Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Cửa Vào Bất Tử 9

2026-03-03 00:55:38
Tinh Hoa Nikāya

CỬA VÀO BẤT TỬ 9

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự sanh diệt của thức PAGEREF _Toc106213746 \h 1

II.Tu tập tâm rộng lớn PAGEREF _Toc106213747 \h 4

III.Nhà ảo thuật thức uẩn PAGEREF _Toc106213748 \h 7

Sự sanh diệt của thức

Chúng ta bước vào tìm hiểu về thức uẩn, tổ hợp của sự nhận thức. Phần này rất là sâu sắc, không phải dễ hiểu, vậy nên chúng ta tập trung chú ý và chiêm nghiệm, quay về thân tâm để tập nhìn ra sáu sự rõ biết, sáu thức. Tập nhận diện, nhìn ra sự rõ biết này từ đâu mà có, có mặt như thế nào, bởi những điều kiện, nhân duyên, vận hành của thức như thế nào, bản chất, bản tánh thật sự như thế nào. Thức như bầu trời xanh, tưởng và hành như những đám mây. Mây làm cho bầu trời bị che khuất. Bầu trời là một màu xanh thuần khiết, khi có mây trắng hoặc đen, xám thì những đám mây này che khuất bầu trời. Cũng vậy, khi có hình bóng, suy nghĩ trong tâm thì sự rõ biết của mình bị ngăn che, không trong sáng. Còn khi mấy tan đi thì bầu trời xanh biếc, xanh thẳm, mênh mông, vô tận.

Trong khi tu tập, ngồi thiền, có những khi chúng ta không thấy có suy nghĩ gì hết, không có hình bóng gì hết, chỉ có sự rõ biết trong sáng, yên tịnh. Đây là lúc thức rất là tinh anh, thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta rất dễ nhận lầm cái biết trong sáng này là tâm của mình, là chân tâm, tánh giác. Nhưng thật sự không phải.

Vì thế, thức dễ lừa tâm nhất,
Khi tu hành đến một lúc nào,
Thọ, tưởng, hành bất chợt lặng yên,
Thì sự rõ biết liền lộ rõ.

Mây được ví với Hành và Tưởng,
Bầu trời xanh ví với Thức này,
Mây làm bầu trời chẳng sáng trong,
Hành, tưởng làm mờ sự rõ biết.

Sự rõ biết trở thành trong sáng,
Khi tưởng, hành bất chợt lặng yên
Tâm sáng trong, tưởng đó là mình
Đây là chỗ dễ lầm nhận nhất.

Đây được gọi chỗ nguy hiểm nhất,
Dễ lừa tâm nhận đó là mình,
Khi bị lừa thì phải khổ đau,
Vì nhận cái duyên sanh làm ngã.

(Trích Cửa vào bất tử)

Đây là lúc tâm rỗng rang, trong sáng, rõ biết thênh thang, bao la; tưởng an tịnh, không có hình bóng nào hết; hành an tịnh, không có suy nghĩ nào hết. Hành giả tu tập có thể làm tưởng Thức vô biên xứ này là tâm bất động, là chân tâm, tánh giác của mình. Những lần ngồi thiền sau, vị này mong muốn tìm lại trạng thái này, ái trạng thái này, tức là tham ái, dục ái với trạng thái này. Ham thích trạng thái khinh an, nhẹ nhàng của thân, tâm an tịnh, lắng dịu; vị này không chấp nhận thân bất tịnh, tứ đại này là mình nhưng người này lại chấp nhận thức uẩn là mình. Không chấp nhận tưởng, hành là mình nhưng lại chấp nhận sự rõ biết, cảm giác dễ chịu đó là mình. Điều này rất là sâu sắc và hành giả thiền tập cũng được nhắc nhở rất nhiều để tránh sai lầm này. “Vô thỉ bản lai sanh tử bổn; Si nhân quán tác bản lai nhân” tức là cái gốc sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay, người si mê thì cho đó là mình. Người này không biết thức này cũng là pháp duyên sanh.

Thức cần được khéo nhìn, khéo thấy
Cái biết này rộng lớn, vô biên
Khéo tìm Kinh, học kỹ, tận tường,
Để chánh kiến được tâm tường tận.

Thức là pháp vô thường, sanh diệt
Cái biết này là pháp duyên sanh
Khi đủ duyên thì cái biết sanh
Khi hết duyên, cái biết này diệt.

(Trích Cửa vào bất tử)

Ví dụ như ai đang ở rất xa chửi mình, mình không nghe, không biết thì mình không sân giận, vì nó nằm ngoài giới vức của nhĩ thức, ngoài phạm vi của sự nhận thức về âm thanh đó. Do không có nhĩ xúc, nên không có thọ do nhĩ xúc sanh. Nhưng với trường hợp họ gọi điện mắng mình, khi đó nghe được, nhĩ xúc và thọ do nhĩ xúc sanh sanh khởi, chúng ta sẽ sân hận, khó chịu, bực bội.

Trường hợp khác là có người đứng ngay trước mặt chúng ta chửi, nhưng mình bị điếc, thì sân hận cũng sẽ không có mặt bởi không có nhĩ xúc dẫn đến thọ do nhĩ xúc sanh. Hoặc trường hợp họ mắng chửi ngay trước mặt mình nhưng bằng tiếng anh, mình không hiểu thì thức cũng không hiện hữu. Do đó, thức là pháp duyên sanh. Mỗi từ ngữ được áp đặt mang ý nghĩa riêng và chúng ta được họ nên hiểu được ngôn ngữ đó. Vì chúng ta được huân tập theo ngôn ngữ, theo ý nghĩa đó nên khi nghe mà hiểu được thì mình sẽ sanh khởi cảm thọ tương ứng. Còn người điên khi bị mắng chửi họ vẫn cười vui vẻ, bởi họ không hiểu ý nghĩa những lời nói đó. Trường hợp khác là khi ai đó mắng chửi mà chúng ta ngủ say, hoặc đang bị ngất xỉu không nghe thấy gì, thì sân hận cũng không có sanh khởi. Qua đó, chúng ta thấy được cái nghe này không thường hằng, không thường trú, khi nào đủ nhân duyên, điều kiện thì mới phát sanh. Cho nên mới nói:

Thức là pháp vô thường, sanh diệt
Cái biết này là pháp duyên sanh
Khi đủ duyên thì cái biết sanh
Khi hết duyên, cái biết này diệt.

Đây là chỗ vi diệu của sự tu tập. Cũng như hình ảnh của bộ tượng khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng. Người tu điều đầu tiên là phải biết hộ trì căn, giữ gìn, bảo vệ con mắt; thứ hai là có những thứ chúng ta sẽ không nhìn, hoặc nhìn nhưng không thọ nhận, diệt nhãn thức. Biết rằng nhìn cái đó dục ái sanh, nhìn cái đó sân si khởi thì chúng ta không nhìn, hoặc lỡ nhìn rồi thì phải giải phá sắc tưởng trong tâm mình.

Ví dụ mình đang nhẹ nhàng, thảnh thơi, bình an mà có một người bước vào phòng với ánh mắt khó chịu thì chúng ta phải thu nhiếp con mắt liền, không nhìn ánh mắt đó để sân hận, khó chịu không sanh khởi. Minh Thành đi dạy cũng vậy, một khi nhận ra có ánh mắt sắc bén nào đó đang nhìn mình thì Minh Thành cũng phải thu nhiếp con mắt lại liền.

Do vậy, khi nhận diện ngũ uẩn của mình một cách sâu sắc thì bất kỳ ngũ uẩn nào mình cũng nhìn ra được, dù một động thái nhỏ nhất. Khi tu tập trí tuệ ngũ uẩn, rất ít ai qua mặt, lừa dối được chúng ta; nếu bị gạt có thể là do chúng ta tu tập chưa sâu sắc. Người tu có những cái thấy mà xem như không thấy, đó là mình diệt đi nhãn thức. Có những câu nói mình nghe mà như không nghe, gọi là diệt nhĩ thức. Khi nghe mà thọ nhận vào, để rồi sanh khởi lên những cảm giác khó chịu, nhiệt não, nóng bức, hành hạ, tàn phá trong thân tâm thì nghe để làm gì! Nghe rồi nhớ, lặp lại để sân si, bực bội thì lặp lại để làm gì! Mỗi lần nhắc là một lần chúng ta bực, là một lần chúng ta sân thì nhắc lại để làm gì!

Tu tập tâm rộng lớn

Trong sự tu tập, chúng ta phải có được nghệ thuật của chánh niệm khi nói chuyện, ứng xử, sinh hoạt. Nếu ai đó đến nói lên sự bực bội, sân hận của họ thì mình phải khéo léo, nhẹ nhàng lèo lái họ đi qua hướng khác, lập tức họ vui vẻ liền. Tu tập là chúng ta có phép, phép tức là pháp, pháp tức là nghệ thuật; nghệ thuật lèo lái câu chuyện, giúp người khác thoát ra khỏi cảm thọ, cảm xúc nhiệt não. Tu là chúng ta phát triển được con mắt tinh vi, nhỏ nhiệm, vi tế. Thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, cảm thọ ác, bất thiện sanh lên là chúng ta diệt liền; dần dần mới có thể tiến dần đến tâm định được.

Nếu tâm không làm chủ là chúng ta rất dễ dao động trước ngoại cảnh, người khác khiến mình vui thì mình cười, họ bi thương là mình khóc. Cho nên, cần phân biệt rõ giữa chủ động tác ý để sanh khởi cảm thọ khác với việc bị tác động. Cũng là cảm xúc, nhưng một bên là cảm xúc do bên ngoài tác động và một bên là cảm xúc do chủ ý muốn sanh khởi. Tu tập là chúng ta phải nhìn thấy, điều khiển, nhiếp phục được cảm xúc, được như vậy là chúng ta có khả năng vượt thoát khỏi sự trói buộc của ngũ uẩn. Đây chính là Thánh giải thoát, sự giải thoát của bậc Thánh. Chúng ta không trú vào cảm giác này, vượt thoát ra khỏi.

Ví dụ như đi vào bếp, chỉ vì ăn mấy miếng đậu hũ, hay cọng rau mà người khác cằn nhằn. Khi nghe như vậy, cảm xúc sanh khởi, nhưng sau đó mình nhẹ nhàng đi ra ngoài nhìn lên bầu trời, mở rộng nhãn thức về phía trước, bao trùm khắp tất cả, để tâm mình rộng ra, Vô Lượng Tâm Định, đưa tâm vào Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, cho sự thấy biết của chúng ta trùm khắp không gian, trời đất, rộng lớn, bao la. Cảm xúc một tâm rộng lớn, vô lượng là chúng ta đang phá vỡ đi cảm thọ, suy nghĩ, tưởng nhỏ nhen, nhỏ nhít lúc nãy. Từ cái biết nhỏ hẹp trong lá rau, miếng nấm chúng ta chuyển thành tâm vô lượng, nhãn thức trở thành rộng lớn hơn.

Chính vì vậy, tu tập tâm rộng lớn là hết sức quan trọng. Nếu không tâm cứ dính mắc, ám ảnh vào món đồ, hình ảnh, lời nói; khi đó thức cũng chỉ nhỏ hẹp quanh lời nói, hình ảnh đó thôi. Đây là tâm ngu si, nhỏ hẹp, si ám, phàm phu, phải trái, đúng sai; đây chính là Khổ tập thánh đế, những thứ dẫn chúng ta đến đau khổ.

Nhiều khi người thân làm sai điều gì là chúng ta nhớ hoài, nhắc lại hoài, đó là tự hành hạ mình, hành hạ người. Chúng ta không thích người khác làm điều đó với mình, nhưng do tâm nhỏ hẹp, si ám lại đi đối xử với người khác như vậy. Hãy sống với tâm rộng lớn, độ lượng. Khi ai đó mắc lỗi, chia sẻ, góp ý rồi thì thôi, không có nhắc lại hoài. Thực hành tâm xả, thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, thọ mà không thọ, nhận thức nhưng rồi diệt tận, tẩy sạch nó.

Có những người làm bố thí nhưng phải tìm hiểu, điều tra kỹ càng, thấy đúng người cần thì họ mới cho, chứ nếu nhận tiền mà để đi ăn chơi, nhậu nhẹt là họ không cho. Như Minh Thành khi bố thí là diệt cái biết đó luôn, thấy họ khổ là cho, còn chuyện của họ để họ tự lo liệu. Đừng phụ thuộc tất cả vào sự thấy biết, vì đôi khi nó không đúng. Thay vào đó, hãy luôn nuôi lớn tâm từ, nuôi lớn tình thương, tập cho tâm rộng lớn, rộng lượng, bao la.

Thức cần được khéo nhìn, khéo thấy
Cái biết này rộng lớn, vô biên
Khéo tìm Kinh, học kỹ, tận tường,
Để chánh kiến được tâm tường tận.

(Trích Cửa vào bất tử)

Những điều chúng ta thấy, nghe, cảm xúc, nhận thức đều là giả tạo, là duyên sanh, tạm bợ. Những người hay cãi, tranh đấu, phân tích đúng sai là không phải người trí. Người hiểu biết không cãi cọ, tranh luận. Trong Trung Quán Luận có câu: Con cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc đệ nhất trong những người nói về sự thật, có khả năng chấm dứt mọi tranh luận của thế gian.

Một người đã thấy pháp thì không còn tranh luận, còn tranh luận là chưa thấy pháp. Chúng ta tự nhìn nhận lại bản thân xem có hay cãi không, tu pháp Phật hay tu pháp cãi? Nghe ai đó góp ý, chỉ lỗi, chưa nghe hết câu chuyện, câu nói là cãi và đó là “bản ngã đang nguỵ biện quanh co giấu lỗi lầm”. Vì vậy, phải tập tâm định tĩnh nghe hết câu chuyện người ta nói về mình và xem có bao nhiêu phần là sự thật. Nếu họ góp ý đúng hết thì mình sám hối, đúng một nửa thì mình giải bày, nếu sai hết thì từ từ mình giải bày cũng được. Chứ không cần thiết phải nhanh lẹ phản ứng, bản ngã vươn cao, như vậy là tâm phàm phu, tâm vết thương, chỉ cần chạm nhẹ là phản ứng.

Đôi khi mệt, không muốn giảng pháp, Minh Thành quán chiếu, nghĩ đến những người câm: “Họ đâu có nói được; mình có miệng nói được tại sao không tuyên dương Chánh pháp? Không có mệt mỏi gì hết!”. Và như vậy Minh Thành thoát ra, cơn mệt biến mất. Minh Thành thường tác ý, quán tưởng bây giờ mình liệt rồi, bán thân bất toại, hoặc nghĩ đến là một người mù đi bán vé số. Tự đặt mình vào những tình cảnh khó khăn như vậy để trân quý hiện tại và phát khởi tinh tấn, dõng mãnh lực; vượt thoát ra khỏi những thọ, tưởng, hành thông thường, bình thường, nhàm chán, buông lung, phóng dật. Thử quán chiếu ngay lúc này mình ngã xuống chết tại đây, thì còn phải hơn thua, đúng sai nữa không? Mới đây, một vụ tai nạn làm tử vong ngay tại chỗ hai vợ chồng và đứa con. Nếu mình trong trường hợp đó thì còn ta đây, ngã mạn, khinh khi ai nữa không? Nhờ vậy, tham, sân, si được tan chảy, từ từ đi đến chỗ hư mục, rệu rã, nát nhừ, biến mất.

Thường xuyên đặt mình vào trong những cảm giác vô thường đó để loại trừ đi những cảm giác thoải mái, thích thú, thảnh thơi, sung sướng, đẹp đẽ. Phải diệt tận đi những tư tưởng, nhận thức sẽ bình an, ổn định hoài. Thường xuyên đặt mình vào tình huống cái chết đang cận kề: mắc Covid chết, rớt máy bay chết, tai nạn xe chết, tai biến chết. Từ những sự quán chiếu về cái chết này sẽ đưa chúng ta đến sự bất tử, dù cho những sự việc đó xảy ra thật thì chúng ta vẫn điềm nhiên, thản nhiên, an nhiên, xem đó là chuyện bình thường. Đây chính là bất động tâm giải thoát.

Nhà ảo thuật thức uẩn

Sự tu tập thức uẩn là vô cùng quan trọng. Chúng ta đừng tin tưởng vào sự thấy nghe si mê; không nên thọ nhận bất cứ cảm giác, nhận thức, hình bóng nào trong tâm là mình; không nhận bất cứ suy nghĩ nào là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tập tách mình ra khỏi sáu sự rõ biết khi có xúc; không nhận bất cứ sự thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác, nhận thức nào là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Hiểu rằng nhận thức này là duyên sanh, là vô thường, với Thánh trí tuệ tác ý: “niệm ngũ uẩn này không phải ta”. Thức là trò ảo thuật mà thôi, mọi sự thấy nghe của mình là sai hết, là bị dẫn dắt bởi si mê hết.

Có câu chuyện về vị bác sĩ vội vã đi đến bệnh viện, nhanh chóng mặc đồ để đi vào phòng mổ. Người cha của bệnh nhân đang chờ mổ trách móc, la mắng bác sĩ: “Bác sĩ gì không có trách nhiệm gì hết, giờ này mới tới”. Vị bác sĩ cũng nhỏ nhẹ: “Tôi cũng đã cố gắng hết sức để tới”. Người cha này vẫn tiếp tục lớn tiếng: “Thử xem nếu là con ông thì ông có ung dung, tự tại, thoải mái như vậy”. Vị bác sĩ tiếp tục khuyên bảo: “Thôi bây giờ chuyện quan trọng là mổ để chữa trị cho con của ông. Ông ráng cầu nguyện đi”. Rồi vị bác sĩ vào mổ trải qua nhiều tiếng đồng hồ, khi trở ra thì thông báo tin vui đến người cha rằng con ông đã qua cơn nguy kịch, nhắn ông hãy hỏi cô y tá để biết chi tiết hơn về tình hình con ông và vị bác sĩ vội vã đi khỏi. Người cha này tiếp tục khó chịu, nghĩ răng bác sĩ khinh người, ngã mạn, coi ai không ra gì hết, nói có mấy tiếng về tình hình sức khoẻ của con ông mà cũng khó khăn. Thế rồi khi gặp cô y tá để hỏi thăm về con mình thì lúc đó ông mới bàng hoàng khi biết rằng con của vị bác sĩ mổ khi nãy mới qua đời ngày hôm qua, ca mổ của con ông không phải của vị ấy, tuy nhiên vị ấy vẫn vì trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp đến, bây giờ vị ấy phải mau lẹ về để tiếp tục tổ chức tang lễ cho con trai mình. Người cha vô cùng hối hận, xúc động trước tấm lòng của vị bác sĩ.

Đây là một ví dụ nhỏ để chúng ta thấy được sự thấy, biết của mình luôn là sai lầm, nhưng lại si mê không nhận ra, xem chúng là đúng, là hay, rồi sanh ra cảm xúc, tưởng tượng, suy nghĩ theo sự thấy biết sai lầm đó. Chúng ta thấy lúc mới yêu thì thương mến, quấn quýt biết bao nhiêu, rồi cưới nhau vậy mà sau đó thì giết nhau, chặt xác, giấu vào vali, chôn dưới gầm giường, sau đó thì mùi hôi thối bốc lên, người xung quanh mới phát hiện và báo công an. Vậy thì cái biết lúc mới yêu là của ai và cái biết bây giờ hận thù nhau là của ai?

Bởi vậy, Đức Thế Tôn đã ví thức như trò ảo thuật. Khi giận lên là chúng ta nhìn nhận ra và tác ý ngay: “Cái biết này sai rồi, cái biết ngu si, cái biết của tâm nhỏ hẹp rồi. Cái biết của tâm lớn là không giận đâu”. Chúng ta muốn người khác kính trọng, mà lại khoe khoang, phô trương, hách dịch thì người khác càng khinh thường. Ngược lại, mình khiêm cung, nhún nhường bao nhiêu người khác lại tôn kính, tôn trọng nhiều bấy nhiêu.

Minh Thành thường chia sẻ chủ để “Năm khiêm, hai khéo. Khiêm nhường là đức tính tối thượng”. Do vậy, cái biết của phàm phu, chúng sanh là cái biết trong vô minh, mù loà, dại khờ, sai lầm. Cho đến khi nào chúng ta thành tựu Chánh tri kiến thì đó mới là cái thấy biết của bậc Thánh, cái thấy biết đúng đắn về ngũ uẩn, thấy được Chân đế. Còn không là cái thấy, nghe, cảm xúc, nhận thức từ bên trong lẫn bên ngoài đều là theo nghiệp, theo ái, theo vô minh, bản ngã.

Tu tập trí tuệ năm uẩn sâu sắc chúng ta sẽ nhận ra thức thật sự chỉ là một trò ảo thuật. Chúng ta bị chính tâm mình, những món đồ, những con người bên ngoài, những cảnh bên ngoài, những xe cộ, tiền bạc lừa gạt. Những suy nghĩ, ảo tưởng, cảm giác đều lừa gạt chúng ta.

Có một người đang chạy bộ tập thể dục, đột nhiên dẫm đạp phải một sấp tiền Đô-la Mỹ. Người này nhìn qua nhìn lại, không thấy ai xung quanh, hồi hộp cúi xuống tính nhặt lên thì phát hiện là Đô-la âm phủ, tiền vàng mã, vậy là người này đá sấp tiền qua một bên và tiếp tục chạy bộ. Lúc nãy do nhận thức nghĩ là tiền thật thì tim đập mạnh, hơi thở gấp, mắt lờ mờ, suy nghĩ sung sướng sắp giàu to rồi; khi thấy không phải thì mọi thứ trở về bình thường. Thánh trí tuệ, Chánh tri kiến khi nhận biết các pháp cũng như vậy, tất cả chỉ là Đô-la âm phủ mà thôi. Nếu không thấy được bản chất đó thì con cứ mãi giành giật, tranh cướp, hơn thua, hận thù lẫn nhau.

Trong Tương Ưng Bộ, Đức Phật đã dạy:

- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỷ-kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật?

Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III, chương I. Tương ưng uẩn, A. Năm mươi kinh căn bản, I. Phẩm Nakulapità, kinh Thiền Định)

Năm tổ hợp của ngũ uẩn này là trống rỗng, dối lừa, là hố than hừng, là kẻ giết người. Những suy nghĩ tham, sân, si; hơn thua, dao kiếm giết chính mình, giết người khác. Sáu sự rõ biết này là ảo thuật, là huyễn ảo, là huyễn cảnh. Mọi thứ rồi sẽ là dĩ vãng, đừng tin vào sự thấy, nghe, cảm xúc, nhận thức này; không nắm chắc, bám chặt, chấp thủ, cho nó là mình, là của mình. Hãy nhận diện, soi rọi, chiếu phá, nội soi, nội quán, xuyên thủng nó. Thức uẩn này là duyên sanh, vô thường.

Đây là Minh Thành chỉ giới thiệu tổng quát đến đại chúng về sáu thức, chứ chúng ta học một tháng, ba tháng, sáu tháng cũng chưa xong. Cũng vì thức này mà chúng ta sanh khởi ra bao nhiêu tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Từ sự nhận thức mà thọ, tưởng, hành sanh khởi; thức an trú trong sắc uẩn, trong bất cứ sự ưa thích, ghét bỏ nào mà tâm bám vào, chấp thủ vào.

Ví dụ, bây giờ chúng ta đưa những tờ tiền Bảng Anh, Đô-la cho những người đồng bào vùng sâu vùng xa họ cũng quăng bỏ như rác, như giấy vì họ không biết đó là gì. Nhưng do chúng ta được học, huân tập nên thức rõ biết những tờ tiền đó là thứ có giá trị, nên cũng chỉ vì những tờ tiền mà anh em tương tàn, tranh giành, đấu đá, thậm chí chém, giết nhau.

Thế giới này đau khổ, tan nát, chiến tranh, huỷ diệt lẫn nhau cũng bởi vì thức không được tu tập. Trí tuệ muốn có phải do mình tu tập. Tức là phải nghe và nghiền ngẫm những lời dạy của Đức Phật, rồi ứng dụng, dần dần thẩm thấu trở thành trí tuệ. Nếu không chúng ta sẽ sống với thức uẩn, vọng thức, tình thức, nghiệp thức. Tình thức là cái thức theo thường tình. Con mình, chồng mình, anh chị em mình thì mới thương; người ngoài thì không thương. Khi có chuyện gì xảy ra giữa con mình và con người khác là bênh con mình trước, dù chưa biết ai đúng sai như thế nào. Ai đó làm mình vui thì mình thương, làm mình buồn thì mình ghét. Nghiệp thức là sự huân tập theo cái biết nhiều đời, kiếp theo mô thức, khuân khổ. Vọng thức là cái biết hư ảo, không đúng sự thật. Chúng ta phải loại bỏ tất cả những thức này để tu tập Thánh trí tuệ.

Quý Phật tử, chư Tăng, Ni cố gắng nghe thật kỹ và nghe lại nhiều lần để thẩm thấu được Thánh trí mà Đức Phật đã truyền trao về thức uẩn này. Đây chỉ là tổ hợp, là pháp duyên sanh, vô thường, biến đổi; thấy rõ được thức là trò ảo thuật của tâm, đưa chúng ta đến tham, sân, si, bản ngã, vô minh, từ đó chúng ta hướng đến từ bỏ thức uẩn, chứng nhập được Thánh trí, bứng đi gốc rễ của khổ đau, đạt được an lạc, hạnh phúc thật sự.

./.