Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 32- CỐT LÕI PHÁP HÀNH NIKAYA 2

2026-03-03 00:55:40
Nikāya Tinh Hoa

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 32

CỐT LÕI PHÁP HÀNH NIKĀYA 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhất Hướng Trong Đường Lối Tu Học PAGEREF _Toc156978562 \h 1

II.Phương Diện Tích Cực Của Pháp Hành Nikāya. PAGEREF _Toc156978563 \h 1

1.Tu Tập Tâm Hiền PAGEREF _Toc156978564 \h 1

2.Tu Tập Tâm Hiền Trí PAGEREF _Toc156978565 \h 14

3.Tu Tập Tâm Hiền Thánh PAGEREF _Toc156978566 \h 15

Nhất Hướng Trong Đường Lối Tu Học

Minh Thành đã chia sẻ tinh hoa Nikāya từ năm 2018 cho đến nay, khẳng định một điều rằng Minh Thành chuyên nhất, nhất hướng về tinh hoa Nikāya cho đến nay là 5 năm, chúng ta đã được chia sẻ những tinh hoa, tinh túy, tinh anh, tinh tủy của Chánh Pháp.

Học pháp này phải là người tha thiết trong sự cầu pháp mới học được, người phải có đức tính hiền thiện rất quan trọng, nếu không có đức tính này là không học Chánh pháp được. Người mà dễ sân hận, bản ngã lớn không học được pháp này. Cho nên trong tạng kinh Nikāya các Thầy gọi với nhau; Hiền giả, Hiền trí, Chư Hiền. Ở Linh Quy Pháp Ấn đã tận lực để sử dụng những từ ngữ, những gì có thể thực tập được trong tạng kinh Nikāya. Tức là làm sao mình có thể xích lại gần nhất những gì của Đức Phật truyền trao, mặc dù có rất nhiều trở ngại khó khăn nhưng vẫn cố gắng xích lại gần nhất có thể trong bộ tạng kinh Nikāya này.

Phương Diện Tích Cực Của Pháp Hành Nikāya.

Chúng ta tiếp tục với bài học, vừa xong chúng ta mới đánh phá các tiêu cực vô minh, khát ái, những cấu uế ô nhiễm. Và bây giờ chúng ta đi vào lộ trình tăng trưởng phương diện tích cực, những thiện pháp, những đức hạnh Thánh hiền. Lộ trình tu tập trong tạng kinh Nikāya rất tuyệt diệu, không chỉ một mặt, không phải chỉ thấy cái dơ, thấy bẩn, thấy cấu, thấy uế mà chúng ta sẽ nhìn thấy mặt tích cực, mặt thiện pháp, Thánh pháp, Thánh hạnh (đức hạnh của Thánh Hiền).

Tu Tập Tâm Hiền

Tâm hiền phải chịu khó tu tập rất nhiều. Tâm của chúng sanh không được tu tập trong tạng kinh Nikāya nói rằng: là một cái tâm cứng cỏi, ương ngạnh, cứng đầu, khó nghe, khó dạy, khó bảo, tâm chống đối. Chúng ta quan sát và để ý sẽ thấy có người cãi trước tính sau. Mặc dù chưa biết nói về vấn đề gì? Không biết đúng sai, hay dở nhưng cãi trước rồi tính sau những người như vậy rất khó tu học, tâm chống đối nhiều.

Chúng ta quay trở lại phần tiêu cực, nếu chúng ta muốn học tạng kinh Nikāya là phải diệt tâm chống đối, không diệt tâm này là không thể học được. Chẳng hạn như nói tu tập tâm hiền, thì trong tâm khởi lên ý hành: “Tôi không hiền hay sao mà phải tu tâm hiền?” Đó là tâm chống đối, bao nhiêu đó thôi là nó đã làm cho mình bật văng ra khỏi dòng Thánh pháp này, giống như trái bóng văng vào bức tường nó văng ra theo quán tính. Chính Minh Thành ngày mới bước chân vào dòng pháp Nikāya này, bậc Đạo Sư dạy Minh Thành phải tu tập tâm hiền, ở ngoài miệng thì không nói nhưng trong tâm khởi lên: “Con không hiền hay sao mà nói tu tâm hiền?” Cứ nghĩ tu tâm hiền là dễ dàng, nhưng sau này đi sâu vào dòng pháp mới thấy thật nhục nhã, xấu hổ, bẩn thỉu, ngu si, ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn. Giờ mình mới thấy nên đã chửi cái tâm này thật nhiều. Bậc Đạo Sư, Sư phụ của mình dạy tu tâm hiền mà đã khởi lên chống đối. Khi chúng ta tu tập nhận diện ngũ uẩn mới thấy cái tâm này nó ghê gớm khủng khiếp, không nhận diện ngũ uẩn là không thấy được cái tâm mù lòa vĩnh kiếp, vô lượng, vô số vô biên kiếp. Cho nên chúng ta phải diệt cái tâm chống đối thì mới tu được. Muốn vào tu tập tâm hiền là phải diệt cái tâm chống đối. Nói về nhà học bài mà mọi người có học đâu, được mấy người học, tại sao không học? Vì không thấy được giá trị quý báu tối thượng của Thánh trí. Vì không thấy được công năng, tác dụng, giá trị quý báu thì không thấy được Pháp bảo.

Minh Thành xin hỏi mọi người bây giờ nói ngay chỗ này có thất bảo, có hột xoàn, kim cương, mã não, lưu ly, hổ phách, nếu mình biết chắc chắn có những thứ quý giá đó thì mình có nỗ lực đào không? Đào liền ngay tức khắc, nửa đêm nửa hôm hay khó khổ mấy cũng đào, mình đào quyết liệt thì cũng vậy khi mình thấy được giá trị công năng, tác dụng, quý báu, lợi ích của Pháp thì lúc đó mình mới quý Pháp, kính Pháp, tôn trọng Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, tôn thờ Pháp, khát ngưỡng Pháp, lúc đó mới cầu Pháp bằng cả sinh mạng của mình. Chính vì vậy mình phải phát triển phương diện tích cực tu tập tâm hiền thiện, tạm thời chia ra 3 cấp độ: Hiền thiện, Hiền trí, Hiền Thánh.

- Hiền Thiện: thì mình phải có niệm thân, từng cử chỉ, hành động, từng bước đi, từng lời nói, từng ánh mắt, hành vi của mình có sự nhẹ nhàng, có sự khiêm cung, có sự khiêm tốn; như kéo cái cửa, kéo cái ghế, để đôi dép cũng phải có chất hiền trong đó, không phải là mình đạp lên đôi dép của người ta, hoặc là một chiếc ở đây một chiếc ở kia. Để đôi dép cũng phải ngay ngắn, ngay thẳng nhẹ nhàng, mở cánh cửa cũng phải nhẹ nhàng. Tất cả những cử chỉ hành động đều làm trong sự an tịnh, nhẹ nhàng, lắng dịu, có sự nhiếp tâm, chánh niệm ở trong đó. Tránh tiếng động, tiếng ồn tối đa. Minh Thành bây giờ thật sự tâm rất dễ cảm xúc, nếu mà các Thầy các Cô mà làm gì với một cái tâm không có hiền thiện thì Minh Thành rất đau lòng. Những người mà nhiều bất thiện, nhiều chống đối, những người tâm không hiền thiện thì không thể truyền pháp cho họ được. Minhh Thành tu theo Nikāya nên có cái nhìn rất nhạy bén, sắc bén chỉ nhìn qua là ngũ uẩn hiện ra hết. Nhìn thấy ánh mắt là đọc được suy nghĩ, nhìn ra cảm thọ của họ.

Trong bài kinh: Trí Tế Nhị –Tăng Chi Bộ I – Tr 580

Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào làbốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.

Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.

Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng …

Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.

Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.

Biết trí tế nhị sắc

Biết hiện hữu các thọ

Từ đâu tưởng sanh khởi

Tại đâu tưởng chấm dứt

Biết các hành biến khác

Là không, không là ngã

Nếu Tỷ-kheo thấy chánh

Tịch tịnh, ưa tịch tịnh

Thọ trì thân tối hậu

Thắng Ma và Ma quân

Ý nghĩa của bài kinh này là người tu về Thánh trí ngũ uẩn sẽ có một trí tuệ sắc bén, nhỏ nhiệm, tinh vi, thù thắng, vi diệu mà không có bất cứ một loại trí tuệ nào trên đời này có thể so sánh được, có thể cao hơn được. Người tu Thánh trí ngũ uẩn này thì không còn phải mong muốn đi tìm một trí tuệ nào khác trên cuộc đời này, như vậy gọi là Vô Học Thánh Trí Uẩn. Một người mà thành tựu chánh kiến trong kinh tạng Nikāya thì người đó sẽ không còn đi tìm bất cứ một tri kiến, kiến thức nào ở ngoài Thánh trí Nikāya, người còn đi tìm tức là người chưa thấy, nếu thấy sẽ không đi tìm nữa. Như người mù được chữa cho sáng mắt, người sáng mắt sẽ không đi tìm người mù dẫn đường cho mình đi nữa. Có người nào sáng mắt mà đi tìm người mù dẫn đường cho mình đi không? Trừ khi người này mắt chưa sáng, người này vẫn còn mù. Cho nên người thành tựu thấy đúng ở trong tạng kinh Nikāya thì không thể đi tìm một pháp hành nào khác nữa. Minh Thành đã đi tìm pháp hành 30 năm, sau khi đã tìm ra pháp hành này rồi thì thôi dừng lại không còn phải đi tìm nữa, giờ chỉ thực hành.

Pháp hành này phải tu tâm hiền vì rất quan trọng, cho nên tâm hiền ngoài hành động của thân, tới lời nói, phải tu được ý nghĩ hiền thiện. Người mà suy tư theo chiều hướng hiền thiện gương mặt họ phúc hậu, lời nói dễ nghe, hành động thân thiện, từ ái. Người tu tâm hiền thân, khẩu, ý phải điều hòa. Khi họ suy nghĩ thường suy nghĩ theo chiều hiền thiện.

Ví dụ: buổi chiều đi học về vào bếp đồ ăn chỉ con rau luộc không còn đồ ăn ngon, người hiền thì sẽ suy nghĩ: “Tấn đạo nghiêm thân, tam thường bất túc”, người muốn tấn tu đạo nghiệp trang nghiêm pháp thân, người muốn tiến đạo, muốn hành đạo, muốn tăng thượng, tăng trưởng, trong đạo, muốn đắc đạo người đó phải là không có đòi hỏi về ăn này, mặc này, ngủ này cho nên đây là bài tập, đây là cơ hội, là duyên để cho mình thực tập tâm kham nhẫn, lối sống đơn giản ít muốn biết đủ, như vậy mình phải hoan hỉ trong sự không có đồ ăn, mình vui, mình hoan hỉ, ăn miếng cơm với rau luộc mà mình cười, thấy tâm nhẹ nhàng, dễ chịu, hoan hỉ, không bực bội, khó chịu. Tu tâm hiền phải tu cả cuộc đời không biết đã được chưa.

Khi mình gặp huynh đệ tỷ muội, giữa các bậc đồng phạm hạnh với nhau tự nhiên họ gây sự với mình, lúc này người tu tâm hiền sẽ tác ý: “Đây là chủ nợ đời trước này, oan gia trái chủ đời trước, bây giờ không trả trước cũng trả sau, không trả sớm cũng trả muộn, mình ăn thua chung đủ với nhau làm gì”. Biết bao nhiêu người, hàng chục ngàn Tăng Ni, tại sao mình không ở chung với những người đó mà mình lại ở với vị chư hiền này. Mình sờ lên cái đầu trọc mà bặm trợn, sân si với nhau để làm cái gì? Cái đầu thì trọc không lẽ trừng trợn mắt với nhau, sân hận với nhau thì xấu hổ, nhục nhã, không có xứng đáng đắp tấm y giải thoát cao thượng, mình phải suy nghĩ như vậy. Suy nghĩ như vậy mình có hiền không? Suy nghĩ như vậy là làm cho cảm thọ bực bội, khó chịu, sân hận, của mình nó lắng dịu xuống, để không có tâm hơn thua, mình phải quay lại nhìn cái đầu, trong cái áo, cái y, nghĩ tới cái tâm của một người tu, rồi mình hơn thua, sân si với nhau thì được cái gì? Biết bao nhiêu hình ảnh người tu sân si, sân hận với nhau, đau lòng lắm. Quán chiếu để thấy xấu hổ và sợ hãi với những ác bất thiện pháp. Có những tiếng chuông cảnh tỉnh nhắc nhở người tu như thế nào? Tu như thế nào để có những hình ảnh như vậy? Có thấy xấu hổ không? Thấy có nhục không? Mình đau lòng, nhói tim. Mình thấy bạn đồng tu của mình như vậy, mình không khác mà cũng vậy, phải không? Có những lúc mình sân si, mình quay clip lại xem nó ra làm sao? Cũng không có thua kém là bao nhiêu, tám lạng một cân. Như vậy sự tu tâm hiền rất quan trọng mà phải tập từng lời nói, từng ánh mắt, từng suy nghĩ, từng cử chỉ, từng hành động, mỗi cảm thọ, tưởng, hành của mình. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, thân khẩu ý, mắt cũng phải hiền, tai nghe cũng phải nghe theo chiều hướng hiền. Chữ hiền trí trong tạng kinh rất sâu sắc, nhắc mình và người sống cùng với mình. Công năng, tác dụng của chữ Hiền trí khi gọi nhau để nhắc nhở mình, tâm hiền ơi! Tâm hiền. Hiền giả, hiền trí, hiền nhân. Trong cách xưng hô của kinh tạng Nikāya cũng rất tuyệt vời đó là gọi nhau là các bậc đồng phạm hạnh, bậc hiền trí, hiền giả, chúng ta phải bám sát vào lời của Đức Phật vì Ngài là bậc mẫu mực của nhân thiên Sư Phạm, bậc Thầy của trời người mình không học theo mà mình học theo ai? Mình học theo cái nào hợp với cái ái của mình, thích khoái là học liền, học những điều dễ chịu là học liền không suy nghĩ, không suy tư nhiều. Tại sao bậc nhân thiên sư phạm, tối tôn tối thượng, tối cao duy nhất mà không chịu học theo, cái tâm mê là vậy. Tu tập tâm hiền là pháp quán, pháp tu, pháp hành, là phải luôn tu tập thực hành tám tháng, ba năm, bảy năm, mười năm, không thể hiền ngay được, phải dạy từng suy nghĩ, từng ánh mắt, dạy từng cử chỉ, dạy từng hành động, dạy từng cảm xúc, dạy từng cảm thọ, dạy tâm mình theo chiều hướng hiền thiện. Đức Phật dạy khi mình nhìn ai phải nhìn với ánh nhìn thiện cảm, Ngài dạy trong kinh Trung Bộ, nhìn bằng ánh nhìn thiện cảm, nói lời từ ái, nói đúng sự thật, nói đúng thời, nói với từ tâm. Mình muốn dạy người ta mà đang bực bội thì không được nói, muốn nói hay hướng dẫn ai thì phải đợi lúc nào có tâm hiền, tâm từ thì lúc đó mới nói, còn lúc sân nói ra là sai. Nói với tâm sân mà nói ra cũng là sai tại vì động cơ trong lời nói là sân thì khi nói người nghe họ sẽ không tiếp nhận. Cho nên tâm hiền này mình tu từ trong cảm thọ chứ không phải tu gượng ép bên ngoài. Người không tu thấy hiền thì hiền chỉ biểu hiện bề ngoài, nhiều người nhìn im im nhưng khi đụng chuyện thì như động đất, sóng thần, cho nên nhìn họ hiền nhưng không phải là hiền trí của bậc Thánh, của Chánh pháp. Bậc Hiền trí là đưa tâm hiền vào trong cảm thọ, được huấn luyện, được tu tập, được làm cho nhu nhuyến, mềm mại dễ sử dụng, tu tập tâm hiền từ trong tim, từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mình sống với một người như vậy thì sẽ không có một sự lo lắng, sợ hãi bất an. Chúng ta tu tập một cái tâm hết sức ngọt ngào, hiền hòa, từ ái, dễ chịu, dễ thương, dễ gần, dễ mến, dễ nuôi, dễ bảo, dễ dạy, dễ sống, dễ tu, dễ hành, dễ thành, tất cả đều rất dễ.

Sư Phụ đặt câu hỏi cho một Ni Sinh:

- Sư Cô muốn là một người tu tập tâm dễ chịu hay khó chịu?

Ni Sinh đáp lời:

- Kính bạch Thầy, cùng đại chúng con muốn thân cận với người dễ chịu nhưng phải dễ chịu đúng, nếu như con đúng, nếu con sai mà họ khó chịu dạy con thì vẫn được.

Sư Phụ đặt tiếp câu hỏi:

- Cô có chắc chắn là như vậy không?

Ni Sinh trả lời:

- Con sẽ cố gắng

Sư Phụ hỏi:

- Hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi trả lời, nếu mình sai mà người đó họ khó chịu họ sân hận họ dạy mình thì mình chịu không?

- Dạ! Con sẽ cố gắng. Có thể thời gian đầu tâm con còn bồng bột, còn ngang ngược, còn bướng bỉnh nhưng vị đó dạy con bằng thái độ khó chịu có thể con sẽ phản ứng lại, con sẽ cố gắng hành pháp.

Sư Phụ dạy:

- Khi mình hành pháp thì phải quyết tâm không phản ứng lại, quyết tâm là không phản ứng lại, quyết tâm tuyệt đối 100% là không phản ứng lại mà phải tu tâm hiền, phải ra tiêu chí như vậy, không nói là “có thể” vì tâm mình sẽ mở cửa cho mình sân. Nhất trí không?

-Dạ! Mô Phật!

Tại vì mình phải có sự xác quyết, quả quyết, quyết định như vậy mình mới có tiêu chí để mình phấn đấu. Nếu mình nói nước đôi để mình có đường lui, như vậy mình sẽ tìm đường thoái lui.

Tu tâm hiền rất tuyệt vời “đao thương bất nhập”, người tu tâm hiền, tâm từ được 11 công đức, trong đó có công đức là lửa không cháy, nước không nhận chìm được, độc không xâm nhập, người ta có đầu độc mình cũng không chết, người mà thành tựu được tâm từ, tâm hiền không có gì hại được. Cho nên các vị Tỷ-kheo thời Đức Phật ngày xưa khi tu tập ở trong rừng, trong núi, ở chỗ có phi nhân, bây giờ mình nói là ma quỷ, Đức Phật dạy các vị cứ trải tâm từ, cứ trải tâm từ là yên ổn và độ cho các vị phi nhân đó luôn. Chẳng những không sợ ma mà độ ma. Tại sao mình không tu cách này mà sợ ma làm gì. Mình tu cảm thọ hiền, tu thân, khẩu, ý hiền, tu mắt, tai, mũi, lưỡi hiền, ánh nhìn cũng phải tu khi nhìn người ta cũng thấy dễ chịu. Nhiều khi Minh Thành ngồi bên trên nhìn học trò nhìn mình với ánh nhìn không hiền, Minh Thành nhìn ánh mắt đó biết người đó đang sân, đang khó chịu, đang chống đối với lời pháp.

Khi Minh Thành xưng “con” với quý Thầy, quý Cô cũng là tu tâm hiền diệt ngã không phải chỉ dùng từ sáo ngữ, mình phải tập xưng con cho thật nhiều. Những người cư sĩ đáng tuổi bà nội, bà ngoại, đáng cha mẹ, cô chú, anh chị mình rất nhiều. Mình tu tâm hiền là tu hạnh khiêm cung, cứ tập nhiều đi đừng sợ. Đừng lấy danh tôi là Thầy, là Sư Cô, là Ni trưởng, tất cả những điều này chỉ là giả danh, đi xuống địa ngục có đem theo được không? Vào chỗ súc sanh có gắn được cái bảng chức gì không? Làm cô hồn lúc đó vất vơ vất vưởng tất cả đều là hư ảo, là khói mây, là cát bụi, quan trọng là mình thành tựu được Thánh trí vô ngã điều đó mới là quan trọng, điều đó mới là tối thượng, điều đó mình mới đem theo được, còn mấy cái danh chức để mà làm gì? Có chức người ta nói ngược lại là gì? Nếu mà có đức, có hạnh tự động người ta sẽ tôn kính, nếu không có đức hạnh thì người ta chỉ kính cái quyền đó, người ta sẽ không tâm phục khẩu phục. Phải thành tựu giới đức, trí tuệ, thiền định, ngoài ra không có gì hay. Chỉ có thành tựu được Thánh trí, Thánh đạo, Thánh quả điều đó là mục đích duy nhất của người xuất gia. Người xuất gia mà chức gì? Mình là kẻ ăn mày, Ngài Xá-lợi Phất là người thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn, Ngài tu Pháp gì quý Thầy, Cô biết không? Ngài an trú tâm như một kẻ ăn mày, cái nùi giẻ rách, đó là pháp hành của Ngài. Đó là bậc đại Thánh Tôn Đức, bậc Cha Thầy của Tăng Chúng, Thánh Chúng. Cho nên tâm hiền này chúng ta phải tu từ 3 năm cho đến 7 năm rồi sau đó mới nói chuyện tiếp. Có những vị cũng đã huân tập tu tâm hiền nhiều đời, nhiều kiếp nên đời này tu sẽ nhẹ nhàng hơn, những người có đức hiền thiện như vậy, tâm hiền, cảm thọ hiền thiện lắng dịu khi họ gặp Thánh pháp giống như chim sổ lồng, cá gặp nước giữa đại dương, rất nhanh chóng chỉ mở cửa là bước vào. Người mà tu chưa có tâm hiền thì tu rất mệt mỏi, nó sẽ khuấy động, khó khăn cho chính tự thân bản thân người tu. Thọ tưởng hành nó sẽ hành hạ mình, nó không cho mình tu, trong ý hành thi thoảng gặp chuyện khó chịu nó sẽ nói: “Đừng có nhịn, nhịn là ngu” đó là tâm ác, tâm dữ, tâm đó là tâm ác ma. Cho nên pháp tu của Ngài Xá-lợi-phất là con bò đực bị cưa hai cái sừng, Ngài an trú như con bò đực bị cưa hai cái sừng:

Hạnh Ngài, “bò đực bị cưa sừng”

Hiền lành, lắng dịu chẳng hại ai

Hạnh Ngài “xấu hổ thân hôi thối”

Chán ngán thân, nên chẳng hơn thua.

(Trích Linh Quy Nhật Tụng – Bài Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá Lợi Phật)

Cho nên mình mà thành tựu được tâm hiền thì ở đâu cũng ngọt ngào, cũng dễ chịu, dễ thương, an lành, mà mình gặp mấy người khó chịu thì vẫn dễ chịu điều đó mới tuyệt diệu. Nếu mình gặp người khó chịu mà mình cũng khó chịu thì có tu hành gì đâu. Mình tu tâm hiền hay lắm, tâm hiền lành, hiền thiện, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền trí, rồi mình mới bước lên bậc hiền Thánh, Hiền Thánh là chí cực của hiền thiện. Người xưa tu tâm hiền dễ lắm vì lúc đó nếu có lỗi gì, Đức Phật gọi lên chỉ lỗi thì các Ngài nhận ngay không chối cũng không cãi: “dạ thưa đúng con có lỗi, bạch Thế Tôn”. Còn mình gọi tới để khiển trách thì cãi ngay dù rõ ràng là sai phạm, với cái tâm Ngụy biện quanh co dấu lỗi lầm. Với cái tâm rất là bao biện, ngụy biện, biện luận, quanh co che dấu lỗi lầm, cái tâm không có ngay thẳng, chân trực, chánh trực, không chân thành, không chân thật trong sự tu học cho nên không đạt được Chánh pháp. Người không chân thành làm sao mà học được Chánh pháp, nên ngày nay khó tu là như vậy, khó tu là do tâm không thành thật. Chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn, khi mình nhận diện ngũ uẩn, nhận diện tham sân si của mình là phải thành thật, chân thật, chân thành, ngay thẳng phải dám nhận lỗi của mình, phải dám trình bày ra rõ ràng, như quý Thầy trình bày nhận diện ngũ uẩn rất tốt, khai thật, có cái gì trong nội tâm sanh khởi là khai thật những lỗi lầm, những điều xấu, còn những người không thành thật là hư ngụy, xảo trá. Nói như vậy là sao? Là toàn nói những cái tốt của mình, còn những điều xấu thì che dấu thì khó tu. Cho nên tâm hiền phải tu nhiều, tu từ trong suy nghĩ, từng hình bóng trong tâm, từng cảm giác là phải tu, từng ánh mắt, từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động, mỗi một thân hành là mình phải tu tâm hiền. Tâm hiền rất là dễ chịu, mát dịu, ngọt ngào. Trong cuốn Linh Quy Nhật tụng có bài khuyến tấn đạo tràng là chất liệu của bậc Hiền trí, lúc nào cũng dễ chịu, người ta gây sự với mình cũng dễ chịu, tuyệt vời như vậy. Minh Thành lấy một ví dụ để chúng ta thấy: Có một kỳ Minh Thành tĩnh tu nhập thất trên rừng, lúc đó là ngày ra thất vì mỗi lần nhập thất là Minh Thành sẽ chia sẻ kinh nghiệm tu học nên mấy Thầy, mấy chú đi lên đem theo đồ ăn thức uống, lúc bày đồ ăn xong thì thiếu chén, thiếu đũa mấy chú định quay về Tăng Xá để lấy đũa lên, nhưng Minh Thành nói không cần, mấy Thầy, mấy chú cũng lo lắng hỏi lại:

-Sư phụ ăn bằng cái gì ạ?

Lúc đó Minh Thành nói: “Không sao, các chú ra hái lá chuối vào thế cái chén cái tô, lấy tay bốc đồ ăn, hôm nay mình thực tập trở về 2600 năm trước theo thời Đức Phật” ai cũng hoan hỉ.

Minh Thành có đi qua trung tâm thiền Quốc tế bên Thái Lan chỗ của Ngài Ajahn Chah vẫn ăn bốc cho tới bây giờ. Các Thầy toàn người Châu Âu, Châu Mỹ, vẫn đầu trần, chân đất, ăn bốc, vẫn giữ rất kỹ những giới luật của Đức Phật. Qua đó mới thấy mình đang còn yếu kém, ở nhà “con hát mẹ vỗ tay khen hay”, mình còn “ếch ngồi đáy giếng” chưa thấy được bầu trời rộng lớn, Phật pháp thâm sâu vô lượng, tu được một chút mình đã hài lòng, tự mãn, mình còn chưa mở được cánh cửa để vào căn nhà Phật Pháp, thậm chí là mình tu suốt đời, chưa thể chạm tới, có rất nhiều pháp để mình tu tập và thực hành. Mình mới cạo cái đầu, đắp cái y lên là bắt đầu ta, tôi, bản ngã, tu như vậy rất nguy hiểm đó là đại họa chứ không có phước báu gì hết. Nói ít chứ nói nhiều cũng nguy hiểm, nói ít hiểu nhiều vì bây giờ nhiều cái tâm dữ dằn lắm, sân hận, bản ngã khủng khiếp. Không phải nói người đời đâu mà nói người tu mình chạm tới một cái là khủng khiếp, thành ra rất khó nói, không chỉ đời này mà thời Đức Phật cũng có những cái tâm khó dạy thể hiện qua bài kinh:

Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

- Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp thoại cho

các Tỷ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ không kính trọng lời giáo giới!

Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

(Trích Tương Ưng Bộ Kinh II – Bài Giáo Giới – tr354)

Chúng ta đọc thêm Chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính – Tương Ưng Bộ Kinh – bài Trùng Phẩn để thấy cuộc đời tu hành của mình cần phải cẩn thận:

“Tại Savatthi.

Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...

Ví như, này các Tỷ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.

Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: " Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này ".

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.

Vị ấy đi đến ngôi vườn ( tịnh xá ) và giữa chúng Tỷ-kheo khoe khoang như sau: " Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh ".

Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.

Như vậy khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.”

(Trích Tương Ưng Bộ Kinh – Chương Lợi Đắc Cung Kính)

Đọc bài kinh này là nhức đầu, nổi da gà, đau tim, thốn tim. Chương này phải đọc, tụng 100 lần, đọc chương này là nhức nhối, đau tim, rối loạn tiền đình, say sẩm mặt mày, nhức đầu, thốn tim, tay chân rụng rời, đứng không nổi, Đức Phật dạy quở trách nặng lắm, Đức Phật nói lợi đắc cúng dường là đống phân, rồi người được nhiều, hãnh diện, tự mãn có con dòi nó ở trong đống phân bự, vị Tỷ-kheo nói: “Ta được cục phân lớn còn tụi bay không có phân”, Đức Phật nói nhức nhối, thấm thía, sâu sắc. Đức Phật rất thương chúng sanh, các bậc Thánh thương chúng sanh vô cùng tận, thương không thể diễn tả hết được tấm lòng của các Ngài. Thương như vậy mà chạm vào không được, đụng vào là có chuyện, bản ngã khủng khiếp, dữ dằn lắm. Bởi vậy tâm hiền thiện mới có thể Nhập lưu. Bước đầu tiên căn bản tu tâm hiền và diệt ngã thì mới đi vào dòng Chánh pháp này được.

Minh Thành chứng kiến biết bao chuyện, gặp 10 người thì 8-9 người sống là không có ân đức, không biết ơn và nhớ ơn, chứng kiến cuộc đời tu không biết bao nhiêu người chỉ biết thương và thương. Minh Thành mới hiểu tại sao mình có thể đi được vào dòng pháp này vì từ nhỏ tới lớn không có cái tâm phản phúc, phản trắc, tâm vô ơn, bạc nghĩa, nếu có manh nha thì Minh Thành cũng chửi cái tâm dữ dằn lắm không để cho nó phát triển, tính chất hiền thiện của mình cũng đã huân tập từ đời trước. Cho nên Đức Phật nói có 3 bậc hi hữu, hiếm có khó gặp ở trên đời này: Thứ nhất là Đức Thế Tôn, Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, thứ 2 là bậc thuyết của Đức Phật đúng Chánh Pháp, thứ 3 là bậc nhớ ơn và biết ơn. Chúng ta thấy Đức Phật liệt người nhớ ơn, biết ơn hi hữu, hiếm có, khó gặp ở trong cuộc đời này. Có người nói: “Thưa Thầy con thấy mình sống có tình có nghĩa mà”, nhưng mà khi đụng chuyện thì lúc đó mới thấy ai là người biết ơn và nhớ ơn, khi đụng chuyện mình có thể quay lưng trở lại với những người ân nhân của mình, ngay cả cha mẹ mình có sân không? Có giận không? Thầy Tổ? Cái tâm phản trắc ghê ghớm khủng khiếp phải diệt tận hết những cái tâm bất thiện, những mầm mống không còn trong suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng thì mới thể nhập được tâm hiền, nếu mà còn tâm phản trắc, vô ơn, bạc nghĩa, tráo trở thì còn mầm mống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, phải diệt tận những cái tâm này hoàn toàn, không còn mầm mống, không còn có thể tái sanh sanh khởi trong tương lai thì người này mới có thể nhập lưu vào các quả Thánh, tối thiểu là dự lưu Thánh quả thì người này không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, từ đó về sau chỉ có đi lên cho tới cứu cánh phạm hạnh không rơi xuống, không thối đọa.

Tu Tập Tâm Hiền Trí

Bậc Hiền Trí tu tập là phát triển Tứ Vô Lượng Tâm, Từ Bi Hỷ Xả. Vừa nhận diện ngũ uẩn vừa nhiếp phục tham sân si, bản ngã, Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm thì người này là bậc Hiền trí, người này rất an tịnh, lắng dịu, rất hiền thiện, người này tâm rất rộng lớn vô lượng, vô biên, không hận, không sân. Thực tập tâm xả ít nhất phải từ 3 năm đến 8 năm thì mới thành tựu được những pháp trong tâm xả, đầu tiên là xả bỏ tham sân si, kế đến là xả bỏ chấp thân, xả bỏ kiêu mạn. Mỗi ngày phải thực tập từ vô lượng tâm, muốn tu tập tâm từ thì phải có tâm hiền dẫn đầu, nó lót đường trước, làm phương tiện, tự động vào từ vô lượng tâm là không thể, tu tập tâm từ phải tu tập tâm từ rộng lớn, sau đó mới tới vô lượng, từng bước, từng bước chứ không phải là tu ngay tâm từ. Cũng giống như diễn viên xiếc phải tập những động tác từ dễ đến khó, khi họ đi được trên dây để biểu diễn thì cũng phải tập những động tác dễ trước mới đến khó sau nếu không thì mất mạng.

Tu Tập Tâm Hiền Thánh

Bậc Hiền Thánh diệt tận hết tham sân si, dục ái, vô minh, bản ngã, chỉ là bậc A-la-hán, bậc cứu cánh phạm hạnh tột cùng.

Đây là những tinh hoa, tinh tuý, tinh tủy, tinh anh, cốt tủy của Thánh trí tuệ, chính vì vậy chúng ta phải nghe, phải học thật nhiều để là Đa Văn Thánh Đệ Tử của Đức Phật.

Bài này rất quan trọng là cốt tủy pháp hành của kinh tạng Nikāya. Đầu tiên là phải nhận diện ngũ uẩn, thực hành được cảm giác toàn thân, sau thực hành cảm giác toàn thân rồi mình phát hiện ra tham sân si trong cảm giác, thì mình mới trách dục, diệt sân, trải tâm từ, phá si mê bằng cách quán nguy hại diệt khát ái đây là phần đánh phá những cấu nhiễm. Sau đó qua phần phát triển những điều hiền thiện, đầu tiên là thực tâm hiền thiện, sau đó phát triển Tứ vô lượng tâm, tâm rộng lớn quảng đại, dùng Thánh trí diệt tận các lậu hoặc vi tế phá vô minh, diệt khát ái, phá sạch hoàn toàn ngã kiến và thân kiến, bản ngã. Đây là toàn bộ cốt tủy pháp hành Thánh trí Ngũ uẩn trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta phải nhớ mãi mãi đừng có quên để thực hành./.