Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sự Chứng Ngộ Của Đức Phật - Mục Đích Tối Thượng Của Đời Sống

2026-03-03 00:55:40
Kinh Nikāya Giảng Giải

SỰ CHỨNG NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT

MỤC ĐÍCH TỐI THƯỢNG CỦA ĐỜI SỐNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mục đích của đời sống là gì PAGEREF _Toc76377921 \h 1

II.Sự chứng ngộ của Thế Tôn PAGEREF _Toc76377922 \h 3

III.Tu tập tâm từ PAGEREF _Toc76377923 \h 6

Mục đích của đời sống là gì

Có một vấn đề đọc nhiều trong lịch sử của Đạo Phật, lịch sử của Đức Phật thì chúng ta thấy bình thường. Đó là khi Thái Tử đi dạo bốn cửa thành thấy cảnh Già, Bệnh, Chết và một người Tu Sĩ. Sau đó trở về cung thì Ngài có sự khắc khoải, suy tư, lo lắng, sợ hãi để tìm đạo lộ xuất ly. Chúng ta đọc qua chỉ biết vậy nhưng đây không phải chuyện bình thường, đây là vấn đề vĩ đại để xuất hiện Đạo Phật trên thế giới nên không phải là mình đọc phớt qua như vậy được!

Chúng ta phải tự hỏi một ngàn lần, mười ngàn lần rằng tại sao cũng thấy cảnh Già, cảnh Bệnh, cảnh Chết vậy mà mình trơ trơ? Còn tại sao Thái Tử thấy cảnh đó thì có thể khắc khoải, tha thiết mãnh liệt, quyết tâm để mà nửa đêm bỏ vợ con, cha mẹ, cung vàng điện ngọc như vậy? Đây là điều hết sức quan trọng, đây là lõi của Đạo Phật, không thấy được chỗ này là không thấy được thực sự Đạo Phật là gì! Cho nên chúng ta phải chiêm nghiệm thật là sâu sắc mục đích tối thượng của đời sống này là gì?! Chúng ta không được cam tâm chịu đựng cái khổ ách khốn khổ, hoạn nạn mãi mãi ở trong cái vòng luân hồi này. Không được bằng lòng, không được hài lòng, không được chấp nhận rằng mình sanh ra đây để lớn lên, để tìm kiếm tình cảm, ăn uống, chơi và cuối cùng là già, bệnh rồi chết. Chúng ta không cam tâm, tuyệt đối không cam tâm với một đời sống như vậy. Vì vậy, mình phải xác định được mục đích của đời sống này là cái gì?!

Bây giờ trăm người, ngàn người, vạn người, tỷ người đều như nhau, cứ sanh ra lớn lên, rồi kiếm việc làm, rồi lập gia đình vợ chồng, con cái, rồi già bệnh, rồi chết. Đó là chúng ta đang nói êm xuôi, chứ chưa nói tới tai nạn, chưa nói những chuyện bất trắc xảy ra. Thấy cuộc sống đơn giản vậy thôi nhưng trong đó ta tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp, bao nhiêu sầu, bi, khổ, ưu, não, bao nhiêu ganh tị, tật đố, cống cao, ngã mạn, nhân ngã, bỉ thử. Chất chồng trên vai là bao nhiêu những gánh nặng của thống khổ, một cái ách nô lệ đè trên đầu, đè trên cổ, đè trên cái sinh mạng này. Cả một đời sống này, là một đời sống khốn đốn, khốn khổ, khốn nạn, hoạn nạn, ách nạn, khổ nạn, hiểm nạn. Như vậy, tại sao mình lại an tâm? Tại sao mình lại nhởn nhơ qua ngày, qua năm, qua tháng, qua hàng chục năm, hàng bốn, năm, bảy chục năm mà trơ trơ như vậy? Thấy người khác bệnh, người khác già, người khác chết, người khác tai nạn mà mình trơ trơ, không quán xét sâu sắc, không có suy xét thật là kĩ càng. Cho nên, chúng ta hãy nghiền ngẫm cho thấu đáo xem mục đích của đời sống này là gì? Mục đích thật sự của kiếp sống này là gì?!

Con người ở trong tù ngục, loanh quanh với bốn bức tường, đời sống lòng vòng ở trong bốn bức tường mà người này nhởn nhơ lo ăn, lo ngủ, lo chơi, hài lòng với một cái cảnh tù ngục, tù tội, giam cầm. Đó là cái cảnh khổ, khổ cảnh! Chúng ta không thể cam tâm, bằng lòng để h làm một kẻ tù nhân, nô lệ ở trong kiếp sống ngục tù như vậy. Chúng ta phải thao thức, phải trăn trở, phải khắc khoải, phải tha thiết, phải tìm đủ mọi cách trốn đi, vượt ngục, thoát ngục, đập vỡ cái ngục đó ra. Phải tìm đủ mọi cách, bất cứ cách nào để thoát ra cái cảnh ngục tù đó. Mình không được chấp nhận, không được bằng lòng, không được hài lòng trong cảnh ngục tù đó.

Đó là chúng ta mới nói đến đời sống vật chất, chứ đừng nói chi là trong nội tâm. Bên trong tâm này là một đống tham dục, tham lam, tham muốn; bên trong tâm này là một đống sân hận, sân si, bực bội, khó chịu, tức tối, thù hận; bên trong tâm này là một đống cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc; bên trong tâm này là một đống si mê, điên đảo, vô minh. Nhiều đống rác bẩn ở bên trong như vậy mà mình cam lòng, cam chịu, không mong muốn đi ra, không mong muốn từ bỏ, không mong muốn nhiếp phục, không mong muốn hủy diệt hết tất cả những cái thứ làm cho mình khổ đó. Đời sống như vậy là một đời sống vô minh, si mê, một đời sống của kẻ hạ liệt, thấp hèn, một đời sống của sự điên loạn khổ đau.

Như vậy, từ bên trong cho đến bên ngoài là một đời sống đáng thương, khổ nạn, ách nạn, hoạn nạn, tai nạn, hiểm nạn mà bản thân mình không biết gì hết. Đó chính là khổ! Bên ngoài thì nô lệ cho vật chất, nô lệ cho những hình sắc, âm thanh, mùi vị, xúc chạm, làm nô lệ, chúng ta làm đầy tớ để phụng sự cho nó. Chẳng hạn như phương Tây, cả một cuộc đời phải trả nợ trong suốt ba chục năm để mua một căn nhà, đó là nô lệ cho vật chất. Có khi chỉ vì một cái cảm giác của dục mà vào trong tù ngồi, hoặc là những tai nạn hãm hiếp, bệnh hoạn, trộm cướp, thú vui nhậu nhẹt say sưa, hay là ma túy thì cũng có thể mất mạng. Sâu sắc hơn là một mối tình cảm thôi thì có thể mình sẽ bị nô lệ suốt cả cuộc đời.

Chúng ta bị ràng buộc, bị trói trăn làm những thứ bên ngoài là mình bị nô lệ cho những thứ bên ngoài: tài sản, tiền bạc, tình cảm, vật chất, những người mình giao tiếp. Bên trong là dục, tham, ái thúc dục, thúc đẩy, thúc bách, bức xúc, bức bối, bực bội. Chúng thúc giục, đẩy mình lao đi, chạy đi mòn mỏi, mệt mỏi nhưng cũng phải ráng lết lê cái thân đi tìm để cung phụng cho cái dục, chiêu đãi cho cái dục, mà cái dục này là trống rỗng, vĩnh viễn mãi mãi không bao giờ thỏa mãn được. Đó là Khổ Thánh Đế, là sự thật của khổ mà bậc Thánh Giác Ngộ. Bên ngoài nô lệ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc! Bên trong nô lệ cho dục tham, sân si, vô minh, bản ngã! Trong ngoài đều làm nô lệ trong cảnh tôi đòi, không có tự do, hoàn toàn không có tự do. Vậy mà dương dương tự đắc, cống cao, ngã mạn, ta đây hất cái mặt lên, ta tài, ta giỏi, ta hay, ta hơn thiên hạ hết, lúc nào ở bên trong cũng là một cái bản ngã chình ình, tất cả đều là nô lệ cho bản ngã. Đó là kiếp sống của nô lệ, đời sống của nô lệ!

Sự chứng ngộ của Thế Tôn

Vậy, sự chứng ngộ của Đức Phật là gì? Khám phá vĩ đại duy nhất và duy nhất trong vô lượng Thái Dương Hệ này của bậc duy nhất Độc Tôn là gì?

Đó chính là Ngài khám phá ra được sự thật chính mình là Năm Uẩn!

Khám phá ra được sự thật những yếu tố cấu tạo nên chính mình là sự tập khởi của Năm Uẩn!

Khám phá ra được sự đoạn diệt và chấm dứt Năm Uẩn, là bốn Thánh Trí về Năm Uẩn và bốn Thánh Trí về Lậu Hoặc!

Đây là sự khám phá vĩ đại nhất trong ngàn tỷ hành tinh. Đây là sự khám phá tự thân, sự khám phá nội tại, sự khám phá thực tại. Đây là sự khám phá tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất. Đây là sự khám phá duy nhất trong lịch sử của nhân loại, không tiền tuyệt hậu, vĩnh viễn ngàn ngàn tỷ năm sau là sự khám phá duy nhất của bậc Chánh Đẳng Giác. Đây là sự khám phá chính tự thân tâm của chính mình, hoàn toàn thấu triệt một cách viên mãn, tường tận, đồng đều, rốt ráo tất cả mọi khía cạnh của thân tâm, không còn sót, không còn dư, không còn thiếu bất cứ một cái gì. Đó là sự khám phá của bậc tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, là bậc tôn quý nhất ở trên thế gian này, gọi là Đức Thế Tôn!

Ngài thấu suốt toàn bộ chính tự thân mình là năm uẩn, toàn thế giới này là năm uẩn, là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và trong năm uẩn có gì trong đó? Đức Phật đã giác ngộ trí về Lậu Hoặc, tức là nhìn thấy trong ngũ uẩn toàn là rác bẩn, cấu nhiễm, sự ô nhiễm, sự nhục nhiễm, sự cấu nhiễm, sự vô minh nhiễm. Đức Phật khám phá ra những yếu tố cấu tạo thành thân tâm này. Khám phá ra từ đâu, vì đâu mà nó hoại diệt; khám phá ra từ đâu mà nó hình thành; khám phá ra vì sao mà nó hoại diệt; khám phá ra vì sao dòng tiếp diễn của nó là bất tận… Ngài thấy hết, biết hết, thông đạt hết, thấu suốt hết những điều đó, cho nên, đó là sự khám phá vĩ đại chưa từng có, là sự khám phá tối thượng duy nhất độc tôn!

Ngày hôm nay, chúng ta phải lạy trước ba ngàn năm của sự khám phá chưa từng có đó, vì nó vượt ngoài hết những suy nghĩ, tưởng tượng của chúng sanh ở trong tam giới. Cho đến vị trời tối cao Ta-Bà-Chủ cũng lạy ở dưới chân của Đức Phật, quy y trong tam giới tối thượng, nói rằng: “Con không biết không thấy, không hiểu từ đâu mà chúng con hình thành, vì sao mà chúng con hoại diệt và trong dòng tiếp diễn luân lưu bất tận, xoay dòng sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh này chúng con hoàn toàn mù mịt, tăm tối và vô minh”. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác Đức Thế Tôn mới khai diễn được Chánh Pháp, mới có thể đánh tan vỡ cái bánh xe luân hồi, chặng đứng hết tất cả dục tham, sân si, đập tan hết bản ngã và đạt tới cảnh giới tối thượng tịch tịnh của Niết-Bàn, đó là công đức vĩ đại của Như Lai!

Đó là lý do gọi Thế Tôn là bậc có mắt, bậc sáng mắt, bậc pháp nhãn, bậc pháp chủ, bậc có tuệ nhãn là nhìn thấu suốt hết sự hình thành hoại diệt, sự vận hành của toàn thể vũ trụ, nhân sinh thế giới này. Đó là lý do gọi Phật là bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, bậc quang sanh, bậc trí sanh. Hiểu như vậy mới là hiểu được Đức Thế Tôn, chứ không phải nói là mình đã hiểu được Ngài, không phải nói lạy Phật là mình hiểu được Phật, không phải dễ mà hiểu được Đức Phật. Cho nên, bốn Thánh Trí về Năm Uẩn và bốn Thánh Trí về Lậu Hoặc này đưa Bồ Tát đến chỗ mà cứu cánh cùng cực tối thượng Chánh Biến Tri!

Như vậy, mục đích thật sự, mục đích tối thượng của đời sống này là gì?

Đó là hiểu được chính mình, hiểu được chính tự thân tâm của mình, ngoài cái đó ra không còn một cái nào khác hết. Hiểu để mình không còn làm nô lệ, không còn bị lừa dối, không còn sống trong cảnh tù đày, không còn sống trong cảnh lao ngục, tăm tối, si mê nữa. Thoát ra! Vượt ra! Xuất ly đạo! Và chúng ta sẽ trở thành một con người tự do, tự tại! Đó là kết quả cứu cánh Phạm hạnh của người tu, xứng đáng cho một kiếp người, xứng đáng cho mình đem cả tuổi thanh xuân, đem cả thời gian, đem cả tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực để mình đánh đổi, mình sẽ đạt được một sự tự do cứu cánh vĩnh hằng. Đó là mục đích tối thượng của đời sống này!

Còn có một bậc Thầy nào trên thế giới này mà có thể so sánh với Đức Thế Tôn, còn có một ai ở trong tam giới này mà có thể ngang hàng, sánh bằng với Như Lai với một sự giác ngộ siêu việt như vậy! Và hạnh phúc thay cho chúng ta, vui sướng thay cho chúng ta, hy hữu, kì diệu thay cho chúng ta, vì ta là những con người bỏ hết tất cả gia đình, sự nghiệp, tài sản, cha mẹ để dấn thân đi vào cái con đường Thánh Pháp tối thượng, hạnh phúc tuyệt diệu, trí huệ tối thượng này. Còn niềm hạnh phúc nào bằng? Còn phúc lạc nào bằng? Còn trí huệ, lợi ích nào bằng nữa?!

Hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt diệu là sau ba ngàn năm Đức Phật nhập diệt mà giờ này chúng ta tìm ra được Chánh Pháp, hành Chánh Pháp và sống theo Chánh Pháp và đem Chánh Pháp này chia sẻ đến cho tất cả những người có duyên. Hãy làm cho mình phát khởi lên niềm hạnh phúc, hỷ lạc tràn ngập khắp tất cả toàn bộ tế bào từ đỉnh đầu cho tới gót chân, làm cho nó nổi óc, nổi da gà lên. Hãy làm cho cảm giác của mình rúng động, xúc động, trào dâng lên một niềm phúc lạc, hỷ lạc vô biên vì trong kiếp sống vô thường, hữu hạn, ngắn ngủi, phù du này mà chúng ta có thể tìm thấy được cái Thánh Trí Năm Uẩn Tối Thượng như vậy. Đây là điều chưa từng có, vì thế phải làm cho mình khởi lên một cái cảm giác tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt hảo. Dù nói từ bây giờ cho tới ngày mình chết thì cũng chưa nói được một phần tỷ về công đức giác ngộ của Như Lai! Đó là như vậy, vĩ đại là như vậy! Thánh Trí này siêu việt là như vậy thì lợi ích của nó là không thể dùng từ ngữ nào có thể diễn đạt được. Hãy hạnh phúc lên, hân hoan lên, vui sướng lên để dấn thân vào con đường Thánh Pháp Tối Thượng này!

Tại sao người ta vì thú vui đua xe mà có thể bỏ mạng? Tại sao người ta vì thú vui nhậu nhẹt mà có thể đi vào bệnh viện vì đánh lộn, đánh lạo? Tại sao người ta vì thú vui của tình cảm nam nữ mà có thể đi đến chỗ quyên sinh và hệ lụy suốt cả cuộc đời? Tại sao người ta vì một chút chất kích thích mà có thể dám hủy hoại cái mạng sống? Tại sao người ta vì đồng tiền mà có thể xem thường sinh mạng? Hoặc vì một cơn tức giận, làm để hả giận mà người ta ngồi tù chung thân? Vậy, tại sao chúng ta không thể vì Chánh Pháp Tối Thượng, vì mục đích cao tột của đời sống này dấn thân vào sự tầm cầu giác ngộ mà hy sinh, mà thành tựu cái mục đích cao siêu hơn tất cả các mục đích của kiếp người này?

Với giá trị vĩ đại của Thánh Pháp như vậy thì chúng ta sẵn sàng dập vỡ cái đầu của mình, tan nát cái thân của mình, đem hết cả thân, ngữ, ý của mình để mà phụng sự, để mà cầu pháp, để mà tha thiết chân thành đạt được cái sự chứng ngộ. Dù nát tan cái thân này, vỡ cái đầu này, đem cái sinh mạng này thành một đống thịt bầy nhầy thì chúng ta cũng sẵn sàng hy sinh để chứng ngộ trên con đường Giáo Pháp, tầm cầu Giáo Pháp, hành trì Giáo Pháp và truyền bá Giáo Pháp. Cho nên, phải quyết tâm, quyết liệt, quyết chí, quyết định, đó là sức mạnh của người hùng. Đức Thế Tôn được tôn xưng là bậc Đại Chiến Thắng vì đối với tất cả những dục vọng, sân hận, si mê, vô minh, những sự hưởng thụ của đời thường… thì Ngài đã vượt qua hết, chinh phục hết, đạp đổ hết để bước lên, để thành tựu được Thánh Trí Tối Thượng. Chính vì thế, chúng ta phải quyết tâm đi con đường đó và thành tựu con đường đó! Mạnh mẽ! Dứt khoát! Quyết định! Nhất định! Xác định không thay đổi! Đại hùng, đại lực, đại tinh tấn!

Tu tập tâm từ

Như vậy, trong sự tu:

Thứ nhất, chúng ta phải luôn luôn nhìn lại thực tập nhận diện cảm giác. Khi có sự thường nhìn lại để ý đó thì mình sẽ hiểu kĩ, rõ, đầy đủ hơn về cảm giác của cơn giận. Khi nó sanh khởi lên thì mình biết được có nhiều cái khả năng giảm thiểu dừng lại và nhiếp phục hơn là lúc mình không có biết cảm giác toàn thân.

Một điều hết sức là quan trọng là nếu mà mình cứ tác ý “tu như vậy là khó, là không làm được” thì vĩnh viễn mình không làm được hết. Đức Phật nói: “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm sanh khởi”, thành ra sự tác ý hết sức là quan trọng, quyết định sự thành bại của chính mình. Nếu như mới bắt đầu mà mình tác ý làm không được thì vĩnh viễn không bao giờ mình làm được! Bây giờ mới ra trận, mới lâm trận mà mình nghĩ sẽ đánh thua thì làm sao mà thắng được. Thành ra, sự tác ý này hết sức quan trọng! Mình không để cho cái tác ý không làm được sanh khởi trong nội tâm mình, phải đẩy nó qua, dẹp nó qua, từ bỏ nó và nghĩ rằng mình bắt đầu làm và mình sẽ làm được!

Thứ hai, tất cả sự tu tập trong Phật Giáo là phải đều đứng ở chỗ Chánh Kiến, tức là thấy đúng. Nếu không từ chỗ Chánh Kiến, từ sự hiểu biết để mà tu tập thì đó chỉ là một sự kiềm chế, một sự đè nén và bất cứ lúc nào nó cũng có thể sẽ bùng vỡ. Vậy, Chánh Kiến là cái gì? Đó là sự thường trực nhận diện năm uẩn và quán chín giai đoạn của một tử thi. Nếu nhận diện được năm uẩn và quán được tử thi đó là mình đứng ở trên Chánh Tri Kiến để chuyển hóa cơn giận. Còn nếu mình đè nén, kiềm chế, tránh né cơn giận thì một thời gian tạm thời nó sẽ bùng vỡ, bộc phát ra.

Cho nên, sự quán chiếu, thực tập nhận diện năm uẩn và quán chiếu tử thi, quán chiếu vô thường, sự niệm tử là hết sức quan trọng để cho mình thực tập tất cả pháp. Từ đó là chúng ta tu tập trải tâm từ, trải tình thương, mà tình thương của Đạo Phật là đặt trên nền tảng sự hiểu biết, sự thấy biết. Nếu không thấy biết, không hiểu biết thì cái tình thương đó không gọi là từ bi, mà gọi là ái, là sự dính mắc. Vì vậy, chúng ta phải nhìn thấy được cái sự vô thường, sự đau khổ của cuộc đời này. Giống như Đức Phật Tất-Đạt-Đa nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết, thấy sự thống khổ của cuộc đời, thấy mục đích không ra gì mà con người phải theo đuổi bao nhiêu dục tham, sân si, bản ngã, bao nhiêu sanh già, bệnh chết, tật bệnh khổ sở. Chúng ta phải nhìn sâu sắc để thấy được nỗi khổ đó thì mới thương, lúc đó mới thật sự là mình trải được tâm từ. Còn nếu mình không thật sự đứng trên Chánh Kiến, không thấu hiểu sự thật thân tâm này thì mình không trải được, mà trải là chỉ nói trên miệng, trên tưởng tượng chút đỉnh thôi.

Như vậy, chúng ta phải đứng ở trên sự thấy hiểu rồi mình mới thương và sự thực tập trải tâm từ này giống như người mẹ thương những đứa con, thương những đứa trẻ chưa hiểu biết. Ví dụ, đứa trẻ hai, ba tuổi làm bễ cái chung, cái chén, cái ly, thậm chí là cái đồ đắt tiền thì mình không có giận, vì mình biết rằng nó không hiểu biết. Hay khi đối diện với một người khùng ở trong trại tâm thần, họ có chỉ, có chửi mình cũng không có giận. Tại sao vậy? Vì mình thương họ là kẻ bệnh hoạn, họ đang đau khổ, họ điên loạn không có tỉnh táo! Cho nên, hiểu biết rồi mới có thể thương yêu và trải tâm từ, như vậy nó sẽ có công năng nhất định, quyết định, chắc chắn, một ngàn phần ngàn, một tỷ phần tỷ.

“Này các Tỷ-Kheo, ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho kiên cố, làm cho vững chắc, làm thành căn cứ địa, làm thành cỗ xe thì việc tâm sân chiếm ngự nội tâm là điều không thể xảy ra!”. Cho nên, chắc chắn thành công tuyệt đối là tâm từ có khả năng diệt tận lòng sân hận và đứng ở trên Chánh Tri Kiến, đó là nhờ tình thương hiểu biết mà tu tập chuyển hóa.

./.