tập pháp của bậc thánh, được thể nhập trí tuệ của bật thánh thì người này mới thấy được ngũ uẩn không phải là ta, không phải là của ta.
Từ khi người này được nhận diện ngũ uẩn cho đến tu tập để nhiếp phục ngũ uẩn, chế ngự ngũ uẩn, cho đến thoát ra khỏi ngũ uẩn thì trong cả cái quá trình đó đó, từ cái lúc nhìn thấy được ngũ uẩn, xác quyết ở trong lòng của mình nhất định mình sẽ tu để mình ra khỏi ngũ uẩn thì cái tâm hướng tới cái sự thoát ra khỏi ngũ uẩn thì cái tâm đó là tâm của hướng Dự Lưu. Nó lấy cái sự nhận biết ngũ uẩn làm cái quyết định của người tu, ở trong kinh Đức Phật nói sự đoạn trừ các lậu hoặc, các sự ô nhiễm, cấu uế, tham, sân, si, phiền não này là ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết, ta không có nói cho người không thấy, ta không có nói cho người không biết.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy" (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)
Tại vì người không thấy không biết thì họ giống như người mù, không có thấy ngũ uẩn thì làm sao họ thoát ra ngũ uẩn? Cho nên Đức Phật nói cái pháp để cho người có khả năng diệt được tham, sân, si là người đó phải thấy tham, sân, si. Mình không thấy, mình không biết tham, sân, si làm sao mình nhiếp phục tham, sân, si? Làm sao mình chế ngự tham, sân, si, mình diệt tận tham, sân, si, mình tẩy sạch tham, sân, si và thoát ra khỏi tham, sân, si? Cho nên muốn nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, thoát ra tham, sân, si thì phải thấy biết tham, sân, si mà trước nay mình đâu có được học, được chỉ, được thấy biết tham, sân, si đâu, thành ra ở trong bốn đôi tám chúng cũng vậy, tham, sân, si nằm trong ngũ uẩn vì thế thấy ngũ uẩn là thấy tham, sân, si. Bốn đôi tám chúng là các vị nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được tham, sân, si, nhìn thấy được sự cấu uế, ô nhiễm của thân tâm và các vị này hướng đến sự thoát ra, giải thoát, một cái tâm hướng đến rất là mạnh mẽ, rất là quyết liệt. Cái tâm hướng tới mạnh mẽ, quyết liệt sau khi thấy biết, hiểu biết thì các vị này gọi là Hướng Dự Lưu hết.
Nếu ở trong chúng chúng ta đây, các giới tử hiện tại, các nam hiền trí chúng ta sau khóa học này mà về vẫn nghe pháp, vẫn thực tập không có bỏ luôn, không có bỏ, có một cái niềm tin kiên trì, vững chí, nghe pháp, thực hành liên tục theo hoài như vậy thì tối thiểu mình cũng đi vào Hướng Dự Lưu tức là vào bốn chúng của Đức Phật. Nói cái danh từ bình dị nhất là chính thức là đệ tử của Phật gọi là thánh đệ tử, đệ tử của bậc thánh, nói cái từ khác, một góc độ khác, tức là các vị này là những hiền giả, những hiền trí. Tại sao vậy? Mình có trí là mình thấy được ngũ uẩn, mà thấy ngũ uẩn mà mình tu cái tâm hiền cho nên gọi là hiền trí, thành ra pháp danh ở đây nam đặt là Trí, nữ là Hiền.
Đó là chất liệu của thánh đệ tử, là cái chất liệu của người con Phật, là cái chất liệu của bốn đôi tám chúng là hiền trí và cũng là vào trong cái địa vị thấp nhất của bốn đôi tám chúng, thậm chí lên tới cao nhất luôn, tùy theo cái mức tinh tấn của mình. Còn chưa nghe Nikāya, chưa học Nikāya, chưa hiểu Nikāya, chưa tu Nikāya thì gặp được Chánh Pháp cũng đồng nghĩa chưa nghe ngũ uẩn, chưa học ngũ uẩn, chưa thấy ngũ uẩn, chưa tu để nhiếp phục ngũ uẩn thì cái đó vẫn là phàm phu, dù cho mình tu một ngàn kiếp cho tới trái đất này thành hoại tỷ lần đi nữa mình tu cái gì không biết mà ngoài cái thánh trí huệ này thì cái đó vẫn là phàm phu. Như lai nói rằng chỉ có cái người gặp được Như Lai, gặp được đệ tử Như Lai, nghe pháp hoặc là nghe được hai vị đó thì mới biết được cái trí tuệ này, chính như vậy mới nói rằng Chánh Pháp khó được nghe.
Hồi nãy có một vị hỏi tại sao Chánh Pháp lan tỏa khó vậy, đó là vì nó không phải dễ được nghe, vì Đức Phật nhập diệt đã 2.600 năm và sau khi Đức Phật diệt độ có năm trăm năm thì Chánh Pháp đã hết rồi, là bước qua thời kỳ tượng pháp rồi cho nên từ hai ngàn năm nay là tượng pháp, không phải Chánh Pháp nhưng mà một cái duyên lành may mắn cho chúng ta là có một bậc tu hành tự mình tìm ra được cái giáo pháp mai một ngàn năm trước. Vị này tự mình tìm, tự mình tu thành tựu rồi hướng dẫn lại cho con, hướng dẫn lại chúng ta cho nên chúng ta mới được may mắn ngồi đây giờ này mà nghe được cái pháp 2.600 năm trước vì cái này rất là khó tìm, hiện nay rất là khó tìm.
IV. Trân quý, học tập Chánh Pháp
Chúng ta đọc làu làu tâm kinh Bát Nhã phải không? Đọc thuộc ro ro, làu làu nhưng mà mình đâu có biết ngũ uẩn thậm chí những người hướng dẫn cho mình cũng không biết nữa. Vì thế mình rất có phước duyên là mình gặp được bậc tu hành có thành quả trao cái chìa khóa cho mình để mình mở ra căn nhà nội tâm, thì mình cố gắng mình học, mình tu có cái lợi ích, có kết quả rồi mình cố gắng bằng cái sức khả năng của mình chia sẻ đến những người nào có duyên chia sẻ đến những người nào có duyên với mình. Điều đó rất là phước báo, rất là lợi ích cho mình và cho người, đó là lý do Chánh Pháp khó được nghe, khó được gặp, không phải dễ, mà gặp rồi hiểu được là khó hơn, hiểu được rồi có thể thực hành được thì càng khó hơn, mà thực hành đi đến tận cùng lại càng khó hơn cho nên có nhiều cấp độ để mình tu học.
Bây giờ mình có hạnh phúc không? Chánh Pháp khó được nghe nhưng nay được nghe rồi, khó được hiểu bây giờ cũng hiểu rồi, mà khó được tu bây giờ mình đang tu. Còn nhiều cái thâm sâu nữa, chúng ta mới giờ bước vào chúng ta phải với một cái tâm của trẻ thơ, cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, cung kính đón nhận thánh trí tuệ của Đức Phật, cái học này không có giống như mấy cái học trước nay của chúng ta, mấy cái học trước nay của chúng ta tất cả cái học thậm chí mình học Phật giáo mà không có đi vào dòng Nikāya này thì đa số mình học là ở trên cái suy tưởng, suy luận, suy diễn. Chính vì học ở trên đó suy tưởng, suy luận, suy diễn rồi mình diễn hồi thì cái Chánh Pháp thành tượng pháp, mình đem cái suy tư của mình, suy tưởng của mình, suy diễn của mình để diễn thì Chánh Pháp từ từ mai một, còn Nikāya là không được phép, Nikāya là cái định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không có người nào dám chỉnh lý cái gì trong đó chút nào hết, phải y theo cái đó, giống như bài toán có đáp số sẵn, làm sao miễn ra trúng đáp số đó là được chứ không có nói ở ý tôi là vầy, Ý tôi là như thế kia, dẹp hết, không có ý kiến gì hết.
Vì ý của mình là ý của phàm phu, ý của vô minh, ý của bản ngã thành ra học Nikāya khác với mấy cái học khác cho nên mình phải học thuộc lòng, đó là cái chuẩn mực của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không một ai có thể điều chỉnh thay thế. Trong Trường Bộ Kinh Đức Phật nói Như Lai không có nói dư một chữ cũng không có nói thiếu một chữ, những gì Như Lai cần nói là Như Lai đã nói đầy đủ cho nên kinh Nikāya mình học là không được có ý kiến. Nếu như mình có nghi thì mình hỏi là cái nghi của mình, chứ mình không có được tại sao Phật nói vậy mà mình cố làm sao để mình thấy được giống như vậy thì mình thể nhập thánh trí, còn mình khư khư giữ chặt cái thấy của mình, cái biết của mình, cái quan điểm của mình thì mình ở trong phàm tình, phàm phu mãi mãi thôi.
Nếu mình muốn phàm phu, phàm tình, tham, sân, si thì mình cứ giữ ý của mình, không ai bắt mình đi theo hết, Đức Phật đâu có bắt ai đi theo. Nếu mình muốn học theo Đức Phật thì mình phải bỏ những cái thấy biết chấp ngã, kiến chấp, định kiến, tư kiến cá nhân của mình, những cái thành kiến, tư kiến, rồi định kiến, ngã kiến, rồi thân kiến, nhiều thứ kiến lắm mà tất cả cái đó là điều là những cái thấy biết là lệch lạc, sai lầm, đưa mình đi đến tham, sân, si, đưa mình đi đến khổ đau, phiền não, còn cái thấy biết Đức Phật gọi là thánh tri kiến, thánh kiến, cái tri kiến của bậc thánh. Mình chỉ cần y theo đó mình đi thì đúng cái đạo lộ mà trong đó Đức Phật đưa ra cái đạo lộ của ngài tuyệt vời lắm, ai muốn đi cõi người, cõi trời Đức Phật dạy cho đi cõi người, chỗ trời, tức là người này còn thích ngũ uẩn thì Đức Phật chỉ cho đi trong ngũ uẩn nhưng mà đi trong an lạc, hạnh phúc, cao đẹp. Còn có người nói "dạ không, con thấy giờ cõi trời, cõi người gì cũng khổ, cũng sanh, già, bệnh, chết, cũng luân hồi, hết phước trên trời lọt xuống làm con heo, lọt xuống địa ngục, lọt xuống làm con giòi, lọt xuống làm cô hồn, con ngán quá nên con không muốn luân hồi sanh tử nữa. Con muốn chấm dứt tái sanh", vậy ta dạy cho ngươi đạo lộ Niết-bàn ra khỏi ngũ uẩn.
Đức phật không có nói nhất định đi theo ta là phải tới cứu cánh hết, không có, Đức Phật dạy cho hàng cư sĩ khác, dạy cho hàng tu sĩ khác và Đức Phật coi cái căn người đó, cái tâm người đó thích muốn cái gì Đức Phật dạy tương ứng với cái đó, sau khi người đó thuần thục cái pháp đó rồi Đức Phật thấy người này có khả năng hướng thượng lên nữa thì dạy tiếp và cuối cùng này có khả năng nữa thì Đức Phật mới dạy cái pháp cứu cánh, dạy pháp bất tử. Thành ra mình học Chánh Pháp tuyệt vời lắm, người muốn học Chánh Pháp thì người này đó đầu tiên đi vô đạo tràng Nikāya phải có hai điều kiện, một là phải tu tâm hiền, hai là phải tu cái hạnh diệt ngã, hai cái này là yếu tố để đi vào đạo tràng Nikāya cũng là cái điều kiện tiên quyết để mình tu tập được Chánh Pháp. Tâm hiền và diệt cái ngã phải tương đối 70-80% thì mình mới vô tu được, còn mình hung dữ quá là tu không được, chống đối dữ lắm.
Hôm trước chúng ta có nhớ con có nói là cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi tổ, cãi trời, cãi Phật thì cái tâm đó là không tu được. Người tu Nikāya là cái tâm hiền lành, hiền thiện, chân thật, chân thành, nghe lời, tại vì đối với bậc thiền thánh mình không nghe lời thì mình trở thành dữ, ngược lại với hiền là dữ, ngược lại với thánh là hiền, mình cãi với hiền thánh thì mình phàm phu mãi mãi thôi. Chính vì vậy mà cái đầu tiên ở trong đạo tràng Nikāya tu học Chánh Pháp là phải hiền thiện và phải khiêm cung, diệt ngã, hai cái này là chất liệu để đi vào đạo tràng, không có hai cái này khá 70-80% thì không vô đây được, không vào đạo tràng được, không có tu thâm sâu được, chỉ cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên vậy thôi, học và biết thời gian rồi thì cũng bỏ vì người này mang cái tâm chống đối, cái tâm ta đây, hơn thua như vậy thì không có tu được, trong đó nó nhiều pháp. Từ từ nghe lời, phải biết nghe lời, phải biết chấp nhận học pháp của Phật và các bậc thánh.
Còn vấn đề làm sao để diệt cái sân hận thì có nhiều bài pháp lắm, chúng ta sẽ được nghe ở đây, mình không có thời gian nhiều thì chúng ta được nghe và chúng ta sẽ thực tập từ vô lượng tâm thì mình sẽ biết cách nhổ bứng luôn cái gốc của sân luôn, bứng luôn cái gốc ở trong cảm thọ luôn chứ không phải chỉ kiềm ở ngoài miệng. Mình không có biết tu ngũ uẩn, không có biết từ vô lượng tâm thì mình kiềm lần thứ nhất, kiềm lần thứ hai rồi nhất quá tâm ba bận cũng bùng nổ, nó cũng bung ra nhưng ở đây không có kiềm, mình hóa giải từ bên trong cái động cơ mà nó phát ra sân. Cho nên mình tu cái này không bao giờ có vấn đề gọi là trầm cảm, tu cái này là trị trầm cảm, nó giải quyết hết tất cả mọi vấn đề tâm lý, giải tỏa tâm lý, giải phóng tâm lý, giải thoát tâm lý cho nên cái quả cứu cánh của A-la-hán là tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tâm giải thoát là cái tâm ra khỏi tất cả dục tham, tuệ giải thoát là cái trí tuệ ra khỏi tất cả mọi cái, vô minh không còn nữa là tuệ giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát thì có những cái pháp thực tập cho chúng ta, từ đây cho đến cuối khóa chúng ta sẽ có nhiều bài thực tập về tâm từ và chúng ta phải học thuộc lòng. Chúng ta phải viết nhật ký tu học của mình, cảm nhận tu học của mình, đi khất thực làm sao, xuất gia làm sao, tâm mình chuyển đổi ra sao, thứ nhất là viết bài, thứ hai là phải học thuộc bài, kinh Nikāya là học thuộc lòng chứ không có nói "con nhớ Đức Phật nói vầy…", mình diễn ra mà sai một chữ là trật lất hết, chính cái chỗ mà mình diễn ra mà bây giờ là mạt pháp, nhiễu loạn Chánh Pháp tại vì Phật nói vậy nhưng mình diễn một hồi là pháp không còn nữa.
Bây giờ mình thấy những cái định lý. định luật mà sai chữ thôi thì còn định lý nữa không? Cái pháp cũng y vậy đó, diễn riết hai ngàn năm là xong luôn, chính vì vậy mà bây giờ mình bám tuyệt đối vào kinh tạng Nikāya thành ra có quý vị hỏi kinh này, kinh kia, rồi này kia là con xin thưa là con không có biết, ở đây chỉ tu theo kinh Nikāya thôi, tất cả những cái sách vở khác không có sử dụng.
V. Đi đúng hướng
Giới tử 9: Dạ mô Phật con cũng có một cái suy nghĩ cũng muốn xin ý kiến sư phụ là bây giờ nói bản thân con thì con cũng biết đến Phật pháp là từ 2011, sau một biến cố về công việc và gia đình và con cũng đi theo rất là nhiều những cái khóa tu, khóa học, những cái trường phái khác nhau, nhưng mà trong lòng thì không biết sao vẫn thấy có cái gì đó không ổn. Những ngày tu tập ở đây thì có thể nói con rất là cảm thấy may mắn vì đã gặp được Chánh Pháp, biết ơn sư phụ và có thể tìm thấy giống như là cái chân lý con đường mình đi và có thể tự thuyết phục được mình có lẽ là mình đã đi tìm đúng. Nhưng mà con thắc mắc là bây giờ làm sao để người ta biết được là người ta đi đúng đường? Dạ xin sư phụ khai thị cho con và mọi người.
Sư Phụ: Dạ bây giờ sao chú biết được chú đi đúng?
Giới tử 9: Tức là con cảm thấy là đúng và cảm thấy rằng mình tin tưởng.
Sư Phụ: Thứ nhất là kinh tạng Nikāya là có lịch sử, có sự thật, được khắc các cái bia đá ở tại các nước Phật giáo nguyên thủy, có lịch sử, có sự thật, được truyền thừa. Chữ Nikāya có ý nghĩa là được truyền thừa từ Đức Phật, những lời dạy nguyên gốc, nguyên bản, nguyên chất, nguyên thủy được truyền thừa từ Đức Phật, cái chữ Nikāya có nghĩa là vậy cho nên thứ nhất mình y cứ vào kinh tạng Nikāya là một bộ kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, cả thế giới các nhà nghiên cứu đều công nhận đó là bộ kinh cổ điển nhất của Phật giáo và được tất cả các nhà nghiên cứu lớn của Phật giáo trên thế giới công nhận và có lịch sử, có sự thật ở các nước Phật giáo nguyên thủy như là Myanmar, Tích Lan, Thái Lan, nhất là Myanmar còn khắc lại những bản kinh ở trên đá và có các vị Tam Tạng pháp sư học thuộc lòng những tạng kinh được truyền thừa hàng ngàn năm qua, đó là mình y cứ trên lịch sử, y cứ trên sự thậ.
Thứ hai là mình y cứ trên cái pháp ở bên trong tạng kinh đó nói, là bây giờ mình được hướng dẫn ngũ uẩn mình thấy rõ ngũ uẩn, mình không còn nghi ngờ gì nữa thì cái đó chính là câu trả lời lớn nhất, thuyết phục nhất là hướng dẫn cho họ thấy được ngũ uẩn. Sau khi họ thấy được ngũ uẩn đương nhiên họ sẽ nhận ra được tham, sân, si ở trong ngũ uẩn và khi họ nhận ra được tham, sân, si trong ngũ ẩn đồng nghĩa họ thấy được nguyên nhân của khổ và thấy được con đường diệt khổ. Tham, sân, si là nguyên nhân để làm cho mình khổ, bây giờ diệt hết tham, sân, si là hết nguyên nhân của khổ, hết nguyên nhân của khổ còn kết quả khổ không? Đó là Tứ Thánh Đế, đó là bốn sự thật của bậc thánh, như vậy thì ngũ ẩn và Tứ Thánh Đế là ở trong nhau, không có tách rời nhau, ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng vậy, Bát Chánh Đạo cũng vậy.
Khi mình thành tựu một cái trí tuệ chân chánh, chính xác, thấy đúng thì tất cả các pháp nó sẽ hiển lộ ra trong tâm của mình. Pháp ở trong lòng bàn tay, pháp ở trong tâm, pháp ở trong cái thấy biết của mình, pháp ở trong ngũ uẩn, không có ở ngoài ngũ uẩn. Bây giờ mình nhìn cả địa cầu này Đức Phật nói có một chữ là sắc, mình nghĩ là châu Mỹ, châu Âu, châu Úc rồi châu Á, Châu Phi, qua nước này nước kia mình mê mẫn, mình như tưởng tượng nhưng Đức Phật chỉ tóm gọn một chữ là sắc, là tứ đại thôi. Khi mình thấy được cái trí tuệ này, mình thành tựu được cái trí tuệ rồi mình nhìn tất cả mọi cái đó chẳng là cái gì hết, ở trong con mắt mình không có là gì hết, khi mình hiểu được, mình thấy được, mình sống được thì đối với mình tất cả chỉ là sắc pháp thôi, chỉ là đất, nước, gió, lửa tích tụ, kết hợp lại thôi, có cái gì đâu.
VI. Thế giới vô thường
Đó là mình nói cả thế giới này, cả hành tinh này, rồi cảnh vật này, núi đồi này có phải sắc không? Rồi cục thịt mấy chục ký lô ngồi đó là cái gì? Như vậy thì từ con người, cảnh vật cho đến thế giới thì Đức Phật chứng ngộ một chữ thôi, đó là sắc, đó là thánh trí đó, sắc uẩn và sự tụ tập lại của tứ đại thôi, dầu cho là đương kim hoàng hậu, đệ nhất phu nhân hay là một cô gái khùng đi ăn xin ở ngoài đường cũng là sắc uẩn thôi, đâu có rời sắc đâu, tất cả chỉ là sắc. Khi mình hiểu được điều đó rồi cái tâm phân biệt của mình sẽ giảm bớt xuống, mình sẽ có cái nhìn bình đẳng, mình sẽ có lòng thương, lòng từ chứ không phải mình nhìn thấy một người giàu có, sang trọng, chức quyền thì mình khúm núm, còn nhìn thấy một người nghèo khổ, ăn xin mình khinh khi. Ngược lại, mình sẽ có một cái nhìn bình đẳng, một cái tâm từ hiểu và thương, nghiệp và nhân quả, chẳng qua cái sắc này là ác nghiệp thì nó biểu hiện ra vậy, cái sắc kia là thiện nghiệp thì nó biểu hiện ra vậy thôi, chứ cái sắc nào mà không là đất, nước, gió, lửa, sắc nào mà không sanh, già, bệnh, chết, sắc nào mà không tham, sân, si, sắc nào cũng tham, sân, si hết.
Không phải người nghèo mới thiếu thốn đâu, mà người giàu thiếu còn dữ hơn người nghèo nữa, họ muốn cho nhiều nhiều lên, họ không phải đòi một đồng, hai đồng, mười đồng, trăm đồng mà họ đòi tỷ tỷ, ức ức, vạn vạn. Họ chính là cái người khao khát nhiều hơn những người nghèo nữa, con thỏ hay con trâu, con bò đi kiếm mấy cọng cỏ là xong à, nó đâu có cực phải không, cái tâm mình tham quá tham cho nên mình phải chạy cùng khắp cái địa cầu này để mình kiếm, mình hốt. Cuối cùng mình hốt trúng một cái nấm tro của chính mình, phải chưa? Chứ có gì đâu, thành ra mình tưởng đâu là sang trọng, cao quý, bằng cái thánh trí tuệ nhìn vô là họ đang đau khổ, tội nghiệp cho họ, đừng tưởng đâu đại gia là ngon, thật ra là đầy rẫy tham, sân, si, đầy rẫy những sự thiếu thốn bên trong, sự trống rỗng bên trong, chỉ có thánh pháp Đức Phật mới đưa cho mình đến sự bình an, đưa đến một cảm giác mà cái tâm mình hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, thỏa mãn, không còn khát khao. Trong kinh nói thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái, thân này là vô chủ, thân này là vô sở hữu, ra đi sẽ từ bỏ tất cả.
"-- Thưa Ðại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn?
•'Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới (thân này) là vô hộ, vô chủ', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả', thưa Ðại vương đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
•'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh Pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Thưa Ðại vương, đây là bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Cả cái thế giới này là nô lệ cho tham ái, bây giờ mình thấy chiến tranh nổ ra, ở bên bờ biển bên này lại mong muốn bờ biển bên kia, không có hài lòng với bờ biển bên này nên giờ lấn biển rất nhiều.
"Ta thấy người giàu sang ở đời,
Có của vì si không bố thí.
Vì tham, họ tích tụ tài vật,
Và chạy theo dục vọng càng nhiều.
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,
Vua trị vì cho đến hải biên,
Không thỏa mãn bờ biển bên này,
Và chạy theo bờ biển bên kia." (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Cho nên luôn luôn ở trong cái tâm tham ái, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho thâm ái thì làm sao có hạnh phúc? Vì thế mình học được cái pháp này mới là tối thượng chứ không phải sở hữu là mình hạnh phúc, nếu mình không có trí tuệ thì càng sở hữu càng lo lắng, càng sở hữu càng sợ hãi, càng sở hữu càng bất an càng lo sợ. Con hỏi thiệt các chư hiền trí cái ông giàu nhất nước Việt Nam này chịu lên đây tu hai tuần giống mình không? Ông giàu nhất thế giới này chịu ngồi thiền dưới gốc cây bảy ngày không? Có chịu tu không? Sao vậy? Bận tính tiền phải không? Vậy thì phải cảm ơn không có tiền nhiều, có mấy người cảm ơn thất nghiệp, nhờ thất nghiệp mới ngồi đây. Thành ra có khi dịch bệnh cũng là cái hay, đó là tiếng chuông thức tỉnh mình, có khi cái sự suy thoái cũng là cơ hội để cho mình nhìn lại cuộc đời của mình, đừng có mong muốn lúc nào cũng phải hưng thịnh hết, lúc nào cũng phải chạy rong ở ngoài thành ra tất cả hãy để cho các pháp nó vận hành, có khi từ cái khổ mới đưa mình tới sự tu. Giống như sáng mấy huynh đệ chia sẻ người thân của mình ra đi như vậy mình đau buồn thì mình hướng đến cái đạo, nếu người thân mình còn vui vẻ, hạnh phúc bên mình thì chưa chắc giờ này mình ngồi ở đây tu, đừng nói chi cạo đầu, rất khó phải không?
Như vậy thì nhìn cho sâu sắc để mình thấy được, mình tập chấp nhận mọi thứ trên đời nó xảy ra với mình. Cái quan trọng tối thượng là cái mình tìm ra được pháp, tất cả mọi thứ đều vô nghĩa ngay cả người thân và ngay cả bản thân mình nữa ra ta đi từ bỏ tất cả vì thân này là vô sở hữu mà. Tất cả đều vô nghĩa chỉ có cái pháp thôi, mình nắm được cái thánh trí tuệ của Đức Phật thì mình có lối thoát, mình có con đường đưa đến bình an, hạnh phúc, còn nếu mình không có cái đó thì mình sống đã tỷ tỷ kiếp rồi chứ không phải mới sống mấy chục năm nay đâu, ngồi đây vậy chứ mấy ngàn tuổi không à, cả tỷ năm không, kiếp trái đất trở lại không, từ thời Đức Phật ở dưới cội bồ đề là mấy vị cũng có ngồi đó cho nên giờ này mới được học Nikāya này. Nhưng do làm biếng, tu giải đãi nên mới trôi lăn, trôi dạt tới giờ phút này nhưng cuối cùng cũng có duyên gặp lại tại chỗ này, hạnh phúc không?
Thành ra chỉ có tìm ra được Chánh Pháp mới là tối thượng, ngoài ra tất cả cái khác đều vô nghĩa vô nghĩa hết. Bây giờ mình có cô vợ thiệt đẹp, thiệt giàu thì có lo không? Có ghen không? Quá đẹp rồi đi đâu cũng sợ, vừa ra khỏi nhà là gọi hỏi đi đâu, đi với ai, như vậy có khổ không? Còn vợ xấu thì đi đâu ai cũng chê "cưới vợ gì xấu quắc vậy?", khổ chưa? Còn vợ vừa vừa thì suốt ngày cằn nhằn mãi, khổ chưa? Hàng xóm bảo "cưới vợ gì cằn nhằn suốt ngày vậy? Thôi đi lên Linh Quy Pháp Ấn tu luôn đi", có được không? Nói để mình thấy nếu không biết pháp thì hoàn cảnh nào cũng thấy khổ, nghèo thiếu là đương nhiên khổ rồi, giàu cùng tột cũng khổ, vừa đủ ăn cũng khổ, khổ cái khác, nó không có khổ về vật chất mà khổ về gia đình, khổ về tình cảm, khổ về bệnh tật, khổ về tai nạn, khổ về chiến tranh, sóng thần, lũ lụt, động đất, biến đổi khí hậu, đủ thứ hết.
Thiên hạ đại loạn, lòng người đầy rẫy những dục vọng, những ác tham, những sự điên đảo, tất cả đạo đức, nhân nghĩa càng ngày càng sụp đổ, đại nghịch bất đạo, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa rất là nhiều. Cho nên bây giờ chúng ta ngồi đây là chúng ta đang hưởng hạnh phúc hơn cả cõi trời mà chư thiên còn phải khát sao nữa. các vị trời không được nghe Chánh Pháp này, thánh đệ tử thiên mới được nghe. Các vị trời là đệ tử Phật mà thành tựu chánh kiến, gặp được bậc thánh nhân mới được nghe, còn các vị trời khác bận đi chơi bận, hưởng thụ giống như người giàu vậy đó thì sao mà tu, có phước hoài, phất tay áo hiện lâu đài, đi mây về gió, thấy Tôn Ngộ Không không, thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu không, đó là trong phim thôi nha, như vậy rồi làm sao tu.
Bây giờ kêu ngồi thiền thì nói khó ngồi, tê chân thôi để đi chơi, mình có chiếc xe thôi mà còn là phượt tùm lum hết, phượt từ nam, trung, bắc vậy đó, giờ không cần xe chỉ cần phất một cái thôi là bay năm trăm dặm thì làm sao chịu ngồi thiền hai tuần ở đây tu, thấy chưa? Cho nên là mình có phước hơn chư thiên, sanh ở trong loài người Đức Phật tán thán là tối thắng, nhất là sanh trong thời điểm có Phật, có pháp, Tuy chúng ta xa Phật nhưng bây giờ chúng ta có pháp thì thật sự là hy hữu, hiếm có, khó gặp, quý báu vô cùng, không phải chuyện dễ, không phải chuyện đơn giản. Hồi nãy có câu hỏi này cũng rất quan trọng, bây giờ mình nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức là ngũ uẩn, là thân tâm, giờ mình tu để thoát ra khỏi ngũ uẩn rồi sao?
Cái này nó sâu sắc lắm, tất cả chúng ta giống như nằm ở dưới Ngũ Hành Sơn, chúng ta nhớ Tôn Ngộ Không bay cỡ nào cũng bay không ra khỏi bàn tay Như Lai Phật Tổ phải không? Cái bàn tay Như Lai Phật Tổ đó là ngũ uẩn cho nên cái ý thức, thọ; tưởng; hành; thức này tâm thức làm sao ra khỏi được ngũ uẩn cho nên có bay cỡ nào cũng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có cách nào đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức bên bị đè xuống Ngũ Hành Sơn, núi Ngũ Hành Sơn đó chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sắc này luôn vận hành, tất cả sắc chất tứ đại này luôn vận hành, nó đâu có đứng yên, mình thấy mình ngồi im ru thì mình nói mình ngồi yên chứ đâu có yên, mình thấy cái chuông này mình tưởng đâu nó yên nhưng nó đang vận hành, mình thấy cây xe đứng yên thì tưởng là nó yên nhưng nó đang vận hành để đi đến chỗ hoại diệt.
Cảm thọ của mình có vận hành không? Cũng đang vận hành, đang đổi thay., Hình bóng trong tâm mình có vận hành không? Nó thay đổi liên tục hết hình này tới hình kia, hết bóng này tới bóng nọ. Suy nghĩ mình có vận hành không? Hết suy nghĩ này tới suy nghĩ khác, hết nói cái này tới nói cái khác. Rồi cái nhận thức của mình nó có vận hành không? Nó có thay đổi không? Tất nhiên là có, Đức Phật gọi từ chung là các hành là vô thường, các hành ở đây là chỉ cho sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành và sự vận hành của ngũ uẩn cho nên ngũ hành tức là năm cái sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức và chúng sanh là bị đè bẹp ở dưới đó, bị chà đạp ở dưới đó, bị chôn vùi ở dưới đó vô lượng, vô số, vô biên kiếp không đi ra khỏi, trừ khi được nghe pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, được gặp các bậc thánh đệ tử, được chỉ cho con đường xuất ly.
Bây giờ cái mà biết được sắc cái đó nó không phải là sắc, cái mà nhìn ra được cảm thọ thì cái đó đâu phải cảm thọ, chúng ta thấy không ạ? Cái mà nhìn ra được hình bóng trong tâm nó đâu phải là hình bóng, cái mà nhìn ra được suy nghĩ thì nó đâu phải là cái suy nghĩ, cái nhìn ra được rõ biết thì nó không phải là cái rõ biết của thức, thì cái nhìn ra được sắc nó không phải là sắc, cái nhìn ra được thọ nó không phải là thọ, cái nhìn ra được tưởng nó không phải là tưởng, cái nhìn ra được hành nó không phải là hành, cái nhìn ra được thức cái đó nó không phải là thức. Vậy cái đó là cái gì? Đó là thánh trí tuệ, thí dụ trong cảm thọ mình đang có một cảm thọ bực bội, sân hận lên mình có một cái biết rõ mình đang sân không? Cái đó nó không có sân, thấy rõ không? Bây giờ cái đó mới kêu "Thôi đừng có giận nữa, giận hoài mệt quá, thôi đừng có giận, thôi tha thứ, buông xả cho nó khỏe".
Mình dạy được cái cảm thọ hết giận, nó lắng dịu xuống thì như vậy từ đâu mà mình có được cái nhìn thấy ra được ngũ uẩn? Cái thánh trí mình học từ đâu? Từ pháp, mà cái pháp do ai nói? Như vậy đó là từ Đức Phật có ra pháp và từ pháp mà chúng ta thực hành, từ thực hành chúng ta sẽ có được cái trí tuệ, như vậy thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, thánh quả. Thánh pháp là Nikāya, khi chúng ta học được thánh pháp rồi chúng ta bắt đầu thực hành thánh pháp thì chúng ta đang đi trên thánh đạo, đi trên con đường thánh pháp, giống như cái bản đồ chỉ đường vậy đó, thánh đạo là con đường mà khi mình đi lên con đường đó thì gọi là đang đi trên thánh đạo, đi trên thánh đạo này mình nghe, mình học, mình thực tập, mình nghiền ngẫm, suy tư thì mình có ra cái thánh trí.
Những cái này từ từ thể nhập chứ không phải ngày bữa có ra cái trí tuệ của bậc thánh, có cái trí tuệ bậc thánh này đoạn tận tham, sân, si, các lậu hoặc thì đi tới thánh quả. Cho nên cái thánh pháp này được duy trì là nhờ các bậc thánh Tăng, đó là ân đức của tam bảo, nếu không có Phật thì không có pháp, mà không có pháp thì không có Tăng, mà không có Tăng thì không có của mình, đó là cái ân đức vĩ đại của tam bảo và mỗi ngày mình niệm ân đức của Phật, của Pháp, của Tăng để mình biết ơn Đức Phật, biết ơn giáo pháp, biết ơn các bậc thánh đã truyền trì, giữ gìn mấy ngàn năm cho mình, giờ này mình mới truyền thừa được. Đó là ân đức vĩ đại của tam bảo, mấy ngày nay chúng ta học riêng đó là cái nhóm cũ là tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, xúc động dạt dào dữ lắm nhưng mà các vị mới không có hiểu chuyện gì hết, vô mà nghe khóc như vậy là các vị sẽ sợ cho nên các vị chưa có hiểu cho nên tách riêng ra. Đó là tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, vị thầy của con đã truyền pháp cho chúng con nên mình niệm ân tam bảo rất quan trọng, mình học cái pháp biết ơn và nhớ ơn và sắp tới mình sẽ có buổi thiền biết ơn.
Mình thực tập thiền biết ơn rất là ý nghĩa, trở lại vấn đề trí tuệ nhìn được sắc, cái trí tuệ nhìn được thọ, cái trí tuệ nhìn được tưởng, cái trí tuệ nhìn được hành và cái trí tuệ nhìn được thức mà nếu như mình không có học Chánh Pháp, mình không được hướng dẫn, không được tu tập, không được hành trì thì làm sao mình có cái đó? Không bao giờ mình có cái trí về ngũ uẩn chính vì vậy mà Đức Phật nói rằng sự khác biệt của vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, vô văn là không được nghe Nikāya, không được học, không được tu Nikāya, còn đa văn là nghe nhiều, thực tập nhiều, tu học nhiều, đây là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, vô văn là không có nghe, đa văn là nghe nhiều thì sự khác biệt này rất là lớn.
Vì thế khi mình học cái này rồi mình thực tập quán chiếu ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si rồi mình sẽ thấy rằng nếu mà mình còn trở về nhà, sẽ có một số vị không trở về nhà sao cái khóa tu này. Nếu mình trở về nhà mà mình chịu khó vẫn nghe, thực tập này thì mình sẽ rất khác với những người khác không có biết tu cái pháp này, rất là khác. Mình có một cái trí tuệ bất cộng, không chung cùng với người không thấy ngũ uẩn, người bình thường đâu có biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, người ta nói là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi không à, cho nên cái bản ngã người ta rất là to, sân nhiều, tham nhiều, còn mình nhìn thấy mình, thấy cái tham, sân, si của mình, mình thấy xấu hổ, mình thấy cái tâm cấu uế của mình, mình thấy mình hổ thẹn.
Khi một người thường nhìn thấy thì tự động dòng pháp đưa người về phía trước, người này khi vào Nhập Lưu rồi thì người này sẽ bất thối chuyển, là không bao giờ quay trở lại nữa hết, chỉ tiến tới Niết-bàn luôn. Giống như cái dòng chảy vậy đó, khi bông hoa hay chiếc lá rơi xuống dòng suối hay là cái thác thì nước sẽ đưa lên phía trước, đó là cái dòng chảy của thánh trí, đó mới gọi là Nhập Lưu, tức là vào dòng chảy trí tuệ của bậc thánh. Sau khi mình được học, được thực tập, được hiểu mà mình kiên trì, bền chí, vững chắc, cho đến khi mà xác quyết trong tâm mình 100% là mình phải giải thoát luân hồi thì lúc đó Nhập Lưu. Bây giờ có khi mình sẽ do dự, lúc thì cũng muốn, mình cũng quyết liệt tu, vài bữa cũng tiếc muốn quay lại, rồi gặp chuyện gì đó đau khổ rồi "bây giờ Phật ơi con quyết con giải thoát", vài bữa cái chán chán, nản nản, quay lại nữa, làm như vậy chừng vài lần rồi cuối cùng bữa nay con quyết liệt 100% tới luôn, không bao giờ lùi lại là Nhập Lưu thánh quả.
Tức là chiếc lá vàng của mình được rơi xuống, rụng xuống dòng thác, dòng suối thánh trí tuệ và đưa mình ra đại dương của giải thoát, chịu không? Cơ hội này không phải ngàn năm có một, mà vô lượng, vô biên kiếp mới có thể gặp được Chánh Pháp, không có dễ. Đức Phật ví dụ dưới đáy đại dương có con rùa mù, một trăm năm từ dưới đáy biển nó nổi cái đầu nó lên trên mặt nước thì đúng ngay cái thời điểm một trăm năm mà nó nổi lên đó có cái bọng cây trôi ngang ngay ở trên đầu, nó chui vô cái bọng cây rồi gió thổi từ từ trôi dạt đưa vô bờ thì nó được lên trên bờ, trên đất liền, dễ hay khó? Một con rùa mù ở dưới đáy biển một trăm năm mới nổi lên một lần, khi nổi lên đâu có thấy đường thấy xá gì đâu vì nó mù mà, cái đầu nó mới vừa trồi lên thì cái bọng cây trôi ngay cái đầu nó để nó bám vô cái bọng cây, nó chui vô cái bọng cây rồi gió thổi từ từ cái bọng cây mới đưa vô trong bờ rồi nó lên đất liền, khó hay là dễ? Rất là khó, cực kỳ khó, thiên nan, vạn nan, tỷ nan, ức nan, triệu nan nhưng mà Đức Phật nói được làm người còn khó hơn cái đó nữa.
Mình nghĩ tám tỷ người là nhiều, không có nhiều, những loài kiến, những loài côn trùng sơ sơ là mình nhìn thấy nó khủng khiếp lắm, thành ra ở trong loài người mình rất là ít, trong các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la là thần đạo là nhiều lắm cho nên Đức Phật nói khó còn hơn con mù đó mà được làm người còn gặp được Chánh Pháp nữa là càng khó hơn cái đó nữa, mà gặp Chánh Pháp rồi còn hiểu được Chánh Pháp là khó hơn cái đó nữa, hiểu Chánh Pháp mà tu Chánh Pháp thì còn khó hơn cái đó nữa, mà tu Chánh Pháp đạt thành tựu được Chánh Pháp thì càng khó hơn nữa. Hôm nay mình được những cái khó đó, vậy thì phải bám chặt cái bọng cây để nó đưa vào đất liền, vuột cái này rồi là mình chơi vơi, mình chết chìm ở trong cái biển dục, biển ái, biển tham, biển khổ, máu, nước mắt, sầu, bi, ưu, não và tai họa ở trong ngũ uẩn,
Hãy trân quý giây phút hiện tại và cố gắng tu tập từ đây cho đến mãn khóa, đừng xem thường, trân trọng từng giờ, từng phút, từng giây của mình để thực hành pháp, học kinh, viết bài, trả bài.
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
./.