Nghiệp & Quả Báo 32 - Người Xuất Gia Thương Giúp Tại Gia Như Thế Nào
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 32
Người Xuất Gia Thương Giúp Tại Gia Như Thế Nào?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vị xuất gia mang đến lợi ích cho cư sĩ PAGEREF _Toc188286335 \h 1
II. Nguồn công đức PAGEREF _Toc188286336 \h 6
III. Khuyến tấn làm lành PAGEREF _Toc188286337 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc188286338 \h 14
I. Vị xuất gia mang đến lợi ích cho cư sĩ
Kính bạch chư tôn thiền đức, hôm nay chúng ta nghe bài kinh Có Lòng Từ Mẫn trong Tăng Chi Bộ, tập II với nội dung là vị Tỳ-kheo trú ở chỗ nào có lòng thương xót đối với người cư sĩ.
"- Thành tựu năm pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ. Thế nào là năm?
Khích lệ tăng thượng giới;
Khiến chúng sống theo gương pháp;
Khi đến thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau: 'Các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán';
Khi đại chúng Tỳ-kheo đi đến từ nhiều địa phương khác nhau, vị ấy nói với các gia chủ đi đến như sau: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo đã đến từ nhiều địa phương khác nhau. Các vị hãy làm các phước đức. Nay là thời làm các phước đức';
Họ có cúng dường các món ăn gì, hoặc thô hoặc tế, tự mình thọ dụng, không làm cho của tín thí rơi rớt.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXIV. Phẩm Trú Tại Chỗ, (V). Có Lòng Từ Mẫn)
Ở đây Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo, một vị xuất gia mà thương người cư sĩ, thương bằng từ tâm, thương bằng lòng từ mẫn thì vị Tỳ-kheo này phải có năm phương diện, năm yếu tố, năm điều để xót thương, từ bi và giúp ích cho các vị cư sĩ. Điều thứ nhất khích lệ họ tăng thượng giữ giới, vì thế một người xuất gia chân tu, một người xuất gia có lòng từ đối với người tại gia, khi gặp các vị tại gia thì người này hỏi "Mấy hôm nay cô có nhớ giữ giới không? Trong năm giới giữ được bao nhiêu rồi?", khích lệ cho người Phật tử này giữ giới, khích lệ cho người Phật tử này phát triển giới, khích lệ cho người Phật tử này tăng trưởng viên mãn các giới thì người xuất gia như vậy mới là người xuất gia có lòng từ đối với người tại gia, đây là điều thứ nhất chứ không phải tới chỉ hỏi khỏe không, nhà sao rồi, làm ăn sao,… những cái đó là cái thường pháp người thế gian, người xuất gia không nên hỏi mấy cái đó, nên hỏi "đối với các giới cô có thấy mình tăng thượng không? Có đi thọ bát quan trai giới không? Đối với thập thiện tu được bao nhiêu rồi?", đó là một lời hỏi thăm, cũng là một cái lời nhắc nhở, khích lệ, khuyến khích.
Thứ hai là giúp cho các vị cư sĩ là sống theo gương pháp, là một cái người xuất gia phải thể hiện được đời sống ly tham của mình, phải thể hiện được đức hạnh của một người tu, phải thể hiện được sự an tịnh, trầm mặc, sự thu hút lục căn ba nghiệp. Mình có sự an tịnh, trầm mặc thì đó chính là tấm gương pháp cho Phật tử soi vào, người xuất gia mình có được sự điềm tĩnh, chánh niệm, có được tâm từ, có được cái trí tuệ thì đó chính người xuất gia đang làm gương pháp cho người cư sĩ, nhắc nhở người cư sĩ, khiến cho họ sống theo gương pháp, nhắc nhở về đức phật cho họ khi Phật tử đến chùa.
Tại sao mà các chùa để nguyên một bức tranh tiểu sử cuộc đời của Đức Phật, con treo nguyên một cái bảng rất là lớn những hình ảnh và cuộc đời của đức Phật, đề rất là ngắn gọn, mỗi hình một câu ngắn vài chữ thôi, thì đó chính là cái gương pháp để cho Phật tử tới thấy một thái tử như vậy, từ bỏ như vậy, ngài có cuộc đời cao thượng thánh thiện như vậy, thì những người Phật tử nhìn vào thấy đó là một cái tấm gương sáng của bậc đại đạo sư, của bậc tổ khai sáng ra Phật giáo. Đó là để cho họ soi vào, họ nhìn thấy tại sao là con Phật mà vẫn còn sân si, mình còn chấp giữ, tâm mình chưa có buông xả trong khi Đức Phật, bậc thầy vĩ đại của mình sống như vậy, đó là chúng ta khiến cho họ sống theo gương pháp. Cái này là cái quan trọng, như vậy người cư sĩ mới được lợi ích khi đến chùa khi gặp các thầy các cô, khi đến lễ Phật, khi ngắm được cuộc đời Đức Phật hay cuộc đời của các bậc thánh Đức, thành ra điều tiếp theo là khiến cho họ sống theo gương pháp.
Điều thứ ba này rất đặc biệt, Đức Phật nói vị xuất gia đi đến đó thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán. Một người xuất gia có một tâm từ với người tại gia khi họ đang bị bệnh, nhất là bệnh nặng thì vị xuất gia này đến nói "hãy hướng tâm đến sự từ bỏ ngũ uẩn. Hãy hướng tâm đến sự từ bỏ tham ái đối với đời sống này. Hãy hướng tâm đến cái sự xuất ly, thoát ly đối với những cái thân xác vô thường, tứ đại, ảo mộng, hư huyễn này" thì người xuất gia đó có lòng từ, rất là thương người tại gia. Chúng ta thấy đây các vị cư sĩ học cái này, các vị xuất gia học cái này đều được lợi ích hết, cư sĩ mình học cái này thì mình sẽ có những điều kiện tăng thượng và mình cũng nhận định được người nào thật sự là người thầy, một người cô thương mình thật sự, căn cứ vô lời Phật mình sẽ biết ai là vị thầy có lòng từ mẫn đối với mình thật sự đúng theo tinh thần Đức Phật dạy.
Điều thứ tư là vị xuất gia này khi thấy đại chúng đi đến từ nhiều nơi đến thì người này sẽ cho gia chủ biết rằng có các bậc cao Tăng, những bậc đức hạnh, tu hành đến để được châm dầu vào ngọn đèn tam bảo, để được sớt bát, hộ pháp, in ấn kinh điển, hoằng dương Phật pháp, làm các việc phước đức. Những vị này thông báo cho các vị cư sĩ đây là cơ hội để quý vị gieo trồng các phước báo, công đức, lợi ích, bằng tình thương, bằng từ tâm thì những vị xuất gia đó đối với các về cư sĩ là như vậy. Đó là điều thứ tư.
Điều tiếp theo thứ năm khi người tu có lòng thương người cư sĩ là không có phung phí những vật dụng của người ta dân cúng, chỗ này thì chúng ta liên hệ một bài kinh này rất đặc biệt là bài kinh năm nguyên nhân chứa nhiều phi công đức.
"Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jivaka Komarabhacca.
Rồi Jivaka Komarabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình'. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình', bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng pháp, thuận pháp không có thể quở trách?" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Có người nói rằng vì Đức Phật mà họ giết hại những con vật tại họ đem đi cúng, ngài tuy biết là họ giết gì mình mà ngài vẫn nhận các loại thịt đó để dùng. Những gì họ nói có đúng không hay là họ đang xuyên tạc Đức Thế Tôn.
"-- Này Jivaka, những ai nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình được làm cho mình', những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Ấn Độ là xứ nóng, không có rau cỏ, củ quả nhiều như mình ở đây cho nên hồi xưa đạo Phật vừa xuất hiện làm gì người ta biết để cúng dường thức ăn chay cho nên ở nhà người ta ăn cái gì thì có đồ gì người ta đem cúng cái nấy, làm sao mình yêu cầu phải làm đồ ăn chay cho tôi, cho nên người ta có cái gì thì cúng cái nấy. Cho nên Đức Phật nói có ba trường hợp, nếu mình thấy, mình nghe và mình nghi người ta giết con vật đó cho mình thì mình không được ăn, gọi là tam tịnh nhục. Chừng nào mà mình không thấy, không nghe, không nghi thì được quyền dùng cho nên bài kinh này cũng dài nhưng mà chúng ta trích một đoạn ngắn thôi, tức là Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo phải tu bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả vô lượng.
"-- Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: 'Hãy đi và dắt con thú này đến', đó là nguyên nhân thứ nhứt, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: 'Hãy đi và giết con thú này', đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Ông Jivaka sau khi nghe Đức Phật giảng bài này thì ông xúc động, cảm động, quy y trở thành đệ tử cư sĩ của Đức Phật.
"Khi nghe nói vậy, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! ... Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Như vậy ở đây Đức Phật không tán thành việc giết hại các con vật để cúng cho ngài, cúng cho các thầy Tỳ-kheo, nhớ kỹ cái điều này, đây chính là kinh Nikāya, còn một bài kinh khác thì Đức Phật nói về cái vấn đề là cầu phước cho gia đình, tức là cúng kiếng, Thế Tôn nói rằng cúng mà giết hại chúng sanh thì sự cúng kiếng đó không đem lại phước báo, lợi ích, không đem tới phước lành cho người đã mất.
"Rồi Bà-la-môn Ujjaya đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ujjaya bạch Thế Tôn:
- Có phải Tôn giả Gotama không tán thán tế đàn?
- Này Bà-la-môn, Ta không tán thán tất cả loại tế đàn. Nhưng này Bà-la-môn, Ta không phải không tán thán tất cả loại tế đàn. Trong loại tế đàn nào, này Bà-la-môn, bò bị giết, dê cừu bị giết, gia cầm, heo bị giết, các loài sinh vật khác đi đến bị giết hại, loại tế đàn ấy, này Bà-la-môn, liên hệ đến sát sanh; Ta không tán thán loại tế đàn ấy. Vì cớ sao? Tế đàn có sát sanh như vậy, này Bà-la-môn, các A-la-hán, và những ai đã đi trên con đường hướng đến A-la-hán không có đi đến.
Tại tế đàn nào, này Bà-la-môn, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gia cầm, heo bị giết, không có các sinh vật khác bị giết, này Bà-la-môn, Ta tán thán tế đàn không có sát sanh như vậy, tức là bố thí thường làm từ lâu, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình. Vì cớ sao? Tế đàn không có sát sanh như vậy, này Bà-la-môn các A-la-hán và những ai đã đi trên con đường hướng đến A-la-hán có đi đến" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IX). Ujjaya)
Đức Phật nói lễ cúng nào không có sát sanh, không có giết hại các sinh vật thì lễ cúng đó là lễ cúng bố thí thường làm từ lâu, Phật tán thán buổi lễ cúng đó, buổi lễ cúng đó thật sự là cầu hạnh phúc cho gia đình. Ở đây đang nói về lòng từ mẫn của người xuất gia thì có phần cúng dường món ăn thì chúng ta liên hệ các bài kinh để thấy việc cúng dường, cúng tế để tránh sát sanh, tránh làm tổn hại sanh hại các chúng sanh thì mới có phước báo, phước đức.
II. Nguồn công đức
"- Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp, được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỳ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến đại uy lực, và gia đình ấy trong lúc ấy, đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến tài sản lớn, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến đại trí tuệ, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp này được nhiều công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IX). Gia Ðình)
Trên đây là năm phước báo của một gia đình được đón một xuất gia giữ giới, thứ nhất là được lên thiên giới, thứ hai nếu ở nhân gian chưa lên cõi trời thì được sanh trong gia đình cao sang, quyền quý, thứ ba là có sức mạnh lớn, đại uy lực, thứ tư là giàu có, tài sản lớn, cuối cùng là có trí tuệ lớn. Như vậy năm kết quả này tương ứng với năm cái nhân, thứ nhất là nhìn thấy các bậc này là tịnh tính sanh khởi, có lòng tin vào những bậc chân tu, những bậc đức hạnh, lòng tinh trong sạch, trong sáng, vững mạnh đó đưa đến kết quả là sanh lên thiên giới. Thứ hai là khi những vị có đức hạnh, giữ giới đến nhà thì được gia chủ đảnh lễ mời ngồi, chỗ ngồi đó là chỗ của cao sang vì đệ tử của Như Lai là những bậc hướng đến sự ly tham hoặc là đã ly tham, những bậc có trí tuệ, từ bi, công đức rất lớn cho nên thỉnh các vị đó ngồi thì sau này mình cũng được ngồi ở chỗ cao sang.
Tất cả pháp đều có nhân quả từng chút một, do mình đứng dậy đảnh lễ là mình đã dẹp được bản ngã, khi đem cái đầu cao nhất lạy dưới chân một vị xuất gia là lúc đó mình khiêm cung, khiêm hạ. Chính chỗ khiêm cung, khiêm hạ đó sẽ được sanh ở chỗ cao quý, tôn quý, chính chỗ ngồi đó mình được địa vị cao thượng trong xã hội nếu chưa sanh lên cõi trời. Vì vậy học Nikāya rồi sẽ thấy Đức Phật dạy nhân quả hết sức khoa học, logic, rõ ràng, cụ thể, minh bạch, tỏ tường, trong sáng, không có một cái gì mê tín, lờ mờ. Khi mình đem cái đầu cao nhất của mình lạy dưới chân những bậc có giới hạnh, trí tuệ, các bậc hiền thánh thì đương nhiên lúc đó bản ngã hạ xuống, do vì bản ngã hạ thấp trước các bậc tôn kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, đáng tôn trọng cho nên mình được ở trong địa vị cao sang. Khi mình hạ thấp xuống thì mình sẽ được lên cao, khi mình mời chỗ ngồi thì mình được chỗ sang cho nên được sanh trong gia đình cao sang, vì thế những vị trong hiện tại giàu có, có địa vị thì phải biết rằng nhiều đời nhiều kiếp mình đã làm điều này, căn cứ vào thánh trí huệ của Đức Phật, vào nhân quả để mình càng tinh tấn tu hành hơn nữa chứ không phải mình được rồi là ỷ y, ỷ lại, thỏa mãn, mình lo hưởng chứ không chịu tạo thêm.
Thứ ba là được đại uy lực do từ bỏ cấu uế, xan tham. Tiền của mồ hôi nước mắt mình tích lũy bây giờ mình phải đưa ra thì đâu phải chuyện dễ, đằng này không những đưa ra mà mình còn phải quỳ lạy thì cái này có dễ làm không? Bây giờ có những người gặp người ăn xin cũng không thèm cho nữa, keo kiệt, xan tham mà cái này cho mà phải quỳ xuống lạy nữa thì như vậy một sức mạnh nội tại bên trong xả ly và chiến thắng được mình, cho nên họ thành tựu được cái quả là gì đại uy lực. Sau này họ có quyền lực, họ có quyền uy, họ có thế lực, chúng ta thấy từng cái nhân quả trong Nikāya đặc biệt lắm, rất khít khao, sát sao, chân xác từng chút một, mỗi cử chỉ, hành động, mỗi cái khởi tâm của mình đều có nhân quả hết.
Thứ tư là được tài sản lớn, tùy theo năng lực của mình san sẻ vật bố thí, có trí tuệ là người này nghe pháp và đặt những câu hỏi. Các vị vừa lên núi chỉ có mấy ngày thôi nhưng cái thấy biết của mình đã khác, thậm chí mình chỉ tham dự khóa tu một ngày thôi, mình học, mình hiểu và mình cảm nhận những cái thấy biết mà trước đây mình không thấy biết cho nên cái nghe pháp và cái đặt câu hỏi là cái nhân đem đến quả là đại trí tuệ vì cái pháp của Đức Phật là thánh tuệ. Như vậy chúng ta sơ lược hai bài kinh này, chúng ta có mười điều đặc biệt, năm điều trước là người xuất gia có lòng từ mẫn với người cư sĩ, năm điều sau là người xuất gia giới hạnh đi đến nhà cư sĩ thì người cư sĩ tại gia được năm cái lợi ích cho nên Đức Phật mới gọi là ruộng phước vô thượng ở trên đời là một người tu đúng chánh pháp.
"- Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỳ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện được gặt nhiều công đức. Thế nào là ba? Bởi thân, bởi lời nói, bởi ý.
Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỳ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện này, được gặt nhiều công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, Bậc Giới Hạnh)
Làng mạc nào, thị trấn nào, thôn quê nào có những bậc tu hành giới đức ở nơi đó thì chỗ đó sẽ gặt được nhiều công đức bởi vì ba khía cạnh, bởi thân, bởi lời nói và bởi ý. Tức là những người ở trong làng xóm đó, trong thôn quê đó ba nghiệp sẽ được thấm nhuần những cái lợi lạc của thiện pháp, sẽ thấy được những cái đẹp, sẽ nghe được những điều hay, sẽ cảm nhận được những điều thanh cao, cao thượng, thánh thiện.
III. Khuyến tấn làm lành
Đây là những bản kinh mà chúng ta nói tới sự tương quan giữa người xuất gia và người tại gia, bản kinh cuối cùng này rất ấn tượng, trong bài kinh này Đức Phật khuyến khích mình hãy làm lành, tích lũy công đức cho đời sau, không những cho đời này mà còn cho nhiều kiếp sau
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Ðại vương đi từ đâu lại, giữa trưa như thế này?
-- Bạch Thế Tôn, tổ mẫu của con mệnh chung, già nua, tuổi tác, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đạt đến tuổi thọ, đã mệnh chung, được một trăm hai mươi tuổi.
Bạch Thế Tôn, con rất ái luyến và quý mến tổ mẫu. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một voi báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho voi báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một ngựa báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho ngựa báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một thôn làng tốt đẹp, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho thôn làng tốt đẹp để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con có thể được cho một quốc độ, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho quốc độ để tổ mẫu con khỏi chết.
-- Tất cả chúng sanh, thưa Ðại vương, đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo nói: 'Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.'
-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Ở Ấn Độ rất là nóng, hiện tại có những chỗ năm mươi độ C, vậy mà nhà vua đi giữa trưa nắng đến Thế Tôn, bạch rằng người bà vừa qua đời, tuổi già nua rồi. Thế Tôn điềm tĩnh bằng một cái giọng trầm ấm, từ hòa, đầy tuệ giác nói rằng tất cả loài hữu tình, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Nhà vua Ba-tư-nặc lúc này thấm thía, cảm nhận, cảm xúc, cảm động và chấn động trước thánh chuông của Đức Phật ngân vang. Rõ ràng bà của mình một trăm hai mươi tuổi rồi, rõ ràng sự là vậy, kính bạch bậc tôn quý nhất trên đời, Thế Tôn thật là khéo thuyết, Thế Tôn là một bậc nói sự thật tối thượng, thật là hiếm có, thật là hi hữu trên cuộc đời này là câu nói sự thật tối thượng tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Cũng giống như món đồ gốm do thợ gốm làm ra, dù cho đã nung hay chưa nung chín, tất cả những món đồ gốm ấy đều phải bể nát, đều phải kết thúc trong sự bể nát, không vượt qua được sự bể nát.
Những lời này đều là thánh ngôn, pháp ngữ, những lời nói này là thiên thu vạn đại, bất di bất dịch, thánh trí của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, từng câu từng chữ trong đây chạm vào trái tim của vua Ba-tư-nặc nên ngài rất xúc động, chấn động, kinh chấn. Món đồ gốm kia do người thợ gốm làm ra, dù cho đã nung chín hay còn là đất sét thì tất cả đều phải kết thúc trong sự bể nát, đổ bể, tan nát, không thể có một con đường nào khác, đều kết thúc trong sự bể nát, không có vượt qua khỏi sự bể nát đó. Con người cũng như thế, đây là một đề tài thiền quán cho chúng ta, cũng vậy thưa đại vương tất cả chúng sanh đều phải ra đi, đều phải chấm dứt mạng sống, đều phải chết, đều phải kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
"Mọi chúng sanh sẽ chết,
Mạng sống, chết kết thúc,
Tùy nghiệp, họ sẽ đi,
Nhận lãnh quả thiện ác,
Ác nghiệp, đọa địa ngục,
Thiện nghiệp, lên Thiên giới.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Mọi chúng sanh rồi sẽ chết, mạng sống này kết thúc bằng sự chết, nhưng khi chết đi tùy theo nghiệp mà họ sẽ đi theo nó để nhận lấy kết quả của thiện và ác. Nếu là ác nghiệp thì đọa vào ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu là thiện nghiệp, nghiệp lành thì họ lên thiên giới, nhân giới, đỉnh cao của nhân thiên. Do vậy hãy làm lành, để dành cho đời sau, tích lũy cho đời sau là để dành, không phải chỉ làm lành cho đời này mà phải biết để dành, phải biết tích chứa, tích góp, tích lũy phước báo, những công đức, những hạnh lành, những nghiệp lành cho đời sau nữa, công đức cho đời sau. Làm hậu cứ cho người tức là làm chỗ dựa sau này cho người đó, công đức cho đời sau là chỗ dựa cho người.
Chúng ta đang ngồi trên cái ghế, chúng ta biết sau lưng chúng ta là cái gì không? Không có cái miếng sau lưng này mà dựa vô là chúng ta sẽ té, chỗ dựa là vậy đó, chỗ tựa là vậy đó. Chúng ta dựa vào công đức, phước báo, dựa vào các việc lành thiện mà mình đã làm được, đó chính là chỗ dựa của mình. Một giờ chúng ta được nghe pháp, một giờ chúng ta được ngồi thiền, một giờ chúng ta được làm công quả để phụng sự, phục vụ cho đại chúng là những cái giờ thiện lành, an lành, hạnh phúc, phước báo, công đức. Một giờ chúng ta đi làm những việc nghĩa lợi, ý nghĩa, lợi ích thì những cái đó là những cái mình để dành, mình tích lũy, làm chỗ dựa cho đời sau đó cũng là chỗ dựa cho đời này.
Bài kinh sau đây Đức Phật nói chớ có sợ hãi các công đức, các con đừng có đừng có sợ công đức nhiều quá, chỉ sợ là không có chịu làm các công đức.
- Này các Tỳ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức.
Này các Tỳ-kheo, đồng nghĩa với an lạc chính là các công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Đừng sợ phiền khi làm các việc thiện, đừng có sợ nhọc, đừng có sợ mệt.
"Ta thắng tri rằng, này các Tỳ-kheo, các công đức được làm lâu ngày có quả dị thục, có sự hình thành khả ái, khả hỷ, khả ý lâu ngày. Trong bảy năm Ta tu tập từ tâm, sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy thành kiếp hoại kiếp, Ta không trở lui lại thế giới này. Khi thế giới ở trong thành kiếp, này các Tỳ-kheo, Ta đi đến thế giới Quang âm thiên. Khi thế giới ở trong kiếp hoại, Ta sanh ra trong Phạm cung trống không. Ở đấy, này các Tỳ-kheo, Ta là Phạm thiên, là Đại phạm thiên, vị Chiến thắng, vị Vô năng thắng, vị Biến tri, vị Tự tại.
Ba mươi sáu lần, này các Tỳ-kheo, Ta là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, Ta là vị Chuyển luân vương theo Chánh pháp, là vị Pháp vương, bậc Chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Tu tâm từ chỉ có bảy năm thôi mà trong bảy lần thành hoại của trái đất này là Đức phật không có trở lại trái đất này.
"Này các Tỳ-kheo, Ta có bảy loại châu báu này, như là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và cư sĩ báu là thứ bảy. Ta có hơn một ngàn người con trai, này các Tỳ-kheo, là những bậc anh hùng, dõng mãnh, đánh tan địch quân. Và khi ta chiến thắng quả đất này, xa cho đến bờ biển, Ta trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng đao, đúng với Chánh pháp" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Tức là sau khi nhiều lần ngài làm vua ở cõi trời, ngài xuống dưới nhân gian này làm chuyển Luân Thánh Vương, là vua thánh cai trị cả trái đất nhưng không có cai trị bằng gươm, bằng dao, bằng súng ống, đạn dược mà cai trị bằng chánh pháp, bằng đức độ. Cho nên Đức Thế Tôn nói các vị đừng có sợ các công đức vì đồng nghĩa với an lạc, hạnh phúc chính là các công đức, bằng với an lạc, bằng với hạnh phúc, bằng với an vui, an ổn, an lành, an yên, an bình, an tịnh, an lạc chính là phước báo và công đức. Vì vậy có buồn ngủ cũng phải ráng chiến đấu ngồi thiền, nghe pháp, mệt cũng phải chiến đấu để làm công quả tu tập.
Như vậy hôm nay chúng ta tổng hợp rất nhiều bản kinh, trong thời gian ngắn chúng ta cố gắng nêu bật lên những lợi lạc từ người xuất gia hướng dẫn, giúp đỡ cho người cư sĩ, từ người cư sĩ cúng dường, cung kính người xuất gia được lợi ích cũng như là câu chuyện nổi bật nhất là vua Ba-tư-nặc được Đức Phật dạy cho một bài rất là tuyệt vời hãy làm lành, tích lũy công đức, làm chỗ dựa cho đời sau và đừng có sợ hãi các công đức, hãy hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc và siêng năng làm tất cả các việc phước báo, công đức, làm chỗ dựa hiện tại và tương lai cho chính mình.
IV. Trình pháp
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, thay mặt cho ban tổ chức lớp học cũng như diễn đàn online, chúng con thành kính niệm ân thượng tọa giảng sư có một thời pháp thoại chia sẻ đến với lớp học với chúng con hôm nay cho quý Phật tử qua các bài kinh. Đây là một thời pháp nhưng mà hôm nay có rất là nhiều bản tin ngắn, rất là thiết thực, rất là bổ ích cho quý Phật tử, giúp cho Phật tử có thể con đường tu tập của mình. Những bản kinh mà thầy giảng dạy cho quý Phật tử dài nhất khi thượng tọa đã nói về cái bản kinh cuối cùng là Đức Phật đã dạy cho vua Ba-tư-nặc phải tích lũy công đức, làm những việc làm thiện, đừng bao giờ sợ những cái việc làm của mình mà phải tích lũy những cái công đức.
Đối với Phật tử, đối với người xuất gia thì tạo phước lành để đem an lạc đến cho mình, người Phật tử tại gia phải biết bố thí, cúng dường cho Tăng Ni cũng như trong sự tu tập của mình, công phu, công quả thì việc làm của mình mới có kết quả. Từng bản kinh thượng tọa chia sẻ rất ý nghĩa và chúng con cảm thấy rất là hạnh phúc khi được nghe những bản kinh từ thời Đức Phật được giảng sư chia sẻ lại trong lớp học chúng con ngày hôm nay. Từng bản kinh trong đây là quý Phật tử chúng ta phải cảm nhận được, phải cố gắng trong sự tu tập của, mình nhất là trong cái bản kinh giới hạnh mà thượng tọa đã chia sẻ. Chúng ta thấy là phải tu thân, khẩu, ý thì chúng ta sẽ được lợi lạc và chúng ta làm những cái điều thánh thiện những điều có lợi cho mọi người, nhất là phải tu thân, khẩu, ý của mình cho thanh tịnh.
Quý Phật tử nhớ trong kinh Nikāya có từng bản kinh ngắn nhưng mỗi một bản kinh như vậy có ý nghĩa rất gần gũi trong cuộc sống tu tập của mình. Qua bài hôm nay quý Phật tử được thượng tọa chia sẻ rất rõ ràng, con nghĩ là trong một diễn đàn học Phật online cũng như trong diễn đàn Phật tử đang giảng dạy dưới đất thì con thấy mọi người đều cảm nhận được điều này, chúng ta phải siêng năng, tinh tấn tu tập, công phu, công quả để tích lũy công đức vì đó là chỗ dựa cho mình, để cho mình đời sau đừng lo sợ một điều gì hết, mình sẽ được an vui, hạnh phúc, an lành.
Một thời pháp của thượng tọa đã mang đến cho lớp học chúng con một bài pháp rất là ý nghĩa để chúng con cảm thấy trong đường sống tu tập của mình mà được những lời chia sẻ của thượng tọa cũng như là giúp cho quý Phật tử cũng như chúng con có thêm nhiều năng lượng trong cái sự tu tập của mình, luôn luôn được trên chư tôn đức nhắc nhở hành trì, nhất là quý Phật tử phải siêng năng tu tập thiền quán thì chúng ta sẽ cảm nhận được điều này, từng lời giảng của thượng tọa đi vào lòng của quý Phật tử, chúng ta phải cảm nhận để sau này chúng ta có thêm năng lượng trên con đường tu tập của mình. Khi chúng ta làm việc gì cũng vậy, chúng ta phải nhớ tích lũy công đức vì đó là chỗ dựa cho mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, chúng con một lần nữa tính tri ân thượng tọa đã mang đến cho lớp học của con một bài pháp rất là ý nghĩa. Chúng con kính chúc trên thượng tọa giảng sư luôn luôn được pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ và có những bản kinh từ thời Đức Phật để chia sẻ đến đạo tràng chúng con cho quý Phật tử có được nhiều lợi lạc, nhiều hạnh phúc và an vui trong sự tu tập của mình.
Kính chúc quý Phật tử trong các thời tu học của mình siêng năng, tinh tấn và từng lời pháp của thượng tọa sẽ là động lực cho quý Phật tử trên sự tu tập của mình có được nhiều hạnh phúc, an vui. Giờ đây lớp học chúng con đã đến đây là đã được hoàn mãn, con kính thỉnh trên thượng tọa giảng sư hồi hướng cho thời pháp hôm nay. Kính mời quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta đồng chắp tay trang nghiêm cùng Thượng Tọa hồi hướng cho thầy pháp của chúng ta hôm nay đã được kết thúc sau hoàn mãn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính cung thỉnh thượng tọa.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bài pháp thoại hôm nay chúng ta đến đây đã được hoàn mãn, kết thúc một thời pháp thật là ý nghĩa. Sau thời pháp thoại gọi hôm nay quý Phật tử điều gì chúng ta muốn hỏi thì mời quý Phật tử chúng ta có thể đặt những câu hỏi để thượng tọa giảng sư chia sẻ thêm, có điều gì quý vị chưa hiểu? Hoặc là quý Phật tử đã hiểu bài và tri ân đến thượng tọa thì cũng xin quý phật đưa tay lên để chia sẻ cho thượng tọa để thượng tọa cảm nhận được qua một thời pháp tại diễn đàn quý Phật tử đã có sự tiếp thu rất là tốt đẹp. A-di-đà Phật.
Phật tử Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con xin thành kính tri ân những lời giảng dạy của thượng tọa. Con chỉ có một câu hỏi thế này thôi ạ, bài kinh đại tế đàn thì con thấy là tức là ở các cái tế đàn là không được giết hại và không được sát sinh nhưng mà con nghĩ là điều này phải hiểu rộng ra tức là không những không sát sinh mà mình không được phá giới, không được phạm giới để cúng dường. Chẳng hạn là mình cũng không được phép trộm cắp để cúng dường tam bảo, như thế thì cũng là phạm vào giới trộm, cắp thứ hai nữa là mình cũng không nên tham ô tiền của bá tánh, lấy những đồng tiền không trong sạch để bố thí, cúng dường. Con nghĩ là những điều đấy cũng là điều phi pháp, phi công đức. Chỗ này con hiểu như vậy thì xin thượng tọa từ bi giảng dạy cho con ở cái điểm này. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Dạ thưa cái đó là đúng rồi, đúng theo cái tinh thần năm giới là vậy, ở đây Đức Phật nói mình theo tính cách là chặn đứng ngay những cái tiêu cực và phải hiểu rộng ra thêm cái phần tích cực nữa tại vì thường thường cúng kiếng ở thế gian, chẳng hạn có người mất ở trong gia đình rồi giết gà, giết heo, giết vịt, đủ thứ hết, cứ nghĩ rằng làm linh đình như vậy thứ nhất là để cho có tiếng tăm, thứ hai là mọi người vui, thứ ba là cúng mà cầu xin thần thánh gì đó, những cái đó đều sai nhân quả, làm thì không có được lợi ích cho tự thân mình cũng không lợi ích cho người đã quá vãng mà chỉ thêm gánh nặng thôi. Giống như người đi đường xa mang cái gánh nặng rồi giờ mình phải để thêm đá lên cho người đó gánh nữa thì như vậy người đó càng nặng nề.
Cho nên Đức Phật nói rằng ngài không có tán thán vấn đề tế đàn, tế lễ, cúng kiếng nhưng nếu có thì những cái tế đàn nào mà không có sát sanh, còn nếu những cái tế đàn có sát sanh thì các bậc A-la-hán không có đến đó. Ngày nay chúng ta thấy rằng trong những buổi lễ mà mình đến chùa cúng trai Phạn, trai Tăng này kia là mình làm thuần chay tịnh thôi, mình không giết con gì hết. Thứ hai là mình còn nhân dịp ở trên thì mình bố thí, cúng dường, còn ở dưới có khi mình bố thí cho những người nghèo nữa, trong buổi lễ nhiều vị phát gạo, phát đồ ăn, thuốc men cho những người nghèo. Thành ra những điều đó là phù hợp với pháp, nó thiện pháp, nó đem ra hạnh phúc, an lạc cho hiện tại và cho tương lai và cái nhân quả mình thấy nó rất là thiết thực, rõ ràng, cụ thể thì mình ứng dụng theo tinh thần đó để buổi lễ hay buổi cúng của mình có lợi lạc thật sự.
Đương nhiên là mình không thể đi lừa gạt người ta để đem tiền đó cúng, không phải đi dối trá, lừa đảo, làm ăn phi pháp để mình đem cúng thì cái đó là không có đúng pháp. Đức Phật dạy là chánh mạng đó cho nên huynh có cái suy nghĩ như vậy là rất là đúng.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, xin thay lời cho Phật tử Minh Anh chúng con kính tri ân thượng tọa giảng sư rất là nhiều, một câu hỏi của Phật tử Minh Anh đã được thượng tọa giảng sư chia sẻ, nhất là qua bài học vừa rồi và Phật tử Minh Anh đã biết mở rộng hơn về những cái tích cực hơn trong việc tế đàn. Trong cái việc mình cúng ở nhà thì quý vị cũng biết là mình phải tạo những cái công đức để kẻ còn người mất đều lợi lạc, mình đừng sát sanh hại vật, giống như thượng tọa nói là người chết mà mình chồng thêm đá, người ta đã mang đá nặng rồi mà mình bỏ thêm đá nữa thì những người đó rất là tội. Trong kinh mình tụng cũng đã thấy rất là nhiều nên ở đây là những vị Phật tử đã học qua kinh điển và được chia sẻ ở đây thì có những điều chúng ta thấy biết, nhất là tam tịnh nhục thì quý vị Phật tử trong đạo tràng chúng ta cũng lưu ý.
Đức Phật dạy những món ăn tam tịnh nhục, những thứ mà mình không thấy, không nghe, không nghi ngờ người ta làm thì mình được sử dụng vì thời Đức Phật người ta cúng cái gì là dùng cái nấy cho nên quý Phật tử cũng lưu ý cái này. Đối với quý thầy cô bên truyền thống Bắc Tông là chúng ta thuần chay nhưng bên hệ thống Nam Truyền thì người ta được dùng thực phẩm theo thời nguyên thủy. Quý Phật tử cũng hiểu chỗ này để mình hiểu mở rộng ra vì chư Tăng ở bên Nam Tông không tự tay nấu ăn những món đó, tất cả những món đó do Phật tử tự nấu và dâng cúng thì chúng ta cũng lưu ý điều này.
Thưa thượng tọa là Phật tử cũng thường hay hỏi con điều này, tại sao lại thấy quý sư ăn mặn thì hôm nay trong diễn đàn quý Phật tử cũng hiểu điều này, cho nên mình đừng vì người đó mà mình giết những con vật, trong gia đình phải tạo phước lành cho người đã mất để kẻ còn người mất đều được lợi lạc, trong kinh mình tụng cũng thường thấy điều này. Quý Phật tử trong diễn đàn đã được nghe qua từng lời giảng của quý thầy, mình cảm nhận những điều đó rồi ứng dụng trong sự tu tập, trong gia đình khi có hữu sự thì quý Phật tử cũng biết được điều này để tạo công đức lành để chỗ dựa cho mình sau này được an vui, được an lành trong cuộc sống tu tập của mình.
Con thỉnh thượng tọa giảng sư nghỉ ngơi trong thời khóa mùa hạ, kính chúc quý Phật tử trong diễn đàn luôn luôn được an vui, hạnh phúc, gia đình quý vị luôn luôn được bình an trong cuộc sống, quý Phật tử tinh tấn tu hành và luôn luôn giữ vững tâm bồ đề của mình. A-di-đà Phật.
./.
Nghiệp & Quả Báo 32
Người Xuất Gia Thương Giúp Tại Gia Như Thế Nào?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vị xuất gia mang đến lợi ích cho cư sĩ PAGEREF _Toc188286335 \h 1
II. Nguồn công đức PAGEREF _Toc188286336 \h 6
III. Khuyến tấn làm lành PAGEREF _Toc188286337 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc188286338 \h 14
I. Vị xuất gia mang đến lợi ích cho cư sĩ
Kính bạch chư tôn thiền đức, hôm nay chúng ta nghe bài kinh Có Lòng Từ Mẫn trong Tăng Chi Bộ, tập II với nội dung là vị Tỳ-kheo trú ở chỗ nào có lòng thương xót đối với người cư sĩ.
"- Thành tựu năm pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ. Thế nào là năm?
Khích lệ tăng thượng giới;
Khiến chúng sống theo gương pháp;
Khi đến thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau: 'Các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán';
Khi đại chúng Tỳ-kheo đi đến từ nhiều địa phương khác nhau, vị ấy nói với các gia chủ đi đến như sau: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo đã đến từ nhiều địa phương khác nhau. Các vị hãy làm các phước đức. Nay là thời làm các phước đức';
Họ có cúng dường các món ăn gì, hoặc thô hoặc tế, tự mình thọ dụng, không làm cho của tín thí rơi rớt.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXIV. Phẩm Trú Tại Chỗ, (V). Có Lòng Từ Mẫn)
Ở đây Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo, một vị xuất gia mà thương người cư sĩ, thương bằng từ tâm, thương bằng lòng từ mẫn thì vị Tỳ-kheo này phải có năm phương diện, năm yếu tố, năm điều để xót thương, từ bi và giúp ích cho các vị cư sĩ. Điều thứ nhất khích lệ họ tăng thượng giữ giới, vì thế một người xuất gia chân tu, một người xuất gia có lòng từ đối với người tại gia, khi gặp các vị tại gia thì người này hỏi "Mấy hôm nay cô có nhớ giữ giới không? Trong năm giới giữ được bao nhiêu rồi?", khích lệ cho người Phật tử này giữ giới, khích lệ cho người Phật tử này phát triển giới, khích lệ cho người Phật tử này tăng trưởng viên mãn các giới thì người xuất gia như vậy mới là người xuất gia có lòng từ đối với người tại gia, đây là điều thứ nhất chứ không phải tới chỉ hỏi khỏe không, nhà sao rồi, làm ăn sao,… những cái đó là cái thường pháp người thế gian, người xuất gia không nên hỏi mấy cái đó, nên hỏi "đối với các giới cô có thấy mình tăng thượng không? Có đi thọ bát quan trai giới không? Đối với thập thiện tu được bao nhiêu rồi?", đó là một lời hỏi thăm, cũng là một cái lời nhắc nhở, khích lệ, khuyến khích.
Thứ hai là giúp cho các vị cư sĩ là sống theo gương pháp, là một cái người xuất gia phải thể hiện được đời sống ly tham của mình, phải thể hiện được đức hạnh của một người tu, phải thể hiện được sự an tịnh, trầm mặc, sự thu hút lục căn ba nghiệp. Mình có sự an tịnh, trầm mặc thì đó chính là tấm gương pháp cho Phật tử soi vào, người xuất gia mình có được sự điềm tĩnh, chánh niệm, có được tâm từ, có được cái trí tuệ thì đó chính người xuất gia đang làm gương pháp cho người cư sĩ, nhắc nhở người cư sĩ, khiến cho họ sống theo gương pháp, nhắc nhở về đức phật cho họ khi Phật tử đến chùa.
Tại sao mà các chùa để nguyên một bức tranh tiểu sử cuộc đời của Đức Phật, con treo nguyên một cái bảng rất là lớn những hình ảnh và cuộc đời của đức Phật, đề rất là ngắn gọn, mỗi hình một câu ngắn vài chữ thôi, thì đó chính là cái gương pháp để cho Phật tử tới thấy một thái tử như vậy, từ bỏ như vậy, ngài có cuộc đời cao thượng thánh thiện như vậy, thì những người Phật tử nhìn vào thấy đó là một cái tấm gương sáng của bậc đại đạo sư, của bậc tổ khai sáng ra Phật giáo. Đó là để cho họ soi vào, họ nhìn thấy tại sao là con Phật mà vẫn còn sân si, mình còn chấp giữ, tâm mình chưa có buông xả trong khi Đức Phật, bậc thầy vĩ đại của mình sống như vậy, đó là chúng ta khiến cho họ sống theo gương pháp. Cái này là cái quan trọng, như vậy người cư sĩ mới được lợi ích khi đến chùa khi gặp các thầy các cô, khi đến lễ Phật, khi ngắm được cuộc đời Đức Phật hay cuộc đời của các bậc thánh Đức, thành ra điều tiếp theo là khiến cho họ sống theo gương pháp.
Điều thứ ba này rất đặc biệt, Đức Phật nói vị xuất gia đi đến đó thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán. Một người xuất gia có một tâm từ với người tại gia khi họ đang bị bệnh, nhất là bệnh nặng thì vị xuất gia này đến nói "hãy hướng tâm đến sự từ bỏ ngũ uẩn. Hãy hướng tâm đến sự từ bỏ tham ái đối với đời sống này. Hãy hướng tâm đến cái sự xuất ly, thoát ly đối với những cái thân xác vô thường, tứ đại, ảo mộng, hư huyễn này" thì người xuất gia đó có lòng từ, rất là thương người tại gia. Chúng ta thấy đây các vị cư sĩ học cái này, các vị xuất gia học cái này đều được lợi ích hết, cư sĩ mình học cái này thì mình sẽ có những điều kiện tăng thượng và mình cũng nhận định được người nào thật sự là người thầy, một người cô thương mình thật sự, căn cứ vô lời Phật mình sẽ biết ai là vị thầy có lòng từ mẫn đối với mình thật sự đúng theo tinh thần Đức Phật dạy.
Điều thứ tư là vị xuất gia này khi thấy đại chúng đi đến từ nhiều nơi đến thì người này sẽ cho gia chủ biết rằng có các bậc cao Tăng, những bậc đức hạnh, tu hành đến để được châm dầu vào ngọn đèn tam bảo, để được sớt bát, hộ pháp, in ấn kinh điển, hoằng dương Phật pháp, làm các việc phước đức. Những vị này thông báo cho các vị cư sĩ đây là cơ hội để quý vị gieo trồng các phước báo, công đức, lợi ích, bằng tình thương, bằng từ tâm thì những vị xuất gia đó đối với các về cư sĩ là như vậy. Đó là điều thứ tư.
Điều tiếp theo thứ năm khi người tu có lòng thương người cư sĩ là không có phung phí những vật dụng của người ta dân cúng, chỗ này thì chúng ta liên hệ một bài kinh này rất đặc biệt là bài kinh năm nguyên nhân chứa nhiều phi công đức.
"Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jivaka Komarabhacca.
Rồi Jivaka Komarabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình'. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình', bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng pháp, thuận pháp không có thể quở trách?" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Có người nói rằng vì Đức Phật mà họ giết hại những con vật tại họ đem đi cúng, ngài tuy biết là họ giết gì mình mà ngài vẫn nhận các loại thịt đó để dùng. Những gì họ nói có đúng không hay là họ đang xuyên tạc Đức Thế Tôn.
"-- Này Jivaka, những ai nói như sau: 'Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình được làm cho mình', những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Ấn Độ là xứ nóng, không có rau cỏ, củ quả nhiều như mình ở đây cho nên hồi xưa đạo Phật vừa xuất hiện làm gì người ta biết để cúng dường thức ăn chay cho nên ở nhà người ta ăn cái gì thì có đồ gì người ta đem cúng cái nấy, làm sao mình yêu cầu phải làm đồ ăn chay cho tôi, cho nên người ta có cái gì thì cúng cái nấy. Cho nên Đức Phật nói có ba trường hợp, nếu mình thấy, mình nghe và mình nghi người ta giết con vật đó cho mình thì mình không được ăn, gọi là tam tịnh nhục. Chừng nào mà mình không thấy, không nghe, không nghi thì được quyền dùng cho nên bài kinh này cũng dài nhưng mà chúng ta trích một đoạn ngắn thôi, tức là Đức Phật nói một vị Tỳ-kheo phải tu bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả vô lượng.
"-- Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: 'Hãy đi và dắt con thú này đến', đó là nguyên nhân thứ nhứt, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: 'Hãy đi và giết con thú này', đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Ông Jivaka sau khi nghe Đức Phật giảng bài này thì ông xúc động, cảm động, quy y trở thành đệ tử cư sĩ của Đức Phật.
"Khi nghe nói vậy, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! ... Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Trung Bộ Kinh, 55. Kinh Jìvaka)
Như vậy ở đây Đức Phật không tán thành việc giết hại các con vật để cúng cho ngài, cúng cho các thầy Tỳ-kheo, nhớ kỹ cái điều này, đây chính là kinh Nikāya, còn một bài kinh khác thì Đức Phật nói về cái vấn đề là cầu phước cho gia đình, tức là cúng kiếng, Thế Tôn nói rằng cúng mà giết hại chúng sanh thì sự cúng kiếng đó không đem lại phước báo, lợi ích, không đem tới phước lành cho người đã mất.
"Rồi Bà-la-môn Ujjaya đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ujjaya bạch Thế Tôn:
- Có phải Tôn giả Gotama không tán thán tế đàn?
- Này Bà-la-môn, Ta không tán thán tất cả loại tế đàn. Nhưng này Bà-la-môn, Ta không phải không tán thán tất cả loại tế đàn. Trong loại tế đàn nào, này Bà-la-môn, bò bị giết, dê cừu bị giết, gia cầm, heo bị giết, các loài sinh vật khác đi đến bị giết hại, loại tế đàn ấy, này Bà-la-môn, liên hệ đến sát sanh; Ta không tán thán loại tế đàn ấy. Vì cớ sao? Tế đàn có sát sanh như vậy, này Bà-la-môn, các A-la-hán, và những ai đã đi trên con đường hướng đến A-la-hán không có đi đến.
Tại tế đàn nào, này Bà-la-môn, trong ấy không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gia cầm, heo bị giết, không có các sinh vật khác bị giết, này Bà-la-môn, Ta tán thán tế đàn không có sát sanh như vậy, tức là bố thí thường làm từ lâu, tế đàn cầu hạnh phúc cho gia đình. Vì cớ sao? Tế đàn không có sát sanh như vậy, này Bà-la-môn các A-la-hán và những ai đã đi trên con đường hướng đến A-la-hán có đi đến" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IX). Ujjaya)
Đức Phật nói lễ cúng nào không có sát sanh, không có giết hại các sinh vật thì lễ cúng đó là lễ cúng bố thí thường làm từ lâu, Phật tán thán buổi lễ cúng đó, buổi lễ cúng đó thật sự là cầu hạnh phúc cho gia đình. Ở đây đang nói về lòng từ mẫn của người xuất gia thì có phần cúng dường món ăn thì chúng ta liên hệ các bài kinh để thấy việc cúng dường, cúng tế để tránh sát sanh, tránh làm tổn hại sanh hại các chúng sanh thì mới có phước báo, phước đức.
II. Nguồn công đức
"- Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp, được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người sau khi thấy họ tâm được tịnh tín. Này các Tỳ-kheo, như vậy là đưa đến cõi Trời, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người đứng dậy, đảnh lễ họ, mời họ ngồi. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến được sanh vào các gia đình cao sang, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến đại uy lực, và gia đình ấy trong lúc ấy, đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến tài sản lớn, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, các người hỏi những câu hỏi, đặt những câu hỏi, nghe pháp. Này các Tỳ-kheo, như vậy đưa đến đại trí tuệ, và gia đình ấy trong lúc ấy đã bước được trên con đường ấy.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy các người do năm trường hợp này được nhiều công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, (IX). Gia Ðình)
Trên đây là năm phước báo của một gia đình được đón một xuất gia giữ giới, thứ nhất là được lên thiên giới, thứ hai nếu ở nhân gian chưa lên cõi trời thì được sanh trong gia đình cao sang, quyền quý, thứ ba là có sức mạnh lớn, đại uy lực, thứ tư là giàu có, tài sản lớn, cuối cùng là có trí tuệ lớn. Như vậy năm kết quả này tương ứng với năm cái nhân, thứ nhất là nhìn thấy các bậc này là tịnh tính sanh khởi, có lòng tin vào những bậc chân tu, những bậc đức hạnh, lòng tinh trong sạch, trong sáng, vững mạnh đó đưa đến kết quả là sanh lên thiên giới. Thứ hai là khi những vị có đức hạnh, giữ giới đến nhà thì được gia chủ đảnh lễ mời ngồi, chỗ ngồi đó là chỗ của cao sang vì đệ tử của Như Lai là những bậc hướng đến sự ly tham hoặc là đã ly tham, những bậc có trí tuệ, từ bi, công đức rất lớn cho nên thỉnh các vị đó ngồi thì sau này mình cũng được ngồi ở chỗ cao sang.
Tất cả pháp đều có nhân quả từng chút một, do mình đứng dậy đảnh lễ là mình đã dẹp được bản ngã, khi đem cái đầu cao nhất lạy dưới chân một vị xuất gia là lúc đó mình khiêm cung, khiêm hạ. Chính chỗ khiêm cung, khiêm hạ đó sẽ được sanh ở chỗ cao quý, tôn quý, chính chỗ ngồi đó mình được địa vị cao thượng trong xã hội nếu chưa sanh lên cõi trời. Vì vậy học Nikāya rồi sẽ thấy Đức Phật dạy nhân quả hết sức khoa học, logic, rõ ràng, cụ thể, minh bạch, tỏ tường, trong sáng, không có một cái gì mê tín, lờ mờ. Khi mình đem cái đầu cao nhất của mình lạy dưới chân những bậc có giới hạnh, trí tuệ, các bậc hiền thánh thì đương nhiên lúc đó bản ngã hạ xuống, do vì bản ngã hạ thấp trước các bậc tôn kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, đáng tôn trọng cho nên mình được ở trong địa vị cao sang. Khi mình hạ thấp xuống thì mình sẽ được lên cao, khi mình mời chỗ ngồi thì mình được chỗ sang cho nên được sanh trong gia đình cao sang, vì thế những vị trong hiện tại giàu có, có địa vị thì phải biết rằng nhiều đời nhiều kiếp mình đã làm điều này, căn cứ vào thánh trí huệ của Đức Phật, vào nhân quả để mình càng tinh tấn tu hành hơn nữa chứ không phải mình được rồi là ỷ y, ỷ lại, thỏa mãn, mình lo hưởng chứ không chịu tạo thêm.
Thứ ba là được đại uy lực do từ bỏ cấu uế, xan tham. Tiền của mồ hôi nước mắt mình tích lũy bây giờ mình phải đưa ra thì đâu phải chuyện dễ, đằng này không những đưa ra mà mình còn phải quỳ lạy thì cái này có dễ làm không? Bây giờ có những người gặp người ăn xin cũng không thèm cho nữa, keo kiệt, xan tham mà cái này cho mà phải quỳ xuống lạy nữa thì như vậy một sức mạnh nội tại bên trong xả ly và chiến thắng được mình, cho nên họ thành tựu được cái quả là gì đại uy lực. Sau này họ có quyền lực, họ có quyền uy, họ có thế lực, chúng ta thấy từng cái nhân quả trong Nikāya đặc biệt lắm, rất khít khao, sát sao, chân xác từng chút một, mỗi cử chỉ, hành động, mỗi cái khởi tâm của mình đều có nhân quả hết.
Thứ tư là được tài sản lớn, tùy theo năng lực của mình san sẻ vật bố thí, có trí tuệ là người này nghe pháp và đặt những câu hỏi. Các vị vừa lên núi chỉ có mấy ngày thôi nhưng cái thấy biết của mình đã khác, thậm chí mình chỉ tham dự khóa tu một ngày thôi, mình học, mình hiểu và mình cảm nhận những cái thấy biết mà trước đây mình không thấy biết cho nên cái nghe pháp và cái đặt câu hỏi là cái nhân đem đến quả là đại trí tuệ vì cái pháp của Đức Phật là thánh tuệ. Như vậy chúng ta sơ lược hai bài kinh này, chúng ta có mười điều đặc biệt, năm điều trước là người xuất gia có lòng từ mẫn với người cư sĩ, năm điều sau là người xuất gia giới hạnh đi đến nhà cư sĩ thì người cư sĩ tại gia được năm cái lợi ích cho nên Đức Phật mới gọi là ruộng phước vô thượng ở trên đời là một người tu đúng chánh pháp.
"- Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỳ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện được gặt nhiều công đức. Thế nào là ba? Bởi thân, bởi lời nói, bởi ý.
Gần làng hay thị trấn nào, này các Tỳ-kheo, các bậc xuất gia có giới hạnh trú ở, tại chỗ ấy, các người nhờ ba sự kiện này, được gặt nhiều công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, Bậc Giới Hạnh)
Làng mạc nào, thị trấn nào, thôn quê nào có những bậc tu hành giới đức ở nơi đó thì chỗ đó sẽ gặt được nhiều công đức bởi vì ba khía cạnh, bởi thân, bởi lời nói và bởi ý. Tức là những người ở trong làng xóm đó, trong thôn quê đó ba nghiệp sẽ được thấm nhuần những cái lợi lạc của thiện pháp, sẽ thấy được những cái đẹp, sẽ nghe được những điều hay, sẽ cảm nhận được những điều thanh cao, cao thượng, thánh thiện.
III. Khuyến tấn làm lành
Đây là những bản kinh mà chúng ta nói tới sự tương quan giữa người xuất gia và người tại gia, bản kinh cuối cùng này rất ấn tượng, trong bài kinh này Đức Phật khuyến khích mình hãy làm lành, tích lũy công đức cho đời sau, không những cho đời này mà còn cho nhiều kiếp sau
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Ðại vương đi từ đâu lại, giữa trưa như thế này?
-- Bạch Thế Tôn, tổ mẫu của con mệnh chung, già nua, tuổi tác, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đạt đến tuổi thọ, đã mệnh chung, được một trăm hai mươi tuổi.
Bạch Thế Tôn, con rất ái luyến và quý mến tổ mẫu. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một voi báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho voi báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một ngựa báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho ngựa báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một thôn làng tốt đẹp, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho thôn làng tốt đẹp để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con có thể được cho một quốc độ, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho quốc độ để tổ mẫu con khỏi chết.
-- Tất cả chúng sanh, thưa Ðại vương, đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo nói: 'Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.'
-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Ở Ấn Độ rất là nóng, hiện tại có những chỗ năm mươi độ C, vậy mà nhà vua đi giữa trưa nắng đến Thế Tôn, bạch rằng người bà vừa qua đời, tuổi già nua rồi. Thế Tôn điềm tĩnh bằng một cái giọng trầm ấm, từ hòa, đầy tuệ giác nói rằng tất cả loài hữu tình, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Nhà vua Ba-tư-nặc lúc này thấm thía, cảm nhận, cảm xúc, cảm động và chấn động trước thánh chuông của Đức Phật ngân vang. Rõ ràng bà của mình một trăm hai mươi tuổi rồi, rõ ràng sự là vậy, kính bạch bậc tôn quý nhất trên đời, Thế Tôn thật là khéo thuyết, Thế Tôn là một bậc nói sự thật tối thượng, thật là hiếm có, thật là hi hữu trên cuộc đời này là câu nói sự thật tối thượng tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Cũng giống như món đồ gốm do thợ gốm làm ra, dù cho đã nung hay chưa nung chín, tất cả những món đồ gốm ấy đều phải bể nát, đều phải kết thúc trong sự bể nát, không vượt qua được sự bể nát.
Những lời này đều là thánh ngôn, pháp ngữ, những lời nói này là thiên thu vạn đại, bất di bất dịch, thánh trí của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, từng câu từng chữ trong đây chạm vào trái tim của vua Ba-tư-nặc nên ngài rất xúc động, chấn động, kinh chấn. Món đồ gốm kia do người thợ gốm làm ra, dù cho đã nung chín hay còn là đất sét thì tất cả đều phải kết thúc trong sự bể nát, đổ bể, tan nát, không thể có một con đường nào khác, đều kết thúc trong sự bể nát, không có vượt qua khỏi sự bể nát đó. Con người cũng như thế, đây là một đề tài thiền quán cho chúng ta, cũng vậy thưa đại vương tất cả chúng sanh đều phải ra đi, đều phải chấm dứt mạng sống, đều phải chết, đều phải kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
"Mọi chúng sanh sẽ chết,
Mạng sống, chết kết thúc,
Tùy nghiệp, họ sẽ đi,
Nhận lãnh quả thiện ác,
Ác nghiệp, đọa địa ngục,
Thiện nghiệp, lên Thiên giới.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Mọi chúng sanh rồi sẽ chết, mạng sống này kết thúc bằng sự chết, nhưng khi chết đi tùy theo nghiệp mà họ sẽ đi theo nó để nhận lấy kết quả của thiện và ác. Nếu là ác nghiệp thì đọa vào ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu là thiện nghiệp, nghiệp lành thì họ lên thiên giới, nhân giới, đỉnh cao của nhân thiên. Do vậy hãy làm lành, để dành cho đời sau, tích lũy cho đời sau là để dành, không phải chỉ làm lành cho đời này mà phải biết để dành, phải biết tích chứa, tích góp, tích lũy phước báo, những công đức, những hạnh lành, những nghiệp lành cho đời sau nữa, công đức cho đời sau. Làm hậu cứ cho người tức là làm chỗ dựa sau này cho người đó, công đức cho đời sau là chỗ dựa cho người.
Chúng ta đang ngồi trên cái ghế, chúng ta biết sau lưng chúng ta là cái gì không? Không có cái miếng sau lưng này mà dựa vô là chúng ta sẽ té, chỗ dựa là vậy đó, chỗ tựa là vậy đó. Chúng ta dựa vào công đức, phước báo, dựa vào các việc lành thiện mà mình đã làm được, đó chính là chỗ dựa của mình. Một giờ chúng ta được nghe pháp, một giờ chúng ta được ngồi thiền, một giờ chúng ta được làm công quả để phụng sự, phục vụ cho đại chúng là những cái giờ thiện lành, an lành, hạnh phúc, phước báo, công đức. Một giờ chúng ta đi làm những việc nghĩa lợi, ý nghĩa, lợi ích thì những cái đó là những cái mình để dành, mình tích lũy, làm chỗ dựa cho đời sau đó cũng là chỗ dựa cho đời này.
Bài kinh sau đây Đức Phật nói chớ có sợ hãi các công đức, các con đừng có đừng có sợ công đức nhiều quá, chỉ sợ là không có chịu làm các công đức.
- Này các Tỳ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức.
Này các Tỳ-kheo, đồng nghĩa với an lạc chính là các công đức" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Đừng sợ phiền khi làm các việc thiện, đừng có sợ nhọc, đừng có sợ mệt.
"Ta thắng tri rằng, này các Tỳ-kheo, các công đức được làm lâu ngày có quả dị thục, có sự hình thành khả ái, khả hỷ, khả ý lâu ngày. Trong bảy năm Ta tu tập từ tâm, sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy thành kiếp hoại kiếp, Ta không trở lui lại thế giới này. Khi thế giới ở trong thành kiếp, này các Tỳ-kheo, Ta đi đến thế giới Quang âm thiên. Khi thế giới ở trong kiếp hoại, Ta sanh ra trong Phạm cung trống không. Ở đấy, này các Tỳ-kheo, Ta là Phạm thiên, là Đại phạm thiên, vị Chiến thắng, vị Vô năng thắng, vị Biến tri, vị Tự tại.
Ba mươi sáu lần, này các Tỳ-kheo, Ta là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, Ta là vị Chuyển luân vương theo Chánh pháp, là vị Pháp vương, bậc Chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Tu tâm từ chỉ có bảy năm thôi mà trong bảy lần thành hoại của trái đất này là Đức phật không có trở lại trái đất này.
"Này các Tỳ-kheo, Ta có bảy loại châu báu này, như là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và cư sĩ báu là thứ bảy. Ta có hơn một ngàn người con trai, này các Tỳ-kheo, là những bậc anh hùng, dõng mãnh, đánh tan địch quân. Và khi ta chiến thắng quả đất này, xa cho đến bờ biển, Ta trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng đao, đúng với Chánh pháp" (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)
Tức là sau khi nhiều lần ngài làm vua ở cõi trời, ngài xuống dưới nhân gian này làm chuyển Luân Thánh Vương, là vua thánh cai trị cả trái đất nhưng không có cai trị bằng gươm, bằng dao, bằng súng ống, đạn dược mà cai trị bằng chánh pháp, bằng đức độ. Cho nên Đức Thế Tôn nói các vị đừng có sợ các công đức vì đồng nghĩa với an lạc, hạnh phúc chính là các công đức, bằng với an lạc, bằng với hạnh phúc, bằng với an vui, an ổn, an lành, an yên, an bình, an tịnh, an lạc chính là phước báo và công đức. Vì vậy có buồn ngủ cũng phải ráng chiến đấu ngồi thiền, nghe pháp, mệt cũng phải chiến đấu để làm công quả tu tập.
Như vậy hôm nay chúng ta tổng hợp rất nhiều bản kinh, trong thời gian ngắn chúng ta cố gắng nêu bật lên những lợi lạc từ người xuất gia hướng dẫn, giúp đỡ cho người cư sĩ, từ người cư sĩ cúng dường, cung kính người xuất gia được lợi ích cũng như là câu chuyện nổi bật nhất là vua Ba-tư-nặc được Đức Phật dạy cho một bài rất là tuyệt vời hãy làm lành, tích lũy công đức, làm chỗ dựa cho đời sau và đừng có sợ hãi các công đức, hãy hoan hỉ, vui sướng, hạnh phúc và siêng năng làm tất cả các việc phước báo, công đức, làm chỗ dựa hiện tại và tương lai cho chính mình.
IV. Trình pháp
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, thay mặt cho ban tổ chức lớp học cũng như diễn đàn online, chúng con thành kính niệm ân thượng tọa giảng sư có một thời pháp thoại chia sẻ đến với lớp học với chúng con hôm nay cho quý Phật tử qua các bài kinh. Đây là một thời pháp nhưng mà hôm nay có rất là nhiều bản tin ngắn, rất là thiết thực, rất là bổ ích cho quý Phật tử, giúp cho Phật tử có thể con đường tu tập của mình. Những bản kinh mà thầy giảng dạy cho quý Phật tử dài nhất khi thượng tọa đã nói về cái bản kinh cuối cùng là Đức Phật đã dạy cho vua Ba-tư-nặc phải tích lũy công đức, làm những việc làm thiện, đừng bao giờ sợ những cái việc làm của mình mà phải tích lũy những cái công đức.
Đối với Phật tử, đối với người xuất gia thì tạo phước lành để đem an lạc đến cho mình, người Phật tử tại gia phải biết bố thí, cúng dường cho Tăng Ni cũng như trong sự tu tập của mình, công phu, công quả thì việc làm của mình mới có kết quả. Từng bản kinh thượng tọa chia sẻ rất ý nghĩa và chúng con cảm thấy rất là hạnh phúc khi được nghe những bản kinh từ thời Đức Phật được giảng sư chia sẻ lại trong lớp học chúng con ngày hôm nay. Từng bản kinh trong đây là quý Phật tử chúng ta phải cảm nhận được, phải cố gắng trong sự tu tập của, mình nhất là trong cái bản kinh giới hạnh mà thượng tọa đã chia sẻ. Chúng ta thấy là phải tu thân, khẩu, ý thì chúng ta sẽ được lợi lạc và chúng ta làm những cái điều thánh thiện những điều có lợi cho mọi người, nhất là phải tu thân, khẩu, ý của mình cho thanh tịnh.
Quý Phật tử nhớ trong kinh Nikāya có từng bản kinh ngắn nhưng mỗi một bản kinh như vậy có ý nghĩa rất gần gũi trong cuộc sống tu tập của mình. Qua bài hôm nay quý Phật tử được thượng tọa chia sẻ rất rõ ràng, con nghĩ là trong một diễn đàn học Phật online cũng như trong diễn đàn Phật tử đang giảng dạy dưới đất thì con thấy mọi người đều cảm nhận được điều này, chúng ta phải siêng năng, tinh tấn tu tập, công phu, công quả để tích lũy công đức vì đó là chỗ dựa cho mình, để cho mình đời sau đừng lo sợ một điều gì hết, mình sẽ được an vui, hạnh phúc, an lành.
Một thời pháp của thượng tọa đã mang đến cho lớp học chúng con một bài pháp rất là ý nghĩa để chúng con cảm thấy trong đường sống tu tập của mình mà được những lời chia sẻ của thượng tọa cũng như là giúp cho quý Phật tử cũng như chúng con có thêm nhiều năng lượng trong cái sự tu tập của mình, luôn luôn được trên chư tôn đức nhắc nhở hành trì, nhất là quý Phật tử phải siêng năng tu tập thiền quán thì chúng ta sẽ cảm nhận được điều này, từng lời giảng của thượng tọa đi vào lòng của quý Phật tử, chúng ta phải cảm nhận để sau này chúng ta có thêm năng lượng trên con đường tu tập của mình. Khi chúng ta làm việc gì cũng vậy, chúng ta phải nhớ tích lũy công đức vì đó là chỗ dựa cho mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, chúng con một lần nữa tính tri ân thượng tọa đã mang đến cho lớp học của con một bài pháp rất là ý nghĩa. Chúng con kính chúc trên thượng tọa giảng sư luôn luôn được pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ và có những bản kinh từ thời Đức Phật để chia sẻ đến đạo tràng chúng con cho quý Phật tử có được nhiều lợi lạc, nhiều hạnh phúc và an vui trong sự tu tập của mình.
Kính chúc quý Phật tử trong các thời tu học của mình siêng năng, tinh tấn và từng lời pháp của thượng tọa sẽ là động lực cho quý Phật tử trên sự tu tập của mình có được nhiều hạnh phúc, an vui. Giờ đây lớp học chúng con đã đến đây là đã được hoàn mãn, con kính thỉnh trên thượng tọa giảng sư hồi hướng cho thời pháp hôm nay. Kính mời quý Phật tử trong diễn đàn chúng ta đồng chắp tay trang nghiêm cùng Thượng Tọa hồi hướng cho thầy pháp của chúng ta hôm nay đã được kết thúc sau hoàn mãn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính cung thỉnh thượng tọa.
Sư Phụ:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bài pháp thoại hôm nay chúng ta đến đây đã được hoàn mãn, kết thúc một thời pháp thật là ý nghĩa. Sau thời pháp thoại gọi hôm nay quý Phật tử điều gì chúng ta muốn hỏi thì mời quý Phật tử chúng ta có thể đặt những câu hỏi để thượng tọa giảng sư chia sẻ thêm, có điều gì quý vị chưa hiểu? Hoặc là quý Phật tử đã hiểu bài và tri ân đến thượng tọa thì cũng xin quý phật đưa tay lên để chia sẻ cho thượng tọa để thượng tọa cảm nhận được qua một thời pháp tại diễn đàn quý Phật tử đã có sự tiếp thu rất là tốt đẹp. A-di-đà Phật.
Phật tử Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con xin thành kính tri ân những lời giảng dạy của thượng tọa. Con chỉ có một câu hỏi thế này thôi ạ, bài kinh đại tế đàn thì con thấy là tức là ở các cái tế đàn là không được giết hại và không được sát sinh nhưng mà con nghĩ là điều này phải hiểu rộng ra tức là không những không sát sinh mà mình không được phá giới, không được phạm giới để cúng dường. Chẳng hạn là mình cũng không được phép trộm cắp để cúng dường tam bảo, như thế thì cũng là phạm vào giới trộm, cắp thứ hai nữa là mình cũng không nên tham ô tiền của bá tánh, lấy những đồng tiền không trong sạch để bố thí, cúng dường. Con nghĩ là những điều đấy cũng là điều phi pháp, phi công đức. Chỗ này con hiểu như vậy thì xin thượng tọa từ bi giảng dạy cho con ở cái điểm này. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Dạ thưa cái đó là đúng rồi, đúng theo cái tinh thần năm giới là vậy, ở đây Đức Phật nói mình theo tính cách là chặn đứng ngay những cái tiêu cực và phải hiểu rộng ra thêm cái phần tích cực nữa tại vì thường thường cúng kiếng ở thế gian, chẳng hạn có người mất ở trong gia đình rồi giết gà, giết heo, giết vịt, đủ thứ hết, cứ nghĩ rằng làm linh đình như vậy thứ nhất là để cho có tiếng tăm, thứ hai là mọi người vui, thứ ba là cúng mà cầu xin thần thánh gì đó, những cái đó đều sai nhân quả, làm thì không có được lợi ích cho tự thân mình cũng không lợi ích cho người đã quá vãng mà chỉ thêm gánh nặng thôi. Giống như người đi đường xa mang cái gánh nặng rồi giờ mình phải để thêm đá lên cho người đó gánh nữa thì như vậy người đó càng nặng nề.
Cho nên Đức Phật nói rằng ngài không có tán thán vấn đề tế đàn, tế lễ, cúng kiếng nhưng nếu có thì những cái tế đàn nào mà không có sát sanh, còn nếu những cái tế đàn có sát sanh thì các bậc A-la-hán không có đến đó. Ngày nay chúng ta thấy rằng trong những buổi lễ mà mình đến chùa cúng trai Phạn, trai Tăng này kia là mình làm thuần chay tịnh thôi, mình không giết con gì hết. Thứ hai là mình còn nhân dịp ở trên thì mình bố thí, cúng dường, còn ở dưới có khi mình bố thí cho những người nghèo nữa, trong buổi lễ nhiều vị phát gạo, phát đồ ăn, thuốc men cho những người nghèo. Thành ra những điều đó là phù hợp với pháp, nó thiện pháp, nó đem ra hạnh phúc, an lạc cho hiện tại và cho tương lai và cái nhân quả mình thấy nó rất là thiết thực, rõ ràng, cụ thể thì mình ứng dụng theo tinh thần đó để buổi lễ hay buổi cúng của mình có lợi lạc thật sự.
Đương nhiên là mình không thể đi lừa gạt người ta để đem tiền đó cúng, không phải đi dối trá, lừa đảo, làm ăn phi pháp để mình đem cúng thì cái đó là không có đúng pháp. Đức Phật dạy là chánh mạng đó cho nên huynh có cái suy nghĩ như vậy là rất là đúng.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, xin thay lời cho Phật tử Minh Anh chúng con kính tri ân thượng tọa giảng sư rất là nhiều, một câu hỏi của Phật tử Minh Anh đã được thượng tọa giảng sư chia sẻ, nhất là qua bài học vừa rồi và Phật tử Minh Anh đã biết mở rộng hơn về những cái tích cực hơn trong việc tế đàn. Trong cái việc mình cúng ở nhà thì quý vị cũng biết là mình phải tạo những cái công đức để kẻ còn người mất đều lợi lạc, mình đừng sát sanh hại vật, giống như thượng tọa nói là người chết mà mình chồng thêm đá, người ta đã mang đá nặng rồi mà mình bỏ thêm đá nữa thì những người đó rất là tội. Trong kinh mình tụng cũng đã thấy rất là nhiều nên ở đây là những vị Phật tử đã học qua kinh điển và được chia sẻ ở đây thì có những điều chúng ta thấy biết, nhất là tam tịnh nhục thì quý vị Phật tử trong đạo tràng chúng ta cũng lưu ý.
Đức Phật dạy những món ăn tam tịnh nhục, những thứ mà mình không thấy, không nghe, không nghi ngờ người ta làm thì mình được sử dụng vì thời Đức Phật người ta cúng cái gì là dùng cái nấy cho nên quý Phật tử cũng lưu ý cái này. Đối với quý thầy cô bên truyền thống Bắc Tông là chúng ta thuần chay nhưng bên hệ thống Nam Truyền thì người ta được dùng thực phẩm theo thời nguyên thủy. Quý Phật tử cũng hiểu chỗ này để mình hiểu mở rộng ra vì chư Tăng ở bên Nam Tông không tự tay nấu ăn những món đó, tất cả những món đó do Phật tử tự nấu và dâng cúng thì chúng ta cũng lưu ý điều này.
Thưa thượng tọa là Phật tử cũng thường hay hỏi con điều này, tại sao lại thấy quý sư ăn mặn thì hôm nay trong diễn đàn quý Phật tử cũng hiểu điều này, cho nên mình đừng vì người đó mà mình giết những con vật, trong gia đình phải tạo phước lành cho người đã mất để kẻ còn người mất đều được lợi lạc, trong kinh mình tụng cũng thường thấy điều này. Quý Phật tử trong diễn đàn đã được nghe qua từng lời giảng của quý thầy, mình cảm nhận những điều đó rồi ứng dụng trong sự tu tập, trong gia đình khi có hữu sự thì quý Phật tử cũng biết được điều này để tạo công đức lành để chỗ dựa cho mình sau này được an vui, được an lành trong cuộc sống tu tập của mình.
Con thỉnh thượng tọa giảng sư nghỉ ngơi trong thời khóa mùa hạ, kính chúc quý Phật tử trong diễn đàn luôn luôn được an vui, hạnh phúc, gia đình quý vị luôn luôn được bình an trong cuộc sống, quý Phật tử tinh tấn tu hành và luôn luôn giữ vững tâm bồ đề của mình. A-di-đà Phật.
./.