Thánh Trí Về Khát Ái 2
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
THÁNH TRÍ VỀ KHÁT ÁI 2
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, chúng ta tiếp tục tìm hiểu thánh trí về khát ái, khi chúng ta học những cái bản kinh này chúng ta sẽ thấy được tầm vóc thánh trí vĩ đại của Đức Phật, chúng ta mới thấy được tại sao Thế Tôn được tôn xưng là bậc Thế Gian Giải, thông giải hết pháp thế gian, giải mã hết thế giới này, giải thích hết tất cả bí bật sâu kín nhất. Tại sao chúng sanh phải luẩn quẩn, phải loanh quanh, phải chìm đắm, phải trôi dạt, phải quay cuồng, phải điên đảo trong vòng nước mắt đầy khổ đau này. Thế Tôn sẽ khai thị, minh thị, minh hiển, chỉ rõ thì chúng ta thấy từng tất cả mọi ngóc ngách, mọi góc độ, khía cạnh, mọi phương diện, sự vận hành của dục của ái, của tâm thèm khát, tâm tham đắm, khoan khoái, thích thú, tầm cầu, chấp thủ, nắm giữ và đau khổ từ đâu. Chỉ có ở trong giáo pháp này chúng ta mới có thể thỏa mãn về cái đạo lộ thấy biết cũng như sự tu tập để đi đến diệt tận tất cả nguyên nhân khổ đau.
"... Trú ở Sàvatthi.
-- Này các Tỳ-kheo, có nhân, dục tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, hại tầm sanh khởi, không phải không nhân" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Có nguyên nhân thì những cái suy nghĩ tầm cầu về dục mới sanh khởi. Không phải tự động, tự nhiên, ngẫu nhiên mà những suy nghĩ tìm kiếm, tầm cầu về dục sanh khởi. Tất cả đều có nguyên nhân, không phải không có nguyên nhân. Bản kinh này Đức Phật nói dục, sân, hại, nhưng chúng ta trích phần dục. Có nguyên nhân dẫn đến chúng sanh sanh khởi ra những suy tư, tầm cầu về tham dục.
"Này các Tỳ-kheo, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi. Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi. Do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi. Do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Này các Tỳ-kheo, do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Dục giới ở đây là cảnh giới của dục tức là năm dục trưởng dưỡng, khi mình nhìn thấy một cái món đồ đẹp, một cái cảnh đẹp, một con người đẹp đó là duyên dục giới. Chúng ta thấy không phải dễ hiểu đâu nhưng hiểu ra rồi rất dễ, giờ nói từ cái thô đến cái tế cho chúng ta thấy, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi, thấy cái món đồ đó mình rất thích, thí dụ người này rất thích xe, hoặc người này rất là thích đồng hồ, thích cái món đồ gì đó mà người này gặp một cái chiếc xe đẹp, cái đồng hồ đẹp, cái điện thoại xịn, đời mới thì dục tưởng sanh khởi. Cái chiếc xe đó, cái đồng hồ đó, cái điện thoại đó khi họ tiếp xúc thì ở trong cái tưởng của họ liền nổi lên cái hình bóng mình cầm được cái điện thoại đó xài, leo lên chiếc xe đó mình chạy.
Giờ mình được theo cái đồng hồ đó trên tay đó là duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi, chúng ta thấy cái này có hết sức rõ ràng không ạ? Hết sức sáng tỏ không? Một người thích một cái món đồ nào đó mà họ nhìn thấy được cái món đồ họ thích thì lập tức ở trong cái tưởng liền sanh khởi lên cái tưởng họ đang hưởng thụ món đồ đó, họ đang sở hữu món rồ đó. Trong tâm họ có cái hình bóng về tự thân của mình sở hữu cái món đồ đó, có được cái món đồ đó, sử dụng món đồ đó, đó là duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Con người cũng vậy, nhìn thấy một đối tượng, một con người đẹp, cái đối tượng mà mình sanh khởi gọi là vừa mắt, vừa lòng, hợp với cái gu, đúng với cái gu, đúng với cái sở thích của mình thì lập tức ở trong cái tưởng khởi lên liền, mình được ở gần người đó, mình được nói chuyện với người đó, mình được sống chung với người đó, mình được sở hữu người đó, chiếm hữu người đó.
Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi, cái hình bóng đó khởi lên thì tiếp theo đó là cái suy nghĩ ham muốn về món đồ đó, về con người đó sanh khởi lên. Mình phải làm sao tiếp cận được món đồ đó, con người đó, mình phải làm thế nào để mình có được, tìm đủ mọi cách ở trong cái suy nghĩ, tiếp cận trên số điện thoại, nhắn tin, ngày hôm qua mình học là tặng quà. Cái này nó vận hành khiếp lắm, cái hình hài, dóc dáng và cái âm thanh, cái y phục, cái nụ cười đó, thậm chí là nước mắt, thành ra chúng ta thấy cái này là thánh trí của Đức Phật. Tất cả những cái này là cái gốc ở dưới là khát ái, khao khát, tham ái, ái dục cho nên con đặt cái tên là khát ái thánh trí. Bao nhiêu cái suy nghĩ đó nó sanh khởi cho nên chúng ta thấy cái này là cả một cái lộ trình tâm vận hành của khát ác, o chúng ta nói tổng quát trước đi rồi từ từ mình đi chi tiết.
Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi, từ ở trên là nó xúc, do duyên dục giới tức là cái tiếp xúc, tiếp xúc là sanh ra dục tưởng tức là sanh ra tưởng, dục tư duy là hành, bây giờ dục dục là thọ, xúc ta thọ; tưởng; hành đó. Khi mình học mình áp dụng rồi mình nhìn ra là giải mã hết ngũ uẩn, giải mã hết, do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi, dục dục là mình muốn, ham muốn cái dục vọng đó, cái sắc dục đó, cái thanh dục đó, cái hương dục đó, cái vị dục đó, xúc dục đó, mong muốn được cái đó dục dục sanh khởi. Khi mình tiếp xúc món đồ, cảnh vật, một con người vừa lòng, thích ý, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái hấp dẫn liên hệ đến dục, mình nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm hay là xúc chạm, đụng chạm thì khi lúc đó bên trong mình có một cái muốn sanh khởi lên cái hình bóng muốn được cái đó, được cái món đồ đẹp đó, cái cảnh đẹp đó, con người đẹp đó, cái âm thanh dễ thương đó, dễ nghe, dễ chịu đó, cái mùi hấp dẫn đó, cái vị đó, cái món ngon và cái sự tiếp xúc êm ái, dễ chịu, nó mềm mại, nó khoan khoái, nó thích thú.
Tất cả sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái được thức dậy, nếu không tiếp xúc thì nó còn nằm ngủ. Mình tưởng đâu là nó không tiếp xúc vậy là nó không có, không phải vậy mà là nó ngủ, gọi là ái tùy miên chưa nhổ, khổ này vẫn sanh hoài.
"Như cây bị chặt đốn,
Gốc chưa hại vẫn bền
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh hoài"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 338)
Cho nên cái chỗ này là chỗ sâu sắc ở trong nhận diện ngũ uẩn đây, cái chỗ sâu sắc trong như lý tác ý đây, cái chỗ sâu sắc ở trong triển khai thiền quán đây là vì mình tưởng đâu là mình bình thường như vậy thì mình đâu có dục ái gì đâu, không phải, đó là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài, dục này vẫn sanh hoài, cái khao khát vẫn sanh hoài. Chẳng qua là vì nó bận làm cái này làm cái kia, nó bận công việc nọ này kia rồi nó tránh né, nó khỏa lấp nhưng mà tới khi duyên dục giới dục tưởng sanh khởi, duyên dục tưởng thì dục tư duy sanh khởi, nó tiếp xúc, nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm thì hình bóng xâm chiếm, tư duy sanh khởi, ham muốn nó nổi lên. Tại vì sao có những cái hình bóng đó, những cái suy nghĩ đó, những cái ham muốn, khao khát đó? Là vì ái tùy miên, cái khát ái tùy miên.
Hai cái chữ này hồi xưa khi con chưa vô dòng pháp này thì con nghe hai cái chữ này con cũng là hơi dị ứng chút, cái chữ khát ái nghe nặng quá nên né, không dám dùng từ này. Những người sau này học là cái từ này né tránh, người ta dùng từ tham ái, tham lam này kia nhưng mà tới bây giờ thì con thấy hai cái chữ này phải tôn lên là khát ái thánh trí tại vì cái chữ này thì Thế Tôn mới trình bày sáng rực cái nghĩa được. Khát là giống như là được uống, đói mà được ăn vậy đó, nó thèm thuồng, nó khao khát, nó đói khát, khát ái là cái gốc của bên trong của cái cảm thọ thâm sâu ở trong này, chẳng qua là nó không có gặp cái duyên, chẳng qua là nó không đủ cái duyên. Nếu mà nó gặp mà nó đủ cái duyên thử coo thì lúc đó nó như thế nào, nó là thú tánh, cái tánh con của nó biểu hiện ra hết, cái chất súc sanh, thú tánh trong đó, thú vật ở trong đó, gọi là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài.
Cho nên mình tu mà bây giờ mình không chịu tác ý, thiền quán, mình không muốn vận động trí não này kia, mình không thích làm sao mình nhổ được cái tùy miên ở trong này, trạng thái ngủ ngầm ngấm ngầm hoạt động mà thâm sâu, vô hình, giấu mặt mà nó đầy nhiều cái lớp mặt nạ. Vì thế nhiều lớp lắm, từ cái chỗ thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, đụng chạm, sanh khởi lên những cái tư tưởng ham muốn, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ làm sao để mình có cái này, làm sao để mình sở hữu được cái đó đây, được người đó đây, món đồ đó đây. Như vậy khi hình bóng nó ám ảnh, rồi những tư duy suy nghĩ nó cứ lầm thầm, nó cứ nói nói rồi tiếp tục cảm thọ nung lên, dục dục sanh khởi. Do những cái suy nghĩ ham muốn đó khởi lên thì bây giờ nó tiếp tục để củi vô, đổ xăng vô, đổ dầu lửa vô để cho cái ngọn lửa dục bùng lên, nó bốc lên, nó phun lên, nó cháy lên, dục dục sanh khởi.
Sau khi dục dục sanh khởi, do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi, nhiệt tình là nóng bỏng, rực cháy, là phừng cháy lên. Dục dục ở đây là nó ham muốn cái dục vọng đó, dục nhiệt tình cái chữ này nghe thấm thía, pháp không có nhiệt tình, đạo không nhiệt tình, sự từ bỏ, yểm ly, ly tham nó không nhiệt tình nhưng mà dục thì nó nhiệt tình. Thành ra cái chỗ này là chúng ta thấy bậc Thế Gian Giải, chúng ta giải mã hết, đây là cái sự vận hành cái tâm thèm khát, đói khát, cái tâm thiếu thốn, khát khao, khát ái. Từ chỗ những cái hình bóng bị dục ám ảnh, những cái suy nghĩ về dục sanh khởi rồi sau đó là dục nó dồn dục, dục nó chồng dục, nó bình phương lên, nó thúc đẩy, nó thúc giục, dục dục sanh khởi, từ cái thúc giục như vậy thì lần lần nó cứ đẩy như vậy thì nó lên tới cái chỗ dục nhiệt tình, nóng bỏng lên, phừng cháy lên, rực cháy lên.
Tại vì cái lứa tuổi thanh thiếu niên nó vận hành cái này rất mạnh trong thọ; tưởng; hành và ngày hôm nay chúng ta nhìn thấy xã hội đó, nhìn thấy thế giới là đang vận hành rất là rõ ràng, rất minh bạch, rất tỏ tường và nhìn thấy trong tâm mình nó rành rõ. Chúng ta học cái này đi rồi chúng ta quán chiếu và chúng ta phải thiền quán, phải chiêm nghiệm và phải viết ra, phải pháp đàm, phải khắc họa hoài hoài, đồ hoài, tô đậm hoài ở trong cái trí não của mình, trong cái tâm thức của mình, trong cái cảm thọ của mình để cho vĩnh diễn không quên, khi mà vĩnh viễn không quên thì mình có một cái trí quán để nó sanh khởi lên là mình dập nó chứ, quản lý, quản giáo, quản thúc nó. Cái dục này nó chồng dục kia, muốn này thêm cái muốn khác, cái ham này chất thêm một cái ham kia, cứ vậy thì nó làm cho cái tâm này nó nóng bỏng, đốt cháy cái tâm này, phừng cháy lên ở trong cái ham muốn, dục nhiệt tình sanh khởi.
Khi mà nó đã bùng cháy lên cái sự khao khát, thèm khát, khát ái, đói khát như vậy thì do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Nó phải đi kiếm, cái thọ dưới nung lên rồi cái tưởng cứ chập chờn ám ảnh, cái hành cứ suy nghĩ thúc giục và người này cuối cùng phải chạy đi. Nhiều khi không có chuyện gì hết trơn cũng phải xách xe chạy chứ còn ngồi nhà, ngồi chùa không nổi, đó là dục tầm cầu sanh khởi. Mình quán chiếu mình sẽ thấy nó rõ lắm, cái ánh mắt dáo dác đi tìm cái gì đó, lúc nào cũng dáo dác, lúc nào cũng dòm này dòm kia, đi tìm cái gì, kiếm gì đó, đó là dục tầm cầu ở trong ánh mắt hiện ra. Lỗ tai ngóng ngóng tìm kiếm, hoặc là kiếm tham, hoặc là kiếm sân, có khi đi kiếm chuyện cho khổ đau nữa.
Do đi tìm cầu những cái sự tìm cầu về dục, cái này chồng thêm một lớp nữa, kẻ vô văn phầm phu thực hành tà hạnh theo ba chỗ thân, miệng, ý. Cho nên cái chỗ này nhận diện ngũ uẩn thấy khiếp lắm, rung sợ lắm, hỡi ơi lắm, ê chề lắm, não nề, chán chê mà ngao ngán, cái thọ này nó ác độc, cái tưởng, cái hành, thức là ác độc. Học rồi mình mới thấy tại sao Đức Thế Tôn nói thọ; tưởng; hành; thức là kẻ giết người.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Cho nên mình nhận diện ngũ uẩn lúc đầu là vậy nhưng khi đi sâu vào thì nhiều cái lắm, Đức Phật nói tới 108 cái thọ luôn, đi sâu vô nữa là 18 cái thọ, 36 thọ rồi lên tới 108 thọ thì những cái này càng vi tế để mình nhìn thấy được ra. Bao nhiêu cái dục nhiệt tình rồi tới cái dục tầm cầu, tầm cầu xong rồi do tầm cầu dục tầm cầu, đi tìm kiếm cái sự tìm kiếm dục. Cho nên mình mới nhìn thấy bây giờ người ta có khi sống cái đời sống vất vơ vất vưởng, đừng nói chi cái người đời, người tu cứ lang thang, xách gối chạy đi hoài mà không biết đi đâu, mà đâu có biết cái đó là cái dục nó dẫn đi, dục hướng ngoại nó dẫn đi. Mình không nhiếp phục, chế ngự được cái tâm hướng ngoại đó, cái tâm vất vưởng lang thang đó thì đời sau sẽ trở thành cô hồn, nếu không có đầy đủ cái thiện nghiệp thì sanh vô đời sống của ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, lang thang vô định, tâm lậu hoặc lang thang.
Trong tâm cứ thúc giục hoài, cứ thèm khát, cứ đói khát, cứ khao khát, hết dục này tới dục kia, hết những hình ảnh dục tới cái suy nghĩ dục là hết rồi, rồi từ cái dục này nó đẩy cái dục kia, rồi từ cái dục kia nó đẩy cái dục nọ làm cho nhiệt tình, nóng bỏng lên ở trong các cái dục thì nó phải đưa đến cái sự chạy đi tìm, đi kiếm. Khi chạy tìm đi kiếm như vậy thì nó đi tìm những cái mà nó đi tìm dục, hết cái lớp này chồng lên lớp kia, chúng ta thấy cái thánh trí tuệ của Đức Phật cái tầm vóc nó siêu việt, siêu thế, đây gọi là trí xuất thế, trí siêu thế trí của bậc tối thượng thánh nhân là cái lộ trình tâm vận hành ở trong ái, trong cái dục tham.
Do tầm cầu dục tầm cầu kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ thân, miệng, ý, đi tìm cầu những cái sự tìm cầu về dục mà ngày nay thì chúng ta nhìn thấy từ trong tâm mình, từ ngoài mình thấy mình hỡi ơi, càng ngày cái dục vọng con người càng khủng khiếp. Nhiều khi những chuyện không có là gì hết cũng chạy rần rần cho tai nạn giao thông chết, đánh lộn đánh lạo, nhiều khi hoa nở chút xíu thôi à, hay là có tuyết chút xíu thôi là bắt đầu chạy rần rần dành giật này nọ kia rồi tai nạn giao thông. Có gì đâu, chỉ cần quẹt cái màn hình lên thấy thông báo cái chỗ đó có cảnh đẹp thì đó là duyên dục giới cái dục tưởng sanh là mình phải có tấm hình nha. Cái suy nghĩ "mình phải đi tới" rồi nó thúc giục ở trong, dục dục, nó nhiệt tình, hăng hái và cuối cùng là leo lên đi chạy nhanh, chạy lẹ, chạy mau dành chỗ, rồi xảy ra tay nạn, rồi xảy ra ẩu đã. Ở trên Đà Lạt đứng dành chỗ chụp hình mà đập đầu té ngã xuống nhập viện cấp cứu, thậm chí là té xuống rồi chết luôn, đối thông hai mộ, thung lũng tình yêu té đạp đầu xuống chết luôn vì tạo dáng chụp hình mà không hay phía đằng sau là cái vực. Khi nó thấy một cái cảnh đẹp rồi cái tưởng phải có tấm hình đẹp nhất, suy nghĩ rồi nó thúc giục trong một cái sự nóng bỏng như vậy, tầm cầu, tìm cầy như vậy thì kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ thân, ngữ, ý.
Cái thô là tà dâm, là dâm dục, cái tế nữa là những cái giành dật, những cái làm không có chân chánh, cái lời nói không chân chánh tại vì phải lừa đảo người ta, gạt người ta để đạt được cái tham muốn của mình, đó là tà ngữ đó, trong cái ý nó tà, trong thân tà nghiệp để mong cầu đạt được cái dục đó, đạt được cái ham muốn đó, cái dục vọng đó. Cho nên con có dùng cái từ là khao khát vĩnh hằng, đói khát muôn thở là cái tâm thức này, tức là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài. Tùy miên là nó đi theo mình miên man, không có lúc nào không có, chỉ may mắn là cái lúc mình được nghe pháp, lúc mình được thiền quán, lúc mình an trú được vào trong cái trí thì lúc đó là nó tạm thời được lắng dịu, còn trong bình thường sinh hoạt hằng ngày mình không có để ý, mình không có tinh anh, mình không có cái tinh mắt, mình không có một sự tinh thông, tinh hoa, trí tuệ để mà mình soi xét thì mình không có thấy nó đâu. Mình sống trong sự điều hành, trong sự chỉ huy, trong sự sai xử, sai khiến, sai bảo răm rắp.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người ném bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Nếu người ấy không dập tắt gấp với tay và chân; như vậy, này các Tỳ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ gặp bất hạnh và tai họa
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với tưởng bất chánh khởi lên, không gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong đau khổ, với phiền lao, với sầu não, với nhiệt não; và sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ác thú" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Nếu quăng một bó đuốc cháy đỏ vào rừng cỏ khô, nếu người đó không dùng tay chân dập tắt lửa liền thì ôi thôi, một mẫu, hai mẫu, chục mẫu, trăm mẫu, ngàn mẫu, nhiều ngàn mẫu cũng cháy rụi hết tất cả, những con vật sống ở trong đó, những sinh vật lớn nhỏ trong đó đều phải gặp bất hạnh, gặp tai họa, cháy rừng. Cũng vậy người tu nào mà đối với cái tưởng bất chánh khởi lên mà không lập tức từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt thì vị ấy ngay trong hiện tại ở trong đau khổ, ở trong phiền lao, phiền não, phiền nhọc, sầu đau, bị nhiệt não, nóng bức, cháy tâm, phóng hỏa trong lòng mình, cháy ngùng ngục. Người này bị nhiệt não, bị sầu đau, bị buồn khổ, bị ray rứt, bị thiêu đốt, bị nóng bức vì người này đối với cái tưởng bất chánh khởi lên mà không có gấp rút từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, diệt tận, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào trong ác thú, đọa xứ, trong cái cảnh khổ đau.
Người này không có nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, từ bỏ cái tư tưởng bất chánh, những cái tưởng về dục, những cái suy nghĩ về dục, những sự thúc giục, những sự nóng bỏng, nhiệt tình ở trong dục, những sự tầm cầu dục. Người này không chịu gấp rút, mau chóng nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, từ bỏ thì người này sẽ đau khổ trong hiện tại, tâm người này bị thiêu đốt, bị đốt cháy, nóng bức, bị nhiệt não, bị thiêu rụi, người này sống trong âu sầu, buồn bã, bất mãn, bất bình, bất hòa, tâm có an tịnh, không có lắng dịu, tâm không có dễ chịu vì trong này nó khao khát, thúc giục ở trong này. Trong tâm cứ nóng rang, nó cứ phừng phừng, nó thiếu thốn, nó khát khao, nó đói khát, nó thèm khát, nó khát ái thì làm sao nó có được thanh lương, mát mẻ, an bình, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào? Cho nên cái này đụng vô cái là rất sân hận, rất dễ bức xúc, bực bội, khó chịu.
Cái lửa dục của nó đốt lên chứ đâu phải chỉ có lửa sân không đâu, mình thấy người có tu tập thì nó khác lắm, lúc nào cũng an tịnh, lắng dịu, dễ chịu tại vì lửa dục trong người này đã được nhiếp phục, chế ngự, lắng dịu xuống, ngọn lửa lớn đã bị tắt rồi, nó còn những cái lửa âm ỉ, nhỏ nhỏ ở dưới cái lớp tro, lớp than rồi từ từ dập xuống. Còn những người chưa có sự tu tập tinh tấn thì nó phừng phưng ngoài miệng, ngoài mặt, ngoài hành động, cử chỉ, người ta nhìn thấy biết hết trơn, chỉ có người đó không biết thôi cho nên người tu trong cái dòng pháp này tuyệt vời lắm, thấy biết hết.
Tu tới đâu nhìn thấy biết rất là rõ, người tu đúng pháp, có tinh tấn, có sự nhiếp phục, chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cảm thọ người ta rất an tịnh, lắng dịu trong bất cứ hoàn cảnh nào, thậm chí hoàn cảnh khó chịu đến mà họ vẫn nhẹ nhàng, đó là có sự nhiếp phục, chế ngự, có sự tu. Còn người không có tu dù cái chuyện hết sức là bình thường thôi, cái chuyện nhiều khi tốt cho họ nhưng họ cũng khó chịu, bực bội, chống đối, bất hòa, bất bình, bất mãn thì chứng tỏ cái tâm người này là một cái tâm còn rất là hoang dại, hoang vu, rừng rú, chưa có được tu tập, chưa có được nhiếp phục, chưa có được chế ngự, chưa có được làm cho an tịnh, lắng dịu, tâm còn đầy gai góc thì phải nỗ lực tu rất nhiều, hoặc là cái tâm si ám, trơ trơ.
Cho nên mình phải cố gắng rất nhiều, nhất là cái trong cái pháp tu này con đã thưa rất nhiều lần rồi là phải thiện quán, phải tác ý, phải chịu khó động não, đừng có làm biếng, phải chịu khó dập đầu, chịu khó động não, phải chịu khó chẻ cái đầu vô minh ra, phả chịu khó tự đi đến mình, tự chỉ trích mình, tự la rầy, quở trách mình, tự mắng mình. Hằng ngày là hướng vào trong phải quở trách, trách mắng thật là nhiều thì lần lần chúng ta sẽ thấy nó mềm mại, nó dễ dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy, dễ thương, thành ra cái chỗ này là cái chỗ chúng ta để ý rất là kỹ, mình không khéo là rừng tâm mình bị hỏa hoạn.
Hiện tại mình sống trong những cái cảm thọ đau khổ, phiền lao, sầu não, nhiệt não, mình ở trong cái chỗ thanh lương mà mình thấy nhiệt não, ai cũng mát mẻ chỉ có mình nóng bứt, bứt rứt, mình khó chịu tại cái dục ở trong không được nhìn thấy, nó không được nhiếp phục, nó không được chế ngự. Từ cái đó là nó sân, nó thường ở trong cái cảm giác bực bội, bứt rứt, bứt xúc, khó chịu, buồn buồn, không hài lòng, không vừa lòng, không bằng lòng. Cái tâm chưa biết tu tập, chưa khéo tu tập, chưa có nhu nhuyến, chưa có mềm mại, chưa có dễ sử dụng, còn khi mà mình có tu rồi tâm mình dễ chịu lắm, cái gì cũng được hết. Ngày xưa làm việc với bậc giáo sư con tâm phục khẩu phục, kính trọng, tôn trọng, đảnh lễ trên ngài dầu cho ngài là một nữ cư sĩ tại vì con chưa có thấy ngài có một cái cảm giác khó chịu, bực bội và khi những khi ngài khó chịu là những lúc sai pháp, không có đúng pháp, ngài dạy dỗ mình thì ngài phải làm vậy còn bình thường lúc nào mát dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái vì cái dục ở bên trong đã được nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, lắng dịu cho nên Đức Thế Tôn nói tất cả cái đau khổ của quá khứ căn bản từ dục, tất cả cái đau khổ của tương lai, vị lai là căn bản bắt nguồn từ nơi dục, tất cả cái phiền não, khổ đau trong hiện tại cũng bắt nguồn từ nơi dục.
"Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra)
Cái người đau khổ nhiều, bực bội, khó chịu nhiều thì người đó dục vọng nhiều, khát ái nhiều, bên trong nó thúc giục, dục giục, dục nhiệt tình, dục tầm cầu. Nó muốn cái này, nó muốn cái kia, nó muốn cái nọ, nó không chịu đi vào trong cái chấp nhận học pháp, nó không có thuận với cái dòng của thiện pháp, của chánh pháp, của thánh pháp mà nó đi thuận với cái dòng của thế pháp thì nó khổ đau. Thành ra mình thấy kỹ hay lắm, tuyệt dịu lắm, m ình tu đi rồi mình sẽ cảm nhận được tuyệt vời lắm.
" - Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Chúng ta phải lắng nghe và khéo tác ý chứ không phải nghe với cái tâm đơ đơ, trơ trơ mà nghe tới đâu mình đi theo tới đó, nghe tới đâu mà mình nhiếp niệm tới đó, tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp và trong khi nghe đó mình có sự tác ý, mình để tâm vào cái pháp đó, trú vào trong cái pháp đó, mình thể nhập trong cái pháp đó. Chính vì vậy mà thời Đức Phật trong khi ngài giảng pháp có nhiều vị ngay tại chỗ ngồi đó chứng từ sơ quả, nhị quả, tam quả cho đến tứ quả A-la-hán tại vì ngay cái lúc nghe đó là cái lúc các ngài thực hành pháp ngay tại chỗ đó, quán chiếu ngay tại chỗ đó, thể nhập ngay tại chỗ đó. Có rất là nhiều những trường hợp như vậy, chúng ta đọc trong kinh rồi chúng ta thấy ngay tại chỗ ngồi đắc pháp nhãn tịnh, nhập luôn thành tựu chánh tri kiến ngay tại chỗ ngồi đó là nhất lai, bất lai và A-la-hán, tham sân bại liệt, tê liệt cho đến diệt tận luôn, ngay tại chỗ đó các ngài triển ra thiền quán vậy mà mình đòi tu là cái chỗ nào khác, ngay tại chỗ pháp mà mình không tu thì đòi tu chỗ nào.
Có nhiều người nghĩ ngồi nghe pháp không phải tu, cái suy nghĩ này rất là nguy hiểm, nghe pháp không phải tu sao có các vị nhập lưu, nhất lai, bất lai, A-la-hán? Trong kinh điển ghi rõ ràng như vậy, nhớ kỹ chỗ đây là chỗ thiện xảo, khéo léo của mình đó.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc?
Do duyên ái nên cầu tìm; do duyên cầu tìm nên có được; do duyên có được nên có quyết định; do duyên quyết định nên có dục tham; do duyên dục tham nên đắm trước; do duyên đắm trước nên có chấp trước; do duyên chấp trước nên có xan tham; do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Từ yêu thích mà có ra chiến tranh ngay trước mắt chúng ta hiện giờ luôn bởi vậy Đức Phật nói tới đầu là thiết thực, hiện tại ngay trước mắt. Chúng ta có thấy không? Mình có hoan hỉ không? Mình có thấy tự hào không khi mình được trở thành là thánh đệ tử của Đức Phật? Cả một cuộc đời này mình ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ ông bà, anh em, bỏ vợ con, chồng con, cháu, bỏ hết sự nghiệp, gia tài tương lai để mình đi lên nên núi, lên rừng tu không có uổng, rất xức đáng. Nhất trí không? Sự ra đi của mình là một cái sự ra đi vĩ đại, vinh quang, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng trong địa cầu này, trong hành tinh này, sự ra đi của mình là một cái sự ra đi đáng kiêu hãnh, đáng tự hào, vinh quang, đại vinh quang, sự ra đi của mình là sự thông minh siêu thế, xuất thế, vượt thế gian, hạnh phúc không? Quá là thông minh, quá là trí tệ, quá là hùng lực, quá là mạnh mẽ, quá là kiên cường, quá là dũng mãnh, đáng vinh quang đáng tự hào, đáng kiêu hãnh ở trong cái cuộc đời này.
Kiêu hãnh với cái thiện pháp của mình, với cái thánh pháp của mình, với cái chánh pháp của mình. Tại vì mọi người giành giật mà mình dám từ bỏ, cái chỗ mà mọi người bu lại thì cái chỗ đó mình chạy xa ra, giỏi không? Có tự thấy mình giỏi không? Phải khen tặng mình, xưng tán mình, hoan hỉ với mình trong cái thiện pháp, vui lắm, mình hạnh phúc, hoan hỉ lắm, cái tâm hỷ của mình nó tràn ngập trời đất này, tràn ngập cái không gian, cái địa cầu này chứa không nổi cái tâm hoan hỉ, hạnh phúc của mình vì mình có một cái bậc thầy tối tôn, tối thượng, tối cao, tối diệu, thần diệu. Tất cả các bậc thầy ở trong tam thiên đại thiên thế giới này không có một cái vị thầy nào có thể sánh nổi, rồi mình may mắn mình gặp bậc đạo sư của mình là tối thượng trong tất cả các bậc đạo sư, hạnh phúc không?
Cái cuộc sống của mình bây giờ chư thiên còn phải khát khao, kính ngưỡng, ước ao, hãy cố gắng trân quý. Đừng có sợ tu học, hãy trân quý sự tu học, khát ngưỡng sự tu học, cầu khẩn sự tu học, phải biết thương mình, đừng có hại mình, phải biết trân trọng cái duyên lành vô lượng vô biên kiếp mình mới gặp được thầy lành bạn tốt, thánh pháp tối thượng như vậy, mình đừng có cô phụ, mình đừng có sống trong cái tâm vong ơn bội nghĩa, không biết ai là người thương mình, ai là người hại mình, ai là người giúp mình. Mình sống trong cái tâm trân trọng, trân quý, trân kính, cung kính, tất cả biết ơn trong tâm ngọt ngào, trong tâm dễ thương, trong tâm hiền lương, trong tâm tùy thuận. Mình đã cãi trong vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp rồi, bây giờ đừng có cãi nữa, hãy chấp nhận học pháp đi.
Nếu nó sanh khởi ở trong cái suy tư, trong cái tưởng, trong ý hành của mình thì mình la nó vậy đó "nhà người đã cãi vô lượng, vô biên, vô số kiếp rồi". Con nhớ có cái câu con nói cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi cô, cãi Phật cãi tổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình niệm cái câu đó vì tâm mình rất ương ngạnh, rất cứng cỏi, cứng đầu, nó chống đối, mình phải niệm cái câu đó hoài, mình nhắc hoài để cho nó chấp nhận học pháp, nó tùy thuận, nó mềm mại, nó nhu nhuyến, nó dễ sử dụng, nó nghe lời dễ dạy, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền, để cho nó thể nhập cái thánh trí huệ tối thượng. Mình dùng đủ mọi phương tiện để mình tu tập, tuyệt vời lắm.
Bây giờ con nói tiếng việt hết cho chúng ta giải nghe, do duyên yêu thích cho nên nó đi tìm kiếm, tại vì nó yêu thích cho nên nó đi tìm kiếm, vì nó tìm kiếm cho nên nó có được, đây là nói thuận chiều chứ không phải tìm đâu cũng được hết. Đức Phật nói một cái một chiều, còn cái cầu bất đắc khổ nó ở cái chỗ khác, Đức Phật nói nó tìm cho nên nó được, vì nó thích, nó muốn cho nên nó đi tìm kiếm, mà tìm kiếm cho nên nó tìm được, khi được thì quyết định, trong lòng nó có sự quyết định món đồ này của tôi đây, căn nhà này của tôi đây, con người này của tôi đây, sự sở hữu trong tâm nó quyết định. Chỗ này là quyết ngu, á quyết định si, quyết định của mình vì nó tưởng đâu chắc chắn cái này là của tôi, đây là tôi nè, đây là của tôi nè, đây là tự ngã của tôi nè. Do nó vô minh, nó khát ác cho nên nó chụp được cái thân này nè, vỗ ngực biết tôi là ai không, vi phạm luật lệ giao thông bị thổi vô thì bắt đầu vỗ ngực "biết tôi là ai không?".
Đó là quyết định, quyết định đây tôi đây, tôi có mặt đây, đây là của tôi nè, đó gọi là quyết định. Nó chụp trúng cái thân chó nó cũng quyết định nữa, đi vô là nó sủa lên "có biết tôi không? Tôi đây nè", chúng ta có thấy cái này không? Cái tâm khát ái cho nên nó đi tìm cầu tìm cái vô minh, do cái nghiệp nên nó chụp trúng cái thân con chó ghẻ, tuy là cái thân chó như vậy nhưng mà nó cũng quyết định "biết tôi đây không?". Lúc đó con và vài chú đi thiền hành buổi sáng từ chùa Bửu Liên ra đến bờ sông Thanh Đa thì có một con chó ghẻ nó sủa, con dừng lại trải tâm từ, con rướm lệ. Khi con trải tâm từ xong rồi thì từ đó về sau nó không sủa nữa, nhiều trường hợp lắm, đi kinh hành ở trên tầng bốn chùa Bửu Liên cách cái chánh điện qua cái nhà rồi mới qua tới cái phòng bên kia mà đưa con chó đưa cái mỏ nó ra sủa, mình đi thiền hành bên đây cũng trải tâm từ một hai lần gì đó, ba lần gì đó rồi từ đó về sau nó không sủa nữa.
Quyết định ở đây là một cái tự ngã biết tôi là ai không, có biết tôi là ai hay không, hay là của tôi nè. Do duyên quyết định cho nên có dục tham, đắm trước, do duyên dục tham cho nên đắm trước, ham muốn cho tôi, giờ tôi mới có năm đồng thôi nên tôi muốn phải có mười đồng cơ, tôi muốn phải có hai mươi đồng cơ. Khi có được rồi thì say đắm ở trong cái có đó, tham đắm trong cái có đó, chìm đắm trong cái có đó, khi say đắm, tham đắm, chìm đắm, đắm trước trong đó thì nắm chặt trong đó. Do duyên đắm trước cho nên có chấp trước, nó tham đắm, nó say đắm, nó đắm trước, nó chìm đắm ở trong cái mà nó nghĩ rằng cái đó là của nó, quyết định là của nó thì nó sẽ nắm chặt, nắm chặt, giữ chặt, không có buông gọi là chấp trước, vì giữ chặt, không buông cho nên nó keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chia cho ai hết "cái này đồ rất quý mà, đồ rất tốt mà, đồ này đồ rất xịn, mình xài không cho ai hết".
Cho nên từ cái chỗ chấp trước có ra xan tham, bủn xỉn, keo kiệt, từ cái duyên xan tham cho nên là nó giữ gìn, thủ hộ, bảo thủ, cố thủ thậm chỉ là tử thủ luôn, chết cũng phải giữ cái này nữa. Bảo thủ rồi cố thủ rồi tử thủ, "coi chừng mất nha, cất kỹ à", "coi chừng người ta ăn đó à, cái đồ này là đồ quý à", lúc nào nó cũng giữ gìn, bảo thủ, cố thủ, bây giờ ăn trộm, ăn cướp vô cũng phải ráng chống đối, chết rồi cũng chống đối rồi tử thủ luôn. Thay vì của mất thì người còn, nó lấy vài món đồ thì thôi kệ nó để mình được an toàn tánh mạng nhưng không, tử thủ luôn, chết cũng chịu mà phải giữ. Chúng ta có thấy trường hợp này nhiều không? Rất là nhiều, đó là ý nghĩa hai chữ thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, cầm gậy, cầm dao, cầm mã tấu, cầm súng đạn. Từ cái khẩu tranh cho đến cạnh tranh rồi chiến tranh, muốn làm chủ, biết ta là ai không, ta đây là ngon lành lắm, ngươi dám không nghe lời ta là bắt đầu có chuyện. Từ một con người cho đến những cái hội nhóm với đoàn thể, đoàn thể này với đoàn thể kia, nhóm này với nhóm nọ, thậm chí tông này với phái kia, đạo này đạo khác, đừng nói chuyện ngoài đời là chiến tranh, ngay cả trong người tu cũng có chiến tranh nữa, có thánh chiến.
Ngày nay chúng ta thấy mưa bom lửa đạn, tan nát sinh mạng không biết bao nhiêu mà nói, đó là từ cái chỗ này nè, ái này nó ra chín pháp này là chín cái thứ ác độc, cấu nhiễm, khổ đau này đó là từ khát ái. Qua đây chúng ta mới thấy trí tuệ của Đức Phật là siêu khủng siêu, là bậc Thế Gian Giải, giải mã thế giới này hết tất cả những sự, những vật, những việc, những người, tất cả ở trên cái hành tinh này, bao nhiêu hành tinh, bao nhiêu thái dương hệ này giải mã hết trong cái thánh trí tuệ, như vậy chúng ta mới gọi là bậc đại giác, bậc toàn giác, bậc chánh giác, bậc vô thượng giác. Chúng ta dập đầu chúng ta lạy từ lúc sanh ra tới lúc chúng ta chết trăm tuổi vẫn còn lại hói cái đầu luôn, tất cả mọi cái đều từ cái tham, cái ái này, cái dục đó.
Nói những cái lời chia rẽ, thấy người ta phát triển, thấy người ta tốt là chọt, đâm bị thóc thọc bị gạo, chia rẽ, lôi kéo "đi về với tôi đi, đừng đi theo người kia, người kia tệ lắm, dở lắm, đi theo tôi nè". Tu hành rồi mà còn vậy chứ đừng nói chi người đời, đau lòng lắm, khóc thương tội nghiệp lắm, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều những cái ác và bất thiện pháp. Bởi vậy nên bây giờ con tìm thấy hạnh phúc tối thượng rồi, độc cư rồi, sung sướng quá rồi, hạnh phúc quá rồi giống như là tìm được lẽ sống rồi. Thật sự là con ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, ớn lạnh quá cái thế gian này, bây giờ còn chút dư tàn nên cố gắng cho tới lúc nó diệt tận luôn chứ thật sự là ra đi không bao giờ trở lại, những cái tâm địa hết sức là khủng khiếp, gian trá, xảo ngụy, ác độc, phản trắc, rắn rết, bò cạp, sói lang.
Đau khổ là cái thế gian này, hèn hạ cho nên cái câu con treo trong Quán Chiếu Đường:
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Phải có một cái tâm như thế nào mới có thể đạt được cái thánh pháp, thể nhập được cái thánh pháp này? Tâm phải chân thành, phải cung kính, phải tha thiết, dám bỏ cả cái sinh mạng của mình để cầu giáo pháp vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, phải là cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng, Tại sao người ta tu, người ta học thượng nhân pháp mà không đạt được? Tại vì cái tâm hạ liệt nó không xứng như cái pháp cao thượng, cái tâm gian trá, xảo trá nó không xứng với cái pháp chân chánh, chân thật, chân thành, cái tâm nhỏ nhen, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi không xứng với cái đại pháp quảng đại, vô lượng, rộng lớn, vô biên, cái tâm vô minh, hôn mê, si ám đâu có xứng được cái pháp minh trí, cái pháp quang minh, cái pháp minh kiến. Tự nó không có tương ứng thì nó loại ra thôi, thời gian nó cũng văng ra hết, nó đào thải ra hết, người với pháp phải tương xứng, tương ưng mới có thể hòa nhập, thể nhập, thâm nhập, chứng nhập. Tu thời gian mình sẽ thấy rõ được cái tâm của mình và điều chỉnh càng ngày để mình được thể nhập, tuyệt vời lắm, tuyệt diệu lắm, tối thượng lắm.
" Này các Tỳ-kheo, có nhân, xuất ly tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, vô sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, bất hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.
Này các Tỳ-kheo, do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi. Do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi. Do duyên xuất ly tư duy, xuất ly dục (chanda) sanh khởi. Do duyên xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình sanh khởi. Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi. Này các Tỳ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Phải có nhân duyên thì mình mới có cái sự tìm cầu thoát ra để mình tìm cầu giải thoát. Đầu tiên do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi là cái gì? Cái này là các giới tử hiểu rất rõ, lúc đầu mình đi lên dự khóa tu thì cứ nghĩ là lên để cho biết vậy thôi, lên tu gieo duyên thôi nhưng mà khi mình lên tiếp xúc được cảnh núi rừng, không khí trong lành, tươi mát, các thầy, các cô hiền đức, từ tâm, giáo pháp thâm sâu, vi diệu, tối thượng, một đạo lộ rõ ràng, minh bạch, tận tường cho mình diệt khổ đau thì lúc đó xuất ly tưởng sanh khởi. Đó là do mình duyên xuất ly giới đó là cái cảnh núi rừng, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, thiên nhiên tươi mát, đất trời rộng lớn, con người hiền hòa, thân thiện, giáo pháp chân chánh, nguyên chất, đạo lộ minh bạch, tỏ tường.
Đó là mình tiếp xúc được xuất ly giới, cái môi trường để cho mình thoát ra, cái môi trường viễn ly, cái môi trường xuất ly, cái môi trường xả ly, cái môi trường giải thoát mà chính mình được trải nghiệm nửa tháng rồi xuất ly tưởng sanh. mình cũng được giống như mấy thầy, mấy cô vậy nè, tuyệt vời không? Hay là những vị xuất gia cũng vậy đó, nhiều khi có những vị đi đến để thăm cảnh, viếng cảnh, tính là ở một ngày, hai ngày thôi nhưng lại thấm, thấy cái đạo lộ vi diệu quá nên ở thêm bảy ngày. Thế là do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi, người suy nghĩ tu bao nhiêu năm nay rồi mà mình tìm không có ra được thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, bây giờ mình thấy được rồi. Sau đó suy nghĩ quyết định đi về xin lên nhập chúng tu, do duyên xuất ly tư duy cho nên xuất ly dục sanh khởi, có sự ham muốn xuất ly.
Do tiếp xúc nó có ra cái tưởng mong muốn mình cũng giống được như vậy và nó khởi lên một cái suy nghĩ "mình phải thực hành, mình đi tu, mình tìm giải thoát, bây giờ có cái môi trường giải thoát tốt đẹp, đầy đủ như vậy, hiền thiện như vậy, tại sao mình không chịu đi". Như vậy có một sự thúc giục mình phải xuất ly, phải viễn ly, phải xả ly, phải bỏ những cái chỗ ồn ào, náo nhiệt, lăng xăng, tất bậc, vội vã, bận rộn để mình tìm được một cái chỗ viễn ly, xa vắng, tịch tịnh, an lạc, thanh lương như vậy, chánh pháp như vậy. Từ cái suy nghĩ muốn thoát ra đó có một sự ham muốn thoát ra sanh khởi, do cái ham muốn được thoát ra, được giải thoát cho nên nhiệt tình xuất ly sanh khởi. Có một cái sự nóng bỏng, có một cái nhiệt tâm, có một cái nhiệt huyết, có một cái sự bốc cháy ở trong lòng mình phải viễn ly, phải xuất ly, phải thoát ly, phải xả ly, về núi rừng ở, cho nên xuất ly nhiệt tình sanh khởi.
Chúng ta thấy đúng đạo lộ này không? Mình đi có đúng cái đạo lộ này không? Do duyên xuất ly nhiệt tình, cái sự nhiệt tình muốn giải thoát, nhiệt tình muốn tu hành, nhiệt tình muốn về núi rừng cho nên xuất ly tầm cầu sanh khởi, tìm cầu cái sự xuất ly, mong cầu sự xuất ly, mong muốn và tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được cái sự xuất ly này, từ bỏ những cái thứ cần phải từ bỏ, đáng phải từ bỏ để mình đi đến cái chỗ đáng phải đi, đáng phải đến, đáng phải tu học.
Do vị này đi tìm cái sự tìm cầu giải thoát, cái sự tìm cầu viễn ly, sự tìm cầu xuất ly cho nên vị Đa văn Thánh đệ tử này thực hành chánh hạnh theo ba xứ thân, miệng, ý. Quá vi diệu, quá tối thượng, quá tuyệt vời luôn, cũng như các vị chư Tăng Ni vậy đó, do duyên xuất ly giới tức là các vị nghe được những cái thánh pháp Nikāya, đó là xuất ly giới, những cái phạm trù để đưa cho mình giải thoát, cái đạo lộ để đưa cho mình thoát ra, con đường chỉ cho mình đoạn tận khổ thì cái đó gọi là duyên xuất ly giới. Mình mở lên mình nghe các bài của bậc đạo sư, của con chẳng hạn, đó là mình duyên xuất ly giới, mình nghe mình nói "đây rồi, tìm được rồi, tìm ra rồi, thấy rồi". Đó là duyên xuất ly giới, rồi mình có hình bóng mình phải về đó tu, mình phải về Linh Quy tu rồi chứ không ở đâu nữa.
Cái hình bóng mình hiện ra là mình được ngồi trên này tu giống như mọi người là xuất ly tưởng sanh khởi, suy nghĩ đủ mọi cách bây giờ phải làm sao, bỏ mấy cái học mà vô bổ này, vô ích này, học lòng vòng ở trong cái ngũ uẩn này, trong cái danh lợi, trong cái tham, sân, si này, không có cái đạo lộ giải thoát này. Bỏ đi, đi tìm cầu cái chánh đạo, chánh pháp, thánh pháp tối thượng đi, xuất ly tu duy sanh, cái tưởng xuất ly rồi tới cái hành xuất ly. Sau đó từ cái sự suy nghĩ để làm sao đi lên núi tu để mình giải thoát thì sanh khởi ra sự thúc giục để cho mình đi tu, thúc dục cho mình thực hiện cái sự giải thoát, xuất ly dục sanh. Do cái sự thúc giục để cho mình xuất ly, thúc giục để cho mình đi lên núi rừng mình tu, do cái duyên đó cho nên sanh Khởi ra sự nhiệt tình, mau lên, nhanh lên, kết thúc lẹ lên cái vòng luân hồi sanh tử, cái vòng luẩn quẩn này, cái học quờ quạng, mù lòa này. Mình phải đi ra khỏi cái này để mình học minh trí, mình học thánh trí, học thánh pháp, mình học thánh đạo để mình đạt lên tới thánh quả thì nó sanh khởi ra cái nhiệt tình xuất ly, trong lòng mình nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình, nóng bỏng.
Do duyên xuất ly nhiệt tình cho nên xuất ly tầm cầu sanh khởi, nhất định mình phải đi tìm tới, mình phải đi tới, mình phải thực hiện, mình phải sống đời sống viễn ly, đời sống xả ly, đời sống xuất ly, đời sống đúng như những gì Đức Phật và các bậc thánh hiền đã sống. Mình phải sống như vậy, nhất định mình phải đi tìm cầu, mình quyết định phải đi đến, phải đi tu, xuất ly tầm cầu sanh khởi. Cuối cùng có mặt tại nơi này, hoan hỉ không, hạnh phúc không, vinh quang không, vinh hiển không, tự hào không?
Cũng vậy, bây giờ tới con phải về Cô Phong Đảnh, tiếp xúc cái cảnh thiền tịnh, thanh tịnh, viễn ly, xả ly nên làm thành mấy trăm bài kệ, cái xuất ly tưởng sanh, tư duy nó sanh. Mình ở ra dài lâu đi, thế gian có cái gì đâu, chùa viện có cái gì đâu, nấm mồ thôi, cái huyệt chờ sẵn thôi, như vậy cái hình bóng độc cư sanh khởi trong tâm, suy nghĩ về độc cư, suy nghĩ viễn ly sanh khởi lên, sau đó là ham muốn để được viễn ly, xuất ly, xả ly rồi tác ý hoài "mày bỏ nha tâm, chết nha tâm, Tao đánh mày nha, tao giết mày chết nha tâm. Cái tâm tham ái hả? Mày muốn ham vui phải không? Ham chơi phải không? Ham bận rộn phải không? Tao giết mày chết nha, mày phải xả ly, xuất ly nha, mày phải đoạn ly nha, mày phải từ bỏ nghe không".
Cứ tác ý hoài, bây giờ nó sanh khởi là chỉ ham muốn xuất ly, nhiệt tình xuất ly, nó tầm cầu xuất ly và nó tầm cầu sự tầm cầu xuất ly. Cuối cùng giờ có mặt ở Cô Phong Đảnh, thấy khỏe vì tìm được lẽ sống, tìm được lối sống, tìm được con đường sống, tìm được kế sống. Cũng vậy, cái người nhập thất cũng y chang vậy đó, phải khéo biết tác ý, tuyệt vời lắm cho nên cái sự giải thoát của mình, sự từ bỏ của mình là nó có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Nếu như mình gặp trúng cái nhân duyên tà thì khổ, mình tưởng đâu giải thoát nhưng mà cuối cùng vô đó là ràng buộc, tưởng đó là trí tuệ mà cuối cùng vô đó là tà kiến thì khổ lắm. Cho nên mình phước duyên lắm, con thưa chư tôn thiền đức, chư hiền trí cái công đức, cái phước báo của mình, cái nhân duyên của mình tối thượng lắm. Mình phải biết, không biết là mình tội nghiệp mình lắm mà một tỷ kiếp sau, một ngàn tỷ kiếp sau cũng không có gặp được thánh pháp đâu.
Bây giờ đang tới thời kỳ diệt tận rồi mà mình không biết trân quý là nó uổng vô cùng, tiếc lắm, đừng có cô phụ Đức Phật, đừng có cô phụ thánh pháp, đừng có cô phụ bậc đạo sư. Con chả là gì hết á, con khắc ghi trong lòng con bây giờ là nùi giẻ rách, các ngài đừng cần nhớ con gì cả, nhớ ân đức bậc đạo sư ân đức, chánh pháp, ân đức tam bảo, ân đức các bậc thánh Tăng. Đừng cô phụ lấy mình, đừng có phụ bạc mình, đừng có phụ bạc cha mẹ, ông bà, đừng có phụ bạc những người thân thương nhất đang tựa cửa mong chờ, đang hy vọng, nhớ thương, đang trông đợi, tin cậy vào mình. Đừng có cô phụ, đừng có phụ bạc, có phụ lòng mẹ cha, ông bà, cô bác, anh chị em, những người thân thương nhất đang mong chờ, đang chờ đợi, đang hy vọng, đang trông chờ.
Đừng có sống một cái cuộc đời ẩn dương nương Phật, mượn đạo tạo đời, lục bình trôi sông, tu chơi chơi chờ ngày qua đời. Hãy làm cho mình có một cái sự ham muốn giải thoát, nhiệt tình giải thoát, tầm cầu sự giải thoát, tầm cầu sự tầm cầu có bậc thánh. Hãy dùng cả mồ hôi, nước mắt, máu sinh mạng này. Tại sao mình dám từ bỏ cha mẹ, anh em, bà con, cô bác, người thương, người yêu, vợ chồng, anh chị em, sự nghiệp, tương lai, tất cả mình dám từ bỏ tại sao còn một chút ở trong tâm này mình không dám từ bỏ? Cha mẹ mình bỏ được, ông bà mình bỏ được, anh chị em mình bỏ được, người thân thương nhất của mình bỏ được, người yêu, vợ chồng mình bỏ được hết, tương lai sự nghiệp mình bỏ được hết, tuổi thanh xuân mình bỏ hết, tại sao cái ái nhỏ ở trong cảm thọ đó mình không bỏ được? Tại sao cái ảo ảnh của tự ngã mình không bỏ được? Những cái suy nghĩ nhỏ nhặt đó mình không bỏ được?
Mình nói cái tâm "mày là đồ ngu, tao giết mày, mày đừng có hại tao", nó sanh khởi là những cái đó là mình quay ngồi thiền, mình về một mình, mình đi ra gốc cây, tảng đá, mình ra bụi trúc, mình ra ven đồi rồi mình la rầy nó "tao nhục nhã lắm, mày đừng có hại đời tao, đừng có hủy hoại cuộc đời tao. Mày là cái thứ khốn nạn, ác độc, súc sanh, súc vật. Mày tan biến khỏi hoàn toàn đi, tao giết mày chết, giết mày chết, tao bầm mày ra thành trăm mảnh, đồ súc sanh, súc vật, thú vật, ác ma, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng có làm cho ta sống một đời sống nhục nhã, tội bạ, hèn hạ như vậy". Mỗi ngày phải tác ý trăm lần, ngàn lần, cứ như vậy mình tác ý rồi lần lần sẽ thành tựu được một cái tâm xuất ly, tâm viễn ly, tâm xả ly, cái tâm thoát ly cao thượng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người ném một bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Người ấy với tay và chân gấp dập tắt bó đuốc ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ không gặp bất hạnh và tai họa.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với tưởng bất chánh khởi lên, gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, không có phiền lao, không có sầu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Gấp rút, nhanh lẹ, mau chóng nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, từ bỏ những cái tưởng bất chánh, người ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, an vui, an ổn, an bình, an yên, an lành, an tịnh. Tâm lúc nào cũng thanh lương, mát mẽ, dễ chịu, hiền hòa, nhân hòa, từ bi, rộng lượng, không có phiền lao, không có phiền não, không có sầu não, không có nhiệt não. Sau khi thân ngoại mạng chung được sanh vào thiện thú, sanh vào các cõi lành, đi đến đoạn tận tất cả các lậu hoặc, chấm dứt hoàn toàn sanh tử.
Hãy làm cho mình cái muốn mạnh mẽ lên, dục như ý túc sanh khởi tinh tấn như ý túc sanh khởi, tư duy như ý túc sanh khởi, thẩm sát như ý túc sanh khởi lên. Mình muốn như vậy là mình phải tác ý, tác ý, tác ý hoài, xuất ly đi ra khỏi những cái thứ này, từ bỏ những cái thứ này, diệt tận những thứ này. Đầu tiên là nhiếp phục, chế ngự, kế đó là diệt tận, từ bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ, vứt bỏ, xả bỏ, sáng, chưa, chiều tối, nửa đêm cũng vậy, bất cứ lúc nào rảnh là tác ý hoài, nói chuyện với tâm hoài. Cũng như lúc đầu con có nói hôm trước tâm còn muốn đi ra làm này làm kia, công chuyện này kia, bao nhiêu người réo gọi cuối cùng la riết giờ tự nhiên nó phá qua một cái lớp cảm thọ mình thấy rõ luôn, mình cảm nhận được luôn là cái thọ hướng ngoại nó bị què quặt xuống. Mình thấy rõ luôn, mình cảm nhận rõ luôn.
Hôm bữa con có tâm sự với thầy Huệ lúc con ra thất nói chuyện với thầy là mình sẽ thấy rõ cái thọ hướng ngoại đến nó bị nó bị đánh khụy xuống, nó không còn khả năng để chạy rong nữa. Cũng vậy mình tác ý riết, chặn đầu chặn đuôi tác ý từ xa, bậc đạo sư dạy là phải tác ý từ xa trước, đừng có đợi tới chuyện rồi tác ý không có kịp. Cứ tác ý hoài hoài thì tới chuyện tự nhiên mình sẽ có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, diệt tận, tẩy sạch, siêng năng tác ý, nỗ lực tác ý, cố gắng tác ý mình sẽ có kết quả tuyệt vời. Hiện tại trú trong an lạc, an vui, an lành, an ổn, an bình, an yên, an tịnh, không có phiền não, không có sầu não, không có nhiệt não, hiện tại tâm lắng dịu, dễ chịu, thanh lương, mát mẻ, tịch tịnh, ngọt ngào, độ lượng, bao la. Thân hoại mạng chung sanh lên cõi lành hoặc là diệt tận tất cả các lậu hoặc đi đến bất tử.
Sư cô 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành đảnh lễ sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Hôm nay trong thời nghe pháp trong con có rất là nhiều cảm thọ, thứ nhất là cảm thọ con hoan hỉ khi những ngày qua con được nghe sư phụ giảng những bài pháp, trong con rất là hoan hỉ. Khi con nghe sư phụ giảng về tám sự hỷ lạc mà con cảm nhận được từ sư phụ khi hình sắc và âm thanh khi con được duyên gặp người trong Phật học thường thức năm 2021, và người đã làm cho con có những cái xúc cảm, nước mắt con rơi.
Khi con ở đời nước mắt con rơi con nhận ra đó là vì con có sự tham ái, khi con nghe những bài giáng về cha mẹ thì con khóc, nhưng khi sư phụ giảng cho con nghe nước mắt con rơi là vì con rơi cho tự thân con và con có một khao khát, con tìm cầu đến sư phụ. Duyên đến với con qua những bài giáng của người làm cho con phải tìm cầu, nhưng sự tìm cầu của con mạnh nhất khi con được nghe âm thanh người nói là người sẽ nhập thất và sẽ ẩn tu thì lúc đó ý chí của con rất là mạnh và con tìm rất là nhiều phương tiện để con được đi đến đây. Hôm nay bài pháp diễn cho con nhớ lại từng tưởng và từng suy nghĩ của con đi trong bài pháp hôm nay rất là mạnh, và con hiểu được những cái cảm giác và cảm thọ khi con được nghe những âm thanh của sư phụ giảng.
Thật sự khi con lên đây thì con khóc rất là nhiều vì từ xưa giờ nước mắt con chỉ chảy vào trong, không có trào ra ngoài nhưng khi con nghe sư phụ đã chạm đến con và nước mắt con rơi vì con hạnh phúc chứ con không vô minh như lúc trước. Bây giờ con đã hiểu được những lời Đức Phật dạy và con sẽ cố gắng tu tập, con sẽ thực tập mỗi ngày để con thoát ra những tham dục trong chính tự thân con, và những xúc cảnh bên ngoài để con được hướng đến những ý chí cao thượng để con được thoát luân hồi. Con kính ơn sư phụ và kính ơn quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí đã chỉ dạy cho con. Con xin hết.
Sư cô Tịnh Hòa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con Tịnh Hòa xin phát biểu dòng cảm thọ của mình trong bài pháp của sư phụ sáng nay. Kính thưa sư phụ con bước vào con đường tu hành này vì rõ cái khổ đau của bản thân và muốn giải thoát khỏi những cái khổ đau, chuyển hóa những đau khổ đó và để giác hiểu, chứng ngộ cho mình tăng trưởng thêm cái trí tuệ học, nghe pháp, hiểu pháp và muốn thực hành pháp. Nhưng con vô minh, tầm cầu vì muốn được thêm nhiều kiến thức, vì muốn mình hiểu biết thật là nhiều nên con đã đi ra khỏi dòng pháp này tìm đến sự học ở các trường Phật Học ở đó. Cái sự tầm cầu của con lại khởi lên thêm nữa, hết dục này đến dục kia và con cứ chạy theo điểm số, chạy theo sự cúng dường của Phật tử, chạy theo mọi sự ăn uống và sự thích thú trong đó, những cái hoạt động ở các trường học.
Khi con vẫn theo dõi ở đạo tràng của mình, con thấy sư phụ bị bệnh trong con tự nhiên khởi lên cái sự lo lắng, rất là lo lắng. Lo lắng rằng mình không gặp lại sư phụ, mình không được nghe pháp nữa và mình chạy đi đâu vậy. Mùa xuân vừa rồi con trở về đây để được lắng nghe, để được lắng dịu lại cái tâm của mình xem thời gian qua thật sự mình đang đi tìm cái gì vậy, tìm sự giải thoát hay là tìm sự ràng buộc thêm vào bản thân mình. Và như sư phụ nói cái tưởng muốn xuất ly, muốn viễn ly nó thúc giục bên trong con và con chỉ muốn ở lại nơi đây, con chẳng muốn về nơi cái chốn, cái chỗ mà mình bị ràng buộc nhiều thứ mà không phải là cái người tu thật sự, không phải mục đích thật sự mà mình hướng đến.
Và con đã xin phép sư phụ được nhập chúng tu học tại đây, con đã từ bỏ việc học của mình, từ bỏ tất cả để đi trên cái đạo lộ của chánh pháp. Con xin tri ân trên sư phụ, con trên tri ân trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng đã hoan hỉ chấp nhận cho con được trở lại với đạo tràng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Đồng Dương: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ tôn kính, con Kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Dạ con kính thưa trên sư phụ, hôm nay qua bài giảng của sư phụ thì con có chiêm nghiệm được một chút ít, đó là trong cái cõi dục giới này chúng sanh thường là đi tìm cái dục lạc mà Đức Phật nói là đi tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Mình sống trong cõi dục thì cái xu hướng của mình là tìm dục lạc trong cõi dục, còn người xuất gia thì Đức Phật dạy mình là đi tìm cái hỷ lạc do ly dục sanh, có nghĩa là vẫn có cái hỷ, cái lạc nhưng cái hỷ lạc này không phải trong dục mà là trong ly dục. Con cũng nhớ trong cái bài kinh Bát Thành trong Trung Bộ Kinh ngài A-nan cũng chỉ dạy mười một cửa bất tử mà mười một cửa này tất cả các cái tầng thiền đều do suy tư tác thành.
Như vậy là khi mình muốn có được cái hỷ lạc trong ly dục thì mình phải có cái sự suy tư, xuất ly ra khỏi dục. Như bài kinh này Đức Phật cũng đã phân chia một bên là dục giới thì sẽ có những cái tưởng về dục, những cái tư duy về dục, những cái nhiệt tình về dục, những cái mong muốn về dục. Còn mình sống trong cái xuất ly thì sẽ có những cái xuất ly dục, những cái tưởng xuất ly, những cái tư duy xuất ly, những cái tầm cầu xuất ly, cái nhiệt tình trong việc xuất ly, những cái mong muốn về việc xuất ly. Con cũng suy tư như vậy là người tu thì tất nhiên mình phải có những cái niệm an tịnh, rỗng lặng nhưng đối với những người mới tu tập thì chưa phải thời để mình có những cái rỗng lặng, an tịnh đó mà bắt bước đầu tu học của mình là mình phải siêng năng suy tư trong pháp, siêng năng như lý tác ý. Nhờ siêng năng suy tư thì mình mới có được những cái tưởng, cái tư duy, những cái tầm cầu xuất ly ra rồi về sau mình mới có cái sự an tịnh, còn đang sống trong cõi dục giới này mà mình cứ mong muốn có một cái sự rỗng lặng trong thân tâm mình bước đầu thì rất dễ đi sai đường, rất dễ bị lôi cuốn trong những cái tưởng tư duy trong dục lúc nào không hay.
Chính vì vậy mà bậc đạo sư cũng như sư phụ luôn nhắc nhở chúng con phải thường xuyên tinh tấn như lý tác ý, thường xuyên tinh tấn tư duy, suy tư, không có để cho mình ở không. Đó là một ít chiêm nghiệm của con trong lúc con nghe sư phụ giảng pháp, con kính trình lên sư phụ, quý thầy, quý sư và đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Giữa hai cái sự trình pháp của sư cô Tịnh Hòa với sư cô Đồng Dương chúng ta nhìn ra được nhiều cái để mình học. Mình đã nhận thức, ý thức một cách sâu sắc chánh pháp của Đức Phật tại sao mình còn đi lòng vòng đi tìm gì nữa, còn đi tìm tức là chưa có thấy, mà người đã thấy rồi thì không có tìm nữa. Người đã gặp rồi còn tìm nữa không? Người còn tìm tức là người chưa gặp tại vì người không đủ lòng tin cho nên gặp cũng như không gặp, hoặc là vì cái vô minh, vì cái dục, cái bản ngã nó đánh thắng cái chánh kiến yếu kém ở trong người mình. Mình cũng biết cái đó là chánh pháp đó nhưng mà vì cái dục, vì cái ái, yêu thích những cái mà mình yêu thích, ham muốn những cái mà mình ham muốn, từ bên trong cho đến bên ngoài chạy theo số đông, chạy đi ra ngoài hướng ngoại, mình không an trú được cái thành quả tối thượng mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã chứng ngộ tức là mình không có lòng tin với pháp.
Đây là cái chỗ quyết định của một người quy tam bảo, hay là người cư sĩ cho đến người xuất gia là tin vào sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu cái quy y pháp, thành tựu ra một người thánh đệ tử. Nếu không có cái này thì không có đi vào trong hàng đệ tử của Đức Phật tức là không tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật thì làm sao đi theo Đức Phật một cách chân chánh được? Cho nên có rất nhiều vị cũng nghe, cũng học cái dòng pháp Nikāya, cũng biết đây là chánh pháp nhưng mà rồi các vị này vẫn rơi rớt, các vị này vẫn trở lại cái thói quen, cái tập khí, những cái yêu cái thích, cái muốn của mình. Đây là một cái điều hết sức là thương, hết sức là tiếc, mỗi khi con nhìn thấy gì con rất là xót ra, rất là đau lòng cho nên ngày hôm nay các vị ý thức được sâu sắc như vậy, có đường để quay về được là một sự chúc mừng rất là to lớn, một sự chúc mừng to lớn. Chư tôn và chư hiền chúc mừng cho Tịnh hòa lớn, dài, tức là đi mà vẫn còn biết đường trở lại, còn có những người đã đi không có đường về, có những người đã đi và có những ý niệm đang đi và có những ý niệm sẽ đi, mong rằng những cái vị đó hãy ý thức sâu sắc.
Đây là một cái bài học, một tiếng chuông cảnh tỉnh, thức tỉnh mình. Mình đi tìm cái gì trong cái thế giới vô minh này, trong những cái kiến thức phàm phu, những cái kiến thức hữu lậu, những cái kiến thức loanh quanh, luẩn quẩn ở trong vô thường, khổ não, bất an, tai họa, trống rỗng, trống không, vô ngã này. Mình đi tìm cái thấy biết gì? Cái thấy biết của thức tri, của tưởng tri, của ảo giác, của huyễn hư. Cái thấy biết tối thượng, chánh chơn, Chánh Đẳng Giác mình đã thấy đã biết rồi tại sao mình không diệt cái tâm chống đối, diệt cái dục, cái ái, cái thói quen đó để bắt mình, áp đặt mình đi vào trong pháp. Đó là một sự chiến đấu, đó là một sức mạnh, đó là một cái sự mà dầu tại bãi chiến trường thắng hàng ngàn quân địch không bằng tự chiến thắng được mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất, chính là chiến thắng được mình để chấp nhận thánh pháp, đi vào thánh đạo, thành tựu các thánh quả.
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Đây là một cái bài học rất quan trọng cho chúng ta, nhất là những vị xuất gia rồi cũng muốn này, muốn nọ, muốn kia với người ta, giống với người khác. Thương lắm, thương lắm, thương cái tâm mê lắm, thấy rõ cái tấm gương này, con là người ở trong đầy đủ về danh, về lợi, về vị trí, hướng dẫn trong tất cả các trường lớn của Phật giáo cả nước, từ Học viện Phật giáo, từ trường Cao Trung, từ lớp giảng sư ban hoằng pháp Trung ương, từ tự viện, từ giới luật viện, từ thiền viện nhưng tại sao con phải đi tìm trở về cội nguồn. Chúng ta có biết là trải qua biết bao nhiêu là nước mắt, là máu, con đã tìm bằng cả một cái cuộc đời cũng như bậc đạo sư hy sinh cả một cái sinh mạng, cũng như Đức Thế Tôn đã bỏ vô số, vô số, vô lượng huyết lệ tìm ra cho mình, bây giờ mình lại để qua một bên để mình đi tìm những cái kiến thức luân hồi hay sao, những cái thấy biết của phàm phu đưa mình vào vòng luẩn quẩn trói cột trong mê muội hay sao.
Đây là một đề tài thiền quán rất là lớn để cho những vị nào tịnh tín chưa có viên thành bị rúng động. Phải xác quyết, xác tín, tịnh tín, Chơn Tín Toàn một lòng tin chân thật, hoàn toàn trọn vẹn vào trong thánh đạo tối thượng này. Cái điều cô vừa chia sẻ rất là tốt, cái người tu trong vòng pháp này là thiền quán, là tư duy, là như lý tác ý, con nhắc hoài, nhắc hoài phải nỗ lực tác ý, phải nỗ lực viết bài, phải nỗ lực thiền quán, phải nỗ lực pháp đàm. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi mà mình không chịu tác ý thì làm sao thiện pháp sanh, trí tuệ sanh, làm sao đột phá bên trong. Chúng ta đọc lại tất cả các bài kinh những lúc bồ tát Tất-đạt-đa chứng đạo, thành tựu chánh giác là lúc đó ngài cũng vẫn suy nghĩ, suy xét bằng cái trí tuệ. Thành ra phải cố gắng siêng năng trong cái sự tác ý, viết bài, pháp đàm, con không có muốn nghe những cái ý kiến khi con đưa ra để cho tu học mà lại không có muốn, con đau lòng lắm, đau lòng lắm. Con đem hết cái tấm lòng, hết cả một cái tâm tư, bằng cả một cái trái tim để tạo điều kiện cho chúng ta tu học mà chúng ta lại có những cái suy nghĩ chống đối là con đau lòng lắm.
Thật sự là nước mắt chảy. Con mong là chúng ta hãy thương mình thật là nhiều, thương Đức Phật, thương bậc đạo sư, còn con chỉ là một cái người giẻ rách trên cuộc đời này, mau chống thôi sẽ mục rã, rệu rã giữa núi rừng cũng không cần ai biết hết. Nó sẽ chương phình ra, chết bất cứ lúc nào ở trong thất, quý vị biết là lúc đó nó đã phân hủy rồi, cũng có thể là chiều nay, ngày mai, tuần sau, cũng có thể là trong đêm nay. Con mong muốn là tất cả chúng ta hãy quyết liệt, dốc hết tấm lòng của mình, hãy nhìn kỹ cái ngũ uẩn của mình, nhận diện kỹ những cái hành động, ngôn ngữ, lời nói, suy tư của mình đưa đó vào trong pháp. Thật sự mình sống với một cái tâm chân thành, cung kính và biết ơn để đền đáp ơn đức vĩ đại của cha mẹ, của những người thân thương của mình, của những bậc ân nhân, ân đức với mình.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
THÁNH TRÍ VỀ KHÁT ÁI 2
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, chúng ta tiếp tục tìm hiểu thánh trí về khát ái, khi chúng ta học những cái bản kinh này chúng ta sẽ thấy được tầm vóc thánh trí vĩ đại của Đức Phật, chúng ta mới thấy được tại sao Thế Tôn được tôn xưng là bậc Thế Gian Giải, thông giải hết pháp thế gian, giải mã hết thế giới này, giải thích hết tất cả bí bật sâu kín nhất. Tại sao chúng sanh phải luẩn quẩn, phải loanh quanh, phải chìm đắm, phải trôi dạt, phải quay cuồng, phải điên đảo trong vòng nước mắt đầy khổ đau này. Thế Tôn sẽ khai thị, minh thị, minh hiển, chỉ rõ thì chúng ta thấy từng tất cả mọi ngóc ngách, mọi góc độ, khía cạnh, mọi phương diện, sự vận hành của dục của ái, của tâm thèm khát, tâm tham đắm, khoan khoái, thích thú, tầm cầu, chấp thủ, nắm giữ và đau khổ từ đâu. Chỉ có ở trong giáo pháp này chúng ta mới có thể thỏa mãn về cái đạo lộ thấy biết cũng như sự tu tập để đi đến diệt tận tất cả nguyên nhân khổ đau.
"... Trú ở Sàvatthi.
-- Này các Tỳ-kheo, có nhân, dục tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, hại tầm sanh khởi, không phải không nhân" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Có nguyên nhân thì những cái suy nghĩ tầm cầu về dục mới sanh khởi. Không phải tự động, tự nhiên, ngẫu nhiên mà những suy nghĩ tìm kiếm, tầm cầu về dục sanh khởi. Tất cả đều có nguyên nhân, không phải không có nguyên nhân. Bản kinh này Đức Phật nói dục, sân, hại, nhưng chúng ta trích phần dục. Có nguyên nhân dẫn đến chúng sanh sanh khởi ra những suy tư, tầm cầu về tham dục.
"Này các Tỳ-kheo, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi. Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi. Do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi. Do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Này các Tỳ-kheo, do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Dục giới ở đây là cảnh giới của dục tức là năm dục trưởng dưỡng, khi mình nhìn thấy một cái món đồ đẹp, một cái cảnh đẹp, một con người đẹp đó là duyên dục giới. Chúng ta thấy không phải dễ hiểu đâu nhưng hiểu ra rồi rất dễ, giờ nói từ cái thô đến cái tế cho chúng ta thấy, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi, thấy cái món đồ đó mình rất thích, thí dụ người này rất thích xe, hoặc người này rất là thích đồng hồ, thích cái món đồ gì đó mà người này gặp một cái chiếc xe đẹp, cái đồng hồ đẹp, cái điện thoại xịn, đời mới thì dục tưởng sanh khởi. Cái chiếc xe đó, cái đồng hồ đó, cái điện thoại đó khi họ tiếp xúc thì ở trong cái tưởng của họ liền nổi lên cái hình bóng mình cầm được cái điện thoại đó xài, leo lên chiếc xe đó mình chạy.
Giờ mình được theo cái đồng hồ đó trên tay đó là duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi, chúng ta thấy cái này có hết sức rõ ràng không ạ? Hết sức sáng tỏ không? Một người thích một cái món đồ nào đó mà họ nhìn thấy được cái món đồ họ thích thì lập tức ở trong cái tưởng liền sanh khởi lên cái tưởng họ đang hưởng thụ món đồ đó, họ đang sở hữu món rồ đó. Trong tâm họ có cái hình bóng về tự thân của mình sở hữu cái món đồ đó, có được cái món đồ đó, sử dụng món đồ đó, đó là duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Con người cũng vậy, nhìn thấy một đối tượng, một con người đẹp, cái đối tượng mà mình sanh khởi gọi là vừa mắt, vừa lòng, hợp với cái gu, đúng với cái gu, đúng với cái sở thích của mình thì lập tức ở trong cái tưởng khởi lên liền, mình được ở gần người đó, mình được nói chuyện với người đó, mình được sống chung với người đó, mình được sở hữu người đó, chiếm hữu người đó.
Do duyên dục tưởng, dục tư duy sanh khởi, cái hình bóng đó khởi lên thì tiếp theo đó là cái suy nghĩ ham muốn về món đồ đó, về con người đó sanh khởi lên. Mình phải làm sao tiếp cận được món đồ đó, con người đó, mình phải làm thế nào để mình có được, tìm đủ mọi cách ở trong cái suy nghĩ, tiếp cận trên số điện thoại, nhắn tin, ngày hôm qua mình học là tặng quà. Cái này nó vận hành khiếp lắm, cái hình hài, dóc dáng và cái âm thanh, cái y phục, cái nụ cười đó, thậm chí là nước mắt, thành ra chúng ta thấy cái này là thánh trí của Đức Phật. Tất cả những cái này là cái gốc ở dưới là khát ái, khao khát, tham ái, ái dục cho nên con đặt cái tên là khát ái thánh trí. Bao nhiêu cái suy nghĩ đó nó sanh khởi cho nên chúng ta thấy cái này là cả một cái lộ trình tâm vận hành của khát ác, o chúng ta nói tổng quát trước đi rồi từ từ mình đi chi tiết.
Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi, từ ở trên là nó xúc, do duyên dục giới tức là cái tiếp xúc, tiếp xúc là sanh ra dục tưởng tức là sanh ra tưởng, dục tư duy là hành, bây giờ dục dục là thọ, xúc ta thọ; tưởng; hành đó. Khi mình học mình áp dụng rồi mình nhìn ra là giải mã hết ngũ uẩn, giải mã hết, do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi, dục dục là mình muốn, ham muốn cái dục vọng đó, cái sắc dục đó, cái thanh dục đó, cái hương dục đó, cái vị dục đó, xúc dục đó, mong muốn được cái đó dục dục sanh khởi. Khi mình tiếp xúc món đồ, cảnh vật, một con người vừa lòng, thích ý, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái hấp dẫn liên hệ đến dục, mình nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm hay là xúc chạm, đụng chạm thì khi lúc đó bên trong mình có một cái muốn sanh khởi lên cái hình bóng muốn được cái đó, được cái món đồ đẹp đó, cái cảnh đẹp đó, con người đẹp đó, cái âm thanh dễ thương đó, dễ nghe, dễ chịu đó, cái mùi hấp dẫn đó, cái vị đó, cái món ngon và cái sự tiếp xúc êm ái, dễ chịu, nó mềm mại, nó khoan khoái, nó thích thú.
Tất cả sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái được thức dậy, nếu không tiếp xúc thì nó còn nằm ngủ. Mình tưởng đâu là nó không tiếp xúc vậy là nó không có, không phải vậy mà là nó ngủ, gọi là ái tùy miên chưa nhổ, khổ này vẫn sanh hoài.
"Như cây bị chặt đốn,
Gốc chưa hại vẫn bền
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh hoài"
(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 338)
Cho nên cái chỗ này là chỗ sâu sắc ở trong nhận diện ngũ uẩn đây, cái chỗ sâu sắc trong như lý tác ý đây, cái chỗ sâu sắc ở trong triển khai thiền quán đây là vì mình tưởng đâu là mình bình thường như vậy thì mình đâu có dục ái gì đâu, không phải, đó là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài, dục này vẫn sanh hoài, cái khao khát vẫn sanh hoài. Chẳng qua là vì nó bận làm cái này làm cái kia, nó bận công việc nọ này kia rồi nó tránh né, nó khỏa lấp nhưng mà tới khi duyên dục giới dục tưởng sanh khởi, duyên dục tưởng thì dục tư duy sanh khởi, nó tiếp xúc, nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm thì hình bóng xâm chiếm, tư duy sanh khởi, ham muốn nó nổi lên. Tại vì sao có những cái hình bóng đó, những cái suy nghĩ đó, những cái ham muốn, khao khát đó? Là vì ái tùy miên, cái khát ái tùy miên.
Hai cái chữ này hồi xưa khi con chưa vô dòng pháp này thì con nghe hai cái chữ này con cũng là hơi dị ứng chút, cái chữ khát ái nghe nặng quá nên né, không dám dùng từ này. Những người sau này học là cái từ này né tránh, người ta dùng từ tham ái, tham lam này kia nhưng mà tới bây giờ thì con thấy hai cái chữ này phải tôn lên là khát ái thánh trí tại vì cái chữ này thì Thế Tôn mới trình bày sáng rực cái nghĩa được. Khát là giống như là được uống, đói mà được ăn vậy đó, nó thèm thuồng, nó khao khát, nó đói khát, khát ái là cái gốc của bên trong của cái cảm thọ thâm sâu ở trong này, chẳng qua là nó không có gặp cái duyên, chẳng qua là nó không đủ cái duyên. Nếu mà nó gặp mà nó đủ cái duyên thử coo thì lúc đó nó như thế nào, nó là thú tánh, cái tánh con của nó biểu hiện ra hết, cái chất súc sanh, thú tánh trong đó, thú vật ở trong đó, gọi là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài.
Cho nên mình tu mà bây giờ mình không chịu tác ý, thiền quán, mình không muốn vận động trí não này kia, mình không thích làm sao mình nhổ được cái tùy miên ở trong này, trạng thái ngủ ngầm ngấm ngầm hoạt động mà thâm sâu, vô hình, giấu mặt mà nó đầy nhiều cái lớp mặt nạ. Vì thế nhiều lớp lắm, từ cái chỗ thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, đụng chạm, sanh khởi lên những cái tư tưởng ham muốn, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ làm sao để mình có cái này, làm sao để mình sở hữu được cái đó đây, được người đó đây, món đồ đó đây. Như vậy khi hình bóng nó ám ảnh, rồi những tư duy suy nghĩ nó cứ lầm thầm, nó cứ nói nói rồi tiếp tục cảm thọ nung lên, dục dục sanh khởi. Do những cái suy nghĩ ham muốn đó khởi lên thì bây giờ nó tiếp tục để củi vô, đổ xăng vô, đổ dầu lửa vô để cho cái ngọn lửa dục bùng lên, nó bốc lên, nó phun lên, nó cháy lên, dục dục sanh khởi.
Sau khi dục dục sanh khởi, do duyên dục dục, dục nhiệt tình sanh khởi, nhiệt tình là nóng bỏng, rực cháy, là phừng cháy lên. Dục dục ở đây là nó ham muốn cái dục vọng đó, dục nhiệt tình cái chữ này nghe thấm thía, pháp không có nhiệt tình, đạo không nhiệt tình, sự từ bỏ, yểm ly, ly tham nó không nhiệt tình nhưng mà dục thì nó nhiệt tình. Thành ra cái chỗ này là chúng ta thấy bậc Thế Gian Giải, chúng ta giải mã hết, đây là cái sự vận hành cái tâm thèm khát, đói khát, cái tâm thiếu thốn, khát khao, khát ái. Từ chỗ những cái hình bóng bị dục ám ảnh, những cái suy nghĩ về dục sanh khởi rồi sau đó là dục nó dồn dục, dục nó chồng dục, nó bình phương lên, nó thúc đẩy, nó thúc giục, dục dục sanh khởi, từ cái thúc giục như vậy thì lần lần nó cứ đẩy như vậy thì nó lên tới cái chỗ dục nhiệt tình, nóng bỏng lên, phừng cháy lên, rực cháy lên.
Tại vì cái lứa tuổi thanh thiếu niên nó vận hành cái này rất mạnh trong thọ; tưởng; hành và ngày hôm nay chúng ta nhìn thấy xã hội đó, nhìn thấy thế giới là đang vận hành rất là rõ ràng, rất minh bạch, rất tỏ tường và nhìn thấy trong tâm mình nó rành rõ. Chúng ta học cái này đi rồi chúng ta quán chiếu và chúng ta phải thiền quán, phải chiêm nghiệm và phải viết ra, phải pháp đàm, phải khắc họa hoài hoài, đồ hoài, tô đậm hoài ở trong cái trí não của mình, trong cái tâm thức của mình, trong cái cảm thọ của mình để cho vĩnh diễn không quên, khi mà vĩnh viễn không quên thì mình có một cái trí quán để nó sanh khởi lên là mình dập nó chứ, quản lý, quản giáo, quản thúc nó. Cái dục này nó chồng dục kia, muốn này thêm cái muốn khác, cái ham này chất thêm một cái ham kia, cứ vậy thì nó làm cho cái tâm này nó nóng bỏng, đốt cháy cái tâm này, phừng cháy lên ở trong cái ham muốn, dục nhiệt tình sanh khởi.
Khi mà nó đã bùng cháy lên cái sự khao khát, thèm khát, khát ái, đói khát như vậy thì do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Nó phải đi kiếm, cái thọ dưới nung lên rồi cái tưởng cứ chập chờn ám ảnh, cái hành cứ suy nghĩ thúc giục và người này cuối cùng phải chạy đi. Nhiều khi không có chuyện gì hết trơn cũng phải xách xe chạy chứ còn ngồi nhà, ngồi chùa không nổi, đó là dục tầm cầu sanh khởi. Mình quán chiếu mình sẽ thấy nó rõ lắm, cái ánh mắt dáo dác đi tìm cái gì đó, lúc nào cũng dáo dác, lúc nào cũng dòm này dòm kia, đi tìm cái gì, kiếm gì đó, đó là dục tầm cầu ở trong ánh mắt hiện ra. Lỗ tai ngóng ngóng tìm kiếm, hoặc là kiếm tham, hoặc là kiếm sân, có khi đi kiếm chuyện cho khổ đau nữa.
Do đi tìm cầu những cái sự tìm cầu về dục, cái này chồng thêm một lớp nữa, kẻ vô văn phầm phu thực hành tà hạnh theo ba chỗ thân, miệng, ý. Cho nên cái chỗ này nhận diện ngũ uẩn thấy khiếp lắm, rung sợ lắm, hỡi ơi lắm, ê chề lắm, não nề, chán chê mà ngao ngán, cái thọ này nó ác độc, cái tưởng, cái hành, thức là ác độc. Học rồi mình mới thấy tại sao Đức Thế Tôn nói thọ; tưởng; hành; thức là kẻ giết người.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Cho nên mình nhận diện ngũ uẩn lúc đầu là vậy nhưng khi đi sâu vào thì nhiều cái lắm, Đức Phật nói tới 108 cái thọ luôn, đi sâu vô nữa là 18 cái thọ, 36 thọ rồi lên tới 108 thọ thì những cái này càng vi tế để mình nhìn thấy được ra. Bao nhiêu cái dục nhiệt tình rồi tới cái dục tầm cầu, tầm cầu xong rồi do tầm cầu dục tầm cầu, đi tìm kiếm cái sự tìm kiếm dục. Cho nên mình mới nhìn thấy bây giờ người ta có khi sống cái đời sống vất vơ vất vưởng, đừng nói chi cái người đời, người tu cứ lang thang, xách gối chạy đi hoài mà không biết đi đâu, mà đâu có biết cái đó là cái dục nó dẫn đi, dục hướng ngoại nó dẫn đi. Mình không nhiếp phục, chế ngự được cái tâm hướng ngoại đó, cái tâm vất vưởng lang thang đó thì đời sau sẽ trở thành cô hồn, nếu không có đầy đủ cái thiện nghiệp thì sanh vô đời sống của ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, lang thang vô định, tâm lậu hoặc lang thang.
Trong tâm cứ thúc giục hoài, cứ thèm khát, cứ đói khát, cứ khao khát, hết dục này tới dục kia, hết những hình ảnh dục tới cái suy nghĩ dục là hết rồi, rồi từ cái dục này nó đẩy cái dục kia, rồi từ cái dục kia nó đẩy cái dục nọ làm cho nhiệt tình, nóng bỏng lên ở trong các cái dục thì nó phải đưa đến cái sự chạy đi tìm, đi kiếm. Khi chạy tìm đi kiếm như vậy thì nó đi tìm những cái mà nó đi tìm dục, hết cái lớp này chồng lên lớp kia, chúng ta thấy cái thánh trí tuệ của Đức Phật cái tầm vóc nó siêu việt, siêu thế, đây gọi là trí xuất thế, trí siêu thế trí của bậc tối thượng thánh nhân là cái lộ trình tâm vận hành ở trong ái, trong cái dục tham.
Do tầm cầu dục tầm cầu kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ thân, miệng, ý, đi tìm cầu những cái sự tìm cầu về dục mà ngày nay thì chúng ta nhìn thấy từ trong tâm mình, từ ngoài mình thấy mình hỡi ơi, càng ngày cái dục vọng con người càng khủng khiếp. Nhiều khi những chuyện không có là gì hết cũng chạy rần rần cho tai nạn giao thông chết, đánh lộn đánh lạo, nhiều khi hoa nở chút xíu thôi à, hay là có tuyết chút xíu thôi là bắt đầu chạy rần rần dành giật này nọ kia rồi tai nạn giao thông. Có gì đâu, chỉ cần quẹt cái màn hình lên thấy thông báo cái chỗ đó có cảnh đẹp thì đó là duyên dục giới cái dục tưởng sanh là mình phải có tấm hình nha. Cái suy nghĩ "mình phải đi tới" rồi nó thúc giục ở trong, dục dục, nó nhiệt tình, hăng hái và cuối cùng là leo lên đi chạy nhanh, chạy lẹ, chạy mau dành chỗ, rồi xảy ra tay nạn, rồi xảy ra ẩu đã. Ở trên Đà Lạt đứng dành chỗ chụp hình mà đập đầu té ngã xuống nhập viện cấp cứu, thậm chí là té xuống rồi chết luôn, đối thông hai mộ, thung lũng tình yêu té đạp đầu xuống chết luôn vì tạo dáng chụp hình mà không hay phía đằng sau là cái vực. Khi nó thấy một cái cảnh đẹp rồi cái tưởng phải có tấm hình đẹp nhất, suy nghĩ rồi nó thúc giục trong một cái sự nóng bỏng như vậy, tầm cầu, tìm cầy như vậy thì kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba xứ thân, ngữ, ý.
Cái thô là tà dâm, là dâm dục, cái tế nữa là những cái giành dật, những cái làm không có chân chánh, cái lời nói không chân chánh tại vì phải lừa đảo người ta, gạt người ta để đạt được cái tham muốn của mình, đó là tà ngữ đó, trong cái ý nó tà, trong thân tà nghiệp để mong cầu đạt được cái dục đó, đạt được cái ham muốn đó, cái dục vọng đó. Cho nên con có dùng cái từ là khao khát vĩnh hằng, đói khát muôn thở là cái tâm thức này, tức là ái tùy miên chưa nhổ khổ này vẫn sanh hoài. Tùy miên là nó đi theo mình miên man, không có lúc nào không có, chỉ may mắn là cái lúc mình được nghe pháp, lúc mình được thiền quán, lúc mình an trú được vào trong cái trí thì lúc đó là nó tạm thời được lắng dịu, còn trong bình thường sinh hoạt hằng ngày mình không có để ý, mình không có tinh anh, mình không có cái tinh mắt, mình không có một sự tinh thông, tinh hoa, trí tuệ để mà mình soi xét thì mình không có thấy nó đâu. Mình sống trong sự điều hành, trong sự chỉ huy, trong sự sai xử, sai khiến, sai bảo răm rắp.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người ném bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Nếu người ấy không dập tắt gấp với tay và chân; như vậy, này các Tỳ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ gặp bất hạnh và tai họa
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với tưởng bất chánh khởi lên, không gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong đau khổ, với phiền lao, với sầu não, với nhiệt não; và sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ác thú" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Nếu quăng một bó đuốc cháy đỏ vào rừng cỏ khô, nếu người đó không dùng tay chân dập tắt lửa liền thì ôi thôi, một mẫu, hai mẫu, chục mẫu, trăm mẫu, ngàn mẫu, nhiều ngàn mẫu cũng cháy rụi hết tất cả, những con vật sống ở trong đó, những sinh vật lớn nhỏ trong đó đều phải gặp bất hạnh, gặp tai họa, cháy rừng. Cũng vậy người tu nào mà đối với cái tưởng bất chánh khởi lên mà không lập tức từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt thì vị ấy ngay trong hiện tại ở trong đau khổ, ở trong phiền lao, phiền não, phiền nhọc, sầu đau, bị nhiệt não, nóng bức, cháy tâm, phóng hỏa trong lòng mình, cháy ngùng ngục. Người này bị nhiệt não, bị sầu đau, bị buồn khổ, bị ray rứt, bị thiêu đốt, bị nóng bức vì người này đối với cái tưởng bất chánh khởi lên mà không có gấp rút từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, diệt tận, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào trong ác thú, đọa xứ, trong cái cảnh khổ đau.
Người này không có nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, từ bỏ cái tư tưởng bất chánh, những cái tưởng về dục, những cái suy nghĩ về dục, những sự thúc giục, những sự nóng bỏng, nhiệt tình ở trong dục, những sự tầm cầu dục. Người này không chịu gấp rút, mau chóng nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, từ bỏ thì người này sẽ đau khổ trong hiện tại, tâm người này bị thiêu đốt, bị đốt cháy, nóng bức, bị nhiệt não, bị thiêu rụi, người này sống trong âu sầu, buồn bã, bất mãn, bất bình, bất hòa, tâm có an tịnh, không có lắng dịu, tâm không có dễ chịu vì trong này nó khao khát, thúc giục ở trong này. Trong tâm cứ nóng rang, nó cứ phừng phừng, nó thiếu thốn, nó khát khao, nó đói khát, nó thèm khát, nó khát ái thì làm sao nó có được thanh lương, mát mẻ, an bình, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào? Cho nên cái này đụng vô cái là rất sân hận, rất dễ bức xúc, bực bội, khó chịu.
Cái lửa dục của nó đốt lên chứ đâu phải chỉ có lửa sân không đâu, mình thấy người có tu tập thì nó khác lắm, lúc nào cũng an tịnh, lắng dịu, dễ chịu tại vì lửa dục trong người này đã được nhiếp phục, chế ngự, lắng dịu xuống, ngọn lửa lớn đã bị tắt rồi, nó còn những cái lửa âm ỉ, nhỏ nhỏ ở dưới cái lớp tro, lớp than rồi từ từ dập xuống. Còn những người chưa có sự tu tập tinh tấn thì nó phừng phưng ngoài miệng, ngoài mặt, ngoài hành động, cử chỉ, người ta nhìn thấy biết hết trơn, chỉ có người đó không biết thôi cho nên người tu trong cái dòng pháp này tuyệt vời lắm, thấy biết hết.
Tu tới đâu nhìn thấy biết rất là rõ, người tu đúng pháp, có tinh tấn, có sự nhiếp phục, chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cảm thọ người ta rất an tịnh, lắng dịu trong bất cứ hoàn cảnh nào, thậm chí hoàn cảnh khó chịu đến mà họ vẫn nhẹ nhàng, đó là có sự nhiếp phục, chế ngự, có sự tu. Còn người không có tu dù cái chuyện hết sức là bình thường thôi, cái chuyện nhiều khi tốt cho họ nhưng họ cũng khó chịu, bực bội, chống đối, bất hòa, bất bình, bất mãn thì chứng tỏ cái tâm người này là một cái tâm còn rất là hoang dại, hoang vu, rừng rú, chưa có được tu tập, chưa có được nhiếp phục, chưa có được chế ngự, chưa có được làm cho an tịnh, lắng dịu, tâm còn đầy gai góc thì phải nỗ lực tu rất nhiều, hoặc là cái tâm si ám, trơ trơ.
Cho nên mình phải cố gắng rất nhiều, nhất là cái trong cái pháp tu này con đã thưa rất nhiều lần rồi là phải thiện quán, phải tác ý, phải chịu khó động não, đừng có làm biếng, phải chịu khó dập đầu, chịu khó động não, phải chịu khó chẻ cái đầu vô minh ra, phả chịu khó tự đi đến mình, tự chỉ trích mình, tự la rầy, quở trách mình, tự mắng mình. Hằng ngày là hướng vào trong phải quở trách, trách mắng thật là nhiều thì lần lần chúng ta sẽ thấy nó mềm mại, nó dễ dễ nghe, dễ bảo, dễ dạy, dễ thương, thành ra cái chỗ này là cái chỗ chúng ta để ý rất là kỹ, mình không khéo là rừng tâm mình bị hỏa hoạn.
Hiện tại mình sống trong những cái cảm thọ đau khổ, phiền lao, sầu não, nhiệt não, mình ở trong cái chỗ thanh lương mà mình thấy nhiệt não, ai cũng mát mẻ chỉ có mình nóng bứt, bứt rứt, mình khó chịu tại cái dục ở trong không được nhìn thấy, nó không được nhiếp phục, nó không được chế ngự. Từ cái đó là nó sân, nó thường ở trong cái cảm giác bực bội, bứt rứt, bứt xúc, khó chịu, buồn buồn, không hài lòng, không vừa lòng, không bằng lòng. Cái tâm chưa biết tu tập, chưa khéo tu tập, chưa có nhu nhuyến, chưa có mềm mại, chưa có dễ sử dụng, còn khi mà mình có tu rồi tâm mình dễ chịu lắm, cái gì cũng được hết. Ngày xưa làm việc với bậc giáo sư con tâm phục khẩu phục, kính trọng, tôn trọng, đảnh lễ trên ngài dầu cho ngài là một nữ cư sĩ tại vì con chưa có thấy ngài có một cái cảm giác khó chịu, bực bội và khi những khi ngài khó chịu là những lúc sai pháp, không có đúng pháp, ngài dạy dỗ mình thì ngài phải làm vậy còn bình thường lúc nào mát dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái vì cái dục ở bên trong đã được nhiếp phục, chế ngự, diệt tận, lắng dịu cho nên Đức Thế Tôn nói tất cả cái đau khổ của quá khứ căn bản từ dục, tất cả cái đau khổ của tương lai, vị lai là căn bản bắt nguồn từ nơi dục, tất cả cái phiền não, khổ đau trong hiện tại cũng bắt nguồn từ nơi dục.
"Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra)
Cái người đau khổ nhiều, bực bội, khó chịu nhiều thì người đó dục vọng nhiều, khát ái nhiều, bên trong nó thúc giục, dục giục, dục nhiệt tình, dục tầm cầu. Nó muốn cái này, nó muốn cái kia, nó muốn cái nọ, nó không chịu đi vào trong cái chấp nhận học pháp, nó không có thuận với cái dòng của thiện pháp, của chánh pháp, của thánh pháp mà nó đi thuận với cái dòng của thế pháp thì nó khổ đau. Thành ra mình thấy kỹ hay lắm, tuyệt dịu lắm, m ình tu đi rồi mình sẽ cảm nhận được tuyệt vời lắm.
" - Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Chúng ta phải lắng nghe và khéo tác ý chứ không phải nghe với cái tâm đơ đơ, trơ trơ mà nghe tới đâu mình đi theo tới đó, nghe tới đâu mà mình nhiếp niệm tới đó, tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp và trong khi nghe đó mình có sự tác ý, mình để tâm vào cái pháp đó, trú vào trong cái pháp đó, mình thể nhập trong cái pháp đó. Chính vì vậy mà thời Đức Phật trong khi ngài giảng pháp có nhiều vị ngay tại chỗ ngồi đó chứng từ sơ quả, nhị quả, tam quả cho đến tứ quả A-la-hán tại vì ngay cái lúc nghe đó là cái lúc các ngài thực hành pháp ngay tại chỗ đó, quán chiếu ngay tại chỗ đó, thể nhập ngay tại chỗ đó. Có rất là nhiều những trường hợp như vậy, chúng ta đọc trong kinh rồi chúng ta thấy ngay tại chỗ ngồi đắc pháp nhãn tịnh, nhập luôn thành tựu chánh tri kiến ngay tại chỗ ngồi đó là nhất lai, bất lai và A-la-hán, tham sân bại liệt, tê liệt cho đến diệt tận luôn, ngay tại chỗ đó các ngài triển ra thiền quán vậy mà mình đòi tu là cái chỗ nào khác, ngay tại chỗ pháp mà mình không tu thì đòi tu chỗ nào.
Có nhiều người nghĩ ngồi nghe pháp không phải tu, cái suy nghĩ này rất là nguy hiểm, nghe pháp không phải tu sao có các vị nhập lưu, nhất lai, bất lai, A-la-hán? Trong kinh điển ghi rõ ràng như vậy, nhớ kỹ chỗ đây là chỗ thiện xảo, khéo léo của mình đó.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc?
Do duyên ái nên cầu tìm; do duyên cầu tìm nên có được; do duyên có được nên có quyết định; do duyên quyết định nên có dục tham; do duyên dục tham nên đắm trước; do duyên đắm trước nên có chấp trước; do duyên chấp trước nên có xan tham; do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Từ yêu thích mà có ra chiến tranh ngay trước mắt chúng ta hiện giờ luôn bởi vậy Đức Phật nói tới đầu là thiết thực, hiện tại ngay trước mắt. Chúng ta có thấy không? Mình có hoan hỉ không? Mình có thấy tự hào không khi mình được trở thành là thánh đệ tử của Đức Phật? Cả một cuộc đời này mình ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ ông bà, anh em, bỏ vợ con, chồng con, cháu, bỏ hết sự nghiệp, gia tài tương lai để mình đi lên nên núi, lên rừng tu không có uổng, rất xức đáng. Nhất trí không? Sự ra đi của mình là một cái sự ra đi vĩ đại, vinh quang, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng trong địa cầu này, trong hành tinh này, sự ra đi của mình là một cái sự ra đi đáng kiêu hãnh, đáng tự hào, vinh quang, đại vinh quang, sự ra đi của mình là sự thông minh siêu thế, xuất thế, vượt thế gian, hạnh phúc không? Quá là thông minh, quá là trí tệ, quá là hùng lực, quá là mạnh mẽ, quá là kiên cường, quá là dũng mãnh, đáng vinh quang đáng tự hào, đáng kiêu hãnh ở trong cái cuộc đời này.
Kiêu hãnh với cái thiện pháp của mình, với cái thánh pháp của mình, với cái chánh pháp của mình. Tại vì mọi người giành giật mà mình dám từ bỏ, cái chỗ mà mọi người bu lại thì cái chỗ đó mình chạy xa ra, giỏi không? Có tự thấy mình giỏi không? Phải khen tặng mình, xưng tán mình, hoan hỉ với mình trong cái thiện pháp, vui lắm, mình hạnh phúc, hoan hỉ lắm, cái tâm hỷ của mình nó tràn ngập trời đất này, tràn ngập cái không gian, cái địa cầu này chứa không nổi cái tâm hoan hỉ, hạnh phúc của mình vì mình có một cái bậc thầy tối tôn, tối thượng, tối cao, tối diệu, thần diệu. Tất cả các bậc thầy ở trong tam thiên đại thiên thế giới này không có một cái vị thầy nào có thể sánh nổi, rồi mình may mắn mình gặp bậc đạo sư của mình là tối thượng trong tất cả các bậc đạo sư, hạnh phúc không?
Cái cuộc sống của mình bây giờ chư thiên còn phải khát khao, kính ngưỡng, ước ao, hãy cố gắng trân quý. Đừng có sợ tu học, hãy trân quý sự tu học, khát ngưỡng sự tu học, cầu khẩn sự tu học, phải biết thương mình, đừng có hại mình, phải biết trân trọng cái duyên lành vô lượng vô biên kiếp mình mới gặp được thầy lành bạn tốt, thánh pháp tối thượng như vậy, mình đừng có cô phụ, mình đừng có sống trong cái tâm vong ơn bội nghĩa, không biết ai là người thương mình, ai là người hại mình, ai là người giúp mình. Mình sống trong cái tâm trân trọng, trân quý, trân kính, cung kính, tất cả biết ơn trong tâm ngọt ngào, trong tâm dễ thương, trong tâm hiền lương, trong tâm tùy thuận. Mình đã cãi trong vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp rồi, bây giờ đừng có cãi nữa, hãy chấp nhận học pháp đi.
Nếu nó sanh khởi ở trong cái suy tư, trong cái tưởng, trong ý hành của mình thì mình la nó vậy đó "nhà người đã cãi vô lượng, vô biên, vô số kiếp rồi". Con nhớ có cái câu con nói cãi cha, cãi mẹ, cãi ông, cãi bà, cãi thầy, cãi cô, cãi Phật cãi tổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình niệm cái câu đó vì tâm mình rất ương ngạnh, rất cứng cỏi, cứng đầu, nó chống đối, mình phải niệm cái câu đó hoài, mình nhắc hoài để cho nó chấp nhận học pháp, nó tùy thuận, nó mềm mại, nó nhu nhuyến, nó dễ sử dụng, nó nghe lời dễ dạy, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền, để cho nó thể nhập cái thánh trí huệ tối thượng. Mình dùng đủ mọi phương tiện để mình tu tập, tuyệt vời lắm.
Bây giờ con nói tiếng việt hết cho chúng ta giải nghe, do duyên yêu thích cho nên nó đi tìm kiếm, tại vì nó yêu thích cho nên nó đi tìm kiếm, vì nó tìm kiếm cho nên nó có được, đây là nói thuận chiều chứ không phải tìm đâu cũng được hết. Đức Phật nói một cái một chiều, còn cái cầu bất đắc khổ nó ở cái chỗ khác, Đức Phật nói nó tìm cho nên nó được, vì nó thích, nó muốn cho nên nó đi tìm kiếm, mà tìm kiếm cho nên nó tìm được, khi được thì quyết định, trong lòng nó có sự quyết định món đồ này của tôi đây, căn nhà này của tôi đây, con người này của tôi đây, sự sở hữu trong tâm nó quyết định. Chỗ này là quyết ngu, á quyết định si, quyết định của mình vì nó tưởng đâu chắc chắn cái này là của tôi, đây là tôi nè, đây là của tôi nè, đây là tự ngã của tôi nè. Do nó vô minh, nó khát ác cho nên nó chụp được cái thân này nè, vỗ ngực biết tôi là ai không, vi phạm luật lệ giao thông bị thổi vô thì bắt đầu vỗ ngực "biết tôi là ai không?".
Đó là quyết định, quyết định đây tôi đây, tôi có mặt đây, đây là của tôi nè, đó gọi là quyết định. Nó chụp trúng cái thân chó nó cũng quyết định nữa, đi vô là nó sủa lên "có biết tôi không? Tôi đây nè", chúng ta có thấy cái này không? Cái tâm khát ái cho nên nó đi tìm cầu tìm cái vô minh, do cái nghiệp nên nó chụp trúng cái thân con chó ghẻ, tuy là cái thân chó như vậy nhưng mà nó cũng quyết định "biết tôi đây không?". Lúc đó con và vài chú đi thiền hành buổi sáng từ chùa Bửu Liên ra đến bờ sông Thanh Đa thì có một con chó ghẻ nó sủa, con dừng lại trải tâm từ, con rướm lệ. Khi con trải tâm từ xong rồi thì từ đó về sau nó không sủa nữa, nhiều trường hợp lắm, đi kinh hành ở trên tầng bốn chùa Bửu Liên cách cái chánh điện qua cái nhà rồi mới qua tới cái phòng bên kia mà đưa con chó đưa cái mỏ nó ra sủa, mình đi thiền hành bên đây cũng trải tâm từ một hai lần gì đó, ba lần gì đó rồi từ đó về sau nó không sủa nữa.
Quyết định ở đây là một cái tự ngã biết tôi là ai không, có biết tôi là ai hay không, hay là của tôi nè. Do duyên quyết định cho nên có dục tham, đắm trước, do duyên dục tham cho nên đắm trước, ham muốn cho tôi, giờ tôi mới có năm đồng thôi nên tôi muốn phải có mười đồng cơ, tôi muốn phải có hai mươi đồng cơ. Khi có được rồi thì say đắm ở trong cái có đó, tham đắm trong cái có đó, chìm đắm trong cái có đó, khi say đắm, tham đắm, chìm đắm, đắm trước trong đó thì nắm chặt trong đó. Do duyên đắm trước cho nên có chấp trước, nó tham đắm, nó say đắm, nó đắm trước, nó chìm đắm ở trong cái mà nó nghĩ rằng cái đó là của nó, quyết định là của nó thì nó sẽ nắm chặt, nắm chặt, giữ chặt, không có buông gọi là chấp trước, vì giữ chặt, không buông cho nên nó keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chia cho ai hết "cái này đồ rất quý mà, đồ rất tốt mà, đồ này đồ rất xịn, mình xài không cho ai hết".
Cho nên từ cái chỗ chấp trước có ra xan tham, bủn xỉn, keo kiệt, từ cái duyên xan tham cho nên là nó giữ gìn, thủ hộ, bảo thủ, cố thủ thậm chỉ là tử thủ luôn, chết cũng phải giữ cái này nữa. Bảo thủ rồi cố thủ rồi tử thủ, "coi chừng mất nha, cất kỹ à", "coi chừng người ta ăn đó à, cái đồ này là đồ quý à", lúc nào nó cũng giữ gìn, bảo thủ, cố thủ, bây giờ ăn trộm, ăn cướp vô cũng phải ráng chống đối, chết rồi cũng chống đối rồi tử thủ luôn. Thay vì của mất thì người còn, nó lấy vài món đồ thì thôi kệ nó để mình được an toàn tánh mạng nhưng không, tử thủ luôn, chết cũng chịu mà phải giữ. Chúng ta có thấy trường hợp này nhiều không? Rất là nhiều, đó là ý nghĩa hai chữ thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, cầm gậy, cầm dao, cầm mã tấu, cầm súng đạn. Từ cái khẩu tranh cho đến cạnh tranh rồi chiến tranh, muốn làm chủ, biết ta là ai không, ta đây là ngon lành lắm, ngươi dám không nghe lời ta là bắt đầu có chuyện. Từ một con người cho đến những cái hội nhóm với đoàn thể, đoàn thể này với đoàn thể kia, nhóm này với nhóm nọ, thậm chí tông này với phái kia, đạo này đạo khác, đừng nói chuyện ngoài đời là chiến tranh, ngay cả trong người tu cũng có chiến tranh nữa, có thánh chiến.
Ngày nay chúng ta thấy mưa bom lửa đạn, tan nát sinh mạng không biết bao nhiêu mà nói, đó là từ cái chỗ này nè, ái này nó ra chín pháp này là chín cái thứ ác độc, cấu nhiễm, khổ đau này đó là từ khát ái. Qua đây chúng ta mới thấy trí tuệ của Đức Phật là siêu khủng siêu, là bậc Thế Gian Giải, giải mã thế giới này hết tất cả những sự, những vật, những việc, những người, tất cả ở trên cái hành tinh này, bao nhiêu hành tinh, bao nhiêu thái dương hệ này giải mã hết trong cái thánh trí tuệ, như vậy chúng ta mới gọi là bậc đại giác, bậc toàn giác, bậc chánh giác, bậc vô thượng giác. Chúng ta dập đầu chúng ta lạy từ lúc sanh ra tới lúc chúng ta chết trăm tuổi vẫn còn lại hói cái đầu luôn, tất cả mọi cái đều từ cái tham, cái ái này, cái dục đó.
Nói những cái lời chia rẽ, thấy người ta phát triển, thấy người ta tốt là chọt, đâm bị thóc thọc bị gạo, chia rẽ, lôi kéo "đi về với tôi đi, đừng đi theo người kia, người kia tệ lắm, dở lắm, đi theo tôi nè". Tu hành rồi mà còn vậy chứ đừng nói chi người đời, đau lòng lắm, khóc thương tội nghiệp lắm, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều những cái ác và bất thiện pháp. Bởi vậy nên bây giờ con tìm thấy hạnh phúc tối thượng rồi, độc cư rồi, sung sướng quá rồi, hạnh phúc quá rồi giống như là tìm được lẽ sống rồi. Thật sự là con ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê, ớn lạnh quá cái thế gian này, bây giờ còn chút dư tàn nên cố gắng cho tới lúc nó diệt tận luôn chứ thật sự là ra đi không bao giờ trở lại, những cái tâm địa hết sức là khủng khiếp, gian trá, xảo ngụy, ác độc, phản trắc, rắn rết, bò cạp, sói lang.
Đau khổ là cái thế gian này, hèn hạ cho nên cái câu con treo trong Quán Chiếu Đường:
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Phải có một cái tâm như thế nào mới có thể đạt được cái thánh pháp, thể nhập được cái thánh pháp này? Tâm phải chân thành, phải cung kính, phải tha thiết, dám bỏ cả cái sinh mạng của mình để cầu giáo pháp vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, phải là cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng, Tại sao người ta tu, người ta học thượng nhân pháp mà không đạt được? Tại vì cái tâm hạ liệt nó không xứng như cái pháp cao thượng, cái tâm gian trá, xảo trá nó không xứng với cái pháp chân chánh, chân thật, chân thành, cái tâm nhỏ nhen, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi không xứng với cái đại pháp quảng đại, vô lượng, rộng lớn, vô biên, cái tâm vô minh, hôn mê, si ám đâu có xứng được cái pháp minh trí, cái pháp quang minh, cái pháp minh kiến. Tự nó không có tương ứng thì nó loại ra thôi, thời gian nó cũng văng ra hết, nó đào thải ra hết, người với pháp phải tương xứng, tương ưng mới có thể hòa nhập, thể nhập, thâm nhập, chứng nhập. Tu thời gian mình sẽ thấy rõ được cái tâm của mình và điều chỉnh càng ngày để mình được thể nhập, tuyệt vời lắm, tuyệt diệu lắm, tối thượng lắm.
" Này các Tỳ-kheo, có nhân, xuất ly tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, vô sân tầm sanh khởi, không phải không nhân. Có nhân, bất hại tầm sanh khởi, không phải không nhân.
Này các Tỳ-kheo, do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi. Do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi. Do duyên xuất ly tư duy, xuất ly dục (chanda) sanh khởi. Do duyên xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình sanh khởi. Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi. Này các Tỳ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Phải có nhân duyên thì mình mới có cái sự tìm cầu thoát ra để mình tìm cầu giải thoát. Đầu tiên do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi là cái gì? Cái này là các giới tử hiểu rất rõ, lúc đầu mình đi lên dự khóa tu thì cứ nghĩ là lên để cho biết vậy thôi, lên tu gieo duyên thôi nhưng mà khi mình lên tiếp xúc được cảnh núi rừng, không khí trong lành, tươi mát, các thầy, các cô hiền đức, từ tâm, giáo pháp thâm sâu, vi diệu, tối thượng, một đạo lộ rõ ràng, minh bạch, tận tường cho mình diệt khổ đau thì lúc đó xuất ly tưởng sanh khởi. Đó là do mình duyên xuất ly giới đó là cái cảnh núi rừng, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, thiên nhiên tươi mát, đất trời rộng lớn, con người hiền hòa, thân thiện, giáo pháp chân chánh, nguyên chất, đạo lộ minh bạch, tỏ tường.
Đó là mình tiếp xúc được xuất ly giới, cái môi trường để cho mình thoát ra, cái môi trường viễn ly, cái môi trường xuất ly, cái môi trường xả ly, cái môi trường giải thoát mà chính mình được trải nghiệm nửa tháng rồi xuất ly tưởng sanh. mình cũng được giống như mấy thầy, mấy cô vậy nè, tuyệt vời không? Hay là những vị xuất gia cũng vậy đó, nhiều khi có những vị đi đến để thăm cảnh, viếng cảnh, tính là ở một ngày, hai ngày thôi nhưng lại thấm, thấy cái đạo lộ vi diệu quá nên ở thêm bảy ngày. Thế là do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi, người suy nghĩ tu bao nhiêu năm nay rồi mà mình tìm không có ra được thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, bây giờ mình thấy được rồi. Sau đó suy nghĩ quyết định đi về xin lên nhập chúng tu, do duyên xuất ly tư duy cho nên xuất ly dục sanh khởi, có sự ham muốn xuất ly.
Do tiếp xúc nó có ra cái tưởng mong muốn mình cũng giống được như vậy và nó khởi lên một cái suy nghĩ "mình phải thực hành, mình đi tu, mình tìm giải thoát, bây giờ có cái môi trường giải thoát tốt đẹp, đầy đủ như vậy, hiền thiện như vậy, tại sao mình không chịu đi". Như vậy có một sự thúc giục mình phải xuất ly, phải viễn ly, phải xả ly, phải bỏ những cái chỗ ồn ào, náo nhiệt, lăng xăng, tất bậc, vội vã, bận rộn để mình tìm được một cái chỗ viễn ly, xa vắng, tịch tịnh, an lạc, thanh lương như vậy, chánh pháp như vậy. Từ cái suy nghĩ muốn thoát ra đó có một sự ham muốn thoát ra sanh khởi, do cái ham muốn được thoát ra, được giải thoát cho nên nhiệt tình xuất ly sanh khởi. Có một cái sự nóng bỏng, có một cái nhiệt tâm, có một cái nhiệt huyết, có một cái sự bốc cháy ở trong lòng mình phải viễn ly, phải xuất ly, phải thoát ly, phải xả ly, về núi rừng ở, cho nên xuất ly nhiệt tình sanh khởi.
Chúng ta thấy đúng đạo lộ này không? Mình đi có đúng cái đạo lộ này không? Do duyên xuất ly nhiệt tình, cái sự nhiệt tình muốn giải thoát, nhiệt tình muốn tu hành, nhiệt tình muốn về núi rừng cho nên xuất ly tầm cầu sanh khởi, tìm cầu cái sự xuất ly, mong cầu sự xuất ly, mong muốn và tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được cái sự xuất ly này, từ bỏ những cái thứ cần phải từ bỏ, đáng phải từ bỏ để mình đi đến cái chỗ đáng phải đi, đáng phải đến, đáng phải tu học.
Do vị này đi tìm cái sự tìm cầu giải thoát, cái sự tìm cầu viễn ly, sự tìm cầu xuất ly cho nên vị Đa văn Thánh đệ tử này thực hành chánh hạnh theo ba xứ thân, miệng, ý. Quá vi diệu, quá tối thượng, quá tuyệt vời luôn, cũng như các vị chư Tăng Ni vậy đó, do duyên xuất ly giới tức là các vị nghe được những cái thánh pháp Nikāya, đó là xuất ly giới, những cái phạm trù để đưa cho mình giải thoát, cái đạo lộ để đưa cho mình thoát ra, con đường chỉ cho mình đoạn tận khổ thì cái đó gọi là duyên xuất ly giới. Mình mở lên mình nghe các bài của bậc đạo sư, của con chẳng hạn, đó là mình duyên xuất ly giới, mình nghe mình nói "đây rồi, tìm được rồi, tìm ra rồi, thấy rồi". Đó là duyên xuất ly giới, rồi mình có hình bóng mình phải về đó tu, mình phải về Linh Quy tu rồi chứ không ở đâu nữa.
Cái hình bóng mình hiện ra là mình được ngồi trên này tu giống như mọi người là xuất ly tưởng sanh khởi, suy nghĩ đủ mọi cách bây giờ phải làm sao, bỏ mấy cái học mà vô bổ này, vô ích này, học lòng vòng ở trong cái ngũ uẩn này, trong cái danh lợi, trong cái tham, sân, si này, không có cái đạo lộ giải thoát này. Bỏ đi, đi tìm cầu cái chánh đạo, chánh pháp, thánh pháp tối thượng đi, xuất ly tu duy sanh, cái tưởng xuất ly rồi tới cái hành xuất ly. Sau đó từ cái sự suy nghĩ để làm sao đi lên núi tu để mình giải thoát thì sanh khởi ra sự thúc giục để cho mình đi tu, thúc dục cho mình thực hiện cái sự giải thoát, xuất ly dục sanh. Do cái sự thúc giục để cho mình xuất ly, thúc giục để cho mình đi lên núi rừng mình tu, do cái duyên đó cho nên sanh Khởi ra sự nhiệt tình, mau lên, nhanh lên, kết thúc lẹ lên cái vòng luân hồi sanh tử, cái vòng luẩn quẩn này, cái học quờ quạng, mù lòa này. Mình phải đi ra khỏi cái này để mình học minh trí, mình học thánh trí, học thánh pháp, mình học thánh đạo để mình đạt lên tới thánh quả thì nó sanh khởi ra cái nhiệt tình xuất ly, trong lòng mình nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình, nóng bỏng.
Do duyên xuất ly nhiệt tình cho nên xuất ly tầm cầu sanh khởi, nhất định mình phải đi tìm tới, mình phải đi tới, mình phải thực hiện, mình phải sống đời sống viễn ly, đời sống xả ly, đời sống xuất ly, đời sống đúng như những gì Đức Phật và các bậc thánh hiền đã sống. Mình phải sống như vậy, nhất định mình phải đi tìm cầu, mình quyết định phải đi đến, phải đi tu, xuất ly tầm cầu sanh khởi. Cuối cùng có mặt tại nơi này, hoan hỉ không, hạnh phúc không, vinh quang không, vinh hiển không, tự hào không?
Cũng vậy, bây giờ tới con phải về Cô Phong Đảnh, tiếp xúc cái cảnh thiền tịnh, thanh tịnh, viễn ly, xả ly nên làm thành mấy trăm bài kệ, cái xuất ly tưởng sanh, tư duy nó sanh. Mình ở ra dài lâu đi, thế gian có cái gì đâu, chùa viện có cái gì đâu, nấm mồ thôi, cái huyệt chờ sẵn thôi, như vậy cái hình bóng độc cư sanh khởi trong tâm, suy nghĩ về độc cư, suy nghĩ viễn ly sanh khởi lên, sau đó là ham muốn để được viễn ly, xuất ly, xả ly rồi tác ý hoài "mày bỏ nha tâm, chết nha tâm, Tao đánh mày nha, tao giết mày chết nha tâm. Cái tâm tham ái hả? Mày muốn ham vui phải không? Ham chơi phải không? Ham bận rộn phải không? Tao giết mày chết nha, mày phải xả ly, xuất ly nha, mày phải đoạn ly nha, mày phải từ bỏ nghe không".
Cứ tác ý hoài, bây giờ nó sanh khởi là chỉ ham muốn xuất ly, nhiệt tình xuất ly, nó tầm cầu xuất ly và nó tầm cầu sự tầm cầu xuất ly. Cuối cùng giờ có mặt ở Cô Phong Đảnh, thấy khỏe vì tìm được lẽ sống, tìm được lối sống, tìm được con đường sống, tìm được kế sống. Cũng vậy, cái người nhập thất cũng y chang vậy đó, phải khéo biết tác ý, tuyệt vời lắm cho nên cái sự giải thoát của mình, sự từ bỏ của mình là nó có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Nếu như mình gặp trúng cái nhân duyên tà thì khổ, mình tưởng đâu giải thoát nhưng mà cuối cùng vô đó là ràng buộc, tưởng đó là trí tuệ mà cuối cùng vô đó là tà kiến thì khổ lắm. Cho nên mình phước duyên lắm, con thưa chư tôn thiền đức, chư hiền trí cái công đức, cái phước báo của mình, cái nhân duyên của mình tối thượng lắm. Mình phải biết, không biết là mình tội nghiệp mình lắm mà một tỷ kiếp sau, một ngàn tỷ kiếp sau cũng không có gặp được thánh pháp đâu.
Bây giờ đang tới thời kỳ diệt tận rồi mà mình không biết trân quý là nó uổng vô cùng, tiếc lắm, đừng có cô phụ Đức Phật, đừng có cô phụ thánh pháp, đừng có cô phụ bậc đạo sư. Con chả là gì hết á, con khắc ghi trong lòng con bây giờ là nùi giẻ rách, các ngài đừng cần nhớ con gì cả, nhớ ân đức bậc đạo sư ân đức, chánh pháp, ân đức tam bảo, ân đức các bậc thánh Tăng. Đừng cô phụ lấy mình, đừng có phụ bạc mình, đừng có phụ bạc cha mẹ, ông bà, đừng có phụ bạc những người thân thương nhất đang tựa cửa mong chờ, đang hy vọng, nhớ thương, đang trông đợi, tin cậy vào mình. Đừng có cô phụ, đừng có phụ bạc, có phụ lòng mẹ cha, ông bà, cô bác, anh chị em, những người thân thương nhất đang mong chờ, đang chờ đợi, đang hy vọng, đang trông chờ.
Đừng có sống một cái cuộc đời ẩn dương nương Phật, mượn đạo tạo đời, lục bình trôi sông, tu chơi chơi chờ ngày qua đời. Hãy làm cho mình có một cái sự ham muốn giải thoát, nhiệt tình giải thoát, tầm cầu sự giải thoát, tầm cầu sự tầm cầu có bậc thánh. Hãy dùng cả mồ hôi, nước mắt, máu sinh mạng này. Tại sao mình dám từ bỏ cha mẹ, anh em, bà con, cô bác, người thương, người yêu, vợ chồng, anh chị em, sự nghiệp, tương lai, tất cả mình dám từ bỏ tại sao còn một chút ở trong tâm này mình không dám từ bỏ? Cha mẹ mình bỏ được, ông bà mình bỏ được, anh chị em mình bỏ được, người thân thương nhất của mình bỏ được, người yêu, vợ chồng mình bỏ được hết, tương lai sự nghiệp mình bỏ được hết, tuổi thanh xuân mình bỏ hết, tại sao cái ái nhỏ ở trong cảm thọ đó mình không bỏ được? Tại sao cái ảo ảnh của tự ngã mình không bỏ được? Những cái suy nghĩ nhỏ nhặt đó mình không bỏ được?
Mình nói cái tâm "mày là đồ ngu, tao giết mày, mày đừng có hại tao", nó sanh khởi là những cái đó là mình quay ngồi thiền, mình về một mình, mình đi ra gốc cây, tảng đá, mình ra bụi trúc, mình ra ven đồi rồi mình la rầy nó "tao nhục nhã lắm, mày đừng có hại đời tao, đừng có hủy hoại cuộc đời tao. Mày là cái thứ khốn nạn, ác độc, súc sanh, súc vật. Mày tan biến khỏi hoàn toàn đi, tao giết mày chết, giết mày chết, tao bầm mày ra thành trăm mảnh, đồ súc sanh, súc vật, thú vật, ác ma, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, đừng có làm cho ta sống một đời sống nhục nhã, tội bạ, hèn hạ như vậy". Mỗi ngày phải tác ý trăm lần, ngàn lần, cứ như vậy mình tác ý rồi lần lần sẽ thành tựu được một cái tâm xuất ly, tâm viễn ly, tâm xả ly, cái tâm thoát ly cao thượng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có người ném một bó đuốc bằng cỏ cháy đỏ vào một rừng cỏ khô. Người ấy với tay và chân gấp dập tắt bó đuốc ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các sanh loại sống nương vào cỏ và củi sẽ không gặp bất hạnh và tai họa.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với tưởng bất chánh khởi lên, gấp từ bỏ, nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt; vị ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, không có phiền lao, không có sầu não, không có nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, II. Có Nhân)
Gấp rút, nhanh lẹ, mau chóng nhiếp phục, chấm dứt, tiêu diệt, từ bỏ những cái tưởng bất chánh, người ấy ngay trong hiện tại trú trong an lạc, an vui, an ổn, an bình, an yên, an lành, an tịnh. Tâm lúc nào cũng thanh lương, mát mẽ, dễ chịu, hiền hòa, nhân hòa, từ bi, rộng lượng, không có phiền lao, không có phiền não, không có sầu não, không có nhiệt não. Sau khi thân ngoại mạng chung được sanh vào thiện thú, sanh vào các cõi lành, đi đến đoạn tận tất cả các lậu hoặc, chấm dứt hoàn toàn sanh tử.
Hãy làm cho mình cái muốn mạnh mẽ lên, dục như ý túc sanh khởi tinh tấn như ý túc sanh khởi, tư duy như ý túc sanh khởi, thẩm sát như ý túc sanh khởi lên. Mình muốn như vậy là mình phải tác ý, tác ý, tác ý hoài, xuất ly đi ra khỏi những cái thứ này, từ bỏ những cái thứ này, diệt tận những thứ này. Đầu tiên là nhiếp phục, chế ngự, kế đó là diệt tận, từ bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ, vứt bỏ, xả bỏ, sáng, chưa, chiều tối, nửa đêm cũng vậy, bất cứ lúc nào rảnh là tác ý hoài, nói chuyện với tâm hoài. Cũng như lúc đầu con có nói hôm trước tâm còn muốn đi ra làm này làm kia, công chuyện này kia, bao nhiêu người réo gọi cuối cùng la riết giờ tự nhiên nó phá qua một cái lớp cảm thọ mình thấy rõ luôn, mình cảm nhận được luôn là cái thọ hướng ngoại nó bị què quặt xuống. Mình thấy rõ luôn, mình cảm nhận rõ luôn.
Hôm bữa con có tâm sự với thầy Huệ lúc con ra thất nói chuyện với thầy là mình sẽ thấy rõ cái thọ hướng ngoại đến nó bị nó bị đánh khụy xuống, nó không còn khả năng để chạy rong nữa. Cũng vậy mình tác ý riết, chặn đầu chặn đuôi tác ý từ xa, bậc đạo sư dạy là phải tác ý từ xa trước, đừng có đợi tới chuyện rồi tác ý không có kịp. Cứ tác ý hoài hoài thì tới chuyện tự nhiên mình sẽ có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, diệt tận, tẩy sạch, siêng năng tác ý, nỗ lực tác ý, cố gắng tác ý mình sẽ có kết quả tuyệt vời. Hiện tại trú trong an lạc, an vui, an lành, an ổn, an bình, an yên, an tịnh, không có phiền não, không có sầu não, không có nhiệt não, hiện tại tâm lắng dịu, dễ chịu, thanh lương, mát mẻ, tịch tịnh, ngọt ngào, độ lượng, bao la. Thân hoại mạng chung sanh lên cõi lành hoặc là diệt tận tất cả các lậu hoặc đi đến bất tử.
Sư cô 1: Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con chân thành đảnh lễ sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Hôm nay trong thời nghe pháp trong con có rất là nhiều cảm thọ, thứ nhất là cảm thọ con hoan hỉ khi những ngày qua con được nghe sư phụ giảng những bài pháp, trong con rất là hoan hỉ. Khi con nghe sư phụ giảng về tám sự hỷ lạc mà con cảm nhận được từ sư phụ khi hình sắc và âm thanh khi con được duyên gặp người trong Phật học thường thức năm 2021, và người đã làm cho con có những cái xúc cảm, nước mắt con rơi.
Khi con ở đời nước mắt con rơi con nhận ra đó là vì con có sự tham ái, khi con nghe những bài giáng về cha mẹ thì con khóc, nhưng khi sư phụ giảng cho con nghe nước mắt con rơi là vì con rơi cho tự thân con và con có một khao khát, con tìm cầu đến sư phụ. Duyên đến với con qua những bài giáng của người làm cho con phải tìm cầu, nhưng sự tìm cầu của con mạnh nhất khi con được nghe âm thanh người nói là người sẽ nhập thất và sẽ ẩn tu thì lúc đó ý chí của con rất là mạnh và con tìm rất là nhiều phương tiện để con được đi đến đây. Hôm nay bài pháp diễn cho con nhớ lại từng tưởng và từng suy nghĩ của con đi trong bài pháp hôm nay rất là mạnh, và con hiểu được những cái cảm giác và cảm thọ khi con được nghe những âm thanh của sư phụ giảng.
Thật sự khi con lên đây thì con khóc rất là nhiều vì từ xưa giờ nước mắt con chỉ chảy vào trong, không có trào ra ngoài nhưng khi con nghe sư phụ đã chạm đến con và nước mắt con rơi vì con hạnh phúc chứ con không vô minh như lúc trước. Bây giờ con đã hiểu được những lời Đức Phật dạy và con sẽ cố gắng tu tập, con sẽ thực tập mỗi ngày để con thoát ra những tham dục trong chính tự thân con, và những xúc cảnh bên ngoài để con được hướng đến những ý chí cao thượng để con được thoát luân hồi. Con kính ơn sư phụ và kính ơn quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí đã chỉ dạy cho con. Con xin hết.
Sư cô Tịnh Hòa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đệ tử con Tịnh Hòa xin phát biểu dòng cảm thọ của mình trong bài pháp của sư phụ sáng nay. Kính thưa sư phụ con bước vào con đường tu hành này vì rõ cái khổ đau của bản thân và muốn giải thoát khỏi những cái khổ đau, chuyển hóa những đau khổ đó và để giác hiểu, chứng ngộ cho mình tăng trưởng thêm cái trí tuệ học, nghe pháp, hiểu pháp và muốn thực hành pháp. Nhưng con vô minh, tầm cầu vì muốn được thêm nhiều kiến thức, vì muốn mình hiểu biết thật là nhiều nên con đã đi ra khỏi dòng pháp này tìm đến sự học ở các trường Phật Học ở đó. Cái sự tầm cầu của con lại khởi lên thêm nữa, hết dục này đến dục kia và con cứ chạy theo điểm số, chạy theo sự cúng dường của Phật tử, chạy theo mọi sự ăn uống và sự thích thú trong đó, những cái hoạt động ở các trường học.
Khi con vẫn theo dõi ở đạo tràng của mình, con thấy sư phụ bị bệnh trong con tự nhiên khởi lên cái sự lo lắng, rất là lo lắng. Lo lắng rằng mình không gặp lại sư phụ, mình không được nghe pháp nữa và mình chạy đi đâu vậy. Mùa xuân vừa rồi con trở về đây để được lắng nghe, để được lắng dịu lại cái tâm của mình xem thời gian qua thật sự mình đang đi tìm cái gì vậy, tìm sự giải thoát hay là tìm sự ràng buộc thêm vào bản thân mình. Và như sư phụ nói cái tưởng muốn xuất ly, muốn viễn ly nó thúc giục bên trong con và con chỉ muốn ở lại nơi đây, con chẳng muốn về nơi cái chốn, cái chỗ mà mình bị ràng buộc nhiều thứ mà không phải là cái người tu thật sự, không phải mục đích thật sự mà mình hướng đến.
Và con đã xin phép sư phụ được nhập chúng tu học tại đây, con đã từ bỏ việc học của mình, từ bỏ tất cả để đi trên cái đạo lộ của chánh pháp. Con xin tri ân trên sư phụ, con trên tri ân trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng đã hoan hỉ chấp nhận cho con được trở lại với đạo tràng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Đồng Dương: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ tôn kính, con Kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Dạ con kính thưa trên sư phụ, hôm nay qua bài giảng của sư phụ thì con có chiêm nghiệm được một chút ít, đó là trong cái cõi dục giới này chúng sanh thường là đi tìm cái dục lạc mà Đức Phật nói là đi tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Mình sống trong cõi dục thì cái xu hướng của mình là tìm dục lạc trong cõi dục, còn người xuất gia thì Đức Phật dạy mình là đi tìm cái hỷ lạc do ly dục sanh, có nghĩa là vẫn có cái hỷ, cái lạc nhưng cái hỷ lạc này không phải trong dục mà là trong ly dục. Con cũng nhớ trong cái bài kinh Bát Thành trong Trung Bộ Kinh ngài A-nan cũng chỉ dạy mười một cửa bất tử mà mười một cửa này tất cả các cái tầng thiền đều do suy tư tác thành.
Như vậy là khi mình muốn có được cái hỷ lạc trong ly dục thì mình phải có cái sự suy tư, xuất ly ra khỏi dục. Như bài kinh này Đức Phật cũng đã phân chia một bên là dục giới thì sẽ có những cái tưởng về dục, những cái tư duy về dục, những cái nhiệt tình về dục, những cái mong muốn về dục. Còn mình sống trong cái xuất ly thì sẽ có những cái xuất ly dục, những cái tưởng xuất ly, những cái tư duy xuất ly, những cái tầm cầu xuất ly, cái nhiệt tình trong việc xuất ly, những cái mong muốn về việc xuất ly. Con cũng suy tư như vậy là người tu thì tất nhiên mình phải có những cái niệm an tịnh, rỗng lặng nhưng đối với những người mới tu tập thì chưa phải thời để mình có những cái rỗng lặng, an tịnh đó mà bắt bước đầu tu học của mình là mình phải siêng năng suy tư trong pháp, siêng năng như lý tác ý. Nhờ siêng năng suy tư thì mình mới có được những cái tưởng, cái tư duy, những cái tầm cầu xuất ly ra rồi về sau mình mới có cái sự an tịnh, còn đang sống trong cõi dục giới này mà mình cứ mong muốn có một cái sự rỗng lặng trong thân tâm mình bước đầu thì rất dễ đi sai đường, rất dễ bị lôi cuốn trong những cái tưởng tư duy trong dục lúc nào không hay.
Chính vì vậy mà bậc đạo sư cũng như sư phụ luôn nhắc nhở chúng con phải thường xuyên tinh tấn như lý tác ý, thường xuyên tinh tấn tư duy, suy tư, không có để cho mình ở không. Đó là một ít chiêm nghiệm của con trong lúc con nghe sư phụ giảng pháp, con kính trình lên sư phụ, quý thầy, quý sư và đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Giữa hai cái sự trình pháp của sư cô Tịnh Hòa với sư cô Đồng Dương chúng ta nhìn ra được nhiều cái để mình học. Mình đã nhận thức, ý thức một cách sâu sắc chánh pháp của Đức Phật tại sao mình còn đi lòng vòng đi tìm gì nữa, còn đi tìm tức là chưa có thấy, mà người đã thấy rồi thì không có tìm nữa. Người đã gặp rồi còn tìm nữa không? Người còn tìm tức là người chưa gặp tại vì người không đủ lòng tin cho nên gặp cũng như không gặp, hoặc là vì cái vô minh, vì cái dục, cái bản ngã nó đánh thắng cái chánh kiến yếu kém ở trong người mình. Mình cũng biết cái đó là chánh pháp đó nhưng mà vì cái dục, vì cái ái, yêu thích những cái mà mình yêu thích, ham muốn những cái mà mình ham muốn, từ bên trong cho đến bên ngoài chạy theo số đông, chạy đi ra ngoài hướng ngoại, mình không an trú được cái thành quả tối thượng mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã chứng ngộ tức là mình không có lòng tin với pháp.
Đây là cái chỗ quyết định của một người quy tam bảo, hay là người cư sĩ cho đến người xuất gia là tin vào sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành tựu cái quy y pháp, thành tựu ra một người thánh đệ tử. Nếu không có cái này thì không có đi vào trong hàng đệ tử của Đức Phật tức là không tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật thì làm sao đi theo Đức Phật một cách chân chánh được? Cho nên có rất nhiều vị cũng nghe, cũng học cái dòng pháp Nikāya, cũng biết đây là chánh pháp nhưng mà rồi các vị này vẫn rơi rớt, các vị này vẫn trở lại cái thói quen, cái tập khí, những cái yêu cái thích, cái muốn của mình. Đây là một cái điều hết sức là thương, hết sức là tiếc, mỗi khi con nhìn thấy gì con rất là xót ra, rất là đau lòng cho nên ngày hôm nay các vị ý thức được sâu sắc như vậy, có đường để quay về được là một sự chúc mừng rất là to lớn, một sự chúc mừng to lớn. Chư tôn và chư hiền chúc mừng cho Tịnh hòa lớn, dài, tức là đi mà vẫn còn biết đường trở lại, còn có những người đã đi không có đường về, có những người đã đi và có những ý niệm đang đi và có những ý niệm sẽ đi, mong rằng những cái vị đó hãy ý thức sâu sắc.
Đây là một cái bài học, một tiếng chuông cảnh tỉnh, thức tỉnh mình. Mình đi tìm cái gì trong cái thế giới vô minh này, trong những cái kiến thức phàm phu, những cái kiến thức hữu lậu, những cái kiến thức loanh quanh, luẩn quẩn ở trong vô thường, khổ não, bất an, tai họa, trống rỗng, trống không, vô ngã này. Mình đi tìm cái thấy biết gì? Cái thấy biết của thức tri, của tưởng tri, của ảo giác, của huyễn hư. Cái thấy biết tối thượng, chánh chơn, Chánh Đẳng Giác mình đã thấy đã biết rồi tại sao mình không diệt cái tâm chống đối, diệt cái dục, cái ái, cái thói quen đó để bắt mình, áp đặt mình đi vào trong pháp. Đó là một sự chiến đấu, đó là một sức mạnh, đó là một cái sự mà dầu tại bãi chiến trường thắng hàng ngàn quân địch không bằng tự chiến thắng được mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất, chính là chiến thắng được mình để chấp nhận thánh pháp, đi vào thánh đạo, thành tựu các thánh quả.
"Dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)
Đây là một cái bài học rất quan trọng cho chúng ta, nhất là những vị xuất gia rồi cũng muốn này, muốn nọ, muốn kia với người ta, giống với người khác. Thương lắm, thương lắm, thương cái tâm mê lắm, thấy rõ cái tấm gương này, con là người ở trong đầy đủ về danh, về lợi, về vị trí, hướng dẫn trong tất cả các trường lớn của Phật giáo cả nước, từ Học viện Phật giáo, từ trường Cao Trung, từ lớp giảng sư ban hoằng pháp Trung ương, từ tự viện, từ giới luật viện, từ thiền viện nhưng tại sao con phải đi tìm trở về cội nguồn. Chúng ta có biết là trải qua biết bao nhiêu là nước mắt, là máu, con đã tìm bằng cả một cái cuộc đời cũng như bậc đạo sư hy sinh cả một cái sinh mạng, cũng như Đức Thế Tôn đã bỏ vô số, vô số, vô lượng huyết lệ tìm ra cho mình, bây giờ mình lại để qua một bên để mình đi tìm những cái kiến thức luân hồi hay sao, những cái thấy biết của phàm phu đưa mình vào vòng luẩn quẩn trói cột trong mê muội hay sao.
Đây là một đề tài thiền quán rất là lớn để cho những vị nào tịnh tín chưa có viên thành bị rúng động. Phải xác quyết, xác tín, tịnh tín, Chơn Tín Toàn một lòng tin chân thật, hoàn toàn trọn vẹn vào trong thánh đạo tối thượng này. Cái điều cô vừa chia sẻ rất là tốt, cái người tu trong vòng pháp này là thiền quán, là tư duy, là như lý tác ý, con nhắc hoài, nhắc hoài phải nỗ lực tác ý, phải nỗ lực viết bài, phải nỗ lực thiền quán, phải nỗ lực pháp đàm. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi mà mình không chịu tác ý thì làm sao thiện pháp sanh, trí tuệ sanh, làm sao đột phá bên trong. Chúng ta đọc lại tất cả các bài kinh những lúc bồ tát Tất-đạt-đa chứng đạo, thành tựu chánh giác là lúc đó ngài cũng vẫn suy nghĩ, suy xét bằng cái trí tuệ. Thành ra phải cố gắng siêng năng trong cái sự tác ý, viết bài, pháp đàm, con không có muốn nghe những cái ý kiến khi con đưa ra để cho tu học mà lại không có muốn, con đau lòng lắm, đau lòng lắm. Con đem hết cái tấm lòng, hết cả một cái tâm tư, bằng cả một cái trái tim để tạo điều kiện cho chúng ta tu học mà chúng ta lại có những cái suy nghĩ chống đối là con đau lòng lắm.
Thật sự là nước mắt chảy. Con mong là chúng ta hãy thương mình thật là nhiều, thương Đức Phật, thương bậc đạo sư, còn con chỉ là một cái người giẻ rách trên cuộc đời này, mau chống thôi sẽ mục rã, rệu rã giữa núi rừng cũng không cần ai biết hết. Nó sẽ chương phình ra, chết bất cứ lúc nào ở trong thất, quý vị biết là lúc đó nó đã phân hủy rồi, cũng có thể là chiều nay, ngày mai, tuần sau, cũng có thể là trong đêm nay. Con mong muốn là tất cả chúng ta hãy quyết liệt, dốc hết tấm lòng của mình, hãy nhìn kỹ cái ngũ uẩn của mình, nhận diện kỹ những cái hành động, ngôn ngữ, lời nói, suy tư của mình đưa đó vào trong pháp. Thật sự mình sống với một cái tâm chân thành, cung kính và biết ơn để đền đáp ơn đức vĩ đại của cha mẹ, của những người thân thương của mình, của những bậc ân nhân, ân đức với mình.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.