Như Lý Giác Sát - Người Mù Sáng Mắt 1B
SOI SÁNG NIKĀYA
NHƯ LÝ GIÁC SÁT
NGƯỜI MÙ SÁNG MẮT 1B
–Thích Minh Thành–
Càng ngày phải càng đi sâu vào nội tâm để tác ý nhưng người Phật tử kia hỏi tác ý sanh bản ngã, rồi lại sanh sân lần thứ hai. Bây giờ làm gì cũng có bản ngã, tu cũng có bản ngã, mình đem bản ngã đi tu cho đến vô ngã, Đức Phật nói khi mình làm phước cũng có một cái tôi làm phước, khi mình làm tội cũng có một cái tôi làm tội, mình không nên có tâm lý mới bước vào học đã muốn có trình độ của tiến sĩ, chính cái chỗ đảo lộn thứ tự như vầy mới tu không thành tựu, mới đi bập bẹ đòi lái máy bay, mới vào tu đã muốn vô ngã vậy thì khỏi tu nữa. Trong làm tội có bản ngã của cái tội, trong cái phước có cái tội của phước nhưng giữ hai bản ngã tội và phước đó phải chọn bản ngã của phước, từ cái phước đó mới tu tập lên trí tuệ rồi mới nhìn thấy bản ngã đó vô ngã, chấp ngã đó phi lý, vô minh, sau đó tu tập tiếp để đi đến chỗ chứng nhập phá tan bản ngã. Người này hỏi nếu mình đã sân mà tác ý lại sân thêm lần thứ 2, bây giờ mình tức giận rồi để cơn giận tồn tại trong đó hay dùng lời quở trách để đuổi nó ra? Nếu chọn sân một lần thôi để khỏi sân lần hai nghĩa là mình chọn để cái giận lưu trú trong tâm, khỏi đuổi nó ra. Cho nên việc nhìn thấy sân rất nguy hiểm và tác hại là tuệ lực, trí tuệ, là pháp nhãn và mình quở trách tâm không nên làm điều đó, thấy giống như sân nhưng đó lại là sức mạnh của trí tuệ, pháp nhãn, vì thế mình thấy đây là cảm giác sân nằm trong cảm thọ và cảm giác sân này nguy hiểm và tác hại, là cội nguồn của sầu, bi, khổ, ưu, não, là gốc rễ của khổ đau trong hiện tại và tương lai sẽ đau khổ lâu dài. Sau khi thấy được như vậy mình mới suy tư, quán chiếu, chiêm nghiệm để loại trừ, từ bỏ, tẩy sạch nó nên đòi hỏi mình phải tu tập chánh tư duy, Minh Thành thường ví dụ có người mù từ khi sanh ra cho đến 50 tuổi, trong mấy mươi năm bị mù nên nhà chất đầy rác bẩn hôi thối, bẩn thỉu. Bây giờ người này gặp thần y ban cho thần dược sáng mắt nên thấy được rác hôi dơ nhưng lại ngồi yên không lau chùi, quét dọn thì làm sao sạch nhà? Muốn sạch phải có dụng cụ tẩy rửa, lau chùi thì nhà mới sạch được, cũng vậy, bây giờ sân khởi lên thì biết có sân, tham khởi lên thì biết có tham rồi để tự nó diệt chứ không cần tác ý đánh đuổi, tự sanh rồi tự diệt thì cũng như mình nói ngồi yên là căn nhà tự sạch. Không thể nào có chuyện đó mà phải có sự tác ý, quán chiếu, phải dùng những phương pháp đoạn trừ, tẩy rửa, sân thì dùng tâm từ tẩy, tâm ác hại thì dùng tâm bi tẩy, tham dục dùng bất tịnh quán tẩy, tham lam thì dùng bố thí tẩy, si thì tu trí tuệ tinh cần, tinh tấn. Mỗi một căn bệnh đều có thuốc trị, Đức Phật nói trong giáo pháp của ngài không có việc bất thình lình chứng ngộ, không có sự cầu may mà phải có sự tuần tự, bào mòn và diệt tận, cũng như trong kinh nói về việc con gà ấp trứng phải đúng thời gian, đúng cách trứng mới nở.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: 'Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn'; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: 'Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ'; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IX. Cán Búa (Hay Chiếc Thuyền))
Ngoài ra Đức Phật còn ví dụ hình ảnh người nông dân làm ruộng, không thể nào gieo mạ vài ngày là muốn có bông trĩu quả thành hạt thóc được, phải trải qua quá trình cày cấy, gieo mạ, tưới nước, bón phân mới thành hạt lúa được.
"- Này các Tỳ-kheo, có ba việc cấp thiết này, người nông phu gia chủ cần phải làm. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, người nông phu gia chủ mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, sau khi mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, liền mau lẹ gieo hạt giống, sau khi mau lẹ gieo hạt giống, liền mau lẹ cho nước vô, cho nước ra. Này các Tỳ-kheo, đây là ba việc cấp thiết mà người nông phu gia chủ cần phải làm.
Người nông phu gia chủ ấy, này các Tỳ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): "Hôm nay lúa của ta được mọc lên, ngày mai chúng sẽ trổ hạt, ngày kế tiếp chúng sẽ chín".
Nhưng chính theo thời gian của người nông phu gia chủ, các cây lúa do sự hướng dẫn của thời tiết được mọc lên, được trổ hạt và được chín.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có ba công việc cấp thiết này Tỳ-kheo cần phải làm. Thế nào là ba?
Chấp hành tăng thượng giới học, chấp hành tăng thượng định học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Ba công việc cấp thiết này, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo cần phải làm.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): 'Hôm nay, tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngày mai cũng vậy, ngày kế tiếp cũng vậy'. Nhưng này các Tỳ-kheo, chính do thời gian Tỳ-kheo ấy sử dụng để học tập tăng thượng giới, để học tập tăng thượng tâm, để học tập tăng thượng tuệ, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương Ba – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Cấp Thiết)
Đối với sự tu của chúng ta cũng vậy, nó có hệ nhân quả rất rõ ràng, tham, sân, si, bản ngã đều có phương pháp đối trị chứ không phải cứ ngồi im biết nó sanh rồi để nó tự diệt, không phải tu theo kiểu đứng bên bờ sông nhìn lục bình trôi, ngược lại phải năng nổ, siêng năng tác ý nhưng làm đến vậy mà ác bất thiện pháp còn chống đối, quật ngã mình thường xuyên, la mắng, quở trách, quán chiếu đầm đìa nước mắt, dập đầu lạy sám hối mà nó vẫn nổi loạn áp đảo, xâm chiếm mình, vậy còn nếu mình cứ ngồi im để nó muốn làm gì thì làm thì thất bại hoàn toàn, trong sự tu phải thấy rõ điều này. Bản ngã càng lớn thì càng phải diệt tham, sân, si càng nhiều, đó mới thật sự là tăng thượng tự ngã, làm cho tự mình tiến lên.
Con kính đảnh lễ sư phụ, thầy cô. Có phải ngũ thủ uẩn khổ là ngũ uẩn sư phụ thường dạy chúng con nhận diện sanh, lão, biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ thủ uẩn khổ. Bát khổ này gọi là bát phong phải không, thưa thầy?
Minh Thành sẽ nói cho rõ câu hỏi này, tức là ngũ uẩn mà mình nhận diện là ngũ thủ uẩn. Thân xác này là sắc, những đồ vật là tứ đại, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, vì tâm không biết nó là ngũ uẩn, không biết nó vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng cho nên gọi là vô minh, mình tưởng nó là mình, là của mình. Từ cái vô minh đó, tưởng là mình, là của mình cho nên mình yêu thích, tham đắm thì gọi là tham ái, từ tham ái mới có chấp thủ, nắm giữ, cho rằng đó là nó, là của nó, là tự ngã của nó thì gọi là ngũ thủ uẩn là khổ.
Sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa lìa là khổ, oán ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không được là khổ, tóm lại sự nắm chặt vào năm uẩn là khổ. Đây gọi là tám cái khổ trong đạo Phật, còn bát phong nghĩa là tám ngọn gió lại là vấn đề khác .
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng,
Danh vọng và không danh vọng,
Tán thán và chỉ trích,
Lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))
"- Tám thế gian pháp này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỳ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ. Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (VI).Tùy Chuyển Thế Giới (2))
Tám pháp này làm cho thế gian quay cuồng, trong kinh dùng từ "thế giới" chính là ngũ uẩn cũng là thân con người chúng ta, tám thứ này làm cuộc sống con người bị xáo trộn nên Phật giáo phát triển gọi là tám ngọn gió. Tám thứ này làm cho chúng sanh hữu tình xoay vòng, chuyển động, biến động, ảnh hưởng đến đời sống, tám pháp đó là "lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ". Nếu bây giờ có người cúng cho mình chiếc xe mới nhất hoặc món đồ đắt tiền thì mình sẽ dao động hoặc bị mất món đồ quý cũng dao động, đó là lợi dưỡng và không lợi dưỡng. Danh vọng và không danh vọng là nổi tiếng và tai tiếng, hai cái này song hành với nhau, lúc có danh tiếng mình bị quay cuồng, cố gắng để có danh tiếng là công trình có khi phải cố gắng suốt cả cuộc đời nhưng khi danh tiếng mất đi có khi không sống nổi, chỉ qua một đêm là danh tiếng trở thành tai tiếng. Tán thán là khen ngợi, chỉ trích là chê bai. Vui và khổ, đó là tám thứ làm cho con người điên đảo, quay cuồng, dao động, nên gọi là tám ngọn gió. Người tu biết tám pháp này là vô thường, luôn bị biến đổi và hoại diệt nên các vị ấy giữ chánh niệm, quán biến diệt, tức là khi được hay không được thì các ngài đều biết tính chất biến đổi, tan rã và hoại diệt của nó. Khi được danh vọng các ngài không ham thích, khi mất danh vọng các ngài không tiếc nuối, được lợi dưỡng các ngài không tham đắm, mất lợi dưỡng các ngài không khổ sầu vì các ngài biết nó biến đổi và hoại diệt, có gì để tham, để sầu khổ trong đó cho nên đối với pháp đáng yêu các ngài không động, đối với pháp đáng nhàm chán các ngài không sân, tức là cái tốt đến không tham, cái xấu đến không sân.
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Trong tâm của bậc hiền trí, bậc trí giả thì thuận hay nghịch cũng đều tan thành khói mây, được hay mất, khen hay chê, khổ hay vui đều tan thành mây, các pháp đó không tồn tại trong tâm các bậc hiền trí mà trở thành khói sương dù các ngài ở trong đó. Có một vị ngoại đạo đi sau lưng Đức Phật chửi rủa rất nhiều, còn đệ tử của vị ngoại đạo đó lại khen ngợi, tán thán Đức Phật nhưng ngài vẫn điềm nhiên an tịnh trước những lời khen chê đó, hoàn toàn không dao động. Vị ngoại đạo tức giận nên bước lên trước mặt Sa-môn Gotama hỏi ngài có nghe thấy gì không thì Đức Phật nói có nghe, vị kia hỏi nghe tại sao không nói gì cả thì Phật nói ông tặng quà nhưng ta không nhận. Đức Phật chỉ nói như vậy thôi mà vị Bà-la-môn ngoại đạo kia sững sờ vì trong người đang phựt cháy vì tức giận nhưng câu nói của Đức Phật như dòng cam lộ dập tắt đám cháy. Sau đó Đức Phật thuyết pháp cho vị Bà-la-môn đó nghe, được Đức Phật cảm hóa nên vị ngoại đạo theo làm đệ tử và nguyện suốt đời từ nay cho đến mạng chung trọn đời quy ngưỡng Đức Phật.
"Một hôm, đức Phật đang đi bộ ngang qua một ngôi làng. Có một người đàn ông trẻ tuổi thô lỗ nhìn thấy Ngài tỏ vẻ giận dữ và sỉ nhục. Ông la lên: 'Ông biết cái gì mà dạy người khác. Ông cũng ngu dốt như mọi người chứ có gì khác đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả dối lừa gạt người ta mà thôi!'.
Đức Phật vẫn thản nhiên trước những lời nhục mạ của gã đàn ông này. Ngài từ tốn hỏi lại ông ta: 'Nếu ông đem tặng một món quà cho người khác, người ta không nhận thì món quà đó thuộc về ai?'.
Người đàn ông rất ngạc nhiên khi phải trả lời một câu hỏi kỳ lạ. Ông nói: 'Tất nhiên nó sẽ thuộc về tôi. Vì đó là món quà của tôi!'.
Đức Phật mỉm cười và nói: 'Rất đúng đấy, ông bạn ạ! Nó cũng giống như việc giận dữ của ông khi nãy. Nếu ông sân hận nhục mạ tôi, tôi không nhận thì những lời nhục mạ ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông là người bất hạnh chứ không phải tôi. Tất cả những hành động xấu mà ông gây ra sẽ trở lại làm tổn hại lấy bản thân mình.
Nếu ông muốn chấm dứt những bất hạnh nơi thân, ông phải từ bỏ sự sân hận và trải rộng tình thương đối với mọi người. Khi ông thù ghét người khác, chính bản thân ông trở thành bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi người thì hạnh phúc sẽ đến cả đôi bên'.
Người đàn ông trẻ tuổi lắng nghe cặn kẽ những lời dạy quý báu của đức Phật, ông nói: 'Bây giờ con đã hiểu. Xin Ngài hãy dạy con cách thức thực hiện tình thương. Con xin được trở thành đệ tử của Ngài!'.
Đức Phật trả lời: 'Rất tốt! Ta sẽ chỉ dạy cho bất cứ ai thật sự muốn nghe!'". (Chùa Hoằng Pháp - Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Sau đó Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo nếu có ai mắng chửi, chỉ trích, chê bai thì hãy bình tĩnh, xét lại những lời chỉ trích, chê bai đó là đúng hay sai. Nếu đúng thì hãy thọ trì, ghi nhận điều đó là đúng để sửa chữa, nếu tán thán khen ngợi cũng chớ vội vui mừng mà hãy suy xét lời khen đó, nếu lời khen đó đúng pháp thì ghi nhận lời khen đó là đúng.
"Vào một lần khác, đức Phật hỏi một người đệ tử: 'Nếu ông mua một số vàng quý giá, có khi nào ông trả tiền liền mà không chịu thử trước không?'.
- 'Thưa Đức Thế Tôn, dĩ nhiên là không. Có thể nó là đồ giả và lúc đó con sẽ mất tiêu số tiền đã mua nó'.
Đức Phật nói: 'Rất đúng. Việc đó cũng giống như phương pháp mà ta đã chỉ dạy. Ông sẽ không bao giờ chấp nhận những gì mà ta nói về chân lý một cách đơn giản, bởi vì nó là lời dạy của ta. Tốt hơn hết, ông nên thử thực hành những lời dạy bằng chính bản thân mình xem chúng là đúng hay sai. Nếu ông thấy là đúng và có ích thì nên thực hành theo. Không nên chỉ vì kính trọng mà tin theo lời dạy của ta.
Cũng thế, đừng nên phê phán những lời dạy của người khác và nói họ là người không tốt. Có rất nhiều vị thầy cao cả khác ở trên thế gian này và họ có phương pháp riêng của họ để chỉ dạy mọi người. Đừng nên xúc phạm đến phẩm giá của họ. Đây không phải là nhiệm vụ của ông. Nhiệm vụ của ông là tìm cho ra hạnh phúc và giúp cho người khác có được hạnh phúc như mình'.
Rồi Đức Phật chỉ dạy thêm cho các đệ tử hãy cố gắng làm trong sạch ý nghĩ của mình, có lòng từ đối với kẻ khác và kính trọng mọi người". (Chùa Hoằng Pháp - Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Đức Phật là "bát phong xuy bất động", tám ngọn gió thổi vẫn không lay chuyển được vạt áo ngài, đó là tâm bất động giải thoát. Đức Phật điềm nhiên trước tám ngọn gió của cuộc đời vì ngài biết đó là pháp biến hoại, dù chê bai, khen ngợi hay chỉ trích thì những lời nói đó như gió thoảng mây bay, nhưng mình lại rất nhạy với những lời khen chê này, dù người ta đứng xa nói nhưng mình vẫn để ý xem họ có nói gì liên quan đến mình không, vậy là tự đi tìm phiền não, tự kiếm chuyện, từ vô sự lại sanh sự. Bây giờ ở yên nghe pháp, đàm luận pháp, ngồi thiền không chịu mà ngồi đó là moi móc những chuyện xa xưa của người này người kia ra để hờn trách, sân giận, đó là cây muốn yên mà gió chẳng dừng. Trong Trung Bộ kinh ghi lại thần thái, phong cách, sự ung dung tự tại, bất động giải thoát của Đức Thế Tôn, ngài bẻ gãy những tà thuyết của ngoại đạo một cách nhẹ nhàng, từ ái, vô vi, làm cho những người cứng cỏi, khó dạy khó bảo nhất cũng phải quy phục tâm phục khẩu phục.
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
Bậc trí huệ khi biết được có một con đường không còn vương vấn bụi trần, không còn sầu đau, vị này chơn chánh biết một cách đúng như thật về nguyên nhân của sự tái sanh hiện hữu này nên các ngài chấm dứt, bước qua bờ bên kia không còn tái sanh nữa. Nhờ những câu hỏi của quý Phật tử mà chúng ta được nghe nhiều những pháp vi diệu, đó là tám ngọn gió của thế gian.
Thưa sư phụ, xin sư phụ giảm thích giùm trong thiền tâm hiền có câu "người tu tâm xả vi trần", "vui thay cảm giác viên trần".
Minh Thành nhớ là "người tu tâm xả ly trần", "vui thay cảm giác ly trần" chứ không phải vi trần hay viên trần, nghĩa là người tu có tâm xả ly trần, tâm viễn ly. Bây giờ mình đi trong đoạn đường đầy bụi bẩn, đi qua khỏi đoạn đường đó được phủi bụi, rửa tay, tắm rửa, mặc đồ mới thơm tho, sạch sẽ thì có vui không? Ai cũng vui, đó là ý nghĩa của câu "vui thay cảm giác ly trần", vui vì được sạch bụi bẩn, ở núi càng vui hơn vì không khí trong lành ít bụi, bây giờ mình cũng đang vui thay cảm giác viễn ly trần tục. Có sáu thứ bụi trần vấy bẩn tâm hồn chúng sanh, đó là sắc; thanh (tiếng); hương (mùi); vị; xúc (đụng chạm); pháp (thọ; tưởng; hành trong tâm), đây là sáu thứ bụi cũng được gọi là sáu trần. Nhìn thấy món đồ đẹp là bụi bay lên làm dơ tâm mình cho nên ở núi tập nhìn cây cỏ, núi non ít có bụi, nhìn người có sự thu hút, hấp dẫn thì bụi càng nhiều, nghe những bản nhạc trữ tình là bụi nổi lên trong tâm. Cho nên tu là thấy vui với cảm giác ly trần, vui vì xa lìa bụi bặm của trần tục, quý Phật tử đang nghe pháp ở nhà cũng vui khi không có bụi, vui khi cảm giác được sạch sẽ không bị cấu nhiễm, mình vui khi trú tâm vào pháp, khi nghe pháp, khi tụng kinh, khi lễ sám hối diệt ngã, khi lạy đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, khi tụng căn bản trí, khi được ngồi thiền quán, khi ngồi pháp đàm cùng với quý thầy và đại chúng, đó là những lúc "vui thay người tu tâm xả ly trần", vì vậy tu lúc nào cũng vui, nghe pháp cũng vui, pháp đàm cũng vui, ngồi thiền cũng vui nhưng phải tác ý có tầm có tứ, hỷ lạc, nếu không biết tác ý thì hỷ lạc không sanh.
Con bạch sư phụ, những lúc nhìn thấy rác mà hoảng sợ, kinh hoàng, chán nản thì phải làm sao ạ?
Ai tu trong dòng pháp này cũng đều trải qua cảm giác này, nhưng đừng chán nản, sợ hãi mà hãy vui mừng. Vui mừng vì thấy rác, mình quán bản thân bị mù mấy chục năm nhưng giờ được thần y ban thần dược cho sáng mắt thì phải vui chứ sao lại hoảng sợ. Nếu rác nhiều thì từ từ quét dọn, lau chùi, cứ bình tâm, mắt đã sáng nên không lo gì nữa, chỉ sợ mắt mù thôi. Vì bên trong bóng đêm trường dạ, trong sự mù lòa, trong sự tăm tối không thấy gì mới đáng sợ, còn giờ sáng mắt không sợ nữa, cho nên tác ý "vui vì thấy được rác, vui vì thấy được phiền não, vui vì thấy được lậu hoặc, vui vì thấy được bản ngã", cái lo vẫn còn nhưng cái vui lớn hơn lo vì mù mấy chục năm nhưng giờ đã được sáng mắt nên vui, còn chuyện rác bẩn thì quét dọn, lau chùi từ từ. Vì thế mình cần khéo léo tác ý nếu không mình sẽ bị sốc, ai tu dòng pháp này khi nhận diện ngũ uẩn, sau đó tinh tấn một thời gian nhận diện các lậu hoặc đều bị bất ngờ, nếu không khéo sẽ chán nản, sợ hãi nhưng đừng chán, đừng sợ mà phải vui lên, hân hoan, thích thú vì biết bao người tu không thấy ngũ uẩn, không gặp chánh pháp, không gặp bậc thiện tri thức, không gặp bậc chân nhân hướng dẫn tu tập nên không biết ngũ uẩn, mà không biết ngũ uẩn thì không thấy tham, sân, si, không thấy tham, sân, si thì không thấy được lậu hoặc, còn mình thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, thấy được lậu hoặc nên không có gì phải hoảng sợ, chán nản mà phải thấy bản thân thật phước báo, thật công đức, thật là hy hữu hiếm có trên đời này nên mới thấy được bản chất thật sự của đời sống này, mới nhìn thấu được bản tánh thật sự của tứ đại ngũ uẩn. Thánh trí này rất tuyệt vời, Thánh pháp này rất tuyệt vời, Thánh đạo này rất tuyệt diệu, mắt đã sáng rồi nên không còn sợ gì nữa mà chỉ sợ đui mù cho nên phải hạnh phúc vui mừng khi con mắt mình đã sáng, còn chuyện rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm từ từ dọn dẹp, dùng tất cả dụng cụ lau chùi, tẩy sạch. Vì vậy sự hoảng sợ, chán nản, bị sốc thì ai cũng bị nhưng phải thấy vấn đề quan trọng là mắt đã sáng rồi không còn gì sợ gì nên cứ nỗ lực, kiên trì, bền chí là sẽ thành công.
Vui thay con mắt đã sáng!
Vui thay nhìn thấy được thân tâm một cách chính xác, đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc mà biết bao nhiêu người chưa nhìn thấy, không nhìn thấy và hôm nay chúng ta có duyên lành vô lượng vô biên kiếp gặp được Thánh pháp này nhìn thấy đúng sự thật, như lý giác sát thân tâm này, cấu nhiễm, lậu hoặc này và nhất định chúng ta sẽ đi đến chỗ nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận./.
NHƯ LÝ GIÁC SÁT
NGƯỜI MÙ SÁNG MẮT 1B
–Thích Minh Thành–
Càng ngày phải càng đi sâu vào nội tâm để tác ý nhưng người Phật tử kia hỏi tác ý sanh bản ngã, rồi lại sanh sân lần thứ hai. Bây giờ làm gì cũng có bản ngã, tu cũng có bản ngã, mình đem bản ngã đi tu cho đến vô ngã, Đức Phật nói khi mình làm phước cũng có một cái tôi làm phước, khi mình làm tội cũng có một cái tôi làm tội, mình không nên có tâm lý mới bước vào học đã muốn có trình độ của tiến sĩ, chính cái chỗ đảo lộn thứ tự như vầy mới tu không thành tựu, mới đi bập bẹ đòi lái máy bay, mới vào tu đã muốn vô ngã vậy thì khỏi tu nữa. Trong làm tội có bản ngã của cái tội, trong cái phước có cái tội của phước nhưng giữ hai bản ngã tội và phước đó phải chọn bản ngã của phước, từ cái phước đó mới tu tập lên trí tuệ rồi mới nhìn thấy bản ngã đó vô ngã, chấp ngã đó phi lý, vô minh, sau đó tu tập tiếp để đi đến chỗ chứng nhập phá tan bản ngã. Người này hỏi nếu mình đã sân mà tác ý lại sân thêm lần thứ 2, bây giờ mình tức giận rồi để cơn giận tồn tại trong đó hay dùng lời quở trách để đuổi nó ra? Nếu chọn sân một lần thôi để khỏi sân lần hai nghĩa là mình chọn để cái giận lưu trú trong tâm, khỏi đuổi nó ra. Cho nên việc nhìn thấy sân rất nguy hiểm và tác hại là tuệ lực, trí tuệ, là pháp nhãn và mình quở trách tâm không nên làm điều đó, thấy giống như sân nhưng đó lại là sức mạnh của trí tuệ, pháp nhãn, vì thế mình thấy đây là cảm giác sân nằm trong cảm thọ và cảm giác sân này nguy hiểm và tác hại, là cội nguồn của sầu, bi, khổ, ưu, não, là gốc rễ của khổ đau trong hiện tại và tương lai sẽ đau khổ lâu dài. Sau khi thấy được như vậy mình mới suy tư, quán chiếu, chiêm nghiệm để loại trừ, từ bỏ, tẩy sạch nó nên đòi hỏi mình phải tu tập chánh tư duy, Minh Thành thường ví dụ có người mù từ khi sanh ra cho đến 50 tuổi, trong mấy mươi năm bị mù nên nhà chất đầy rác bẩn hôi thối, bẩn thỉu. Bây giờ người này gặp thần y ban cho thần dược sáng mắt nên thấy được rác hôi dơ nhưng lại ngồi yên không lau chùi, quét dọn thì làm sao sạch nhà? Muốn sạch phải có dụng cụ tẩy rửa, lau chùi thì nhà mới sạch được, cũng vậy, bây giờ sân khởi lên thì biết có sân, tham khởi lên thì biết có tham rồi để tự nó diệt chứ không cần tác ý đánh đuổi, tự sanh rồi tự diệt thì cũng như mình nói ngồi yên là căn nhà tự sạch. Không thể nào có chuyện đó mà phải có sự tác ý, quán chiếu, phải dùng những phương pháp đoạn trừ, tẩy rửa, sân thì dùng tâm từ tẩy, tâm ác hại thì dùng tâm bi tẩy, tham dục dùng bất tịnh quán tẩy, tham lam thì dùng bố thí tẩy, si thì tu trí tuệ tinh cần, tinh tấn. Mỗi một căn bệnh đều có thuốc trị, Đức Phật nói trong giáo pháp của ngài không có việc bất thình lình chứng ngộ, không có sự cầu may mà phải có sự tuần tự, bào mòn và diệt tận, cũng như trong kinh nói về việc con gà ấp trứng phải đúng thời gian, đúng cách trứng mới nở.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: 'Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn'; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: 'Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ'; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IX. Cán Búa (Hay Chiếc Thuyền))
Ngoài ra Đức Phật còn ví dụ hình ảnh người nông dân làm ruộng, không thể nào gieo mạ vài ngày là muốn có bông trĩu quả thành hạt thóc được, phải trải qua quá trình cày cấy, gieo mạ, tưới nước, bón phân mới thành hạt lúa được.
"- Này các Tỳ-kheo, có ba việc cấp thiết này, người nông phu gia chủ cần phải làm. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, người nông phu gia chủ mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, sau khi mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, liền mau lẹ gieo hạt giống, sau khi mau lẹ gieo hạt giống, liền mau lẹ cho nước vô, cho nước ra. Này các Tỳ-kheo, đây là ba việc cấp thiết mà người nông phu gia chủ cần phải làm.
Người nông phu gia chủ ấy, này các Tỳ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): "Hôm nay lúa của ta được mọc lên, ngày mai chúng sẽ trổ hạt, ngày kế tiếp chúng sẽ chín".
Nhưng chính theo thời gian của người nông phu gia chủ, các cây lúa do sự hướng dẫn của thời tiết được mọc lên, được trổ hạt và được chín.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có ba công việc cấp thiết này Tỳ-kheo cần phải làm. Thế nào là ba?
Chấp hành tăng thượng giới học, chấp hành tăng thượng định học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Ba công việc cấp thiết này, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo cần phải làm.
Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): 'Hôm nay, tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngày mai cũng vậy, ngày kế tiếp cũng vậy'. Nhưng này các Tỳ-kheo, chính do thời gian Tỳ-kheo ấy sử dụng để học tập tăng thượng giới, để học tập tăng thượng tâm, để học tập tăng thượng tuệ, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương Ba – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Cấp Thiết)
Đối với sự tu của chúng ta cũng vậy, nó có hệ nhân quả rất rõ ràng, tham, sân, si, bản ngã đều có phương pháp đối trị chứ không phải cứ ngồi im biết nó sanh rồi để nó tự diệt, không phải tu theo kiểu đứng bên bờ sông nhìn lục bình trôi, ngược lại phải năng nổ, siêng năng tác ý nhưng làm đến vậy mà ác bất thiện pháp còn chống đối, quật ngã mình thường xuyên, la mắng, quở trách, quán chiếu đầm đìa nước mắt, dập đầu lạy sám hối mà nó vẫn nổi loạn áp đảo, xâm chiếm mình, vậy còn nếu mình cứ ngồi im để nó muốn làm gì thì làm thì thất bại hoàn toàn, trong sự tu phải thấy rõ điều này. Bản ngã càng lớn thì càng phải diệt tham, sân, si càng nhiều, đó mới thật sự là tăng thượng tự ngã, làm cho tự mình tiến lên.
Con kính đảnh lễ sư phụ, thầy cô. Có phải ngũ thủ uẩn khổ là ngũ uẩn sư phụ thường dạy chúng con nhận diện sanh, lão, biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ thủ uẩn khổ. Bát khổ này gọi là bát phong phải không, thưa thầy?
Minh Thành sẽ nói cho rõ câu hỏi này, tức là ngũ uẩn mà mình nhận diện là ngũ thủ uẩn. Thân xác này là sắc, những đồ vật là tứ đại, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức, vì tâm không biết nó là ngũ uẩn, không biết nó vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng cho nên gọi là vô minh, mình tưởng nó là mình, là của mình. Từ cái vô minh đó, tưởng là mình, là của mình cho nên mình yêu thích, tham đắm thì gọi là tham ái, từ tham ái mới có chấp thủ, nắm giữ, cho rằng đó là nó, là của nó, là tự ngã của nó thì gọi là ngũ thủ uẩn là khổ.
Sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa lìa là khổ, oán ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không được là khổ, tóm lại sự nắm chặt vào năm uẩn là khổ. Đây gọi là tám cái khổ trong đạo Phật, còn bát phong nghĩa là tám ngọn gió lại là vấn đề khác .
"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng,
Danh vọng và không danh vọng,
Tán thán và chỉ trích,
Lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))
"- Tám thế gian pháp này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỳ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ. Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (VI).Tùy Chuyển Thế Giới (2))
Tám pháp này làm cho thế gian quay cuồng, trong kinh dùng từ "thế giới" chính là ngũ uẩn cũng là thân con người chúng ta, tám thứ này làm cuộc sống con người bị xáo trộn nên Phật giáo phát triển gọi là tám ngọn gió. Tám thứ này làm cho chúng sanh hữu tình xoay vòng, chuyển động, biến động, ảnh hưởng đến đời sống, tám pháp đó là "lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ". Nếu bây giờ có người cúng cho mình chiếc xe mới nhất hoặc món đồ đắt tiền thì mình sẽ dao động hoặc bị mất món đồ quý cũng dao động, đó là lợi dưỡng và không lợi dưỡng. Danh vọng và không danh vọng là nổi tiếng và tai tiếng, hai cái này song hành với nhau, lúc có danh tiếng mình bị quay cuồng, cố gắng để có danh tiếng là công trình có khi phải cố gắng suốt cả cuộc đời nhưng khi danh tiếng mất đi có khi không sống nổi, chỉ qua một đêm là danh tiếng trở thành tai tiếng. Tán thán là khen ngợi, chỉ trích là chê bai. Vui và khổ, đó là tám thứ làm cho con người điên đảo, quay cuồng, dao động, nên gọi là tám ngọn gió. Người tu biết tám pháp này là vô thường, luôn bị biến đổi và hoại diệt nên các vị ấy giữ chánh niệm, quán biến diệt, tức là khi được hay không được thì các ngài đều biết tính chất biến đổi, tan rã và hoại diệt của nó. Khi được danh vọng các ngài không ham thích, khi mất danh vọng các ngài không tiếc nuối, được lợi dưỡng các ngài không tham đắm, mất lợi dưỡng các ngài không khổ sầu vì các ngài biết nó biến đổi và hoại diệt, có gì để tham, để sầu khổ trong đó cho nên đối với pháp đáng yêu các ngài không động, đối với pháp đáng nhàm chán các ngài không sân, tức là cái tốt đến không tham, cái xấu đến không sân.
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Trong tâm của bậc hiền trí, bậc trí giả thì thuận hay nghịch cũng đều tan thành khói mây, được hay mất, khen hay chê, khổ hay vui đều tan thành mây, các pháp đó không tồn tại trong tâm các bậc hiền trí mà trở thành khói sương dù các ngài ở trong đó. Có một vị ngoại đạo đi sau lưng Đức Phật chửi rủa rất nhiều, còn đệ tử của vị ngoại đạo đó lại khen ngợi, tán thán Đức Phật nhưng ngài vẫn điềm nhiên an tịnh trước những lời khen chê đó, hoàn toàn không dao động. Vị ngoại đạo tức giận nên bước lên trước mặt Sa-môn Gotama hỏi ngài có nghe thấy gì không thì Đức Phật nói có nghe, vị kia hỏi nghe tại sao không nói gì cả thì Phật nói ông tặng quà nhưng ta không nhận. Đức Phật chỉ nói như vậy thôi mà vị Bà-la-môn ngoại đạo kia sững sờ vì trong người đang phựt cháy vì tức giận nhưng câu nói của Đức Phật như dòng cam lộ dập tắt đám cháy. Sau đó Đức Phật thuyết pháp cho vị Bà-la-môn đó nghe, được Đức Phật cảm hóa nên vị ngoại đạo theo làm đệ tử và nguyện suốt đời từ nay cho đến mạng chung trọn đời quy ngưỡng Đức Phật.
"Một hôm, đức Phật đang đi bộ ngang qua một ngôi làng. Có một người đàn ông trẻ tuổi thô lỗ nhìn thấy Ngài tỏ vẻ giận dữ và sỉ nhục. Ông la lên: 'Ông biết cái gì mà dạy người khác. Ông cũng ngu dốt như mọi người chứ có gì khác đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả dối lừa gạt người ta mà thôi!'.
Đức Phật vẫn thản nhiên trước những lời nhục mạ của gã đàn ông này. Ngài từ tốn hỏi lại ông ta: 'Nếu ông đem tặng một món quà cho người khác, người ta không nhận thì món quà đó thuộc về ai?'.
Người đàn ông rất ngạc nhiên khi phải trả lời một câu hỏi kỳ lạ. Ông nói: 'Tất nhiên nó sẽ thuộc về tôi. Vì đó là món quà của tôi!'.
Đức Phật mỉm cười và nói: 'Rất đúng đấy, ông bạn ạ! Nó cũng giống như việc giận dữ của ông khi nãy. Nếu ông sân hận nhục mạ tôi, tôi không nhận thì những lời nhục mạ ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông là người bất hạnh chứ không phải tôi. Tất cả những hành động xấu mà ông gây ra sẽ trở lại làm tổn hại lấy bản thân mình.
Nếu ông muốn chấm dứt những bất hạnh nơi thân, ông phải từ bỏ sự sân hận và trải rộng tình thương đối với mọi người. Khi ông thù ghét người khác, chính bản thân ông trở thành bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi người thì hạnh phúc sẽ đến cả đôi bên'.
Người đàn ông trẻ tuổi lắng nghe cặn kẽ những lời dạy quý báu của đức Phật, ông nói: 'Bây giờ con đã hiểu. Xin Ngài hãy dạy con cách thức thực hiện tình thương. Con xin được trở thành đệ tử của Ngài!'.
Đức Phật trả lời: 'Rất tốt! Ta sẽ chỉ dạy cho bất cứ ai thật sự muốn nghe!'". (Chùa Hoằng Pháp - Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Sau đó Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo nếu có ai mắng chửi, chỉ trích, chê bai thì hãy bình tĩnh, xét lại những lời chỉ trích, chê bai đó là đúng hay sai. Nếu đúng thì hãy thọ trì, ghi nhận điều đó là đúng để sửa chữa, nếu tán thán khen ngợi cũng chớ vội vui mừng mà hãy suy xét lời khen đó, nếu lời khen đó đúng pháp thì ghi nhận lời khen đó là đúng.
"Vào một lần khác, đức Phật hỏi một người đệ tử: 'Nếu ông mua một số vàng quý giá, có khi nào ông trả tiền liền mà không chịu thử trước không?'.
- 'Thưa Đức Thế Tôn, dĩ nhiên là không. Có thể nó là đồ giả và lúc đó con sẽ mất tiêu số tiền đã mua nó'.
Đức Phật nói: 'Rất đúng. Việc đó cũng giống như phương pháp mà ta đã chỉ dạy. Ông sẽ không bao giờ chấp nhận những gì mà ta nói về chân lý một cách đơn giản, bởi vì nó là lời dạy của ta. Tốt hơn hết, ông nên thử thực hành những lời dạy bằng chính bản thân mình xem chúng là đúng hay sai. Nếu ông thấy là đúng và có ích thì nên thực hành theo. Không nên chỉ vì kính trọng mà tin theo lời dạy của ta.
Cũng thế, đừng nên phê phán những lời dạy của người khác và nói họ là người không tốt. Có rất nhiều vị thầy cao cả khác ở trên thế gian này và họ có phương pháp riêng của họ để chỉ dạy mọi người. Đừng nên xúc phạm đến phẩm giá của họ. Đây không phải là nhiệm vụ của ông. Nhiệm vụ của ông là tìm cho ra hạnh phúc và giúp cho người khác có được hạnh phúc như mình'.
Rồi Đức Phật chỉ dạy thêm cho các đệ tử hãy cố gắng làm trong sạch ý nghĩ của mình, có lòng từ đối với kẻ khác và kính trọng mọi người". (Chùa Hoằng Pháp - Lược truyện Đức Phật Thích-ca)
Đức Phật là "bát phong xuy bất động", tám ngọn gió thổi vẫn không lay chuyển được vạt áo ngài, đó là tâm bất động giải thoát. Đức Phật điềm nhiên trước tám ngọn gió của cuộc đời vì ngài biết đó là pháp biến hoại, dù chê bai, khen ngợi hay chỉ trích thì những lời nói đó như gió thoảng mây bay, nhưng mình lại rất nhạy với những lời khen chê này, dù người ta đứng xa nói nhưng mình vẫn để ý xem họ có nói gì liên quan đến mình không, vậy là tự đi tìm phiền não, tự kiếm chuyện, từ vô sự lại sanh sự. Bây giờ ở yên nghe pháp, đàm luận pháp, ngồi thiền không chịu mà ngồi đó là moi móc những chuyện xa xưa của người này người kia ra để hờn trách, sân giận, đó là cây muốn yên mà gió chẳng dừng. Trong Trung Bộ kinh ghi lại thần thái, phong cách, sự ung dung tự tại, bất động giải thoát của Đức Thế Tôn, ngài bẻ gãy những tà thuyết của ngoại đạo một cách nhẹ nhàng, từ ái, vô vi, làm cho những người cứng cỏi, khó dạy khó bảo nhất cũng phải quy phục tâm phục khẩu phục.
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
Bậc trí huệ khi biết được có một con đường không còn vương vấn bụi trần, không còn sầu đau, vị này chơn chánh biết một cách đúng như thật về nguyên nhân của sự tái sanh hiện hữu này nên các ngài chấm dứt, bước qua bờ bên kia không còn tái sanh nữa. Nhờ những câu hỏi của quý Phật tử mà chúng ta được nghe nhiều những pháp vi diệu, đó là tám ngọn gió của thế gian.
Thưa sư phụ, xin sư phụ giảm thích giùm trong thiền tâm hiền có câu "người tu tâm xả vi trần", "vui thay cảm giác viên trần".
Minh Thành nhớ là "người tu tâm xả ly trần", "vui thay cảm giác ly trần" chứ không phải vi trần hay viên trần, nghĩa là người tu có tâm xả ly trần, tâm viễn ly. Bây giờ mình đi trong đoạn đường đầy bụi bẩn, đi qua khỏi đoạn đường đó được phủi bụi, rửa tay, tắm rửa, mặc đồ mới thơm tho, sạch sẽ thì có vui không? Ai cũng vui, đó là ý nghĩa của câu "vui thay cảm giác ly trần", vui vì được sạch bụi bẩn, ở núi càng vui hơn vì không khí trong lành ít bụi, bây giờ mình cũng đang vui thay cảm giác viễn ly trần tục. Có sáu thứ bụi trần vấy bẩn tâm hồn chúng sanh, đó là sắc; thanh (tiếng); hương (mùi); vị; xúc (đụng chạm); pháp (thọ; tưởng; hành trong tâm), đây là sáu thứ bụi cũng được gọi là sáu trần. Nhìn thấy món đồ đẹp là bụi bay lên làm dơ tâm mình cho nên ở núi tập nhìn cây cỏ, núi non ít có bụi, nhìn người có sự thu hút, hấp dẫn thì bụi càng nhiều, nghe những bản nhạc trữ tình là bụi nổi lên trong tâm. Cho nên tu là thấy vui với cảm giác ly trần, vui vì xa lìa bụi bặm của trần tục, quý Phật tử đang nghe pháp ở nhà cũng vui khi không có bụi, vui khi cảm giác được sạch sẽ không bị cấu nhiễm, mình vui khi trú tâm vào pháp, khi nghe pháp, khi tụng kinh, khi lễ sám hối diệt ngã, khi lạy đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, khi tụng căn bản trí, khi được ngồi thiền quán, khi ngồi pháp đàm cùng với quý thầy và đại chúng, đó là những lúc "vui thay người tu tâm xả ly trần", vì vậy tu lúc nào cũng vui, nghe pháp cũng vui, pháp đàm cũng vui, ngồi thiền cũng vui nhưng phải tác ý có tầm có tứ, hỷ lạc, nếu không biết tác ý thì hỷ lạc không sanh.
Con bạch sư phụ, những lúc nhìn thấy rác mà hoảng sợ, kinh hoàng, chán nản thì phải làm sao ạ?
Ai tu trong dòng pháp này cũng đều trải qua cảm giác này, nhưng đừng chán nản, sợ hãi mà hãy vui mừng. Vui mừng vì thấy rác, mình quán bản thân bị mù mấy chục năm nhưng giờ được thần y ban thần dược cho sáng mắt thì phải vui chứ sao lại hoảng sợ. Nếu rác nhiều thì từ từ quét dọn, lau chùi, cứ bình tâm, mắt đã sáng nên không lo gì nữa, chỉ sợ mắt mù thôi. Vì bên trong bóng đêm trường dạ, trong sự mù lòa, trong sự tăm tối không thấy gì mới đáng sợ, còn giờ sáng mắt không sợ nữa, cho nên tác ý "vui vì thấy được rác, vui vì thấy được phiền não, vui vì thấy được lậu hoặc, vui vì thấy được bản ngã", cái lo vẫn còn nhưng cái vui lớn hơn lo vì mù mấy chục năm nhưng giờ đã được sáng mắt nên vui, còn chuyện rác bẩn thì quét dọn, lau chùi từ từ. Vì thế mình cần khéo léo tác ý nếu không mình sẽ bị sốc, ai tu dòng pháp này khi nhận diện ngũ uẩn, sau đó tinh tấn một thời gian nhận diện các lậu hoặc đều bị bất ngờ, nếu không khéo sẽ chán nản, sợ hãi nhưng đừng chán, đừng sợ mà phải vui lên, hân hoan, thích thú vì biết bao người tu không thấy ngũ uẩn, không gặp chánh pháp, không gặp bậc thiện tri thức, không gặp bậc chân nhân hướng dẫn tu tập nên không biết ngũ uẩn, mà không biết ngũ uẩn thì không thấy tham, sân, si, không thấy tham, sân, si thì không thấy được lậu hoặc, còn mình thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, thấy được lậu hoặc nên không có gì phải hoảng sợ, chán nản mà phải thấy bản thân thật phước báo, thật công đức, thật là hy hữu hiếm có trên đời này nên mới thấy được bản chất thật sự của đời sống này, mới nhìn thấu được bản tánh thật sự của tứ đại ngũ uẩn. Thánh trí này rất tuyệt vời, Thánh pháp này rất tuyệt vời, Thánh đạo này rất tuyệt diệu, mắt đã sáng rồi nên không còn sợ gì nữa mà chỉ sợ đui mù cho nên phải hạnh phúc vui mừng khi con mắt mình đã sáng, còn chuyện rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm từ từ dọn dẹp, dùng tất cả dụng cụ lau chùi, tẩy sạch. Vì vậy sự hoảng sợ, chán nản, bị sốc thì ai cũng bị nhưng phải thấy vấn đề quan trọng là mắt đã sáng rồi không còn gì sợ gì nên cứ nỗ lực, kiên trì, bền chí là sẽ thành công.
Vui thay con mắt đã sáng!
Vui thay nhìn thấy được thân tâm một cách chính xác, đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc mà biết bao nhiêu người chưa nhìn thấy, không nhìn thấy và hôm nay chúng ta có duyên lành vô lượng vô biên kiếp gặp được Thánh pháp này nhìn thấy đúng sự thật, như lý giác sát thân tâm này, cấu nhiễm, lậu hoặc này và nhất định chúng ta sẽ đi đến chỗ nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận./.