Biểu Đồ Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới
Tinh Hoa Nikāya
Biểu Đồ Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tóm tắt năm thủ uẩn PAGEREF _Toc213778949 \h 1
II. Sự nguy hại của sắc uẩn PAGEREF _Toc213778950 \h 3
III. Tứ thực PAGEREF _Toc213778951 \h 8
IV. Lý tưởng tu học PAGEREF _Toc213778952 \h 10
V. Thọ uẩn PAGEREF _Toc213778953 \h 12
VI. Trân trọng Thánh Pháp PAGEREF _Toc213778954 \h 14
VII. Nhớ ơn PAGEREF _Toc213778955 \h 19
I. Tóm tắt năm thủ uẩn
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, hôm nay là buổi chia sẻ cuối trong khóa tu cho nên chúng ta có cái biểu đồ này, các vị dựa theo cuốn tóm tắt ngũ uẩn của bậc đạo sư để người ta viết thành cái biểu đồ này. Cái này cũng là trói voi bỏ rọ, ở trong một buổi học không thể nào chia sẻ hết được, vì thời gian chúng ta chỉ được hai tuần thôi thì chúng ta có thể nghe tổng quát. Ở trong Tương Ưng Bộ kinh Thế Tôn nói rằng ta không có tuyên bố ta là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn về tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm thủ uẩn, ta chỉ tuyên bố ta là bậc giác ngộ tối thượng, bậc thấy biết tận cùng khi nào ta thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm uẩn.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: 'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Như vậy ngài được gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là bậc giác ngộ sự thật một cách tận cùng, tột cùng, cùng cực, cùng tột, không có một ai có thể ngang hàng, so sánh, thấy biết bằng được ngài ở trong mười ngàn thế giới này, ngài là người duy nhất, là người độc nhất vô nhị, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người ngang tầm, không có người xứng đôi, ngài là người duy nhất ở trong mười ngàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và cái sự giác ngộ tột cùng đó chính là giác ngộ năm uẩn và năm uẩn cũng chính là thân tâm và thế giới.
Và tất cả sự giác ngộ đó có thể tóm thâu trong một cái một cái biểu đồ này, chúng ta thấy bậc đạo sư dùng hàng thập kỷ, ngày đêm xỉu lên xỉu xuống, chết lên chết xuống một mình âm thầm, lặng lẽ ở nơi xứ người ở bên pháp và gặp cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp, rất là đau khổ tột cùng và trong cái sự đau khổ tột cùng đó thì ngài cộng với túc duyên, tuệ căn, phước đức của ngài ở trong quá khứ dẫn ngài vào trong kinh tạng Nikāya và tự mình mài mò, tự mình tìm tòi, tự mình biên chép, tự mình ghi chép, tuyển chọn, biên tập, biên soạn, tự mình làm từ cái định nghĩa nhỏ nhất vì cái khóa tu lần này nhiều người mới cho nên con chưa có tiện để kể, sau này những cái khóa sau và cho những vị đã biết, tu lâu. Từ từ con sẽ kể, kể cho đến chúng ta chết cũng chưa hết câu chuyện về ngài, thì ngài tóm thâu thành quyển là Tóm tắt năm uẩn và từ trong cái quyển tóm tắt năm uẩn đó, không biết người này là ai, không có đề tên, ở trên mạng viết thành cái biểu đồ này.
Cái biểu đồ này chúng ta nhìn thì thật ra không có gì lạ hết, ở đây chỉ diễn tả thân tâm của mình thôi, tất cả những chữ này chỉ có diễn tả thân tâm của mình thôi. Như vậy tất cả chỉ diễn tả thân tâm của mình thôi, cái thân này, cái cảnh này, tất cả món đồ này cho đến ngọn núi này, quả đất này có một chữ là sắc thôi. Chúng ta thấy khủng khiếp thánh trí tuệ của Đức Phật không? Khi chúng ta còn mê, chúng ta còn chưa có được học thánh trí ngũ uẩn thì chúng ta đó nhìn cái chợ Bến Thành nó ra sao? Nhìn quận 1, quận 2, quận 3 nó ra sao? Nhìn ở Hà Nội ra sao? Nhìn ở Đà Nẵng, Nha trang ra sao rồi chúng ta nhìn Thái Lan, nhìn Mỹ, nhìn Úc, nhìn châu Âu, châu Phi ra sao? Nó mênh mông, nó bao la, nó nhiều cái mới, nhiều cái lạ lắm, chúng ta chạy suốt đời để đi tìm những cái mới lạ, chúng ta thấy thiên hình vạn trạng, ba la vạn tượng, ngàn hoa khoe sắc và chúng ta ảo tưởng, mơ tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng và chúng ta nghĩ rằng là nhiều lắm, nhiều lắm, mình đi tới chết cũng không hết nhưng mà Thế Tôn ngồi ngay tại chỗ nói tất cả những cái đó là sắc.
Chúng ta có thấy tuyệt diệu không? Cho nên mấy thầy, mấy cô ở đây con cho đi hoằng pháp mà nhiều khi cũng không muốn đi nữa "tất cả là sắc hết sư phụ ơi, không đi đâu", có nhiều vị bây giờ đang ẩn tu ở trong rừng không đi đâu hết. Tất cả sắc hết, không có đi đâu, ở đây con quán, con thực chứng cái sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã là đủ rồi. Chỉ khi nào có thánh trí tuệ thì mình mới có thể nắm lại trong lòng bàn tay, bậc đạo sư chúng ta có một cái bài pháp trong lòng bàn tay, con cũng có bài pháp trong lòng bàn tay, bắt trước theo kiếm chút đỉnh, cũng bị ngài rầy hoài, tới gần cuối trước khi đi về cũng bị rầy nữa. Mình hạnh phúc khi mình được rầy, như vậy được rầy là ngài còn thương mình ngài mới rầy phải không? Không thèm nhìn, không thèm nói tới nữa là xong rồi đó cho nên bây giờ mình có thể ngồi dưới một gốc cây, ngồi ở trên cái tảng đá, ngồi ở dưới một khóm tre mà mình có thể hiểu thấu được cả địa cầu này cho nên trong mấy cái bài mà về núi con có làm cái bài thế giới này chỉ là một quả banh thôi, là trái banh bằng đất thôi, không có gì hết.
Mình muốn nhìn thấy được như vậy mình phải tác ý thường xuyên, phải nhắc mình thường xuyên bằng cái thánh trí tuệ để mình mới có thể phá được cái tâm mê, nó mê khủng khiếp lắm, nó mê kinh hoàng lắm, nó mê khủng hoảng lắm. Cái sắc này là cái gì nó cũng thấy hấp dẫn, nhìn chiếc xe đắt tiền là thấy thích, thấy mê, nhiều khi bỏ mạng với chiếc xe này, đổ máu với chiếc xe này, vô tù ra khám với chiếc xe này, đánh lộn vì chiếc xe này. Nhiều khi quẹt cái thôi là có chuyện tại vì người ta không biết đó là sắc, cái thân này cũng sắc, cả cái địa cầu này, cả cái hành tinh này, cả cái thế giới này cũng là sắc. Chỉ riêng một chữ này thôi là chúng ta sụp xuống lạy bậc Thế Gian Giải, chữ uẩn là sự tập hợp của sắc, tổ hợp của sắc, một đống. Chữ uẩn này là một đống, là sự nhóm hợp, sự tập hợp, sự tụ tập, tích tập, tích tụ, một đống sắc, một đống đất, nước, gió, lửa thôi, tất cả nó làm bằng đất, nước, gió, lửa hết, cho đến khi nào chúng ta nhìn vô bất cứ con người, sự vật, đồ vật, cảnh vật, trời đất mà chúng ta cũng biết chỉ là đất, nước, gió, lửa chứ không có gì hết trơn thì lúc đó gần tới cửa bất tử rồi.
II. Sự nguy hại của sắc uẩn
Cánh cửa mở vậy mà không chịu bước vô, cứ đi lòng vòng hoài, đi rồi khóc lóc "Phật ơi con khổ quá. Sao đời con khổ quá", cứ than hoài mà mở cửa không chịu vô, Linh Quy Pháp Ấn không có cửa mà không chịu vô trong khi cái cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đóng lại mà đi gõ cửa để chui vào. Trời đất ơi! Đó gọi là "Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo, địa ngục vô môn hữu khách tầm" nghĩa là thiên đường có lối không người đến, địa ngục không có cửa lại lắm kẻ đi tìm. Bây giờ mình cứ nhớ hoài, mình cứ gặp bất cứ cái gì đều nói đó là sắc, nó là thứ duyên sanh, là thứ vô thường, cái thứ này là đổ máu, cái thứ này giành giật, cái thứ này là cái thứ đốt nhà, giết người, cái thứ này là huynh đệ tương tàn, cha con giết hại, anh em thảm sát nhau, vợ chồng phân ly là cái thứ sắc ác độc này.
Phải nhắc hoài như vậy, nhìn hoa đẹp cũng nhắc nữa, nhìn cảnh đẹp cũng nhắc nữa, nhìn người đẹp càng nhắc hơn nữa. Trời đất ơi, cái này còn dữ dằn hơn nữa, càng phải nhắc hộ trì căn, phải nhìn cho ra được cái đống sắt cái đống sắt, nó chỉ lòe loẹt, trau chuốt bên ngoài thôi, có một cái lớp mỏng bên ngoài bao lại bên trong, lỡ mà rách ra là nó đổ kinh hoàng lắm. Một ngài phải vô cầu tiêu quán ba lần, một ngài đi ít nhất ba lần vô đó là nhìn cho kỹ, ngửi cho nó thọ, hít cái hơi đó cho sâu vô, nhìn cho kỹ để thọ. Hôm nay là con nói pháp thực dụng, thực hành, không ó nói kinh nhiều, nhìn vô mấy cái cục nhơ nhớp, bẩn thiểu mà nó tồi bại, nó xấu hổ mà nó nhục nhã, nhìn vô đó để thọ "Trời ơi! Trời đất ơi! Sao mà cái thân này đi ra những thứ này như vậy mà tại sao mình ngu mê, mình đam mê, mình si mê? Tại sao mà mình nhìn không thấy như vậy? Hằng ngày l nó ra bao nhiêu lần như vậy, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, tồi bại, bất tịnh, hạ liệt, xú uế".
Mỗi lần vô là cứ nhìn vậy đó, nhiều khi cái thân của chính mình mà ngay cái mùi bốc lên mình cũng ngán luôn đó, phải đi tắm chứ không tắm là chịu không nổi, gặp mấy người nặng mùi thì còn chết nữa, vậy mà cũng mê rồi khổ suốt đời, đã vậy còn đánh ghen ầm ầm, khổ lắm. Cái đống sắc này là nó giết người ta.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... "Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Chỗ nào có sắc là chỗ đó có sự chết, chỗ nào có sắc là chỗ đó có bệnh hoạn, có già nua, có chết chóc, có sự giết người, là kẻ sát nhân. Vì có thân này nên mình mới có chết, vì có thân này cho nên mình mới có bệnh, vì có thân này cho nên mình có già, vì có thân này cho nên mình có mới tai nạn, hoạn nạn, lo lắng, sợ hãi, bất an. Kêu đứng lên trình pháp thì sợ quá không dám trình pháp, sợ không có pháp chứ pháp mà sợ cái gì, cái đáng sợ thì không sợ, mà cái không đáng sợ lại sợ. Pháp mà sao lại sợ? Chính vì sợ cho nên mãi mãi không có đạt được pháp, không có đi đến chỗ vô sở úy, sợ hoài muôn kiếp ngàn đời mà đánh gục được cái sợ đó thì mình đi đến chỗ vĩnh viễn bình an, không còn sợ hãi nữa.
Phải sợ tham, sân, si, sợ bản ngã, sợ dục ái, sợ vô minh chứ trình pháp mà sợ cái gì. Nói hết cỡ luôn rồi đó, nói hết luôn rồi đó, không còn gì để nói nữa, sợ cái gì mà sợ, thân mình là cả thế giới, Đức Thế Tôn chúng ta tối thượng lắm, ngài nói một cái gì đó thì chân tơ kẻ tóc, một cọng tóc mà ngài chẻ ra là một trăm phần, chín mươi chín phần biết hết mà còn một phần không có rõ thì ngài cũng chưa tuyên bố ngài vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên khi ngài nói về sắc thì ngài nói sắc tập khởi và sắc đoạn diệt, tức là từ đâu có cái sắc này, cái sắc này nó vận hành như thế nào, nó an trú, nó tồn tại ra làm sao, rồi nó biến hoại, nó đi đến diệt tận như thế nào, ngài trình bày hết tất cả đầu đuôi, căn nguyên, nguồn cội, gốc gác sự tập khởi và sanh diệt của nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Không phải ngài nói chung chung cái này đồ giả vậy là tu, không phải như vậy, cho nên mình tu cái kiểu đó thì không đạt được trí huệ. Cái miệng nói nhà này giả, con người này giả nhưng cái tâm làm sao thấy giả? Bây giờ Đức Phật nói từ đâu mà nó sanh ra, cái hấp dẫn của nó là như thế nào, cái tác hại của nó như thế nào và làm sao mình thoát ra được nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? cho nên do mình ăn vô thì cái sắc này tồn tại, mình không ăn mình chết thì sắc này đoạn diệt, thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt. Ngài nói cho mình biết nguyên nhân sanh khởi ra sắc, thức ăn ở đây có bốn loại thức ăn chứ không phải chỉ có ăn đồ như mình. Mình có biết có một cái đoàn thực là cái thức ăn thô mà mình bóc, mình gắp, mình múc, mình húp, cái đó là đoàn thực thôi, còn ba loại thức ăn khác nữa.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Thức ăn mình đi khất thực ăn hằng ngày đó là đoàn thực, đoàn là tròn tròn, những cái thứ này mình bốc, mình gắp, mình múc này kia và xin thưa đó là ở bên các cái thiền viện, con đi qua tới bên thiền viện trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah bên Thái Lan thì tới bây giờ các thầy Tỳ-kheo vẫn còn ăn bốc. Mình thấy phương người phương Tây rất hay, họ không có học thì thôi, họ học là nghiên cứu tới cùng cái gốc của Đức Phật và họ đi xuất gia. Lúc đó con đi tới trong trung tâm thiền quốc tế, đi cực khổ lắm, xa lắm mới tới, sâu lắm, đi tới đó có hai mươi mấy, ba mươi vị thôi nhưng mà trên hai mươi nước, mỗi vị cao 1m8, 1m9 vậy đó, ốm nhom xanh lè, ngày ăn một bữa, sáng thì đi khất thực, con ôm bình bát đi theo sau đó thì theo không kịp các ngài, đạp sỏi đá dưới chân rất đau nhưng đó là kỉ niệm rất sâu sắc, rất ấn tượng. Khi đi về rồi con bước vô thì có một cụ già quỳ sẵn ở ngay trước cửa chánh điện với một cái thau nước và cái khăn, mỗi một vị về đó thì cái cụ lấy nước đó rửa chân cho các thầy Tỳ-kheo, lấy cái khăn lau chân cho các thầy.
Mình thấy giữ được truyền thống từ thời Đức Phật tới giờ, quý báu lắm, con đứng đó mà nước mắt chảy ra. Như vậy mà mình tu không có xứng đáng thì bị đọa, hình ảnh đó không mãi con không quên tới bây giờ, sau khi được rửa chân và lau cho sạch thì các thầy bước vô chánh điện ngồi tụng kinh rồi bốc tay ăn cơm nhưng mà đương nhiên là không có thánh trí ngũ uẩn như chúng ta. Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Con đã đi hết tám cái thiền viện Myanmar, Sri Lanka và Thái Lan, thiền viện lớn nhất, các hệ thống để con đi ấn chứng lại lời của bậc đạo sư, ngài nói mà con chưa chịu, con phải đi xác nhận thì khi về con mới chịu, con đi tám cái thiền viện lớn nhất, cái trường thiền lớn nhất mà con tìm không thấy thánh trí ngũ uẩn.
Trở lại cái vấn đề cho nên mình học được như vậy mà mình không chịu tu nữa thì thôi, mình khổ lắm, trăm đời vạn kiếp sau mình cũng không gặp chánh pháp nữa, tại cái tội mình gặp chánh pháp mà mình khinh thường, mình không có cung kính. Mình không có nắm bắt cơ hội này, mình để vuột mất thì giống như con rùa mù để cho cái bọng cây trôi qua cho nên phải sống chết với cái pháp này. Hiện tại giờ mình thấy rõ ngũ uẩn không ạ? Thấy rõ tham, sân, si không? Thấy rõ những thúc giục, những cái dục, tham, ái hành hạ mình không? Thấy rõ cái sân nó thiêu đốt mình không? Thấy rõ cái tâm si mê, vô minh, nó hôn ám, nó bao phủ hết đời sống của mình không? Đó là công năng của thánh trí ngũ uẩn cho nên tại sao sáng nay chúng ta rất là xúc cảm khi nhắc về bậc đạo sư, thật ra con kiềm lại rất nhiều vì có rất nhiều người mới, con không có để cho các vị mới không có biết nhiều về ngài chứ nếu con bung ra thì cũng lớn lắm, cái ân đức của ngài là vô cùng vô tận, không có gì so sánh nổi trên thế gian này, trên thế giới này hết, trên hành tinh này hết, sau Đức Phật hai ngàn năm mới có một người cho nên con dùng cái từ thiên cổ nhất nhân là ngàn năm có một.
Thế mà chúng ta gặp được, hiểu được và thực hành như vậy mà chúng ta không có chịu cố gắng nỗ lực, không có trân quý, trân trọng, trân kính thì chúng ta có tội với ngài rất lớn. Cho nên đừng nghĩ rằng có đời sau để mình gặp được cái pháp này, không có đâu, mình mất đời này rồi mình sanh ra đời sau không gặp được nữa đâu, trừ là mình Nhập Lưu, khó lắm, thiên nan, vạn nan, tỷ nan chứ không phải là khó trăm, khó ngàn đâu mà khó tỷ. Có các vị ngồi đây là đi hết bao nhiêu cái chùa rồi, đọc bao nhiêu quyển sách rồi chứ không phải là không có đâu, có bao giờ mình nhìn thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng, minh bạch, tường tận, như sự hướng dẫn của bậc đạo sư mà chúng ta đang được học đây cho nên chúng ta trân quý.
Trở lại thức ăn là ngoài cái thức ăn mà mình bốc ra thì còn thức ăn tiếp xúc, không nhìn là chịu không nổi, không nghe ngóng là chịu không nổi, ngửi nếm rồi xúc chạm. Cho nên chúng ta thấy lúc xảy ra dịch bệnh bức xúc nhiều không? Tại nó không được xúc cho nên nó bức xúc, thấy chưa? Do không được xúc tại vì cái xúc thực này không có, xúc không được thì bức xúc, bực bội, rồi bắt đầu ở nhà xảy nhiều cái chuyện bạo hành ở trong gia đình, trầm cảm này nọ kia, cái thời điểm đó rất khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng mà những thời điểm đó là chúng ta tu an lạc, chúng ta tăng thượng trong thánh trí. Tuyệt diệu không?
Chính cái thời điểm đó là cái thời điểm mà đạo tràng Nikāya là những cái vị tu học tăng thượng tại vì chứng kiến sự thật xung quanh mình, ngay trong bản thân mình, ngay trong gia đình mình thì vô cái pháp này nữa, nhất nhật thiên lý ngày đi ngàn dặm như tuấn mã, bỏ lại sau lưng những con ngựa yếu hèn. Lúc đó phong tỏa, bế quan tỏa cảng, nhà ai ở chỗ nấy thì cái lúc đó một ngày con thăng tòa liên, hai thời mỗi ngày có khi là nhiều hơn nữa, ít nhất cũng là một thời, như vậy thì sau cái dịch đó các vị đã về đây khóc và cảm ơn rất nhiều "con nhờ lúc đó có cái pháp, nếu không có lúc đó con sống không nổi, con hoảng loạn hết, con thiếu đều muốn điên luôn, bức xúc, đau khổ" vì trong gia đình chứng kiến hai ba người chết, có khi bốn năm người chết, trong mấy ngày thôi mà năm người ra đi, kinh hoàng không, khủng hoảng không, đó là mình chưa có chiến tranh đó, bây giờ các nước đang chiến tranh đó là khủng khiếp lắm.
Cho nên mình đừng có dễ vui với cái thân người, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng có nghĩ vậy, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng bao giờ nghĩ có ngày mai. Bậc đạo sư dạy cho con là "không có tu nhiều đâu thầy, tu ngay cái khoảnh khắc ngay bây giờ đây thôi, thầy tu được ngay bây giờ đây thôi, chỉ bao nhiêu đó thôi chứ không có tu nhiều". Tu ngay cái thọ ngay từ giờ, tu ngay chỗ đó thôi mà được chỗ đó là coi như vĩnh viễn, mãi mãi, ngay bây giờ, hiện giờ nè, cho nên "ngày mai con tu", "tuần sau con tu, để con về nhà sắp xếp xong công chuyện rồi con lên" là con ngồi đó nghe, con "dạ mô Phật", không nói gì rồi đi tuốt luôn, không có ngày trở lại cho nên đừng lại con nói "dạ để con sắp xếp năm sau con lên", đừng nói với con cái đó nha, con ngồi vậy thôi chứ con không có trả lời đâu. Không có ngày mai thì làm gì có chuyện "để con về sắp xếp gia đình ổn hết rồi con lên con tu với thầy", tích tắc là chết liền ngay tại chỗ.
Chiều nay có cô Phật tử lên đây để ngày mai cúng trai Tăng cho chồng cô, hai vợ chồng ngày xưa là lúc đầu tiên con về trên núi này đã cúng dường tám mẫu đất, lúc đầu tiên còn cái am tranh và chú này là kỹ sư ba mươi mấy gần bốn chục năm ở bên Mỹ, ngay thung lũng silicon ở bắc Cali. Chú mới sáu mươi mấy tuổi thôi, đang khỏe mạnh bình thường vậy bất tình lình chết, mà cái đặc biệt, rất đặc biệt là chết trùng ngày, trùng giờ với bậc đạo sư bậc. Chú này là người rất đức hạnh, rất hiền thiện, con biết mấy chục năm từ cái ngày biết cho đến cái ngày chú viên mãn là cái lòng cung kính chú đối với Tam Bảo là y như vậy càng nhiều, lớn hơn chứ không có thay đổi, cho nên con nói chắc là đi theo làm thị giả bậc đạo sư lên luôn vì ngài có lên đây giảng pháp nè nên hưởng xái, hưởng cái công đức của ngài thành ra chết trùng ngày, trúng cái giờ đó luôn cho nên vào ngày lễ của bậc đạo sư là được ké theo.
III. Tứ thực
Đó là phước lành của chú, nhiều khi trong cái rủi có cái may, rất là hiếm chứ nếu không trùng ngày thì làm gì được mấy chục thầy cô đi tụng, đi đưa, hôm đó mấy chục vị ở trên núi mình xuống. Cho nên trở lại vấn đề con nói cái vô thường thì chúng ta phải nhớ và không bao giờ quên, có thể chết bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào cũng đều có thể chết, phải nhớ cái đó, bất cứ lúc nào 24/24. Cứ mỗi khi mình đi làm xa thì phải nhớ rằng có thể mình không trở về, phải nhớ kỹ vậy, phải nhớ cái điều đó, nhớ lại cái dịch bệnh để làm đề tài thiền quán. Tư niệm là nghĩ nhớ, niệm là nhớ, tư là nghĩ, mình nhớ, mình nghĩ, mình suy nghĩ, nhớ nghĩ, đó cũng là thức ăn, tư duy suy nghĩ rồi khoan khoái, thích thú trong đó, đó cũng là thức ăn cho cái tâm cái tâm vô minh, cái tâm hôn mê, cứ nghĩ nhớ hoài, ngồi cứ nhớ cái này, nhớ cái kia, nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia mà không có chịu an tịnh, lắng dịu. thức ăn rồi
Thức thực là sự nhận thức, sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến cảm giác vui thích, muốn nhìn, muốn thấy, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn tiếp xúc. Cũng như đồ người ta ghi bản không được rờ thì cũng ráng chạm vô để rớt bể cái chén thời Càng Long hay là đồ cổ thời vua Minh Mạng, đó là xúc thực cũng là thức thực, muốn thấy, muốn nghe, muốn gặp cho nên mình đang ngồi thiền tự nhiên có con chó sủa là mình quay qua nhìn liền con sủa ai, đó là thức thực, xúc thực. Hoặc là đang ngồi thiền tự nhiên có người ho, hay là có tiếng điện thoại vang lên thì quay qua nhìn xem ai ho, tiếng điện thoại của ai vậy, đó là thức thực. Mình nhìn để làm gì? Chuyện của người ta thì kệ người ta, mình lo thiền đi, đó là tâm hướng ngoại, cứ lo nhìn điện thoại của ai, của bà nào vậy, con chó đang sủa ai vậy, hoặc là lỡ rớt bể ly nước sau lưng cũng ráng quay lại nhìn xem ai làm rớt.
Nó giải mã hết tất cả những cái sự sinh hoạt, những cử chỉ, tất cả cái sự thi vi, vận hành, động tác trong đời sống của mình là giải mã hết. Nếu mình bớt được mấy cái này thì đỡ khổ lắm, bớt cái này đỡ khổ lắm nhưng tại sao mà mấy cái này nó có hoài, nó đòi hỏi hoài, đòi ăn hoài, sáng mở mắt ăn, trưa ăn, tối ăn, nửa đêm cũng ăn rồi xong cái bụng nước lèo phải đi tìm thuốc giảm cân. Ăn cho nhiều nhưng muốn làm sao uống cái thuốc này vô cho đừng có mập, chế được thuốc này là bán đắt lắm, bán mắc nhiêu cũng mua hết, muốn ăn cho ngon mà đừng có cho mập, tham đủ thứ tham, chúng ta có thấy rõ không?
Bây giờ do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, nó khoái, nó thích, mà nó khoái, nó thích cho nên nó cứ chạy theo bốn cái này hoài, còn có ái là còn đi tìm bốn cái này. Cho nên tu không lo tu, tối ngày cứ xuống dưới bếp hoài, có chuyện thì cũng được đi, không có chuyện cũng chạy xuống kiếm làm món này, làm món kia, làm món nọ, đừng bưng cho con nhiều, bưng nhiều bị rầy à, đừng tưởng bưng đồ con nhiều là con khen đâu, không. Cái này đúng ra cũng phải có sinh hoạt, người mà lo cho đại chúng ăn, lo cho quý thầy cô không phải chỉ biết lo cho cái món ngon vì món ngon là đây ái, dục, tham, chúng ta phải sức khỏe dưỡng sinh, thực dưỡng, chứ bây giờ trời đang lạnh mà đem rau má nước dừa ướp lạnh ở trong tủ lạnh lúc bảy giờ tối bưng lên cho con uống, nam mô A-di-đà Phật, con nhìn con thấy trời đất ơi.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cái này không biết là đang thương con hay là đang xử con đây, mà làm hoài, nhiều khi chú thị giả vô nói mà cũng không chịu nữa, "làm cái này, bưng cái này cho sư phụ" cho nên khổ lắm, không có hiểu mà thương là khổ lắm. Không phải mình con đâu mà tất cả đại chúng cũng vậy nữa, mình làm thức ăn là rất quan trọng, rồi cắm hoa cũng vậy, ý con muốn là làm chưng hoa thiền vị chứ không phải cắm vào giống như cải lương mà con nhắc không biết bao nhiêu lần rồi. Cho nên nhiều khi là nhắc hoài rồi cũng khó chịu, nhiều khi không có muốn nhắc nữa, không muốn nhìn luôn, cứ làm theo cái tâm ái, cái tâm thích của mình mà nói ra thì giận, khổ vậy đó. Cái ăn bây giờ bệnh ung thư rất là nhiều, nước mình mỗi một năm chết vì ung thư rất là nhiều, đó là nói mất mạng còn chưa nói là bệnh mới, phần lớn là do cái ăn, đoàn thực này ghê lắm cho nên mình nấu đồ ăn thì đương nhiên cũng phải cần một chút vừa miệng, nó phù hợp, nó hài hòa nhưng mà phải chú trọng vào cái sức khỏe chứ không phải chỉ chú trọng vào cái hương, cái vị của nó.
IV. Lý tưởng tu học
Con nhắc hoài từ cái ngày lên núi tới giờ khai sơn mười tám năm nay, năm giờ sáng của trời mùa đông run cầm cập lại đi đã nước trà đá, trong khi mười hai giờ trưa lại đi đãi nước trà, mà nước sôi nóng hỏi ra đem ra đãi, con ngồi mà con cứ nhắc hoài, độc đáo thật, rất là độc đáo. Nhiều khi mình ngồi giống như á khẩu, giống thằng câm nhai trúng trái ớt cay quá mà không biết nói sao được, rồi thôi về thất đóng cửa lại, mình giờ cũng phế nhân rồi, hàng phế phẩm, phế liệu rồi. Cho nên mình phải để tâm và phải để ý, phải chánh niệm tỉnh giác, phải quán sát, quán chiếu cái đó lợi hay hại, thế nào là đúng thời, phải để tâm vào những cái đó.
Cái ái này là cái khoái, mình nói tiếng Việt dễ hiểu lắm, ái là khoái, là thích cho nên nó đi tìm bốn loại thức ăn này hoài, người nào tham ăn nhiều, tối ngày cứ đồ ăn hoài thì người này tu không có được, không có thoát được, không có giải bao giờ giải thoát được. Ngày ăn một bữa, mình xấu hổ vì mình làm công việc nhiều này nọ kia, còn ăn thêm một hai cử nữa là đã thấy nhục nhã rồi cho nên không có để cái này nhiều quá được, bớt tiếp xúc, bớt nhớ nghĩ. Bây giờ tất cả sách vở, kiến thức của thế gian này đọc cho tới chết đi sống lại, trăm đời ngàn kiếp đọc cũng không hết mà nói toàn tham, sân, si với bản ngã, dục ái, vô minh cho nên không cần thức thực. Mình chỉ cần tìm ra cái thấy biết của bậc thánh thôi, chỉ có cái thấy biết đó mới đưa mình đi ra khỏi khổ, còn tất cả cái kiến thức của thế gian đều không sử dụng được, chính vì vậy làng tu Nikāya mà tâm nguyện con là những chú trẻ nhỏ ở trong đó được các vị xuất gia từng làm cô giáo ở ngoài, thầy giáo ở ngoài hướng dẫn từ nhỏ, không có học kiến thức ở ngoài đời, dạy cho biết chữ, biết nghĩa, biết đạo đức, biết lễ giáo rồi học toàn bộ kinh Nikāya thôi.
Đó là thế hệ truyền thừa, thừa kế ở trong dòng pháp Nikāya, hoan hỉ không? Không cần học kiến thức gì ngoài đời hết, tám tỷ người học rồi mà bây giờ được có chừng tám người mà học cái này thôi thì tám người này có phải kim cương không? Có phải hột xoàn không? Cần gì phải giống người ta, cứ thấy người ta sao là cứ muốn để mình thua người ta, mình phải giống người ta, mình phải bằng người ta, mình phải hơn người ta để làm cái gì? Giống người ta rồi thì cũng bộ xương, cũng nấm mồ, cũng hủ cốt, đừng giống người ta để mình đạt được cái gọi là siêu phàm, cái tuệ giác, cái thánh tuệ cho nên sau này có duyên làng tu, thành lập được thì vô trong đó là coi như xong rồi. Mình thấy người ta quay mấy cái bản, mấy cái làng ở trên cao, mấy người dân tộc đồng bào ở trên đó không có tiếp xúc với ngoài thế gian, thậm chí bây giờ có một số người đem con vô rừng, vô núi, người ta dạy trong đó, không cho đi học mà bây giờ có cũng khá khá rồi.
Sau này là cái này sẽ nhiều vì trong kinh Đức Phật nói trước hết rồi, ác pháp sanh khởi rất cường thịnh, nó xâm chiếm, áp đảo hết toàn bộ thế giới này cho nên những người hiền thiện, nhân đức sẽ ẩn dật, ẩn cư. Dạ con kính chào các bậc ẩn sĩ, đây là ẩn sĩ, ngồi đây nhiều thành phần trong xã hội lắm, tối thiểu cũng được ẩn sĩ hai tuần lễ, còn tương lai sẽ có những ẩn sĩ dài hơn, lâu hơn, con cứ chờ đợi các ẩn sĩ đó về. Không cần giống người ta, vì cái tâm con từ hồi nhỏ tới lớn, khi con đi vào con tu thì con tâm sự với các chư tôn và chư hiền thật sự ít người ưa con lắm, tại vì tối ngày con ở trong chùa đó mà mấy người kia hỏi:
Ông có hay chuyện gì không?
Dạ không có hay.
Người ta nói ông này nọ kia.
Dạ con bận lắm, không có thời giờ học kinh, ai nói gì nói, kệ người ta, giờ con bận lắm.
Ai khen, ai chê, ai chửi, ai khen, ai gì thì con cũng chỉ "Ờ thế à", con bận đọc Nikāya, đang đọc Tương Ưng Khổ, khổ thánh trí, không có thời giờ rảnh. Nhờ vậy mà mình đi tu rồi mình chọn cái pháp môn, rồi mình đi con đường không giống ai hết, tại không cần giống ai hết, giống Phật thôi, không cần giống ai. Cho nên cái thấy đúng ở trong cái thánh pháp thì con xin thưa là cô độc và phải có một sức mạnh tinh thần lắm, phải dám mạnh mẽ vượt qua, phải có một cái tâm sắc đá, cái đầu thép không sợ gì hết, chết cũng không sợ, chỉ sợ luân hồi sanh tử khổ đau thôi, tất cả khác không đáng sợ. Chỉ sợ còn tham, sân, si thôi, chỉ sợ còn dục ái thôi, chỉ sợ còn bản ngã, còn vô minh thôi, chứ có gì đâu mà sợ, trình pháp mà sợ cái gì. Pháp mà sợ thì làm sao thành tựu pháp? Không sợ.
V. Thọ uẩn
Cái cảm thọ này đặc biệt lắm tại vì cái tưởng, cái hình bóng trong tâm mình nó qua rồi mình quên mất tiêu. Những cái hình bóng, cái món đồ này, cái cảnh vật kia, con người nọ rồi cũng đi qua, những cái suy nghĩ có khi nãy mình nghĩ cái gì mà bây giờ mình muốn nhớ lại nhớ không được, nhất là bị mấy mũi nữa, trước khi chích đã như vậy rồi mà bây giờ chích còn nặng thêm nữa thì nghĩ gì một hồi quên mất, cái nhận thức cũng đổi thay lắm nhưng mà cái thọ này, có những cảm giác suốt đời mình không bao giờ quên. Cái câu đó là cái câu tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, trong cuộc đời mình có những điều, có những sự việc, có những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ mà suốt đời này không bao giờ mình quên, nhất là những cảm thọ tu học mà khóc ở tại Linh Quy Pháp Ấn, gọi là đệ nhất khóc.
Cô lên Linh Quy Pháp Ấn tu hả? Có khóc chưa?
Dạ khóc rồi.
Đó là đặc sản của rừng thiền nhưng mà người ta không biết đâu, không phải dễ khóc đâu, chỉ có thánh trí tuệ mới đánh vô các cái chấp thủ làm cho rung chuyển, làm cho kinh chấn, chấn động, địa chấn ở trong tâm mới có những cái dòng cảm thọ như vậy. Hồi đó giờ mình nghe pháp ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, ba chục năm cũng đơ đơ, trơ trơ, nó không có ép phê, nó không có đủ sức để đánh phá cái vô minh, chấp ngã này, đánh trúng vô là rung rinh, rung động. Hồi sáng con nói triển khai từ lực rúng đất trời lúc ngài ra đi và cái thọ của các bậc thành tựu là sức mạnh của nó khủng hiếp lắm. Hồi đó khi bậc đạo sư ở trên đây trong khóa tu là quý vị không có tưởng tượng nổi đâu, bình thường ở dưới ngài nằm bệnh, ngài mệt, nhưng khi ngài lên pháp tòa là mặt mài hồng hào, trang nghiêm, ngài nói những cái câu ở dưới nghe nổi da gà, chấn động hết rồi khóc. Nếu người bình thường không biết vô tưởng đâu có cái chuyện gì, cái lực khủng khiếp lắm, con giờ chừng phân nửa của ngài thôi mà quý vị khóc vậy rồi.
Lúc sáng các vị có trình pháp cái thọ lúc đầu rất là ương ngạnh, nó cứng cỏi lắm, nó kiêu căng lắm, nó ta đây dữ lắm nhưng mà thấm vô cái này, nó dập vô từ từ nó ngấm, nó thấm vô, nó mềm, nó nhũng ra rồi bắt đầu nó rã ra, nó rệu ra, bắt đầu nó tiêu dung, nó hòa tan, nó tan chảy cho nên khi cái thọ mềm ra như vậy thì quý vị thấy nó dễ chạm tới. Vừa nói tới từ vô lượng tâm "trong ta là tình thương, tình thương có trong ta, từ tâm có trong ta" là bắt đầu nó chảy ra, thấy chưa, cái đó là hiệu quả, là tăng thượng đó, là cái cảm thọ từ một người trơ trơ, đơ đơ lúc mới vô, kêu mình tập tâm từ thì hỏi "tôi không có tâm từ hay sao mà kêu tui tu tâm từ" nhưng tới ngày hôm nay mình tu là vừa chạm nhẹ thế thôi là tuôn chảy.
Đó là hiệu quả, làm cho cái thọ mềm ra, trong tưởng; hành; thức là cái thọ này là cái cầu nối giữa thân và tâm, cái này nó độc thủ là vậy đó. Mình tưởng trong đầu mình cái gì đâu có ai biết, chỉ có chư thiên mới biết, các vị có thần thông mới biết, mình suy nghĩ cái gì thì đâu ai biết, chỉ có bậc tha tâm thông mới biết, chư thiên, chư thần mới biết phải không nhưng mà mình cảm thọ người ta biết không? Mình vui người ta nhìn mặt mình có biết không? Cái thọ này đặc biệt là nó gắn liền thân và tâm, nó độc đáo như vậy đó, ở trong bốn uẩn của tâm thì cái thọ uẩn này nó độc thủ lắm, nó gạch nối giữa thân và tâm cho nên khi nó sanh khởi cái gì là biểu hiện ra cái sắc.
Cái tưởng nó vận hành, cái hành nó suy nghĩ và cái thức nó cũng đi theo trong đó, nó sẽ chạy vòng vòng theo cái cảm thọ. Cái thọ này là chủ lực cho nên khi nó khởi lên thì những cái uẩn còn lại chạy lòng vòng theo nó, nó là xếp sòng, là tổng chỉ huy, là thống soát, là đại tướng quân dẫn đường cho tâm. Cái độc thủ, độc đáo mà tối thượng của Đức Phật là mỗi cái gì ngài nói ra thì ngài đều nói căn nguyên, nguồn cội, nguồn cơn tại sao mày sanh ra, mày vận hành như thế nào, làm sao tao cho mày chết, mày chết như thế nào, ngài trình bày đầy đủ hết, đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Tại sao có cảm xúc, khi cảm xúc vận hành có mấy loại, nó vận hành như thế nào và làm sao để cho tất cả cảm xúc này an tịnh, lắng dịu, làm sao để thoát ra tất cả cảm xúc này thì có một đạo lộ, có một con đường, có một phương pháp, có một cách thức, có một cái sự tuần tự. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Đó là Chánh Đẳng Chánh Giác phương diện thứ hai của thọ uẩn cho nên khi con nghe bậc đạo sư trình bày cái này là con sụp xuống con lạy ở trong thất, nước mắt đầm đìa hết, sốc toàn tập. Mình học hai mươi tám năm trời, mình ra mình đứng lớp dạy cả ngàn ngàn Tăng Ni mà bây giờ đánh một cái là tất cả mấy cái mình học không xài được nữa. Bây giờ mình học lại A, B, C, D từ đầu thì làm sao không rúng rộng, làm sao không chấn động?
Tất cả cái đã học kể qua một bên, thầy học lại từ đầu.
Dạ mô Phật sư phụ, dạ con nghe lời.
Ngài dạy cho con quý vị không chịu nổi đâu, không có ai chịu nổi hết, bây giờ mấy chú mấy về đây, cả những người ở gần bên con thật sự nhiều khi con chia sẻ chừng có hai ba phần thôi, ngài đánh con cũng phải chừng tám chín phần, ngài dạy cho con từng cái ăn, cái đi, cái nói chuyện từng chút như mẹ dạy con, như một người chị, như một người mẹ, như một người thầy, như một bậc đại đạo suốt ba năm. Ba năm đó thì con suy nghĩ là nó vượt qua ba ngàn năm, nếu mà một người tu học bình thường học ba ngàn năm cũng chưa được, ba chục ngàn năm cũng chưa được vì đâu có gặp chánh kiến chỉ dẫn mình đâu mà được, ba tỷ năm cũng không được nữa cho nên cái quý báu là mình gặp được bậc thấy đúng chánh kiến, nghe diệu pháp, như lý tác ý và mình thưa hỏi các nghi vấn để ngài chỉ dẫn đánh phá những cái chấp thủ ngu mê, vô minh ở trong tâm của mình.
Cái đó là những cái nhân duyên để sanh ra chánh kiến nhưng bây giờ con thấy đa số nhiều khi gặp các bậc hiền trí chỉ lỗi mình là mình sân si, mình khó chịu thành ra không học được. Con nghĩ chắc không có đâu, không biết rằng sau con còn có người nào tiếp nổi cái như lai thần chưởng này không vì khó lắm, vì muốn học cái này là phải dập cái bản ngã, phải tu diệt ngã dữ lắm và phải tu cái hạnh tâm hiền, mà cái tâm hiền phải được huân tập, huấn luyện từ kiếp trước chứ không phải mới đời này mà đủ đâu. Nếu người mới đời này thì phải dốc lực dữ lắm cho nên thật sự á là trân quý khi mình học được chánh pháp, phải tác ý hoài, cứ rảnh là tác ý, mình siêng năng nghe pháp, quý vị sau khi xuống núi tối thiểu mỗi ngày phải có một thời pháp, tối thiểu một thời thiền quán, một thời thiền chỉ mới nuôi được nuôi được cái thấy đúng này, cái con đường của mình.
VI. Trân trọng Thánh Pháp
Tất cả mấy cái khác không quan trọng, không có gì quan trọng, chỉ có pháp mới quan trọng. Cho nên những người trẻ học pháp có lợi thế rất nhiều, cố gắng lên, mình tận dụng tuổi trẻ của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, hôm qua lúc thiền quán vấn đề dục thì chúng ta nhớ trong cái bài niệm Ước Muốn Sắc Bén, đó là chữ Đức Phật dùng, ước muốn không chưa đủ, ước muốn tăng thượng giới đức chưa đủ mà phải là ước muốn sắc bén, chúng ta thấy ngôn ngữ học của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sử dụng không. Ước muốn không chưa đủ, ước muốn cho giới đức của mình, cái đạo đức của mình, cái đạo hạnh của mình, cái đức hạnh của mình lên cao còn chưa đủ, mà phải là ước muốn sắc bén.
Như vậy tuổi trẻ của mình, sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, cái trí não của mình trong thời gian thanh xuân này là mình mà bỏ hoang phí là uổng lắm, những người trẻ trẻ, nhỏ nhỏ vầy mà đi tu là tuyệt vời lắm, hoan nghênh lớn lên. Khi con qua bên Myanmar là con đi đến lạy các vị tam tạng pháp sư, cúng dường cho họ, trong mùa dịch ở đây mình cũng gửi cúng dường, khi bước vào chùa thì có một hình ảnh rất ấn tượng không bao giờ quên, đó là hình ảnh các chú tiểu nhỏ đi ra đi vào đọc vang trời hết, đó là họ đang học thuộc lòng kinh Nikāya. Nhìn thấy như vậy con lạy từ ngoài cổng đi vào, về đây trông hoài mà không thấy ai học kinh, treo giải thưởng tưởng cho đi Ấn Độ luôn mà không thấy ai trả bài cho nên cái tuổi trẻ trẻ, nhỏ nhỏ như vậy mà đi tu là phải cố gắng học thuộc lòng căn bản trí 1-2, học thêm các bài sám hối diệt ngã. Thành ra cố gắng học thuộc quyển nghi thứ tu học, nếu học thuộc được cả quyển đó thì ở trong con người mình có thánh vật, có pháp khí, có bảo bối, có một cái linh thiêng ở trong ngũ uẩn này.
Mình thuộc được cái đó là linh thiêng lắm, quý báu lắm còn hơn mình đeo một chục hột xoàn không có nhầm nhò gì hết. Nhất chí không? Đeo một chục hột xoàn coi chừng bị chặt tay, còn có cái thánh trí huệ mình chặt được tham, sân, si, phiền não. Cái chỗ nào cũng có để cho mình tác ý, vậy mà không chịu tác ý, cái nào cũng có cho mình tác ý hết, cho mình quán chiếu hết cho nên tận dụng tuổi còn trẻ, mấy vị sồn sồn cũng vậy, phải cố gắng lên chứ không phải thầy nói mấy người trẻ thôi, còn mình từ từ, không phải vậy mà phải cố gắng học lên, còn mấy bà già cũng cố gắng luôn để kiếm một chút làm tư lương, hành trang trước khi ra đi. Lúc mình nằm trên giường bệnh khỏi cần ai trợ niệm hết, mình nằm đó đọc căn bản trí, mình nằm đó niệm thân vô chủ ngon lành, nằm đó niệm rồi đi, bậc đạo sư đọc lời cuối cùng của Đức Phật, hết hồn không? Phải làm sao lúc mình gần chết cũng vậy, nếu mà có người ở kế bên thì "thầy đọc giùm tôi lời cuối cùng của Đức Phật" hoặc là "sư cô đọc giùm tôi lời dặn cuối của Đức Phật" chứ đừng có rên.
Mình đã được học cái này mà chết lại rên thì uổng lắm, đừng có rên, thời đã đến rồi không có rên, nó hư, nó hoại, nó tan, nó rã rồi có gì nữa đâu mà rên, ngược lại đọc niệm thân vô chủ, đọc ngũ uẩn duyên sanh, đọc lên tất cả những cái trí tuệ đó, đọc lên năm sự kiện cần phải quán sát. Trở lại vấn đề là Thế Tôn nói cho mình biết tại sao có cảm giác, cảm giác có mấy loại, nó vận hành như thế nào, cái làm cho ta đam mê, đau khổ trong này là cái gì, cái tai hại của nó đem lại ra làm sao và cuối cùng là làm sao để mình thoát ra được cảm giác này, ngài trình bày đầy đủ tất cả tối thượng thánh trí, đó là Chánh Đẳng Giác về thọ uẩn.
Chúng sanh mình thì cái nhà của tôi, cái xe của tôi rồi cái chùa cũng của tôi luôn, khổ ơi là khổ, cái thân của tôi, mắt của tôi, mũi của tôi, miệng tôi, lưỡi tôi, cái gì cũng của tôi hết trơn, ai đụng vô của tôi là sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si đủ thứ, cái giống gì cũng gắn cái chữ tôi vô hết. Bây giờ tới cảm giác vui cũng tôi, buồn cũng tôi hoặc là tôi có vui buồn gì đâu, cảm giác sanh khởi lên nhập cuộc với nó, cảm giác an trú cũng nhập cuộc với nó, cảm giác vận hành cũng nhập cuộc với nó mà cảm giác lắng dịu một chút cũng nhập cuộc nó luôn, hoàn toàn không biết cái đó là thọ. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, một Đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy được thọ sanh khỏi, thọ an trú và thọ chấm dứt, thấy được tưởng sanh khởi, tưởng an trú, tưởng chấm dứt, thấy được hành sanh khởi, hành an trú, hành chấm dứt.
Đức Phật trình bày cho mình mà cái này thì rất ớn, khi mình học cái này, mình thực tập, mình quán chiếu rồi mình sẽ phát hiện, mình giải mã ra nhiều đều. Tất cả những sự việc, sự vật, bao nhiêu những chuyện ở trên đời này mình giải mã được hết, mình thực tập quán chiếu cảm thọ là giải mã được hết tại sao người đó vậy, tại sao cái tánh tình họ vậy, tại sao cái cách họ cư xử vậy, tại sao họ gặp chuyện như vậy, giải mã được cái nhân quả, nhân duyên hết.
Thầy Thiện Huệ: Cung thỉnh đại chúng đọc theo con: Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt hết vô minh, hết khát ái, Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Sư Phụ: Vừa rồi là chúng ta lạy bốn thánh trí về ngũ uẩn của bậc đạo sư rút cái tinh túy ở trong đại tạng kinh ra. Nếu chúng ta đọc suốt đời cũng không thấy được bốn cái thánh trí đó đâu cho nên tới tưởng cũng vậy, Đức Phật cũng trình bày cho mình thấy tại sao có hình bóng trong tâm, khi hình bóng sanh khỏi ra nó vận hành như thế nào, có mấy loại hình bóng, Đức Phật phân loại chúng ta thấy khủng khiếp không. Cái tâm mình là một cái mà không có thể nhìn thấy được, nó không hình không tướng mà Đức Phật nhìn ra từng thành phần rồi nó cấu tạo như thế nào, có bao nhiêu loại, nó vận hành ra làm sao, chúng ta thấy là một sự giác ngộ không thể tưởng tượng nổi, đó mới gọi là thiên nhân chi đạo sư, bậc Thế Gian Giải, bậc Chánh Biến Tri, cái sự thấy biết là cùng khắp tất cả thân tâm, thế giới, trong ngoài các pháp, không còn một cái gì không thấy, không còn một cái gì không biết, gọi là Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác.
Nhiều khi chúng ta học mà chúng ta không có thấy, không để ý, không biết đâu. Đầu tiên là Đức Phật nhìn thấy cái thân tâm này gồm năm cái yếu tố này, trong mỗi một cái yếu tố này, trong cái sắc này gồm đất, nước, gió, lửa, nó sanh ra làm sao, nó an trú như thế nào để nó tồn tại, làm sao để nó hoại diệt. Chúng sanh tại vì sao cứ nắm chặt vô trong này? Tại vì không hiểu biết nó rồi yêu thích, khoái nó, tức là vô minh và khát ái đó, nói Tiếng Việt cho dễ hiểu, vì không nhận thức được nó, không biết nó là sắc cũng không biết thành phần, cấu tạo của nó là đất, nước, gió, lửa, càng không biết cái sự vận hành của nó là trong cái vô thường, trong cái khổ, trong cái tật bệnh, càng không biết cái tính chất trống rỗng, trống không của nó. Do không biết, cho nên ảo tưởng nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, chính vì không biết, vì ảo tưởng cho nên khoan khoái, thích thú, say đắm, nắm chặt, chấp thủ trong này, đau khổ trong này.
Chúng ta thấy không, giải mã hết trơn, giải mã hết đầu đuôi, ngọn nguồn, căn nguyên, gốc rễ tất cả, giải mã hết, đó là Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải, Vô Thượng Giác đó, Chánh Đẳng Chánh Giác là vậy đó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Chúng ta thấy người ta lạy Phật rồi lạy theo chứ không biết gì cả, thấy giống như một vị thần ban phước cho mình, ngay ở trong cái con người mình mà mình không thấy, không biết gì hết trơn thì như vậy là vô minh. Từ cái không thấy, không biết cho nên nhận lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, nói lầm, làm lầm, sống lầm, tập trung tâm ý lầm lạc hết trơn, suy xét, nghĩ gì cũng lầm lạc hết trơn, một dọc như vậy, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, định sai, quán xét sai thì đi vào bát tà đạo.
Đức Phật lật ngược cái đó trở về Bát Chánh Đạo, con phải nghĩ vầy mới đúng, con phải thấy như vậy mới đúng, con phải thấy về sắc bằng cái Bát Chánh Đạo thì con mới thoát ra được cái nhìn sai lầm, lầm lạc này, rồi con phải nghĩ cho đúng mới thoát ra cái nghĩ sai, con phải nói cho đúng thì mới thoát ra nói sai, con nói sai con nói là tôi, con nói là của tôi, con nói là hơn thua, không có tôi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Đó là những lời chánh kiến, chánh ngữ của bậc đạo sư khai phá cái tâm mê cho mình, đánh phá cái tâm mê của mình, đột phá cái tâm mê của mình, đập bể cái tâm mê của mình, đánh nát cái tâm mê của mình. Đó là thiền quán nương vô cái thánh trí của Đức Phật, các bậc thánh để mình đập vỡ cái tâm mê, cái tình thức, cái nhìn lầm lạc, sai quấy, đó là phương pháp thoát ra khỏi sắc. Chúng ta thấy tuyệt diệu không? Đức Phật chỉ ra từng cái, tại sao có cảm giác, cảm giác có mấy loại, khi nó vận hành những cái loại đó thì trong đó có cái ở trong cảm giác đó, rồi những cái cảm giác đó đưa con đau khổ như thế nào, bây giờ con muốn không có đau khổ thì con phải làm cho lắng dịu những cái cảm giác, những cảm giác bất thiện đó, ác đó con phải làm lắng dịu xuống, con phát huy cảm giác thiện.
Nếu con muốn còn ở trong vòng luân hồi sanh tử, con muốn hưởng phước nhân thiên thì ta chỉ cho con cái cách đó, nhân đạo, thiên đạo. Nếu con muốn đi thánh đạo thì ta chỉ cho con cách thoát ra tất cả mọi cảm giác, xuất ly cảm thọ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Đức Phật chỉ cho cách đi ra khỏi cảm thọ luôn, chúng ta thấy dễ sợ không? Đó là Chánh Biến Tri, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải là vậy đó, thế gian tức là ngũ uẩn đó, là thế giới đó, giải là thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham, sân, si, thông giải tâm cấu uế, thông giải nẻo luân hồi, thông giải đường tái sanh, thông giải đạo lộ giải thoát, đó là Thế Gian Giải, tối thượng chưa. Mình phải thấy mình vinh hạnh, mình vinh dự, mình hạnh phúc, mình hãnh diện vì mình làm đệ tử của Phật, không có một vị thầy nào vĩ đại, tối thượng ở trong mười ngàn thế giới này như Đức Thế Tôn hết cho nên mình đọc bài Đảnh Lễ Trí Đức Như Lai rồi lạy xuống vì mình hạnh phúc, sung sướng, mình rung động hết trơn, mình rung chấn hết trơn, giống như trong tâm mình là địa chấn vậy đó, hân hoan, chấn động, phấn khích, phấn khởi, trào dâng cảm xúc vì mình có một bậc thầy tối tôn, tối thượng, vô thượng, độc nhất vô nhị, tối thắng, thù thắng, không có một người thứ hai có thể chỉ ra được vậy.
Mới một cái thân thọ thôi mà chúng ta thấy vậy rồi, chúng ta thấy không? Chỉ hết, giải mã hết tất cả tại sao mình buồn, tại sao mình vui, tại sao mình ngơ ngơ, tại sao mình khổ sầu, tại sao mình trầm cảm, giải mã hết trơn. Tu cái này là không có trầm cảm, giải quyết hết tất cả mọi sự trầm cảm đưa cho mình tới cảm thọ của chư thiên, tứ vô lượng tâm, những cái cảm thọ của thánh hiền. Tưởng cũng vậy, tại sao có hình bóng Đức Phật giải thích hết, do mình tiếp xúc, bao nhiêu loại hình bóng, các hình bóng vận hành ở trong đó, khi nó vận hành lên ở trong đó có cái gì, tham, sân, si, dục ái như thế nào, vô minh, bản ngã thế nào. Bây giờ phải thấy được cái vị ngọt của nó vì nếu không thấy là mê cái vị ngọt của cái ám ảnh này là khổ nha con, ngọt mật chết ruồi nha con, nó giết con chết nha con, chết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết bất đắc kỳ tử, không biết tại sao mình chết.
VII. Nhớ ơn
Khi bậc đạo sư ra đi ngài nói "mọi người còn chờ đợi gì ở ta nữa, pháp cần nói ta nói hết rồi", giống như Thế Tôn lúc nhập Niết-bàn:
"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay "Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?"
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Tất cả những pháp về khổ và con đường diệt khổ, về đạo lộ xuất ly cho các thầy ta đã trình bày sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, hoàn thiện buổi đầu, hoàn thiện chặng giữa, hoàn thiện sau cùng. Tất cả có văn chương, có nghĩa lý đầy đủ, các thầy còn trông đợi gì ở ta nữa?
"Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau"
(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III)
Ta không có cất giấu lại bất cứ cái gì hết, tất cả thánh trí tuệ mà ta đã chứng ngộ ta truyền trao lại hết, cũng vậy, bậc đạo sư trước khi đi "các vị còn mong đợi gì ở con nữa, những gì cần nói, cần giảng, cần thiết, con đã chia sẻ hết tất cả rồi, theo đó mà tu tập, hành trì rồi các vị sẽ gặp con ở trong thánh trí, ở trong thánh pháp, thánh đạo, thánh quả". Mình phải thấm thía, mình phải hiểu được cái tâm của Đức Phật, cái tuệ của Đức Phật, lòng đại từ, đại bi của Đức Phật, tình thương bao la của ngài. Mình phải thấy được, cảm nhận được sâu sắc, mình phải cảm thọ được, mình phải chạm được tới trái tim của Đức Phật và mình nghe được nhịp thở của ngài, mình chạm được tới trái tim của bậc đạo sư và mình thấy từng những dòng máu nóng, huyết lệ trong đó đang luân lưu, đang vận hành với một cái trái tim nhiệt huyết truyền lại thánh trí, thánh pháp, thánh đạo cho mình.
Đó là cái lý do tại sao mỗi khi con nhắc về ngài là con sẽ khóc vì không có một người thầy thứ hai trên cuộc đời này. Con thật sự là phước đức, thật sự là phúc lạc cho con, lợi đắc cho con, lợi ích cho con vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ này mà có thể gặp được một bậc chân nhân, bậc chánh kiến như vậy và đem hết cả trái tim, cả tấm lòng nhiệt quyết truyền trao cho mình và vắt hết xương tủy. Cho nên làm sao mỗi khi nhắc về ngài mà con không xúc động được, nhắc về cha mẹ con không có xúc động bằng như vậy, nhắc về tất cả mọi người trên cuộc đời này con không thể xúc động như vậy, nhưng khi nhắc về bậc đạo sư là con quặn lòng, đau nhói là vậy đó, là như vậy. Cũng như nhắc về Đức Phật là mình thấy cả một cái trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ này, địa cầu này đối với ngài cũng như một trái banh thôi, không có là gì trong mắt trí của các ngài, mắt tuệ của các ngài, mắt pháp của các ngài.
Bất cứ nơi nào, ở đâu, đều có thể triển khai thiền quán, có cơ hội là cứ triển khai thiền quán niệm ân đức của Thế Tôn, niệm ân đức của bậc đạo sư, lấy đó làm động lực để cho mình tiến tu bất cứ nơi nào, chỗ nào. Đừng đợi con tổ chức thiền biết ơn lúc đó mới nhớ, bất cứ lúc nào ngồi đó niệm ơn đức, ghi ra, chép ra, viết rồi nói, rồi ghi âm lại, rồi đọc lại, nghe lại rồi tưởng, rồi nhớ, rồi quán và nhắc nhở, khắc ghi cho thật sâu sắc. Khi lòng biết ơn của mình tận cùng rồi thì nó trở thành một cái sức mạnh đẩy mình đi tới dòng pháp đưa người phía trước, mình sẽ mau chóng thể nhập vào dòng trí tuệ để cùng đi với ngài, cùng trở về Trúc Lâm, trở về Linh Thứu, trở về nơi các bậc hiền thánh. Đây đâu phải là nhà của mình đâu, thế gian này đâu phải là nhà của mình đâu, vài bữa chết ở đâu mình cũng không biết, mà chết như thế nào mình cũng không hay, tại sao mình chết mình cũng không biết.
Lúc đó rồi còn cái gì nữa, qua bảy tuần thất rồi qua giỗ vài năm là cuối cùng không còn ai biết mình là ai nữa hết, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trừ ra những người có công đức lớn người ta còn nhắc tên lại, chứ còn bình thường là xong, không ai biết mình là ai nữa, lạnh lẽo, cô đơn, lẽ loi một mình rồi ở trong cái u u minh minh, trong con đường nghiệp quả đó mình đi đâu mình cũng không biết, mình cũng hay, trong sáu nẻo luân hồi này mình đi ngã nào mình cũng không rành, không thấy. Vậy mà không biết lo, không biết sợ, không biết ngày đêm suy tư, nghiền ngẫm, nỗ lực để mình tìm cái con đường thoát ra, đó là một cái sự thiếu xót rất là lớn, một sự lãng quên rất là nghiêm trọng, một sự thiệt thòi rất là cay đắng cho kiếp người này. Mình cứ mã chạy đuổi theo những cái phù du, những cái ảo ảnh, những cái phù vân, những đám sương, đám mây buổi sáng đó.
Mình le lói cuộc đời này một chút xíu thôi rồi mình sẽ tắt, không còn ai biết mình là ai nữa, một nấm xương tàn đó, nhiều khi không muốn để trong nhà mà muốn rải đi lẹ lẹ, đi đổ cho xong, đưa vào lò thiêu lẹ lẹ đi để ra hoài mệt quá, hôi thối, rỉ chảy ra dơ quá, không ai chịu nổi hết, đi đốt lẹ đi đi, cuốn lẹ đi đi, thiêu lẹ đi đi, chôn lẹ đi, vứt lẹ lẹ, nhanh nhanh, mau mau đi. Vô nghĩa, vô nghĩa là cuộc đời này, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, một cuộc đời vô tích sự, nếu mình không có lối thoát, nếu mình không có đường đi, nếu mình không có đạo lộ, nếu mình không thành tựu chánh kiến, nếu mình không thấy được sự thật của bản thân này, của đời sống này, của ý nghĩa thật sự của kiếp sống này là cái gì.
Sanh ra rồi lăn lóc đi tìm dục, tìm ái, sân si, bản ngã, rồi thời gian mình sụm xuống, mình ngã xuống, mình đổ xuống, mình nằm xuống thân tàn ma dại, bệnh hoạn, ỉa chay đái dầm, đau đớn, khổ sở, mình báo đời, ăn hại. Những người xung quanh, những đứa con đứa cháu nó gớm ghiếc, đó là được sống trường thọ, chưa kể là chết oan, chết yểu, chưa kể là tai nạn giao thông rồi mình làm cô hồn vất vơ vất vưởng, không tin mình chết. Mặc dù chết rồi nhưng mà nói "tôi không có chết" tại vì cái tâm chấp thủ quá mạnh, cái xác chết rồi nhưng thọ; tưởng; hành thức không chết, thậm chí nó vất vơ vất vưởng rồi lòng vòng chỗ cái xác đó, không thôi là cái chỗ nó chết đó.
Cho nên người ta mới lập cái miếu thờ ngay chỗ đó, chúng ta thấy ở những con đường chỗ đó tai nạn hoài luôn, người ta lập cái miếu ngay chỗ đó tại vì cái vong linh đó, cái cô hồn đó, các chư vị ở đó người ta không có siêu thoát được. Nhiều lắm, mình không thấy hết đâu, vừa rồi chúng ta biết là ở cái biển chết một ngàn tấn cá thì không biết bao nhiêu con mà nói, mình tưởng tám tỷ người là nhiều lắm nhưng không có là gì so với các loài thủy tộc, nội thủy tộc dưới dưới biển thôi chưa nói các cái loài trong rừng, các loài dưới đất, nhiều lắm, tám tỷ người của mình ở trên hành tinh này là ít lắm, không có là gì hết. Ngoài ra còn những chúng sanh vô hình ở trong loài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, những súc sanh trong địa ngục nhiều không thể tính kể được.
Khi con mới lên núi này cô hiệu trưởng rất là tha thiết cúng cái tượng Phật ở trong chánh điện, cô chuyên môn là đi cúng và đi đến chùa nào cô cũng cúng cho các vong linh, cô có cái duyên với các cái vị đó, cô thương các chúng sanh ở trong đường ngạ quỷ. Cô lên đây thì cô thưa "thưa thầy trên này con thấy là đầy hết cả ngọn núi, con xin quý thầy quy y" thì lúc đó con mới thỉnh các vị tôn đức ở trong thất ra làm lễ quy y và bữa lễ quy y đó khủng khiếp lắm. Cái cửa quy y trong chánh điện này mà con ngồi nổi da gà hết, khoảng mười lăm, mười bảy năm trước, đang bình thường vậy đó, yên lặng như vậy mà tới lúc làm lễ quy y là hụ hụ thổi vô chánh điện, mình ngồi lạnh nổi da gà hết trơn.
Cô nói chúng sanh ở trong loài ngạ quỷ nhiều lắm, thời kỳ chiến sanh những người chết thì mình đâu có thấy, mình chỉ thấy là sao người ta đông vậy, mình tưởng làm người dễ lắm nhưng thật sự rất khó, là thiên nan, vạn nan, tỷ nan. Mình mất cái thân này rồi là không biết mình vô cái thân con gì nên phải trân quý, trân trọng, trân kính từng giây, từng phút, từng ngày, từng giờ mình được tu tập. Đừng có hoang phí cuộc đời mình trong những cái việc thấp hèn, tầm thường, hạ liệt, phàm phu, vô minh, dục, tham, ái, phung phí hoang phí, lãng phí, tổn phí cả một cuộc đời của mình, nhất là cái tuổi trẻ. Mình còn sức khỏe, mình còn minh mẫn, mình còn tỉnh táo, mình còn sắc bén mà không nỗ lực thì mai này già rồi lúc đó mình khổ lắm, khổ dữ lắm.
Cho nên cơ hội trong hai tuần nay là hiếm có không phải trong cuộc đời này mà trong vô thỉ kiếp cho đến nay mình được nghe được thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ như vậy thì hãy cố gắng giữ gìn, đừng có để cho rớt mất. Đức Phật trình bày tại sao mình có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào, cái sự vận hành của nó, vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm thế nào để mình thoát ra khỏi cái suy nghĩ này Đức Phật trình bày đầy đủ hết. Ở trong sự nhận thức này Đức Phật trình bày cho mình đầy đủ hết tại sao mình có sự rõ biết, nhân nào, duyên nào sanh khởi có rõ biết đó, có mấy loại rõ biết, Đức Phật phân loại ra rất rõ, rồi mình bị đắm đuối ở trong cái biết đó như thế nào, thì cái biết đó đưa mình tới tai hại, đau khổ ra làm sao và bằng cách nào con đường nào mình thoát ra khỏi cái thức đó, cái biết đó, đầy đủ hết tất cả đạo lộ như vậy.
Bây giờ trở lại cái vấn đề quan trọng vừa rồi chúng ta nói thì bốn thánh trí ngũ uẩn đó là tổng quát, tổng cương lĩnh của thánh trí tuệ. Như vậy thì chúng ta thấy là do vô minh và khát ái mới sanh khởi ra ngũ uẩn, bây giờ vô minh là không biết về ngũ uẩn và khát ái là yêu thích ngũ uẩn, mình không biết về ngũ uẩn cho nên mình mới yêu thích ngũ uẩn, mình yêu thích ngũ uẩn rồi mình nắm chặt vô trong ngũ uẩn đó, mình không có buông ra, mình cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Bây giờ có một cách nào khác ngoài cái cách để mình biết về ngũ uẩn không? Nếu mà mình không biết ngũ uẩn là vô minh thì giờ mình biết ngũ uẩn đó là mình, chúng ta thấy nó khoa học không? Nó nhân quả không? Nó cụ thể, nó thiết thực, nó thực tế, nó rõ ràng không? Nó đâu có một cái gì mờ ám, mê tín, không có cái gì viễn vong hết.
Bây giờ anh không biết thì anh bị nó gạt, còn anh biết ra được rồi anh hết bị gạt là xong, đơn giản không? Chữ biết và chữ không biết, biết tức là giác, không biết là mê, mà biết như thế nào chứ không phải biết là nghe được mấy ngày là xong rồi "tôi học ngũ uẩn rồi, tôi biết rồi", xong trở ra cũng tham, sân, si, cũng bản ngã nữa thì cái biết đó không là gì hết. Biết mà phải thật biết cho nên mới gọi cái từ là thực chứng, cái biết đó ở trong mình hoài không mất thì mới gọi là thực chứng, cái biết đó khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi nhớ, khi quên, thì cái biết đó gọi là nhất thời. Lúc nào mình nhớ, mình thấy được, mình nghĩ được vậy thì lúc đó mình giác ngộ, mình tỉnh, mà lúc nào mình quên, mình không thấy được vậy, mình không nhớ được vậy, mình không nghĩ được vậy thì lúc đó mình mê.
Cho đến khi nào mà cái thấy biết đó nó nhớ hoài, nó thấy hoài, nó hiểu hoài, nó sống luôn ở trong đó, nó không mất thì lúc đó gọi là chứng ngộ, thể nhập thánh trí. Nhớ cái gì? Nhớ vô minh làm cho mình khổ đau, đó là ngũ uẩn, nó là năm cái thằng ác độc đó nha, thấy rõ nghe không, cái thằng sắc này chết với nó nè, cái thằng thọ này cũng làm cho mình khổ đau, cái thằng tưởng này nó ám ảnh mình một tự ngã nè, cái thằng hành này cứ lầm thầm, nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, xúi giục mình vô dục, vô ái, vô tham, cái thằng nhận thức trong cái tình thức, ở trong cái mê lầm, ở trong cái ngu muội, nhận thức ở trong bóng đêm, thằng mù rờ voi nè. Phải thấy rõ từng thằng như vậy và không để cho nó gạt mình, đầu tiên là biết tên tuổi, kế đó là biết mặt mũi, sau đó là biết tánh tình và cuối cùng là biết được cái bản chất của nó về năm uẩn, nói đơn giản là vậy, tứ chuyển đó.
Biết được tên tuổi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết được mặt mũi là mình nhận diện được ngũ uẩn, thấy cho rõ, đừng có lộn xộn nhìn thọ ra tưởng hoặc là hành, thức, cái nào ra cái nấy rõ ràng. Mình biết được cái tên tuổi xong mình biết được cái mặt mũi, biết được mặt mũi rồi mình về ở chung với nó là mình biết được tánh tình của nó "mày nha mày, mày chết mày với tao nghe không. Hồi đó tới giờ tao không biết mày, bữa nay tao biết được cái gu của mày, cái mánh khóe của mày. Mày láu cá, mày rất là xảo trá, mày gạt tao phải không? Tao biết được rồi nha, tao biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình rồi, mày đừng hòng gạt tao nữa, mày chết với tao"
Mình nhớ vị thánh Tăng bị cái ái dục quấy rối quá nên ngài đứng ở vực thẳm nói lớn "tao giết mày chết", khi ngài chuẩn bị nhảy xuống thì triển khai thiền quán diệt tận ái, chứng quả A-la-hán. Tuyệt diệu không?
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
"Tao giết cho mày chết, đừng có hòng mày gạt tao nữa, từ đây về sau tao thấy được cái bộ mặt của mày, tao biết được cái tánh tình của mày rồi, tao thấy được cái bản chất của mày là tham, sân, si, cái bản chất của mày là vô thường, vô ngã, cái bản chất của mày là lươn lẹo, mánh khóe, cái bản chất của mày là ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm. Mày gạt, mày dụ tao, tao cho mày chết, đao hạ bất lưu tình, nhất đao lưỡng đoạn một dao hai khúc, cẩu đầu đao chờ lệnh trảm, hổ đầu đao chờ lệnh trảm, long đầu đau chờ lệnh trảm". Cái tác ý của mình phải mạnh, cái tuệ lực của mình phải mạnh, mãnh hổ lực, hung hãn lực, sư tử lực, voi chúa lực, uy lực của mình phải mạnh thì mình mới diệt được, không thôi nó dữ dằn lắm.
Con bò này cái sừng của nó bén dữ lắm, biết con bò đực không? Có thấy cái cặp sừng nó chưa? Nó có húc người ta đổ ruột nên phải cưa cái cặp sừng của nó, cái cặp sừng ác độc của nó, trong này trống rỗng mà nhưng mà nó tạo ra ác nghiệp, nó vô thường nhưng mà nó đầy rẫy tham sân, nó bất tịnh nhưng mà nó dục ái là muôn thuở, vĩnh hằng. Như vậy mình mới khổ, cái thứ này là cái thứ phải trừng trị nó, phải thẳng tay với nó, không có được nhẹ tay, nhẹ tay là mình chết, nó giết mình vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp mà bây giờ mình nhẹ nhẹ với nó là mình chết, nó bằm thây mình, nó diệt mình, nó giết mình, nó hại mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó làm cho mình chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chết nhục chết nhã, chết tồi chết bại, chết bờ chết bụi, chết khốn chết nạn, chết đau chết đớn, chết bất đắc kỳ tử, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy xe, nhảy sông, uống thuốc độc, tai nạn giao thông, chết máy bay, đủ thứ kiểu làm cho mình chết.
Bây giờ mình diệt được nó thì mình mới thể nhập được bất tử, còn mình không diệt được nó là mình sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chết hoài, chết dài dài, chết vô lượng, vô số, vô biên kiếp. Cho nên bài hôm nay là nói tận cùng luôn rồi đó, không còn giấu gì nữa hết, tất cả pháp tu hành, cái cách tu của mình, vì thế đầu não của nó là vô minh và khát ái, tức là sự mù lòa về ngũ uẩn và sự ham thích ở trong ngũ uẩn, sự mù lòa về thân và tâm và sự yêu thích ở trong thân tâm này, không thấy được bản chất của nó. Mình biết được tên tuổi nó là ngũ uẩn, là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình biết được mặt mũi của nó là mình nhận diện được nó là thằng nào ra thằng đó, mình biết được tánh tình của nó là nó tham, sân, si, dục ái, khỏi cần nhìn mà chỉ nghe nói thôi là biết hết rồi, chỉ là dục, sân, bản ngã không thôi cho nên nhiều khi ngồi nói với con đủ thứ thì "được rồi, thôi được rồi, biết rồi, nói hoài cũng nhiêu đó thôi", bài ca con cá ca mấy chục ngàn năm rồi, khỏi còn nói biết hết rồi. Tuyệt vời không? Thánh trí là vậy đó, mình thấy hai người cãi lộn thì khỏi cần phân bua, nhìn vô biết rồi, đó là sân bệnh, về trị đi.
Phân bua cái gì? Dành đúng dành sai cái gì? Hai đệ tử lên méc sư phụ người này nói vậy, người kia nói vậy thì sư phụ bảo về đi, mai lên nói chuyện. Sáng mai hai ông canh sáng sớm lên nói với sư phụ người kia sai thế nào, sư phụ ngồi nghe cả buổi kêu về hết đi, sai hết trơn rồi, hễ sân là sai, càng nói càng sai, cự nhau là sai, hơn thua với nhau là sai, cả hai về sám hối hết. Vì thế học cái này giải mã hết tất cả, giải mã tâm mê, giải mã dục ái, giải mã thế giới, giải mã cuộc đời, giải mã trần gian, giải mã hết cái vòng luân hồi sanh tử này, đó là thánh trí ngũ uẩn tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, tối đệ nhất của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, thông giải hết thế gian, thông giải hết cuộc đời, thông giải hết thế giới, thông giải hết tâm thức của tất cả chúng sanh và đặc biệt là thông giải cái tâm của chính mình từ đâu mà mình có khổ, tại sao mình tham, sân, si, thông giải hết.
Quay vô trong đi rồi sẽ thấy, quay ra ngoài là nó bít. Bây giờ muốn thông hay muốn bít? Càng quay ra ngoài là càng không biết gì hết, càng quay trở vào thì giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho nên bậc đạo sư dạy con khi nhập thất là diệt tâm hướng ngoại, chưa bao giờ con có thể ở được bảy ngày ở trong thất hay là mười ngày mà ngài dạy là con ở luôn hai tháng trong thất không ra ngoài. Đó là diệt cái tâm hướng ngoại thì mới ở yên được, ví dụ mình muốn về núi để ở yên được là mình phải diệt cái tâm hướng ngoại, không thôi về tu lâu lâu chạy ra quán café. Phải diệt cái tâm hướng ngoại, tu là chuyên tâm vào tu, chừng nào về thì thiếu gì quán cho nên quan trọng diệt tâm hướng ngoại, chuyên chú vào pháp, thực hành pháp. Khi mình nắm được, mình hiểu được rồi thì quý vị thấy cuộc đời mình tuyệt vời lắm, mình đổi đời thật sự, mình thay đổi vận mạng, giống như mình đầu thai kiếp khác, mình không còn là một con người trước nữa, mình sẽ thay đổi cuộc đời của mình, mình sẽ thay đổi vận mệnh của mình, mình sẽ thay đổi thân tâm của mình, mình sẽ thay đổi cuộc sống của mình và từ đó mình sẽ thay đổi cho cha mẹ của mình, anh chị em, bà con của mình. Mình giúp đỡ mọi người bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, bằng sự thấy biết đúng về chánh pháp, bằng tám đúng của bậc thánh.
Hôm nay là giải mã thế giới, giải mã thân tâm, giải mã đời sống, giải mã khổ đau, giải mã trần gian, giải mã luân hồi.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Biểu Đồ Giải Mã Nhân Sinh Thế Giới
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tóm tắt năm thủ uẩn PAGEREF _Toc213778949 \h 1
II. Sự nguy hại của sắc uẩn PAGEREF _Toc213778950 \h 3
III. Tứ thực PAGEREF _Toc213778951 \h 8
IV. Lý tưởng tu học PAGEREF _Toc213778952 \h 10
V. Thọ uẩn PAGEREF _Toc213778953 \h 12
VI. Trân trọng Thánh Pháp PAGEREF _Toc213778954 \h 14
VII. Nhớ ơn PAGEREF _Toc213778955 \h 19
I. Tóm tắt năm thủ uẩn
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, hôm nay là buổi chia sẻ cuối trong khóa tu cho nên chúng ta có cái biểu đồ này, các vị dựa theo cuốn tóm tắt ngũ uẩn của bậc đạo sư để người ta viết thành cái biểu đồ này. Cái này cũng là trói voi bỏ rọ, ở trong một buổi học không thể nào chia sẻ hết được, vì thời gian chúng ta chỉ được hai tuần thôi thì chúng ta có thể nghe tổng quát. Ở trong Tương Ưng Bộ kinh Thế Tôn nói rằng ta không có tuyên bố ta là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa thấu suốt hoàn toàn về tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm thủ uẩn, ta chỉ tuyên bố ta là bậc giác ngộ tối thượng, bậc thấy biết tận cùng khi nào ta thấu suốt hoàn toàn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của năm uẩn.
"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: 'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Như vậy ngài được gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là bậc giác ngộ sự thật một cách tận cùng, tột cùng, cùng cực, cùng tột, không có một ai có thể ngang hàng, so sánh, thấy biết bằng được ngài ở trong mười ngàn thế giới này, ngài là người duy nhất, là người độc nhất vô nhị, không có người ngang hàng, không có người ngang bằng, không có người ngang tầm, không có người xứng đôi, ngài là người duy nhất ở trong mười ngàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và cái sự giác ngộ tột cùng đó chính là giác ngộ năm uẩn và năm uẩn cũng chính là thân tâm và thế giới.
Và tất cả sự giác ngộ đó có thể tóm thâu trong một cái một cái biểu đồ này, chúng ta thấy bậc đạo sư dùng hàng thập kỷ, ngày đêm xỉu lên xỉu xuống, chết lên chết xuống một mình âm thầm, lặng lẽ ở nơi xứ người ở bên pháp và gặp cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp, rất là đau khổ tột cùng và trong cái sự đau khổ tột cùng đó thì ngài cộng với túc duyên, tuệ căn, phước đức của ngài ở trong quá khứ dẫn ngài vào trong kinh tạng Nikāya và tự mình mài mò, tự mình tìm tòi, tự mình biên chép, tự mình ghi chép, tuyển chọn, biên tập, biên soạn, tự mình làm từ cái định nghĩa nhỏ nhất vì cái khóa tu lần này nhiều người mới cho nên con chưa có tiện để kể, sau này những cái khóa sau và cho những vị đã biết, tu lâu. Từ từ con sẽ kể, kể cho đến chúng ta chết cũng chưa hết câu chuyện về ngài, thì ngài tóm thâu thành quyển là Tóm tắt năm uẩn và từ trong cái quyển tóm tắt năm uẩn đó, không biết người này là ai, không có đề tên, ở trên mạng viết thành cái biểu đồ này.
Cái biểu đồ này chúng ta nhìn thì thật ra không có gì lạ hết, ở đây chỉ diễn tả thân tâm của mình thôi, tất cả những chữ này chỉ có diễn tả thân tâm của mình thôi. Như vậy tất cả chỉ diễn tả thân tâm của mình thôi, cái thân này, cái cảnh này, tất cả món đồ này cho đến ngọn núi này, quả đất này có một chữ là sắc thôi. Chúng ta thấy khủng khiếp thánh trí tuệ của Đức Phật không? Khi chúng ta còn mê, chúng ta còn chưa có được học thánh trí ngũ uẩn thì chúng ta đó nhìn cái chợ Bến Thành nó ra sao? Nhìn quận 1, quận 2, quận 3 nó ra sao? Nhìn ở Hà Nội ra sao? Nhìn ở Đà Nẵng, Nha trang ra sao rồi chúng ta nhìn Thái Lan, nhìn Mỹ, nhìn Úc, nhìn châu Âu, châu Phi ra sao? Nó mênh mông, nó bao la, nó nhiều cái mới, nhiều cái lạ lắm, chúng ta chạy suốt đời để đi tìm những cái mới lạ, chúng ta thấy thiên hình vạn trạng, ba la vạn tượng, ngàn hoa khoe sắc và chúng ta ảo tưởng, mơ tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng và chúng ta nghĩ rằng là nhiều lắm, nhiều lắm, mình đi tới chết cũng không hết nhưng mà Thế Tôn ngồi ngay tại chỗ nói tất cả những cái đó là sắc.
Chúng ta có thấy tuyệt diệu không? Cho nên mấy thầy, mấy cô ở đây con cho đi hoằng pháp mà nhiều khi cũng không muốn đi nữa "tất cả là sắc hết sư phụ ơi, không đi đâu", có nhiều vị bây giờ đang ẩn tu ở trong rừng không đi đâu hết. Tất cả sắc hết, không có đi đâu, ở đây con quán, con thực chứng cái sắc này là vô thường, là khổ, là vô ngã là đủ rồi. Chỉ khi nào có thánh trí tuệ thì mình mới có thể nắm lại trong lòng bàn tay, bậc đạo sư chúng ta có một cái bài pháp trong lòng bàn tay, con cũng có bài pháp trong lòng bàn tay, bắt trước theo kiếm chút đỉnh, cũng bị ngài rầy hoài, tới gần cuối trước khi đi về cũng bị rầy nữa. Mình hạnh phúc khi mình được rầy, như vậy được rầy là ngài còn thương mình ngài mới rầy phải không? Không thèm nhìn, không thèm nói tới nữa là xong rồi đó cho nên bây giờ mình có thể ngồi dưới một gốc cây, ngồi ở trên cái tảng đá, ngồi ở dưới một khóm tre mà mình có thể hiểu thấu được cả địa cầu này cho nên trong mấy cái bài mà về núi con có làm cái bài thế giới này chỉ là một quả banh thôi, là trái banh bằng đất thôi, không có gì hết.
Mình muốn nhìn thấy được như vậy mình phải tác ý thường xuyên, phải nhắc mình thường xuyên bằng cái thánh trí tuệ để mình mới có thể phá được cái tâm mê, nó mê khủng khiếp lắm, nó mê kinh hoàng lắm, nó mê khủng hoảng lắm. Cái sắc này là cái gì nó cũng thấy hấp dẫn, nhìn chiếc xe đắt tiền là thấy thích, thấy mê, nhiều khi bỏ mạng với chiếc xe này, đổ máu với chiếc xe này, vô tù ra khám với chiếc xe này, đánh lộn vì chiếc xe này. Nhiều khi quẹt cái thôi là có chuyện tại vì người ta không biết đó là sắc, cái thân này cũng sắc, cả cái địa cầu này, cả cái hành tinh này, cả cái thế giới này cũng là sắc. Chỉ riêng một chữ này thôi là chúng ta sụp xuống lạy bậc Thế Gian Giải, chữ uẩn là sự tập hợp của sắc, tổ hợp của sắc, một đống. Chữ uẩn này là một đống, là sự nhóm hợp, sự tập hợp, sự tụ tập, tích tập, tích tụ, một đống sắc, một đống đất, nước, gió, lửa thôi, tất cả nó làm bằng đất, nước, gió, lửa hết, cho đến khi nào chúng ta nhìn vô bất cứ con người, sự vật, đồ vật, cảnh vật, trời đất mà chúng ta cũng biết chỉ là đất, nước, gió, lửa chứ không có gì hết trơn thì lúc đó gần tới cửa bất tử rồi.
II. Sự nguy hại của sắc uẩn
Cánh cửa mở vậy mà không chịu bước vô, cứ đi lòng vòng hoài, đi rồi khóc lóc "Phật ơi con khổ quá. Sao đời con khổ quá", cứ than hoài mà mở cửa không chịu vô, Linh Quy Pháp Ấn không có cửa mà không chịu vô trong khi cái cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đóng lại mà đi gõ cửa để chui vào. Trời đất ơi! Đó gọi là "Thiên đường hữu lộ vô nhân đáo, địa ngục vô môn hữu khách tầm" nghĩa là thiên đường có lối không người đến, địa ngục không có cửa lại lắm kẻ đi tìm. Bây giờ mình cứ nhớ hoài, mình cứ gặp bất cứ cái gì đều nói đó là sắc, nó là thứ duyên sanh, là thứ vô thường, cái thứ này là đổ máu, cái thứ này giành giật, cái thứ này là cái thứ đốt nhà, giết người, cái thứ này là huynh đệ tương tàn, cha con giết hại, anh em thảm sát nhau, vợ chồng phân ly là cái thứ sắc ác độc này.
Phải nhắc hoài như vậy, nhìn hoa đẹp cũng nhắc nữa, nhìn cảnh đẹp cũng nhắc nữa, nhìn người đẹp càng nhắc hơn nữa. Trời đất ơi, cái này còn dữ dằn hơn nữa, càng phải nhắc hộ trì căn, phải nhìn cho ra được cái đống sắt cái đống sắt, nó chỉ lòe loẹt, trau chuốt bên ngoài thôi, có một cái lớp mỏng bên ngoài bao lại bên trong, lỡ mà rách ra là nó đổ kinh hoàng lắm. Một ngài phải vô cầu tiêu quán ba lần, một ngài đi ít nhất ba lần vô đó là nhìn cho kỹ, ngửi cho nó thọ, hít cái hơi đó cho sâu vô, nhìn cho kỹ để thọ. Hôm nay là con nói pháp thực dụng, thực hành, không ó nói kinh nhiều, nhìn vô mấy cái cục nhơ nhớp, bẩn thiểu mà nó tồi bại, nó xấu hổ mà nó nhục nhã, nhìn vô đó để thọ "Trời ơi! Trời đất ơi! Sao mà cái thân này đi ra những thứ này như vậy mà tại sao mình ngu mê, mình đam mê, mình si mê? Tại sao mà mình nhìn không thấy như vậy? Hằng ngày l nó ra bao nhiêu lần như vậy, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, tồi bại, bất tịnh, hạ liệt, xú uế".
Mỗi lần vô là cứ nhìn vậy đó, nhiều khi cái thân của chính mình mà ngay cái mùi bốc lên mình cũng ngán luôn đó, phải đi tắm chứ không tắm là chịu không nổi, gặp mấy người nặng mùi thì còn chết nữa, vậy mà cũng mê rồi khổ suốt đời, đã vậy còn đánh ghen ầm ầm, khổ lắm. Cái đống sắc này là nó giết người ta.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... "Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy'." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Chỗ nào có sắc là chỗ đó có sự chết, chỗ nào có sắc là chỗ đó có bệnh hoạn, có già nua, có chết chóc, có sự giết người, là kẻ sát nhân. Vì có thân này nên mình mới có chết, vì có thân này cho nên mình mới có bệnh, vì có thân này cho nên mình có già, vì có thân này cho nên mình có mới tai nạn, hoạn nạn, lo lắng, sợ hãi, bất an. Kêu đứng lên trình pháp thì sợ quá không dám trình pháp, sợ không có pháp chứ pháp mà sợ cái gì, cái đáng sợ thì không sợ, mà cái không đáng sợ lại sợ. Pháp mà sao lại sợ? Chính vì sợ cho nên mãi mãi không có đạt được pháp, không có đi đến chỗ vô sở úy, sợ hoài muôn kiếp ngàn đời mà đánh gục được cái sợ đó thì mình đi đến chỗ vĩnh viễn bình an, không còn sợ hãi nữa.
Phải sợ tham, sân, si, sợ bản ngã, sợ dục ái, sợ vô minh chứ trình pháp mà sợ cái gì. Nói hết cỡ luôn rồi đó, nói hết luôn rồi đó, không còn gì để nói nữa, sợ cái gì mà sợ, thân mình là cả thế giới, Đức Thế Tôn chúng ta tối thượng lắm, ngài nói một cái gì đó thì chân tơ kẻ tóc, một cọng tóc mà ngài chẻ ra là một trăm phần, chín mươi chín phần biết hết mà còn một phần không có rõ thì ngài cũng chưa tuyên bố ngài vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên khi ngài nói về sắc thì ngài nói sắc tập khởi và sắc đoạn diệt, tức là từ đâu có cái sắc này, cái sắc này nó vận hành như thế nào, nó an trú, nó tồn tại ra làm sao, rồi nó biến hoại, nó đi đến diệt tận như thế nào, ngài trình bày hết tất cả đầu đuôi, căn nguyên, nguồn cội, gốc gác sự tập khởi và sanh diệt của nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Không phải ngài nói chung chung cái này đồ giả vậy là tu, không phải như vậy, cho nên mình tu cái kiểu đó thì không đạt được trí huệ. Cái miệng nói nhà này giả, con người này giả nhưng cái tâm làm sao thấy giả? Bây giờ Đức Phật nói từ đâu mà nó sanh ra, cái hấp dẫn của nó là như thế nào, cái tác hại của nó như thế nào và làm sao mình thoát ra được nó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? cho nên do mình ăn vô thì cái sắc này tồn tại, mình không ăn mình chết thì sắc này đoạn diệt, thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt. Ngài nói cho mình biết nguyên nhân sanh khởi ra sắc, thức ăn ở đây có bốn loại thức ăn chứ không phải chỉ có ăn đồ như mình. Mình có biết có một cái đoàn thực là cái thức ăn thô mà mình bóc, mình gắp, mình múc, mình húp, cái đó là đoàn thực thôi, còn ba loại thức ăn khác nữa.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Thức ăn mình đi khất thực ăn hằng ngày đó là đoàn thực, đoàn là tròn tròn, những cái thứ này mình bốc, mình gắp, mình múc này kia và xin thưa đó là ở bên các cái thiền viện, con đi qua tới bên thiền viện trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah bên Thái Lan thì tới bây giờ các thầy Tỳ-kheo vẫn còn ăn bốc. Mình thấy phương người phương Tây rất hay, họ không có học thì thôi, họ học là nghiên cứu tới cùng cái gốc của Đức Phật và họ đi xuất gia. Lúc đó con đi tới trong trung tâm thiền quốc tế, đi cực khổ lắm, xa lắm mới tới, sâu lắm, đi tới đó có hai mươi mấy, ba mươi vị thôi nhưng mà trên hai mươi nước, mỗi vị cao 1m8, 1m9 vậy đó, ốm nhom xanh lè, ngày ăn một bữa, sáng thì đi khất thực, con ôm bình bát đi theo sau đó thì theo không kịp các ngài, đạp sỏi đá dưới chân rất đau nhưng đó là kỉ niệm rất sâu sắc, rất ấn tượng. Khi đi về rồi con bước vô thì có một cụ già quỳ sẵn ở ngay trước cửa chánh điện với một cái thau nước và cái khăn, mỗi một vị về đó thì cái cụ lấy nước đó rửa chân cho các thầy Tỳ-kheo, lấy cái khăn lau chân cho các thầy.
Mình thấy giữ được truyền thống từ thời Đức Phật tới giờ, quý báu lắm, con đứng đó mà nước mắt chảy ra. Như vậy mà mình tu không có xứng đáng thì bị đọa, hình ảnh đó không mãi con không quên tới bây giờ, sau khi được rửa chân và lau cho sạch thì các thầy bước vô chánh điện ngồi tụng kinh rồi bốc tay ăn cơm nhưng mà đương nhiên là không có thánh trí ngũ uẩn như chúng ta. Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Con đã đi hết tám cái thiền viện Myanmar, Sri Lanka và Thái Lan, thiền viện lớn nhất, các hệ thống để con đi ấn chứng lại lời của bậc đạo sư, ngài nói mà con chưa chịu, con phải đi xác nhận thì khi về con mới chịu, con đi tám cái thiền viện lớn nhất, cái trường thiền lớn nhất mà con tìm không thấy thánh trí ngũ uẩn.
Trở lại cái vấn đề cho nên mình học được như vậy mà mình không chịu tu nữa thì thôi, mình khổ lắm, trăm đời vạn kiếp sau mình cũng không gặp chánh pháp nữa, tại cái tội mình gặp chánh pháp mà mình khinh thường, mình không có cung kính. Mình không có nắm bắt cơ hội này, mình để vuột mất thì giống như con rùa mù để cho cái bọng cây trôi qua cho nên phải sống chết với cái pháp này. Hiện tại giờ mình thấy rõ ngũ uẩn không ạ? Thấy rõ tham, sân, si không? Thấy rõ những thúc giục, những cái dục, tham, ái hành hạ mình không? Thấy rõ cái sân nó thiêu đốt mình không? Thấy rõ cái tâm si mê, vô minh, nó hôn ám, nó bao phủ hết đời sống của mình không? Đó là công năng của thánh trí ngũ uẩn cho nên tại sao sáng nay chúng ta rất là xúc cảm khi nhắc về bậc đạo sư, thật ra con kiềm lại rất nhiều vì có rất nhiều người mới, con không có để cho các vị mới không có biết nhiều về ngài chứ nếu con bung ra thì cũng lớn lắm, cái ân đức của ngài là vô cùng vô tận, không có gì so sánh nổi trên thế gian này, trên thế giới này hết, trên hành tinh này hết, sau Đức Phật hai ngàn năm mới có một người cho nên con dùng cái từ thiên cổ nhất nhân là ngàn năm có một.
Thế mà chúng ta gặp được, hiểu được và thực hành như vậy mà chúng ta không có chịu cố gắng nỗ lực, không có trân quý, trân trọng, trân kính thì chúng ta có tội với ngài rất lớn. Cho nên đừng nghĩ rằng có đời sau để mình gặp được cái pháp này, không có đâu, mình mất đời này rồi mình sanh ra đời sau không gặp được nữa đâu, trừ là mình Nhập Lưu, khó lắm, thiên nan, vạn nan, tỷ nan chứ không phải là khó trăm, khó ngàn đâu mà khó tỷ. Có các vị ngồi đây là đi hết bao nhiêu cái chùa rồi, đọc bao nhiêu quyển sách rồi chứ không phải là không có đâu, có bao giờ mình nhìn thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng, minh bạch, tường tận, như sự hướng dẫn của bậc đạo sư mà chúng ta đang được học đây cho nên chúng ta trân quý.
Trở lại thức ăn là ngoài cái thức ăn mà mình bốc ra thì còn thức ăn tiếp xúc, không nhìn là chịu không nổi, không nghe ngóng là chịu không nổi, ngửi nếm rồi xúc chạm. Cho nên chúng ta thấy lúc xảy ra dịch bệnh bức xúc nhiều không? Tại nó không được xúc cho nên nó bức xúc, thấy chưa? Do không được xúc tại vì cái xúc thực này không có, xúc không được thì bức xúc, bực bội, rồi bắt đầu ở nhà xảy nhiều cái chuyện bạo hành ở trong gia đình, trầm cảm này nọ kia, cái thời điểm đó rất khủng khiếp, khủng hoảng, kinh khủng mà những thời điểm đó là chúng ta tu an lạc, chúng ta tăng thượng trong thánh trí. Tuyệt diệu không?
Chính cái thời điểm đó là cái thời điểm mà đạo tràng Nikāya là những cái vị tu học tăng thượng tại vì chứng kiến sự thật xung quanh mình, ngay trong bản thân mình, ngay trong gia đình mình thì vô cái pháp này nữa, nhất nhật thiên lý ngày đi ngàn dặm như tuấn mã, bỏ lại sau lưng những con ngựa yếu hèn. Lúc đó phong tỏa, bế quan tỏa cảng, nhà ai ở chỗ nấy thì cái lúc đó một ngày con thăng tòa liên, hai thời mỗi ngày có khi là nhiều hơn nữa, ít nhất cũng là một thời, như vậy thì sau cái dịch đó các vị đã về đây khóc và cảm ơn rất nhiều "con nhờ lúc đó có cái pháp, nếu không có lúc đó con sống không nổi, con hoảng loạn hết, con thiếu đều muốn điên luôn, bức xúc, đau khổ" vì trong gia đình chứng kiến hai ba người chết, có khi bốn năm người chết, trong mấy ngày thôi mà năm người ra đi, kinh hoàng không, khủng hoảng không, đó là mình chưa có chiến tranh đó, bây giờ các nước đang chiến tranh đó là khủng khiếp lắm.
Cho nên mình đừng có dễ vui với cái thân người, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng có nghĩ vậy, đừng có nghĩ rằng có ngày mai, đừng bao giờ nghĩ có ngày mai. Bậc đạo sư dạy cho con là "không có tu nhiều đâu thầy, tu ngay cái khoảnh khắc ngay bây giờ đây thôi, thầy tu được ngay bây giờ đây thôi, chỉ bao nhiêu đó thôi chứ không có tu nhiều". Tu ngay cái thọ ngay từ giờ, tu ngay chỗ đó thôi mà được chỗ đó là coi như vĩnh viễn, mãi mãi, ngay bây giờ, hiện giờ nè, cho nên "ngày mai con tu", "tuần sau con tu, để con về nhà sắp xếp xong công chuyện rồi con lên" là con ngồi đó nghe, con "dạ mô Phật", không nói gì rồi đi tuốt luôn, không có ngày trở lại cho nên đừng lại con nói "dạ để con sắp xếp năm sau con lên", đừng nói với con cái đó nha, con ngồi vậy thôi chứ con không có trả lời đâu. Không có ngày mai thì làm gì có chuyện "để con về sắp xếp gia đình ổn hết rồi con lên con tu với thầy", tích tắc là chết liền ngay tại chỗ.
Chiều nay có cô Phật tử lên đây để ngày mai cúng trai Tăng cho chồng cô, hai vợ chồng ngày xưa là lúc đầu tiên con về trên núi này đã cúng dường tám mẫu đất, lúc đầu tiên còn cái am tranh và chú này là kỹ sư ba mươi mấy gần bốn chục năm ở bên Mỹ, ngay thung lũng silicon ở bắc Cali. Chú mới sáu mươi mấy tuổi thôi, đang khỏe mạnh bình thường vậy bất tình lình chết, mà cái đặc biệt, rất đặc biệt là chết trùng ngày, trùng giờ với bậc đạo sư bậc. Chú này là người rất đức hạnh, rất hiền thiện, con biết mấy chục năm từ cái ngày biết cho đến cái ngày chú viên mãn là cái lòng cung kính chú đối với Tam Bảo là y như vậy càng nhiều, lớn hơn chứ không có thay đổi, cho nên con nói chắc là đi theo làm thị giả bậc đạo sư lên luôn vì ngài có lên đây giảng pháp nè nên hưởng xái, hưởng cái công đức của ngài thành ra chết trùng ngày, trúng cái giờ đó luôn cho nên vào ngày lễ của bậc đạo sư là được ké theo.
III. Tứ thực
Đó là phước lành của chú, nhiều khi trong cái rủi có cái may, rất là hiếm chứ nếu không trùng ngày thì làm gì được mấy chục thầy cô đi tụng, đi đưa, hôm đó mấy chục vị ở trên núi mình xuống. Cho nên trở lại vấn đề con nói cái vô thường thì chúng ta phải nhớ và không bao giờ quên, có thể chết bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào cũng đều có thể chết, phải nhớ cái đó, bất cứ lúc nào 24/24. Cứ mỗi khi mình đi làm xa thì phải nhớ rằng có thể mình không trở về, phải nhớ kỹ vậy, phải nhớ cái điều đó, nhớ lại cái dịch bệnh để làm đề tài thiền quán. Tư niệm là nghĩ nhớ, niệm là nhớ, tư là nghĩ, mình nhớ, mình nghĩ, mình suy nghĩ, nhớ nghĩ, đó cũng là thức ăn, tư duy suy nghĩ rồi khoan khoái, thích thú trong đó, đó cũng là thức ăn cho cái tâm cái tâm vô minh, cái tâm hôn mê, cứ nghĩ nhớ hoài, ngồi cứ nhớ cái này, nhớ cái kia, nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia mà không có chịu an tịnh, lắng dịu. thức ăn rồi
Thức thực là sự nhận thức, sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến cảm giác vui thích, muốn nhìn, muốn thấy, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn tiếp xúc. Cũng như đồ người ta ghi bản không được rờ thì cũng ráng chạm vô để rớt bể cái chén thời Càng Long hay là đồ cổ thời vua Minh Mạng, đó là xúc thực cũng là thức thực, muốn thấy, muốn nghe, muốn gặp cho nên mình đang ngồi thiền tự nhiên có con chó sủa là mình quay qua nhìn liền con sủa ai, đó là thức thực, xúc thực. Hoặc là đang ngồi thiền tự nhiên có người ho, hay là có tiếng điện thoại vang lên thì quay qua nhìn xem ai ho, tiếng điện thoại của ai vậy, đó là thức thực. Mình nhìn để làm gì? Chuyện của người ta thì kệ người ta, mình lo thiền đi, đó là tâm hướng ngoại, cứ lo nhìn điện thoại của ai, của bà nào vậy, con chó đang sủa ai vậy, hoặc là lỡ rớt bể ly nước sau lưng cũng ráng quay lại nhìn xem ai làm rớt.
Nó giải mã hết tất cả những cái sự sinh hoạt, những cử chỉ, tất cả cái sự thi vi, vận hành, động tác trong đời sống của mình là giải mã hết. Nếu mình bớt được mấy cái này thì đỡ khổ lắm, bớt cái này đỡ khổ lắm nhưng tại sao mà mấy cái này nó có hoài, nó đòi hỏi hoài, đòi ăn hoài, sáng mở mắt ăn, trưa ăn, tối ăn, nửa đêm cũng ăn rồi xong cái bụng nước lèo phải đi tìm thuốc giảm cân. Ăn cho nhiều nhưng muốn làm sao uống cái thuốc này vô cho đừng có mập, chế được thuốc này là bán đắt lắm, bán mắc nhiêu cũng mua hết, muốn ăn cho ngon mà đừng có cho mập, tham đủ thứ tham, chúng ta có thấy rõ không?
Bây giờ do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, nó khoái, nó thích, mà nó khoái, nó thích cho nên nó cứ chạy theo bốn cái này hoài, còn có ái là còn đi tìm bốn cái này. Cho nên tu không lo tu, tối ngày cứ xuống dưới bếp hoài, có chuyện thì cũng được đi, không có chuyện cũng chạy xuống kiếm làm món này, làm món kia, làm món nọ, đừng bưng cho con nhiều, bưng nhiều bị rầy à, đừng tưởng bưng đồ con nhiều là con khen đâu, không. Cái này đúng ra cũng phải có sinh hoạt, người mà lo cho đại chúng ăn, lo cho quý thầy cô không phải chỉ biết lo cho cái món ngon vì món ngon là đây ái, dục, tham, chúng ta phải sức khỏe dưỡng sinh, thực dưỡng, chứ bây giờ trời đang lạnh mà đem rau má nước dừa ướp lạnh ở trong tủ lạnh lúc bảy giờ tối bưng lên cho con uống, nam mô A-di-đà Phật, con nhìn con thấy trời đất ơi.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cái này không biết là đang thương con hay là đang xử con đây, mà làm hoài, nhiều khi chú thị giả vô nói mà cũng không chịu nữa, "làm cái này, bưng cái này cho sư phụ" cho nên khổ lắm, không có hiểu mà thương là khổ lắm. Không phải mình con đâu mà tất cả đại chúng cũng vậy nữa, mình làm thức ăn là rất quan trọng, rồi cắm hoa cũng vậy, ý con muốn là làm chưng hoa thiền vị chứ không phải cắm vào giống như cải lương mà con nhắc không biết bao nhiêu lần rồi. Cho nên nhiều khi là nhắc hoài rồi cũng khó chịu, nhiều khi không có muốn nhắc nữa, không muốn nhìn luôn, cứ làm theo cái tâm ái, cái tâm thích của mình mà nói ra thì giận, khổ vậy đó. Cái ăn bây giờ bệnh ung thư rất là nhiều, nước mình mỗi một năm chết vì ung thư rất là nhiều, đó là nói mất mạng còn chưa nói là bệnh mới, phần lớn là do cái ăn, đoàn thực này ghê lắm cho nên mình nấu đồ ăn thì đương nhiên cũng phải cần một chút vừa miệng, nó phù hợp, nó hài hòa nhưng mà phải chú trọng vào cái sức khỏe chứ không phải chỉ chú trọng vào cái hương, cái vị của nó.
IV. Lý tưởng tu học
Con nhắc hoài từ cái ngày lên núi tới giờ khai sơn mười tám năm nay, năm giờ sáng của trời mùa đông run cầm cập lại đi đã nước trà đá, trong khi mười hai giờ trưa lại đi đãi nước trà, mà nước sôi nóng hỏi ra đem ra đãi, con ngồi mà con cứ nhắc hoài, độc đáo thật, rất là độc đáo. Nhiều khi mình ngồi giống như á khẩu, giống thằng câm nhai trúng trái ớt cay quá mà không biết nói sao được, rồi thôi về thất đóng cửa lại, mình giờ cũng phế nhân rồi, hàng phế phẩm, phế liệu rồi. Cho nên mình phải để tâm và phải để ý, phải chánh niệm tỉnh giác, phải quán sát, quán chiếu cái đó lợi hay hại, thế nào là đúng thời, phải để tâm vào những cái đó.
Cái ái này là cái khoái, mình nói tiếng Việt dễ hiểu lắm, ái là khoái, là thích cho nên nó đi tìm bốn loại thức ăn này hoài, người nào tham ăn nhiều, tối ngày cứ đồ ăn hoài thì người này tu không có được, không có thoát được, không có giải bao giờ giải thoát được. Ngày ăn một bữa, mình xấu hổ vì mình làm công việc nhiều này nọ kia, còn ăn thêm một hai cử nữa là đã thấy nhục nhã rồi cho nên không có để cái này nhiều quá được, bớt tiếp xúc, bớt nhớ nghĩ. Bây giờ tất cả sách vở, kiến thức của thế gian này đọc cho tới chết đi sống lại, trăm đời ngàn kiếp đọc cũng không hết mà nói toàn tham, sân, si với bản ngã, dục ái, vô minh cho nên không cần thức thực. Mình chỉ cần tìm ra cái thấy biết của bậc thánh thôi, chỉ có cái thấy biết đó mới đưa mình đi ra khỏi khổ, còn tất cả cái kiến thức của thế gian đều không sử dụng được, chính vì vậy làng tu Nikāya mà tâm nguyện con là những chú trẻ nhỏ ở trong đó được các vị xuất gia từng làm cô giáo ở ngoài, thầy giáo ở ngoài hướng dẫn từ nhỏ, không có học kiến thức ở ngoài đời, dạy cho biết chữ, biết nghĩa, biết đạo đức, biết lễ giáo rồi học toàn bộ kinh Nikāya thôi.
Đó là thế hệ truyền thừa, thừa kế ở trong dòng pháp Nikāya, hoan hỉ không? Không cần học kiến thức gì ngoài đời hết, tám tỷ người học rồi mà bây giờ được có chừng tám người mà học cái này thôi thì tám người này có phải kim cương không? Có phải hột xoàn không? Cần gì phải giống người ta, cứ thấy người ta sao là cứ muốn để mình thua người ta, mình phải giống người ta, mình phải bằng người ta, mình phải hơn người ta để làm cái gì? Giống người ta rồi thì cũng bộ xương, cũng nấm mồ, cũng hủ cốt, đừng giống người ta để mình đạt được cái gọi là siêu phàm, cái tuệ giác, cái thánh tuệ cho nên sau này có duyên làng tu, thành lập được thì vô trong đó là coi như xong rồi. Mình thấy người ta quay mấy cái bản, mấy cái làng ở trên cao, mấy người dân tộc đồng bào ở trên đó không có tiếp xúc với ngoài thế gian, thậm chí bây giờ có một số người đem con vô rừng, vô núi, người ta dạy trong đó, không cho đi học mà bây giờ có cũng khá khá rồi.
Sau này là cái này sẽ nhiều vì trong kinh Đức Phật nói trước hết rồi, ác pháp sanh khởi rất cường thịnh, nó xâm chiếm, áp đảo hết toàn bộ thế giới này cho nên những người hiền thiện, nhân đức sẽ ẩn dật, ẩn cư. Dạ con kính chào các bậc ẩn sĩ, đây là ẩn sĩ, ngồi đây nhiều thành phần trong xã hội lắm, tối thiểu cũng được ẩn sĩ hai tuần lễ, còn tương lai sẽ có những ẩn sĩ dài hơn, lâu hơn, con cứ chờ đợi các ẩn sĩ đó về. Không cần giống người ta, vì cái tâm con từ hồi nhỏ tới lớn, khi con đi vào con tu thì con tâm sự với các chư tôn và chư hiền thật sự ít người ưa con lắm, tại vì tối ngày con ở trong chùa đó mà mấy người kia hỏi:
Ông có hay chuyện gì không?
Dạ không có hay.
Người ta nói ông này nọ kia.
Dạ con bận lắm, không có thời giờ học kinh, ai nói gì nói, kệ người ta, giờ con bận lắm.
Ai khen, ai chê, ai chửi, ai khen, ai gì thì con cũng chỉ "Ờ thế à", con bận đọc Nikāya, đang đọc Tương Ưng Khổ, khổ thánh trí, không có thời giờ rảnh. Nhờ vậy mà mình đi tu rồi mình chọn cái pháp môn, rồi mình đi con đường không giống ai hết, tại không cần giống ai hết, giống Phật thôi, không cần giống ai. Cho nên cái thấy đúng ở trong cái thánh pháp thì con xin thưa là cô độc và phải có một sức mạnh tinh thần lắm, phải dám mạnh mẽ vượt qua, phải có một cái tâm sắc đá, cái đầu thép không sợ gì hết, chết cũng không sợ, chỉ sợ luân hồi sanh tử khổ đau thôi, tất cả khác không đáng sợ. Chỉ sợ còn tham, sân, si thôi, chỉ sợ còn dục ái thôi, chỉ sợ còn bản ngã, còn vô minh thôi, chứ có gì đâu mà sợ, trình pháp mà sợ cái gì. Pháp mà sợ thì làm sao thành tựu pháp? Không sợ.
V. Thọ uẩn
Cái cảm thọ này đặc biệt lắm tại vì cái tưởng, cái hình bóng trong tâm mình nó qua rồi mình quên mất tiêu. Những cái hình bóng, cái món đồ này, cái cảnh vật kia, con người nọ rồi cũng đi qua, những cái suy nghĩ có khi nãy mình nghĩ cái gì mà bây giờ mình muốn nhớ lại nhớ không được, nhất là bị mấy mũi nữa, trước khi chích đã như vậy rồi mà bây giờ chích còn nặng thêm nữa thì nghĩ gì một hồi quên mất, cái nhận thức cũng đổi thay lắm nhưng mà cái thọ này, có những cảm giác suốt đời mình không bao giờ quên. Cái câu đó là cái câu tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, trong cuộc đời mình có những điều, có những sự việc, có những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ mà suốt đời này không bao giờ mình quên, nhất là những cảm thọ tu học mà khóc ở tại Linh Quy Pháp Ấn, gọi là đệ nhất khóc.
Cô lên Linh Quy Pháp Ấn tu hả? Có khóc chưa?
Dạ khóc rồi.
Đó là đặc sản của rừng thiền nhưng mà người ta không biết đâu, không phải dễ khóc đâu, chỉ có thánh trí tuệ mới đánh vô các cái chấp thủ làm cho rung chuyển, làm cho kinh chấn, chấn động, địa chấn ở trong tâm mới có những cái dòng cảm thọ như vậy. Hồi đó giờ mình nghe pháp ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm, ba chục năm cũng đơ đơ, trơ trơ, nó không có ép phê, nó không có đủ sức để đánh phá cái vô minh, chấp ngã này, đánh trúng vô là rung rinh, rung động. Hồi sáng con nói triển khai từ lực rúng đất trời lúc ngài ra đi và cái thọ của các bậc thành tựu là sức mạnh của nó khủng hiếp lắm. Hồi đó khi bậc đạo sư ở trên đây trong khóa tu là quý vị không có tưởng tượng nổi đâu, bình thường ở dưới ngài nằm bệnh, ngài mệt, nhưng khi ngài lên pháp tòa là mặt mài hồng hào, trang nghiêm, ngài nói những cái câu ở dưới nghe nổi da gà, chấn động hết rồi khóc. Nếu người bình thường không biết vô tưởng đâu có cái chuyện gì, cái lực khủng khiếp lắm, con giờ chừng phân nửa của ngài thôi mà quý vị khóc vậy rồi.
Lúc sáng các vị có trình pháp cái thọ lúc đầu rất là ương ngạnh, nó cứng cỏi lắm, nó kiêu căng lắm, nó ta đây dữ lắm nhưng mà thấm vô cái này, nó dập vô từ từ nó ngấm, nó thấm vô, nó mềm, nó nhũng ra rồi bắt đầu nó rã ra, nó rệu ra, bắt đầu nó tiêu dung, nó hòa tan, nó tan chảy cho nên khi cái thọ mềm ra như vậy thì quý vị thấy nó dễ chạm tới. Vừa nói tới từ vô lượng tâm "trong ta là tình thương, tình thương có trong ta, từ tâm có trong ta" là bắt đầu nó chảy ra, thấy chưa, cái đó là hiệu quả, là tăng thượng đó, là cái cảm thọ từ một người trơ trơ, đơ đơ lúc mới vô, kêu mình tập tâm từ thì hỏi "tôi không có tâm từ hay sao mà kêu tui tu tâm từ" nhưng tới ngày hôm nay mình tu là vừa chạm nhẹ thế thôi là tuôn chảy.
Đó là hiệu quả, làm cho cái thọ mềm ra, trong tưởng; hành; thức là cái thọ này là cái cầu nối giữa thân và tâm, cái này nó độc thủ là vậy đó. Mình tưởng trong đầu mình cái gì đâu có ai biết, chỉ có chư thiên mới biết, các vị có thần thông mới biết, mình suy nghĩ cái gì thì đâu ai biết, chỉ có bậc tha tâm thông mới biết, chư thiên, chư thần mới biết phải không nhưng mà mình cảm thọ người ta biết không? Mình vui người ta nhìn mặt mình có biết không? Cái thọ này đặc biệt là nó gắn liền thân và tâm, nó độc đáo như vậy đó, ở trong bốn uẩn của tâm thì cái thọ uẩn này nó độc thủ lắm, nó gạch nối giữa thân và tâm cho nên khi nó sanh khởi cái gì là biểu hiện ra cái sắc.
Cái tưởng nó vận hành, cái hành nó suy nghĩ và cái thức nó cũng đi theo trong đó, nó sẽ chạy vòng vòng theo cái cảm thọ. Cái thọ này là chủ lực cho nên khi nó khởi lên thì những cái uẩn còn lại chạy lòng vòng theo nó, nó là xếp sòng, là tổng chỉ huy, là thống soát, là đại tướng quân dẫn đường cho tâm. Cái độc thủ, độc đáo mà tối thượng của Đức Phật là mỗi cái gì ngài nói ra thì ngài đều nói căn nguyên, nguồn cội, nguồn cơn tại sao mày sanh ra, mày vận hành như thế nào, làm sao tao cho mày chết, mày chết như thế nào, ngài trình bày đầy đủ hết, đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Tại sao có cảm xúc, khi cảm xúc vận hành có mấy loại, nó vận hành như thế nào và làm sao để cho tất cả cảm xúc này an tịnh, lắng dịu, làm sao để thoát ra tất cả cảm xúc này thì có một đạo lộ, có một con đường, có một phương pháp, có một cách thức, có một cái sự tuần tự. Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Đó là Chánh Đẳng Chánh Giác phương diện thứ hai của thọ uẩn cho nên khi con nghe bậc đạo sư trình bày cái này là con sụp xuống con lạy ở trong thất, nước mắt đầm đìa hết, sốc toàn tập. Mình học hai mươi tám năm trời, mình ra mình đứng lớp dạy cả ngàn ngàn Tăng Ni mà bây giờ đánh một cái là tất cả mấy cái mình học không xài được nữa. Bây giờ mình học lại A, B, C, D từ đầu thì làm sao không rúng rộng, làm sao không chấn động?
Tất cả cái đã học kể qua một bên, thầy học lại từ đầu.
Dạ mô Phật sư phụ, dạ con nghe lời.
Ngài dạy cho con quý vị không chịu nổi đâu, không có ai chịu nổi hết, bây giờ mấy chú mấy về đây, cả những người ở gần bên con thật sự nhiều khi con chia sẻ chừng có hai ba phần thôi, ngài đánh con cũng phải chừng tám chín phần, ngài dạy cho con từng cái ăn, cái đi, cái nói chuyện từng chút như mẹ dạy con, như một người chị, như một người mẹ, như một người thầy, như một bậc đại đạo suốt ba năm. Ba năm đó thì con suy nghĩ là nó vượt qua ba ngàn năm, nếu mà một người tu học bình thường học ba ngàn năm cũng chưa được, ba chục ngàn năm cũng chưa được vì đâu có gặp chánh kiến chỉ dẫn mình đâu mà được, ba tỷ năm cũng không được nữa cho nên cái quý báu là mình gặp được bậc thấy đúng chánh kiến, nghe diệu pháp, như lý tác ý và mình thưa hỏi các nghi vấn để ngài chỉ dẫn đánh phá những cái chấp thủ ngu mê, vô minh ở trong tâm của mình.
Cái đó là những cái nhân duyên để sanh ra chánh kiến nhưng bây giờ con thấy đa số nhiều khi gặp các bậc hiền trí chỉ lỗi mình là mình sân si, mình khó chịu thành ra không học được. Con nghĩ chắc không có đâu, không biết rằng sau con còn có người nào tiếp nổi cái như lai thần chưởng này không vì khó lắm, vì muốn học cái này là phải dập cái bản ngã, phải tu diệt ngã dữ lắm và phải tu cái hạnh tâm hiền, mà cái tâm hiền phải được huân tập, huấn luyện từ kiếp trước chứ không phải mới đời này mà đủ đâu. Nếu người mới đời này thì phải dốc lực dữ lắm cho nên thật sự á là trân quý khi mình học được chánh pháp, phải tác ý hoài, cứ rảnh là tác ý, mình siêng năng nghe pháp, quý vị sau khi xuống núi tối thiểu mỗi ngày phải có một thời pháp, tối thiểu một thời thiền quán, một thời thiền chỉ mới nuôi được nuôi được cái thấy đúng này, cái con đường của mình.
VI. Trân trọng Thánh Pháp
Tất cả mấy cái khác không quan trọng, không có gì quan trọng, chỉ có pháp mới quan trọng. Cho nên những người trẻ học pháp có lợi thế rất nhiều, cố gắng lên, mình tận dụng tuổi trẻ của mình, cái sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, hôm qua lúc thiền quán vấn đề dục thì chúng ta nhớ trong cái bài niệm Ước Muốn Sắc Bén, đó là chữ Đức Phật dùng, ước muốn không chưa đủ, ước muốn tăng thượng giới đức chưa đủ mà phải là ước muốn sắc bén, chúng ta thấy ngôn ngữ học của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sử dụng không. Ước muốn không chưa đủ, ước muốn cho giới đức của mình, cái đạo đức của mình, cái đạo hạnh của mình, cái đức hạnh của mình lên cao còn chưa đủ, mà phải là ước muốn sắc bén.
Như vậy tuổi trẻ của mình, sức khỏe của mình, cái sự bén nhạy của mình, cái trí não của mình trong thời gian thanh xuân này là mình mà bỏ hoang phí là uổng lắm, những người trẻ trẻ, nhỏ nhỏ vầy mà đi tu là tuyệt vời lắm, hoan nghênh lớn lên. Khi con qua bên Myanmar là con đi đến lạy các vị tam tạng pháp sư, cúng dường cho họ, trong mùa dịch ở đây mình cũng gửi cúng dường, khi bước vào chùa thì có một hình ảnh rất ấn tượng không bao giờ quên, đó là hình ảnh các chú tiểu nhỏ đi ra đi vào đọc vang trời hết, đó là họ đang học thuộc lòng kinh Nikāya. Nhìn thấy như vậy con lạy từ ngoài cổng đi vào, về đây trông hoài mà không thấy ai học kinh, treo giải thưởng tưởng cho đi Ấn Độ luôn mà không thấy ai trả bài cho nên cái tuổi trẻ trẻ, nhỏ nhỏ như vậy mà đi tu là phải cố gắng học thuộc lòng căn bản trí 1-2, học thêm các bài sám hối diệt ngã. Thành ra cố gắng học thuộc quyển nghi thứ tu học, nếu học thuộc được cả quyển đó thì ở trong con người mình có thánh vật, có pháp khí, có bảo bối, có một cái linh thiêng ở trong ngũ uẩn này.
Mình thuộc được cái đó là linh thiêng lắm, quý báu lắm còn hơn mình đeo một chục hột xoàn không có nhầm nhò gì hết. Nhất chí không? Đeo một chục hột xoàn coi chừng bị chặt tay, còn có cái thánh trí huệ mình chặt được tham, sân, si, phiền não. Cái chỗ nào cũng có để cho mình tác ý, vậy mà không chịu tác ý, cái nào cũng có cho mình tác ý hết, cho mình quán chiếu hết cho nên tận dụng tuổi còn trẻ, mấy vị sồn sồn cũng vậy, phải cố gắng lên chứ không phải thầy nói mấy người trẻ thôi, còn mình từ từ, không phải vậy mà phải cố gắng học lên, còn mấy bà già cũng cố gắng luôn để kiếm một chút làm tư lương, hành trang trước khi ra đi. Lúc mình nằm trên giường bệnh khỏi cần ai trợ niệm hết, mình nằm đó đọc căn bản trí, mình nằm đó niệm thân vô chủ ngon lành, nằm đó niệm rồi đi, bậc đạo sư đọc lời cuối cùng của Đức Phật, hết hồn không? Phải làm sao lúc mình gần chết cũng vậy, nếu mà có người ở kế bên thì "thầy đọc giùm tôi lời cuối cùng của Đức Phật" hoặc là "sư cô đọc giùm tôi lời dặn cuối của Đức Phật" chứ đừng có rên.
Mình đã được học cái này mà chết lại rên thì uổng lắm, đừng có rên, thời đã đến rồi không có rên, nó hư, nó hoại, nó tan, nó rã rồi có gì nữa đâu mà rên, ngược lại đọc niệm thân vô chủ, đọc ngũ uẩn duyên sanh, đọc lên tất cả những cái trí tuệ đó, đọc lên năm sự kiện cần phải quán sát. Trở lại vấn đề là Thế Tôn nói cho mình biết tại sao có cảm giác, cảm giác có mấy loại, nó vận hành như thế nào, cái làm cho ta đam mê, đau khổ trong này là cái gì, cái tai hại của nó đem lại ra làm sao và cuối cùng là làm sao để mình thoát ra được cảm giác này, ngài trình bày đầy đủ tất cả tối thượng thánh trí, đó là Chánh Đẳng Giác về thọ uẩn.
Chúng sanh mình thì cái nhà của tôi, cái xe của tôi rồi cái chùa cũng của tôi luôn, khổ ơi là khổ, cái thân của tôi, mắt của tôi, mũi của tôi, miệng tôi, lưỡi tôi, cái gì cũng của tôi hết trơn, ai đụng vô của tôi là sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si đủ thứ, cái giống gì cũng gắn cái chữ tôi vô hết. Bây giờ tới cảm giác vui cũng tôi, buồn cũng tôi hoặc là tôi có vui buồn gì đâu, cảm giác sanh khởi lên nhập cuộc với nó, cảm giác an trú cũng nhập cuộc với nó, cảm giác vận hành cũng nhập cuộc với nó mà cảm giác lắng dịu một chút cũng nhập cuộc nó luôn, hoàn toàn không biết cái đó là thọ. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, một Đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy được thọ sanh khỏi, thọ an trú và thọ chấm dứt, thấy được tưởng sanh khởi, tưởng an trú, tưởng chấm dứt, thấy được hành sanh khởi, hành an trú, hành chấm dứt.
Đức Phật trình bày cho mình mà cái này thì rất ớn, khi mình học cái này, mình thực tập, mình quán chiếu rồi mình sẽ phát hiện, mình giải mã ra nhiều đều. Tất cả những sự việc, sự vật, bao nhiêu những chuyện ở trên đời này mình giải mã được hết, mình thực tập quán chiếu cảm thọ là giải mã được hết tại sao người đó vậy, tại sao cái tánh tình họ vậy, tại sao cái cách họ cư xử vậy, tại sao họ gặp chuyện như vậy, giải mã được cái nhân quả, nhân duyên hết.
Thầy Thiện Huệ: Cung thỉnh đại chúng đọc theo con: Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt hết vô minh, hết khát ái, Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Sư Phụ: Vừa rồi là chúng ta lạy bốn thánh trí về ngũ uẩn của bậc đạo sư rút cái tinh túy ở trong đại tạng kinh ra. Nếu chúng ta đọc suốt đời cũng không thấy được bốn cái thánh trí đó đâu cho nên tới tưởng cũng vậy, Đức Phật cũng trình bày cho mình thấy tại sao có hình bóng trong tâm, khi hình bóng sanh khỏi ra nó vận hành như thế nào, có mấy loại hình bóng, Đức Phật phân loại chúng ta thấy khủng khiếp không. Cái tâm mình là một cái mà không có thể nhìn thấy được, nó không hình không tướng mà Đức Phật nhìn ra từng thành phần rồi nó cấu tạo như thế nào, có bao nhiêu loại, nó vận hành ra làm sao, chúng ta thấy là một sự giác ngộ không thể tưởng tượng nổi, đó mới gọi là thiên nhân chi đạo sư, bậc Thế Gian Giải, bậc Chánh Biến Tri, cái sự thấy biết là cùng khắp tất cả thân tâm, thế giới, trong ngoài các pháp, không còn một cái gì không thấy, không còn một cái gì không biết, gọi là Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác.
Nhiều khi chúng ta học mà chúng ta không có thấy, không để ý, không biết đâu. Đầu tiên là Đức Phật nhìn thấy cái thân tâm này gồm năm cái yếu tố này, trong mỗi một cái yếu tố này, trong cái sắc này gồm đất, nước, gió, lửa, nó sanh ra làm sao, nó an trú như thế nào để nó tồn tại, làm sao để nó hoại diệt. Chúng sanh tại vì sao cứ nắm chặt vô trong này? Tại vì không hiểu biết nó rồi yêu thích, khoái nó, tức là vô minh và khát ái đó, nói Tiếng Việt cho dễ hiểu, vì không nhận thức được nó, không biết nó là sắc cũng không biết thành phần, cấu tạo của nó là đất, nước, gió, lửa, càng không biết cái sự vận hành của nó là trong cái vô thường, trong cái khổ, trong cái tật bệnh, càng không biết cái tính chất trống rỗng, trống không của nó. Do không biết, cho nên ảo tưởng nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, chính vì không biết, vì ảo tưởng cho nên khoan khoái, thích thú, say đắm, nắm chặt, chấp thủ trong này, đau khổ trong này.
Chúng ta thấy không, giải mã hết trơn, giải mã hết đầu đuôi, ngọn nguồn, căn nguyên, gốc rễ tất cả, giải mã hết, đó là Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải, Vô Thượng Giác đó, Chánh Đẳng Chánh Giác là vậy đó. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Chúng ta thấy người ta lạy Phật rồi lạy theo chứ không biết gì cả, thấy giống như một vị thần ban phước cho mình, ngay ở trong cái con người mình mà mình không thấy, không biết gì hết trơn thì như vậy là vô minh. Từ cái không thấy, không biết cho nên nhận lầm, hiểu lầm, tưởng lầm, nghĩ lầm, nói lầm, làm lầm, sống lầm, tập trung tâm ý lầm lạc hết trơn, suy xét, nghĩ gì cũng lầm lạc hết trơn, một dọc như vậy, thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, định sai, quán xét sai thì đi vào bát tà đạo.
Đức Phật lật ngược cái đó trở về Bát Chánh Đạo, con phải nghĩ vầy mới đúng, con phải thấy như vậy mới đúng, con phải thấy về sắc bằng cái Bát Chánh Đạo thì con mới thoát ra được cái nhìn sai lầm, lầm lạc này, rồi con phải nghĩ cho đúng mới thoát ra cái nghĩ sai, con phải nói cho đúng thì mới thoát ra nói sai, con nói sai con nói là tôi, con nói là của tôi, con nói là hơn thua, không có tôi.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Đó là những lời chánh kiến, chánh ngữ của bậc đạo sư khai phá cái tâm mê cho mình, đánh phá cái tâm mê của mình, đột phá cái tâm mê của mình, đập bể cái tâm mê của mình, đánh nát cái tâm mê của mình. Đó là thiền quán nương vô cái thánh trí của Đức Phật, các bậc thánh để mình đập vỡ cái tâm mê, cái tình thức, cái nhìn lầm lạc, sai quấy, đó là phương pháp thoát ra khỏi sắc. Chúng ta thấy tuyệt diệu không? Đức Phật chỉ ra từng cái, tại sao có cảm giác, cảm giác có mấy loại, khi nó vận hành những cái loại đó thì trong đó có cái ở trong cảm giác đó, rồi những cái cảm giác đó đưa con đau khổ như thế nào, bây giờ con muốn không có đau khổ thì con phải làm cho lắng dịu những cái cảm giác, những cảm giác bất thiện đó, ác đó con phải làm lắng dịu xuống, con phát huy cảm giác thiện.
Nếu con muốn còn ở trong vòng luân hồi sanh tử, con muốn hưởng phước nhân thiên thì ta chỉ cho con cái cách đó, nhân đạo, thiên đạo. Nếu con muốn đi thánh đạo thì ta chỉ cho con cách thoát ra tất cả mọi cảm giác, xuất ly cảm thọ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Đức Phật chỉ cho cách đi ra khỏi cảm thọ luôn, chúng ta thấy dễ sợ không? Đó là Chánh Biến Tri, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải là vậy đó, thế gian tức là ngũ uẩn đó, là thế giới đó, giải là thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham, sân, si, thông giải tâm cấu uế, thông giải nẻo luân hồi, thông giải đường tái sanh, thông giải đạo lộ giải thoát, đó là Thế Gian Giải, tối thượng chưa. Mình phải thấy mình vinh hạnh, mình vinh dự, mình hạnh phúc, mình hãnh diện vì mình làm đệ tử của Phật, không có một vị thầy nào vĩ đại, tối thượng ở trong mười ngàn thế giới này như Đức Thế Tôn hết cho nên mình đọc bài Đảnh Lễ Trí Đức Như Lai rồi lạy xuống vì mình hạnh phúc, sung sướng, mình rung động hết trơn, mình rung chấn hết trơn, giống như trong tâm mình là địa chấn vậy đó, hân hoan, chấn động, phấn khích, phấn khởi, trào dâng cảm xúc vì mình có một bậc thầy tối tôn, tối thượng, vô thượng, độc nhất vô nhị, tối thắng, thù thắng, không có một người thứ hai có thể chỉ ra được vậy.
Mới một cái thân thọ thôi mà chúng ta thấy vậy rồi, chúng ta thấy không? Chỉ hết, giải mã hết tất cả tại sao mình buồn, tại sao mình vui, tại sao mình ngơ ngơ, tại sao mình khổ sầu, tại sao mình trầm cảm, giải mã hết trơn. Tu cái này là không có trầm cảm, giải quyết hết tất cả mọi sự trầm cảm đưa cho mình tới cảm thọ của chư thiên, tứ vô lượng tâm, những cái cảm thọ của thánh hiền. Tưởng cũng vậy, tại sao có hình bóng Đức Phật giải thích hết, do mình tiếp xúc, bao nhiêu loại hình bóng, các hình bóng vận hành ở trong đó, khi nó vận hành lên ở trong đó có cái gì, tham, sân, si, dục ái như thế nào, vô minh, bản ngã thế nào. Bây giờ phải thấy được cái vị ngọt của nó vì nếu không thấy là mê cái vị ngọt của cái ám ảnh này là khổ nha con, ngọt mật chết ruồi nha con, nó giết con chết nha con, chết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết bờ chết bụi, chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết bất đắc kỳ tử, không biết tại sao mình chết.
VII. Nhớ ơn
Khi bậc đạo sư ra đi ngài nói "mọi người còn chờ đợi gì ở ta nữa, pháp cần nói ta nói hết rồi", giống như Thế Tôn lúc nhập Niết-bàn:
"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay "Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?"
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Tất cả những pháp về khổ và con đường diệt khổ, về đạo lộ xuất ly cho các thầy ta đã trình bày sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, hoàn thiện buổi đầu, hoàn thiện chặng giữa, hoàn thiện sau cùng. Tất cả có văn chương, có nghĩa lý đầy đủ, các thầy còn trông đợi gì ở ta nữa?
"Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau"
(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III)
Ta không có cất giấu lại bất cứ cái gì hết, tất cả thánh trí tuệ mà ta đã chứng ngộ ta truyền trao lại hết, cũng vậy, bậc đạo sư trước khi đi "các vị còn mong đợi gì ở con nữa, những gì cần nói, cần giảng, cần thiết, con đã chia sẻ hết tất cả rồi, theo đó mà tu tập, hành trì rồi các vị sẽ gặp con ở trong thánh trí, ở trong thánh pháp, thánh đạo, thánh quả". Mình phải thấm thía, mình phải hiểu được cái tâm của Đức Phật, cái tuệ của Đức Phật, lòng đại từ, đại bi của Đức Phật, tình thương bao la của ngài. Mình phải thấy được, cảm nhận được sâu sắc, mình phải cảm thọ được, mình phải chạm được tới trái tim của Đức Phật và mình nghe được nhịp thở của ngài, mình chạm được tới trái tim của bậc đạo sư và mình thấy từng những dòng máu nóng, huyết lệ trong đó đang luân lưu, đang vận hành với một cái trái tim nhiệt huyết truyền lại thánh trí, thánh pháp, thánh đạo cho mình.
Đó là cái lý do tại sao mỗi khi con nhắc về ngài là con sẽ khóc vì không có một người thầy thứ hai trên cuộc đời này. Con thật sự là phước đức, thật sự là phúc lạc cho con, lợi đắc cho con, lợi ích cho con vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ này mà có thể gặp được một bậc chân nhân, bậc chánh kiến như vậy và đem hết cả trái tim, cả tấm lòng nhiệt quyết truyền trao cho mình và vắt hết xương tủy. Cho nên làm sao mỗi khi nhắc về ngài mà con không xúc động được, nhắc về cha mẹ con không có xúc động bằng như vậy, nhắc về tất cả mọi người trên cuộc đời này con không thể xúc động như vậy, nhưng khi nhắc về bậc đạo sư là con quặn lòng, đau nhói là vậy đó, là như vậy. Cũng như nhắc về Đức Phật là mình thấy cả một cái trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ này, địa cầu này đối với ngài cũng như một trái banh thôi, không có là gì trong mắt trí của các ngài, mắt tuệ của các ngài, mắt pháp của các ngài.
Bất cứ nơi nào, ở đâu, đều có thể triển khai thiền quán, có cơ hội là cứ triển khai thiền quán niệm ân đức của Thế Tôn, niệm ân đức của bậc đạo sư, lấy đó làm động lực để cho mình tiến tu bất cứ nơi nào, chỗ nào. Đừng đợi con tổ chức thiền biết ơn lúc đó mới nhớ, bất cứ lúc nào ngồi đó niệm ơn đức, ghi ra, chép ra, viết rồi nói, rồi ghi âm lại, rồi đọc lại, nghe lại rồi tưởng, rồi nhớ, rồi quán và nhắc nhở, khắc ghi cho thật sâu sắc. Khi lòng biết ơn của mình tận cùng rồi thì nó trở thành một cái sức mạnh đẩy mình đi tới dòng pháp đưa người phía trước, mình sẽ mau chóng thể nhập vào dòng trí tuệ để cùng đi với ngài, cùng trở về Trúc Lâm, trở về Linh Thứu, trở về nơi các bậc hiền thánh. Đây đâu phải là nhà của mình đâu, thế gian này đâu phải là nhà của mình đâu, vài bữa chết ở đâu mình cũng không biết, mà chết như thế nào mình cũng không hay, tại sao mình chết mình cũng không biết.
Lúc đó rồi còn cái gì nữa, qua bảy tuần thất rồi qua giỗ vài năm là cuối cùng không còn ai biết mình là ai nữa hết, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trừ ra những người có công đức lớn người ta còn nhắc tên lại, chứ còn bình thường là xong, không ai biết mình là ai nữa, lạnh lẽo, cô đơn, lẽ loi một mình rồi ở trong cái u u minh minh, trong con đường nghiệp quả đó mình đi đâu mình cũng không biết, mình cũng hay, trong sáu nẻo luân hồi này mình đi ngã nào mình cũng không rành, không thấy. Vậy mà không biết lo, không biết sợ, không biết ngày đêm suy tư, nghiền ngẫm, nỗ lực để mình tìm cái con đường thoát ra, đó là một cái sự thiếu xót rất là lớn, một sự lãng quên rất là nghiêm trọng, một sự thiệt thòi rất là cay đắng cho kiếp người này. Mình cứ mã chạy đuổi theo những cái phù du, những cái ảo ảnh, những cái phù vân, những đám sương, đám mây buổi sáng đó.
Mình le lói cuộc đời này một chút xíu thôi rồi mình sẽ tắt, không còn ai biết mình là ai nữa, một nấm xương tàn đó, nhiều khi không muốn để trong nhà mà muốn rải đi lẹ lẹ, đi đổ cho xong, đưa vào lò thiêu lẹ lẹ đi để ra hoài mệt quá, hôi thối, rỉ chảy ra dơ quá, không ai chịu nổi hết, đi đốt lẹ đi đi, cuốn lẹ đi đi, thiêu lẹ đi đi, chôn lẹ đi, vứt lẹ lẹ, nhanh nhanh, mau mau đi. Vô nghĩa, vô nghĩa là cuộc đời này, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, một cuộc đời vô tích sự, nếu mình không có lối thoát, nếu mình không có đường đi, nếu mình không có đạo lộ, nếu mình không thành tựu chánh kiến, nếu mình không thấy được sự thật của bản thân này, của đời sống này, của ý nghĩa thật sự của kiếp sống này là cái gì.
Sanh ra rồi lăn lóc đi tìm dục, tìm ái, sân si, bản ngã, rồi thời gian mình sụm xuống, mình ngã xuống, mình đổ xuống, mình nằm xuống thân tàn ma dại, bệnh hoạn, ỉa chay đái dầm, đau đớn, khổ sở, mình báo đời, ăn hại. Những người xung quanh, những đứa con đứa cháu nó gớm ghiếc, đó là được sống trường thọ, chưa kể là chết oan, chết yểu, chưa kể là tai nạn giao thông rồi mình làm cô hồn vất vơ vất vưởng, không tin mình chết. Mặc dù chết rồi nhưng mà nói "tôi không có chết" tại vì cái tâm chấp thủ quá mạnh, cái xác chết rồi nhưng thọ; tưởng; hành thức không chết, thậm chí nó vất vơ vất vưởng rồi lòng vòng chỗ cái xác đó, không thôi là cái chỗ nó chết đó.
Cho nên người ta mới lập cái miếu thờ ngay chỗ đó, chúng ta thấy ở những con đường chỗ đó tai nạn hoài luôn, người ta lập cái miếu ngay chỗ đó tại vì cái vong linh đó, cái cô hồn đó, các chư vị ở đó người ta không có siêu thoát được. Nhiều lắm, mình không thấy hết đâu, vừa rồi chúng ta biết là ở cái biển chết một ngàn tấn cá thì không biết bao nhiêu con mà nói, mình tưởng tám tỷ người là nhiều lắm nhưng không có là gì so với các loài thủy tộc, nội thủy tộc dưới dưới biển thôi chưa nói các cái loài trong rừng, các loài dưới đất, nhiều lắm, tám tỷ người của mình ở trên hành tinh này là ít lắm, không có là gì hết. Ngoài ra còn những chúng sanh vô hình ở trong loài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, những súc sanh trong địa ngục nhiều không thể tính kể được.
Khi con mới lên núi này cô hiệu trưởng rất là tha thiết cúng cái tượng Phật ở trong chánh điện, cô chuyên môn là đi cúng và đi đến chùa nào cô cũng cúng cho các vong linh, cô có cái duyên với các cái vị đó, cô thương các chúng sanh ở trong đường ngạ quỷ. Cô lên đây thì cô thưa "thưa thầy trên này con thấy là đầy hết cả ngọn núi, con xin quý thầy quy y" thì lúc đó con mới thỉnh các vị tôn đức ở trong thất ra làm lễ quy y và bữa lễ quy y đó khủng khiếp lắm. Cái cửa quy y trong chánh điện này mà con ngồi nổi da gà hết, khoảng mười lăm, mười bảy năm trước, đang bình thường vậy đó, yên lặng như vậy mà tới lúc làm lễ quy y là hụ hụ thổi vô chánh điện, mình ngồi lạnh nổi da gà hết trơn.
Cô nói chúng sanh ở trong loài ngạ quỷ nhiều lắm, thời kỳ chiến sanh những người chết thì mình đâu có thấy, mình chỉ thấy là sao người ta đông vậy, mình tưởng làm người dễ lắm nhưng thật sự rất khó, là thiên nan, vạn nan, tỷ nan. Mình mất cái thân này rồi là không biết mình vô cái thân con gì nên phải trân quý, trân trọng, trân kính từng giây, từng phút, từng ngày, từng giờ mình được tu tập. Đừng có hoang phí cuộc đời mình trong những cái việc thấp hèn, tầm thường, hạ liệt, phàm phu, vô minh, dục, tham, ái, phung phí hoang phí, lãng phí, tổn phí cả một cuộc đời của mình, nhất là cái tuổi trẻ. Mình còn sức khỏe, mình còn minh mẫn, mình còn tỉnh táo, mình còn sắc bén mà không nỗ lực thì mai này già rồi lúc đó mình khổ lắm, khổ dữ lắm.
Cho nên cơ hội trong hai tuần nay là hiếm có không phải trong cuộc đời này mà trong vô thỉ kiếp cho đến nay mình được nghe được thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ như vậy thì hãy cố gắng giữ gìn, đừng có để cho rớt mất. Đức Phật trình bày tại sao mình có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và cái suy nghĩ nó vận hành như thế nào, cái sự vận hành của nó, vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm thế nào để mình thoát ra khỏi cái suy nghĩ này Đức Phật trình bày đầy đủ hết. Ở trong sự nhận thức này Đức Phật trình bày cho mình đầy đủ hết tại sao mình có sự rõ biết, nhân nào, duyên nào sanh khởi có rõ biết đó, có mấy loại rõ biết, Đức Phật phân loại ra rất rõ, rồi mình bị đắm đuối ở trong cái biết đó như thế nào, thì cái biết đó đưa mình tới tai hại, đau khổ ra làm sao và bằng cách nào con đường nào mình thoát ra khỏi cái thức đó, cái biết đó, đầy đủ hết tất cả đạo lộ như vậy.
Bây giờ trở lại cái vấn đề quan trọng vừa rồi chúng ta nói thì bốn thánh trí ngũ uẩn đó là tổng quát, tổng cương lĩnh của thánh trí tuệ. Như vậy thì chúng ta thấy là do vô minh và khát ái mới sanh khởi ra ngũ uẩn, bây giờ vô minh là không biết về ngũ uẩn và khát ái là yêu thích ngũ uẩn, mình không biết về ngũ uẩn cho nên mình mới yêu thích ngũ uẩn, mình yêu thích ngũ uẩn rồi mình nắm chặt vô trong ngũ uẩn đó, mình không có buông ra, mình cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Bây giờ có một cách nào khác ngoài cái cách để mình biết về ngũ uẩn không? Nếu mà mình không biết ngũ uẩn là vô minh thì giờ mình biết ngũ uẩn đó là mình, chúng ta thấy nó khoa học không? Nó nhân quả không? Nó cụ thể, nó thiết thực, nó thực tế, nó rõ ràng không? Nó đâu có một cái gì mờ ám, mê tín, không có cái gì viễn vong hết.
Bây giờ anh không biết thì anh bị nó gạt, còn anh biết ra được rồi anh hết bị gạt là xong, đơn giản không? Chữ biết và chữ không biết, biết tức là giác, không biết là mê, mà biết như thế nào chứ không phải biết là nghe được mấy ngày là xong rồi "tôi học ngũ uẩn rồi, tôi biết rồi", xong trở ra cũng tham, sân, si, cũng bản ngã nữa thì cái biết đó không là gì hết. Biết mà phải thật biết cho nên mới gọi cái từ là thực chứng, cái biết đó ở trong mình hoài không mất thì mới gọi là thực chứng, cái biết đó khi có, khi không, khi còn, khi mất, khi nhớ, khi quên, thì cái biết đó gọi là nhất thời. Lúc nào mình nhớ, mình thấy được, mình nghĩ được vậy thì lúc đó mình giác ngộ, mình tỉnh, mà lúc nào mình quên, mình không thấy được vậy, mình không nhớ được vậy, mình không nghĩ được vậy thì lúc đó mình mê.
Cho đến khi nào mà cái thấy biết đó nó nhớ hoài, nó thấy hoài, nó hiểu hoài, nó sống luôn ở trong đó, nó không mất thì lúc đó gọi là chứng ngộ, thể nhập thánh trí. Nhớ cái gì? Nhớ vô minh làm cho mình khổ đau, đó là ngũ uẩn, nó là năm cái thằng ác độc đó nha, thấy rõ nghe không, cái thằng sắc này chết với nó nè, cái thằng thọ này cũng làm cho mình khổ đau, cái thằng tưởng này nó ám ảnh mình một tự ngã nè, cái thằng hành này cứ lầm thầm, nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, xúi giục mình vô dục, vô ái, vô tham, cái thằng nhận thức trong cái tình thức, ở trong cái mê lầm, ở trong cái ngu muội, nhận thức ở trong bóng đêm, thằng mù rờ voi nè. Phải thấy rõ từng thằng như vậy và không để cho nó gạt mình, đầu tiên là biết tên tuổi, kế đó là biết mặt mũi, sau đó là biết tánh tình và cuối cùng là biết được cái bản chất của nó về năm uẩn, nói đơn giản là vậy, tứ chuyển đó.
Biết được tên tuổi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, biết được mặt mũi là mình nhận diện được ngũ uẩn, thấy cho rõ, đừng có lộn xộn nhìn thọ ra tưởng hoặc là hành, thức, cái nào ra cái nấy rõ ràng. Mình biết được cái tên tuổi xong mình biết được cái mặt mũi, biết được mặt mũi rồi mình về ở chung với nó là mình biết được tánh tình của nó "mày nha mày, mày chết mày với tao nghe không. Hồi đó tới giờ tao không biết mày, bữa nay tao biết được cái gu của mày, cái mánh khóe của mày. Mày láu cá, mày rất là xảo trá, mày gạt tao phải không? Tao biết được rồi nha, tao biết được tên tuổi, mặt mũi, tánh tình rồi, mày đừng hòng gạt tao nữa, mày chết với tao"
Mình nhớ vị thánh Tăng bị cái ái dục quấy rối quá nên ngài đứng ở vực thẳm nói lớn "tao giết mày chết", khi ngài chuẩn bị nhảy xuống thì triển khai thiền quán diệt tận ái, chứng quả A-la-hán. Tuyệt diệu không?
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
"Tao giết cho mày chết, đừng có hòng mày gạt tao nữa, từ đây về sau tao thấy được cái bộ mặt của mày, tao biết được cái tánh tình của mày rồi, tao thấy được cái bản chất của mày là tham, sân, si, cái bản chất của mày là vô thường, vô ngã, cái bản chất của mày là lươn lẹo, mánh khóe, cái bản chất của mày là ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm. Mày gạt, mày dụ tao, tao cho mày chết, đao hạ bất lưu tình, nhất đao lưỡng đoạn một dao hai khúc, cẩu đầu đao chờ lệnh trảm, hổ đầu đao chờ lệnh trảm, long đầu đau chờ lệnh trảm". Cái tác ý của mình phải mạnh, cái tuệ lực của mình phải mạnh, mãnh hổ lực, hung hãn lực, sư tử lực, voi chúa lực, uy lực của mình phải mạnh thì mình mới diệt được, không thôi nó dữ dằn lắm.
Con bò này cái sừng của nó bén dữ lắm, biết con bò đực không? Có thấy cái cặp sừng nó chưa? Nó có húc người ta đổ ruột nên phải cưa cái cặp sừng của nó, cái cặp sừng ác độc của nó, trong này trống rỗng mà nhưng mà nó tạo ra ác nghiệp, nó vô thường nhưng mà nó đầy rẫy tham sân, nó bất tịnh nhưng mà nó dục ái là muôn thuở, vĩnh hằng. Như vậy mình mới khổ, cái thứ này là cái thứ phải trừng trị nó, phải thẳng tay với nó, không có được nhẹ tay, nhẹ tay là mình chết, nó giết mình vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp mà bây giờ mình nhẹ nhẹ với nó là mình chết, nó bằm thây mình, nó diệt mình, nó giết mình, nó hại mình, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó làm cho mình chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chết nhục chết nhã, chết tồi chết bại, chết bờ chết bụi, chết khốn chết nạn, chết đau chết đớn, chết bất đắc kỳ tử, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy xe, nhảy sông, uống thuốc độc, tai nạn giao thông, chết máy bay, đủ thứ kiểu làm cho mình chết.
Bây giờ mình diệt được nó thì mình mới thể nhập được bất tử, còn mình không diệt được nó là mình sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, chết hoài, chết dài dài, chết vô lượng, vô số, vô biên kiếp. Cho nên bài hôm nay là nói tận cùng luôn rồi đó, không còn giấu gì nữa hết, tất cả pháp tu hành, cái cách tu của mình, vì thế đầu não của nó là vô minh và khát ái, tức là sự mù lòa về ngũ uẩn và sự ham thích ở trong ngũ uẩn, sự mù lòa về thân và tâm và sự yêu thích ở trong thân tâm này, không thấy được bản chất của nó. Mình biết được tên tuổi nó là ngũ uẩn, là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình biết được mặt mũi của nó là mình nhận diện được nó là thằng nào ra thằng đó, mình biết được tánh tình của nó là nó tham, sân, si, dục ái, khỏi cần nhìn mà chỉ nghe nói thôi là biết hết rồi, chỉ là dục, sân, bản ngã không thôi cho nên nhiều khi ngồi nói với con đủ thứ thì "được rồi, thôi được rồi, biết rồi, nói hoài cũng nhiêu đó thôi", bài ca con cá ca mấy chục ngàn năm rồi, khỏi còn nói biết hết rồi. Tuyệt vời không? Thánh trí là vậy đó, mình thấy hai người cãi lộn thì khỏi cần phân bua, nhìn vô biết rồi, đó là sân bệnh, về trị đi.
Phân bua cái gì? Dành đúng dành sai cái gì? Hai đệ tử lên méc sư phụ người này nói vậy, người kia nói vậy thì sư phụ bảo về đi, mai lên nói chuyện. Sáng mai hai ông canh sáng sớm lên nói với sư phụ người kia sai thế nào, sư phụ ngồi nghe cả buổi kêu về hết đi, sai hết trơn rồi, hễ sân là sai, càng nói càng sai, cự nhau là sai, hơn thua với nhau là sai, cả hai về sám hối hết. Vì thế học cái này giải mã hết tất cả, giải mã tâm mê, giải mã dục ái, giải mã thế giới, giải mã cuộc đời, giải mã trần gian, giải mã hết cái vòng luân hồi sanh tử này, đó là thánh trí ngũ uẩn tối tôn, tối thượng, tối cao, tối thắng, tối đệ nhất của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, thông giải hết thế gian, thông giải hết cuộc đời, thông giải hết thế giới, thông giải hết tâm thức của tất cả chúng sanh và đặc biệt là thông giải cái tâm của chính mình từ đâu mà mình có khổ, tại sao mình tham, sân, si, thông giải hết.
Quay vô trong đi rồi sẽ thấy, quay ra ngoài là nó bít. Bây giờ muốn thông hay muốn bít? Càng quay ra ngoài là càng không biết gì hết, càng quay trở vào thì giải quyết được tất cả mọi vấn đề cho nên bậc đạo sư dạy con khi nhập thất là diệt tâm hướng ngoại, chưa bao giờ con có thể ở được bảy ngày ở trong thất hay là mười ngày mà ngài dạy là con ở luôn hai tháng trong thất không ra ngoài. Đó là diệt cái tâm hướng ngoại thì mới ở yên được, ví dụ mình muốn về núi để ở yên được là mình phải diệt cái tâm hướng ngoại, không thôi về tu lâu lâu chạy ra quán café. Phải diệt cái tâm hướng ngoại, tu là chuyên tâm vào tu, chừng nào về thì thiếu gì quán cho nên quan trọng diệt tâm hướng ngoại, chuyên chú vào pháp, thực hành pháp. Khi mình nắm được, mình hiểu được rồi thì quý vị thấy cuộc đời mình tuyệt vời lắm, mình đổi đời thật sự, mình thay đổi vận mạng, giống như mình đầu thai kiếp khác, mình không còn là một con người trước nữa, mình sẽ thay đổi cuộc đời của mình, mình sẽ thay đổi vận mệnh của mình, mình sẽ thay đổi thân tâm của mình, mình sẽ thay đổi cuộc sống của mình và từ đó mình sẽ thay đổi cho cha mẹ của mình, anh chị em, bà con của mình. Mình giúp đỡ mọi người bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng, bằng sự thấy biết đúng về chánh pháp, bằng tám đúng của bậc thánh.
Hôm nay là giải mã thế giới, giải mã thân tâm, giải mã đời sống, giải mã khổ đau, giải mã trần gian, giải mã luân hồi.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.