Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

SOI SÁNG HÀNH THIỀN

2026-03-03 00:52:28
Kinh Nikāya Giảng Giải

SOI SÁNG HÀNH THIỀN

-Thích Minh Thành-

Kính thưa đại chúng, chúng ta thực hành ba pháp.

Pháp thứ nhất, chánh niệm trước mặt. Để hai tay theo tư thế ngồi thiền, mắt nhìn xuống về phía trước, không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên có thể.

Pháp thứ hai, cảm giác toàn thân. Trở về hơi thở, thở vào biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra. Cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở: thứ nhất là chóp mũi, thứ hai là lồng ngực, thứ ba là bụng. Từ ba chỗ động chuyển này mở rộng cảm giác ra toàn thân, cảm nhận cảm giác trên đầu, cảm nhận cảm giác mặt, cảm nhận cảm giác ở hai vai, tay, bàn tay, lòng bàn tay, lưng, mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào, thở ra, cảm nhận cảm giác toàn thân.

Pháp thứ ba, nội tâm tỉnh giác. Rõ biết chánh niệm trước mặt, rõ biết hơi thở và cảm giác toàn thân. Thường trú trong cảm giác toàn thân để nhận diện cảm giác của mình thuộc về cảm giác gì? Có ba loại cảm giác: cảm giác vui, cảm giác khổ, và cảm giác không vui không khổ. Thường nhìn lại trong ba loại cảm giác thì sẽ thấy được cảm giác vui có tham, trong cảm giác khổ có sân, trong cảm giác không vui không khổ có si. Thấy rõ được và cảm giác được tham, sân, si trú trong cảm giác.

Cách nhiếp phục tham, sân, si:

Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Bất Tịnh để nhiếp phục tham dục.

Mở lòng ra, Trải Tâm Từ để nhiếp phục sân hận.

Tinh Cần giới, Dũng Mãnh giới, Tinh Tấn, Niệm Tử, Niệm Vô Thường để nhiếp phục được cảm giác si mê.

Đó là Minh Thành giới thiệu sơ lược phương pháp hành trì, để cho tất cả đại chúng, các huynh đệ ai muốn thực tập thì thực tập.

Hiện nay, Phật giáo chúng ta có nhiều trường Phật học, nhưng lại thiếu trường Thiền để thực tập. Một điều cần thiết chính yếu trong Phật giáo hiện nay là Pháp Hành. Học lý thuyết, kiến thức rất nhiều, hiểu biết rất nhiều mà không vận dụng được, thì nó không lợi ích bao nhiêu, không chuyển hóa được phiền não. Cho nên rất cần thiết cho chúng ta có một môi trường, ta gọi là Rừng Thiền, hay là Trường Thiền. Sắp tới Minh Thành sẽ mở một Rừng Thiền trên Linh Quy Pháp Ấn (Cổng Trời), để cho những người muốn tu học không nhất thiết phải qua Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan nữa, vì ở Việt Nam cũng có Rừng Thiền. Vừa rồi, Minh Thành có một chuyến đi thăm thú và nghiên cứu tám Rừng Thiền lớn nhất ở Myanmar và thấy được sự tu học của Tăng, Ni chúng ta hiện nay còn yếu kém rất nhiều. Cho nên Minh Thành nghĩ rằng các huynh đệ cần rất nhiều sự cố gắng, học hỏi và thực tập.

Hôm nay, Minh Thành có một buổi chia sẻ với đại chúng, Minh Thành vẫn muốn các huynh đệ có cơ hội giải quyết những cái những vấn đề chưa hiểu, những nghi ngờ, nhất là trong Pháp Hành. Cho nên hôm nay cho huynh đệ một buổi Pháp đàm Soi Sáng, để chúng ta hỏi đáp. Tại vì mình nghe giảng thì nghe hoài, còn những buổi để giải quyết những vấn đề chưa hiểu, những thắc mắc chưa rõ thì rất ít, nên nó rất là cần thiết. Các Trường Thiền ở Miến Điện có chương trình gọi là Trình Pháp, trong khi tu tập mình có vấn đề gì trở ngại, giải quyết không được thì phải lên trình pháp, mỗi ngày như vậy đều phải trình pháp. Còn bên đây tu giỏi rồi hay sao mà khỏi cần trình, 5-7 năm tu học mà hỏi không biết gì hết. Thành ra vấn đề thảo luận là một trong những yếu tố để thành tựu Chánh Tri Kiến. Nếu không có hỏi đáp, thảo luận, thì tri kiến của mình không đi đến chỗ sáng tỏ, vì vậy hôm nay Minh Thành cho các huynh đệ hỏi.

Sư cô 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, kính thưa đại chúng. Con có hai câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất, khi ngồi thiền con có nghe thầy dạy pháp thứ ba, đoạn thực tập xả thọ. Đối với cảm thọ trung tính, không lạc, không khổ, thầy dạy trong đó có si, thì con không rõ tại sao thọ đó có si? Khi con thực tập tới đó, con nhiếp niệm vào hơi thở, con nghĩ đó là lạc thọ, con không chạy theo và lúc đó không có cảm thọ khổ. Con không biết là nó si chỗ nào?

Câu hỏi thứ hai, trong quá trình thực tập Mười sáu hơi thở, con thực tập được đến hơi thở thứ tư là thân và tâm của mình. Còn sau bước thứ tư thì con không biết thực tập như thế nào nữa. Tại vì ví dụ khi bắt đầu quán chiếu một cái gì đó thì con lại bị thất niệm, quán một hồi là tùm lum trong đầu con cho nên con thực tập đến hơi thở thứ tư. Xin thầy dạy cho con sau hơi thở thứ tư mình phải thực tập như thế nào? Dạ con xin cảm ơn.

Sư cô 2:

Kính bạch thầy, con có câu hỏi muốn thưa với thầy. Con cũng ngồi thiền, mỗi ngày con không thực tập nhiều nhưng ngày nào con cũng có thực tập. Con cũng quán niệm hơi thở, khoảng một thời gian thì con biết trước được một vài việc của mọi người hoặc là của con xảy ra, con cảm giác như nó xảy ra rồi. Nó không liên tục, không phải là nhiều nhưng mà một vài việc lúc ẩn lúc hiện, có lúc biết trước. Nên con muốn thưa với thầy là, nhờ thầy giải thích cho con.

Sư cô 3:

Kính bạch trên thầy và toàn thể đại chúng, con có một câu hỏi xin thưa. Thường trong thiền, các vị thiền sư dạy, khi ngồi thiền, nếu mình dùng tâm để quán các pháp như huyễn, như mộng, như hư không, đôi khi chúng con cũng có thực tập để cho tâm mình rỗng như hư không, hoặc là quán chiếu tất cả các pháp như huyễn, như hóa. Đôi khi con để tâm mình rỗng không, không nghĩ gì, thì thấy cái tâm nó bình hơn. Nhưng khi ra khỏi thiền, bị cảnh tác động thì cũng có một chút buồn phiền, phiền não và khi quán lại thì tâm yên hơn. Con thấy ngồi mà không nghĩ gì thì tâm lặng, như vậy có đúng hay không, thưa thầy?

Huynh đệ 4:

Dạ thưa thầy, con bạch thầy, xin thầy hoan hỉ chỉ dạy cho con. Trong lúc con ngồi thiền, đôi lúc con rơi vào trạng thái toàn thân thể của mình không có cảm giác. Cảm giác như hòa vào trong không khí , không cảm nhận được cảm thọ lên trên thân thể mình. Một hồi nữa thì bị ngộp thở, có lúc cảm giác mình không thở được. Có khi xuất hiện cảm giác hơi thở của mình bị dồn dập. Con tập trung vào hơi thở thì không trở về được, con bị ngộp không thở được, phải xả thiền, tức là chân tay mình phải buông lỏng ra liền thì mới thở lại được. Con hay bị trường hợp đó. Xin thầy hoan hỉ chỉ dạy cho con ạ.

***

Có hai người hỏi trùng một câu hỏi. Khi nghe Minh Thành nói trong cảm thọ không khổ không vui có si, tại sao như vậy? Chết là chết chỗ này, tu không tiến là do mình không thấy được chỗ này. Mình nghĩ rằng hằng ngày cảm giác đều đều là mình tu tập tốt rồi, nhưng không phải. Đó là đang ở trong si mê và vô minh nhưng mình không biết. Điều này rất thâm sâu và sâu sắc, nếu không thấy được, thì sự tu tập của mình không có bước đột phá.

Điểm thứ nhất Minh Thành muốn chia sẻ là về mục đích của sự tu tập trong tạng kinh Nikāya. Đó chính là Nhiếp phục và Đoạn tận Tham, Sân, Si – đây là mục đích của đạo Phật. Có rất nhiều bài kinh nói về vấn đề này, nếu không nắm vững điểm này, khi được hỏi đến thì mình không trả lời được. Đây là lời của bậc Chánh Đẳng Giác trong tạng kinh Nikāya: mục đích chúng ta tu tập là nhiếp phục tham, sân, si và đoạn tận tham, sân, si. Dứt tham, sân, si là thành tựu Niết-bàn.

Vậy bây giờ mình không biết tham, sân, si nó ở đâu thì làm sao đoạn tận, nhiếp phục được? Ví dụ có người muốn đoạn tận tham, sân; nhờ chỉ giúp tham, sân, si ở đâu, lúc đó mình sẽ nói sao trong khi mình cũng không biết. Vậy là mình dẫn binh đi đánh giặc, nhưng không biết giặc ở đâu, như vậy làm sao đánh? Chỗ này là chỗ rất quan trọng, cho nên Minh Thành muốn gửi đến huynh đệ những điểm cốt lõi rất quan trọng trong tạng kinh Nikāya, cũng như là Pháp hành. Như vậy, việc đầu tiên mình phải biết căn cứ địa của phiền não là ở chỗ nào? Nếu không biết tham, sân, si ở đâu thì làm sao mà nhiếp phục nó? Giống như mình đi đòi nợ, nhưng người thiếu nợ đó là nam hay nữ; già hay trẻ; mập hay ốm; đen hay trắng; cao hay thấp; ở đâu và tên gì - mình đều không biết, vậy mà đòi nợ ai? Cho nên, việc đầu tiên trong tu tâp là mình phải biết được chỗ cư trú của tham, sân, si. Muốn thấy được các pháp, thấy được hang ổ của phiền não, là mình phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. “Tất cả pháp hội tụ trong cảm thọ” – đây là trong bài kinh “Cội rễ của tất cả sự vật” trong tạng kinh Nikāya. Để cho rõ hơn các huynh đệ lên trang Linhquyphapan.vn nghe bài “Tham, sân, si ở đâu?”, Minh Thành giảng ở chùa Xá Lợi. Ở trong cảm giác mình, mỗi khi tham, sân, si sanh khởi lên, mình thấy cảm giác có thay đổi không? Nếu có nhìn, mình sẽ thấy có thay đổi hết. Đó là chỉ ra cái căn cứ địa của phiền não.

Bây giờ, giải quyết câu hỏi. Khi sân, mình dễ thấy lắm, sẽ đỏ mặt, tía tai. Còn khi tham cũng có thể thấy được. Mình sẽ bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời. Món đồ đẹp đề là “cấm sờ”, người ta để trong kiếng nhưng mình cũng rờ rờ vào đó. Đó là tướng biểu hiện của tham, của lưu luyến. Tướng của phiền não biểu hiện ra hết. Còn si là một cái rất là khó. Nói về cái tướng, trạng thái của si trước. Ví dụ như đang ngồi học, tự nhiên thân mình co quắp lại, cổ muốn quẹo quẹo xuống, đầu quẹo qua một bên, lúc đó mình không có kiểm soát nữa, mắt mình thì lờ đờ. Chỗ này thường thường là mình không có tỉnh giác chánh niệm để phát hiện ra cảm giác của si, lúc đó mình nhập cuộc với nó, bắt đầu nằm dài trên bàn luôn, nếu lắng nghe kĩ sẽ có một âm thanh rất lạ. Đó là tướng của si.

Chúng ta nói sâu hơn nữa, trong một cảm giác đều đều mình không thấy sân, mình không thấy tham, thì tại sao trong này có si? Si là không thấy được sắc uẩn này là tứ đại. Mình thấy rằng có cái “tôi”, và có cái “của tôi” thì lúc đó mình đang sống với si mê và vô minh. Lúc đó trí quán của mình không thấy rõ sắc thân này là tứ đại, là sắc do tứ đại tạo thành – đây là định nghĩa của kinh “Thủ chuyển”, định nghĩa về sắc uẩn. Mình phải thấy cái thân này là vô thường, là tứ đại, là sắc pháp, sắc uẩn, không có cái gì là “tôi”, không có cái gì là “của tôi” ở trong đây hết. Bằng trí sáng tỏ, tương ưng với pháp, lúc đó mới phá được si mê. Phải thấy được trong cảm giác đều đều của mình có chứa đựng si mê và vô minh. Nếu không thấy sắc này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại ; không thấy cảm giác này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại ; không thấy tất cả các suy tưởng trong nội tâm của mình là vô thường, là khổ, là do dự biến hoại, là duyên sanh; không thấy được nhận thức là vô thường, là khổ, là biến hoại, là duyên sanh pháp, thì lúc đó mình đang sống với vô minh, si mê. Phải thấy được đây là năm uẩn, không có cái “tôi”, không có cái “của tôi”, như vậy mới phá được vô minh và si mê của thân kiến.

Hằng ngày mình dẹp được suy nghĩ “tôi”, “của tôi” nhiều hay ít, hay là mình luôn luôn sống trong những suy nghĩ đó. Mình ăn, mình nghĩ là tôi đang ăn, món này ngon quá hay là món này dở quá. Mình nghe chuyện gì đó mình bực, mình nghĩ là tôi đang bực. Như vậy là mình không biết rằng lúc đó có một cảm giác khổ thọ sanh khởi, chứ không phải là tôi, đó chỉ là cảm giác mà thôi. Biết được như thế là mình thành tựu Trí tuệ Năm Uẩn và từ từ tách mình với cảm giác ra. Lúc trước mình nhập chung với cảm giác là một, cho rằng : tôi đang sung sướng, tôi đang khó chịu, tôi đang khổ, tôi đang bực dữ lắm, như vậy mình đang nhập chung với cảm giác, cho rằng là mình, của mình, đó là vô minh. Phải thấy được cảm giác là cảm giác, là thọ uẩn, cảm giác này là duyên sanh, cảm giác này vô thường, cảm giác này do sự kết hợp.

Ví dụ, do mình có lưỡi – thiệt căn, có món ăn – vị trần, có sự rõ biết về món ăn – thiệt thức. Căn, trần, thức là cái lưỡi, món ăn, và cái sự rõ biết. Ba pháp này hội tụ, giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc, ta gọi là thiệt xúc. Khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra cảm giác, và mình sẽ chết ở trong cái cảm giác này. Đây là Duyên Sanh Pháp, lộ trình vận hành của duyên sanh pháp. Từ cái lưỡi, có món ăn, sau đó mình gắp món ăn bỏ lên cái lưỡi và nhai, lúc đó có sự rõ biết của vị. Khi ba cái pháp này giao thoa, hội tụ, tiếp xúc với nhau thì lúc đó gọi là thiệt xúc, sự tiếp xúc của cái lưỡi. Khi tiếp xúc thì sanh ra cảm giác, nếu đó là món ngon, món ruột, mình khoái chí, lúc đó cảm giác lạc thọ, và ái sanh, dục sanh, nhưng mình không biết, đó gọi là sự vô minh, si mê.

Ngày nào mình cũng bị vậy nhưng mình không biết. Cứ tưởng tu là lên Chánh điện, đắp y hậu, mở kinh ra đọc, lúc đó là tu. Mình không biết rằng tu ngay trên cái lưỡi, tu là ngay cái lỗ tai, tu là ngay chỗ con mắt, tu là ngay chỗ tiếp xúc, cảm nhận, thậm chí ở trong suy tưởng của mình. Trong đó các pháp hiện rõ, vận hành như một bộ máy, như một công ty ra hàng trăm ngàn quy trình, vận hành một cách siêu hơn cả internet ở trên thế giới này, siêu hơn tất cả laptop, game,…vì những thứ đó chỉ là một phần tỉ tâm thức siêu đẳng của mình thôi. Nó vận hành khiếp lắm. Cho nên tâm ở trong sự yên định, mình mới nhìn thấy được các pháp đang vận hành, mà nó vận hành theo chiều vô minh.

Cho nên toàn bộ sự tu tập, phần lớn toàn là thiền quán. Trong tạng kinh Nikāya, pháp hành là thiền quán, chứ không phải ngồi im re cho nó đã, cái đó gọi là thọ, mình đang đắm trong cái thọ. Mình khoái cái thọ yên yên, đó là ái trong đó, nhưng đó là phiền não chứ đâu có tốt. Chẳng qua ở ngoài mình động, mình mệt, khi ngồi thiền thì được nhẹ, khỏe, nên ước gì giữ được cái này cho nó lâu. Khi mới vừa nghĩ vậy là thọ đó chạy mất tiêu. Vì đó cũng là đi tìm cảm giác, và bị dính mắc trong lạc thọ, nhưng lạc họ này đỡ hơn những lạc thọ kia. Lạc của thiền người ta gọi là Thiền Duyệt.

Như vậy ta thấy rằng ở trong cảm giác không vui, không khổ có sự si mê, vô minh ở trong đó. Nghe hiểu vậy nhưng chưa thấy rõ liền được đâu, quán thêm ba chục năm nữa. Về nghe chừng một ngàn bài pháp của Minh Thành giảng nữa, nhớ nghe từ Nhập thất chia sẻ. Cách đây khoảng 3-4 tháng thôi, Minh Thành không có đi mênh mông, thênh thang nữa, mà chuyên nhất tu theo tạng kinh Nikāya luôn. Như vậy là đã giải quyết câu hỏi thứ nhất.

Câu hỏi thứ hai, là về vấn đề có cảm giác biết trước một vài việc. Khi đó có ừng không? Thấy thích thích không? Chắc nhiều khi nghĩ mình giờ cũng ngon ngon rồi. Cái này có nhiều khía cạnh để nhìn, có khi là cái tưởng của mình thôi. Nhiều khi Minh Thành gặp cái gì đó giống như mình đã từng gặp, y hệt như cái gì mình đã từng trải qua rồi. Có khi là mình tưởng, cũng có khi là sự thật, do tâm có niệm, có định nên nó sáng. Mấy điều này không quan trọng, chỉ cần nắm vững Chánh Pháp để tu thôi.

Câu hỏi thứ ba, khi để tâm rỗng không, thì bình lặng, khỏe hơn, còn khi quán chiếu thì bị dao động là vì sao? Cái này nhiều người dễ bị lắm, thích ngồi im re, nhắm mắt lại. Cái đó gọi là ngồi trong hang quỷ, chứ không phải thiền quán của Đạo Phật. Cho nên khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt, trừ khi nào pháp quán tưởng cần thiết lắm mới nhắm chứ còn thường là mở mắt, nhưng không mở lớn hết. Còn nếu buồn ngủ mở lớn hết được, thậm chí trợn luôn, cần thiết thì lấy dầu xanh trét vô hai con mắt, cay cho hết ngủ. Mình quán chiếu, Như Lý Tác Ý chửi: “Ngủ bốn chục năm rồi bây giờ còn ngủ nữa hả ?” Ai siêng chửi là người đó tu tiến lắm. Mình Thành sẽ chỉ cho quý huynh đệ Như Lý Tác Ý, tức là mắng cái tâm của mình, mắng chửi tên tham dục, sân hận, si mê, giải đãi, không biết xấu hổ, nhục nhã. Phải chửi nó, chửi càng nhiều chừng nào, thì lúc đó càng vượt lên cao ; còn nếu yếu với nó, nó quật mình liền. Ngay trong tâm mình, tất cả đều là các pháp, tham ái cũng là một pháp, sân cũng là một pháp, bản ngã là một pháp ở trong tâm mình, chứ không phải mình. Lúc trước chưa tu, mình tưởng nó là mình. Nhưng tu rồi, mình nhìn ra đó là tất cả các pháp thôi. Lúc đó mình nói chuyện với nó được, tách nó ra được, và nhiếp phục nó được. Còn trước đây mình nhận nó là mình thì đành chịu, nhìn nhận nó là mình thì không nhiếp phục và chuyển hóa nó được. Cho nên, người nào siêng chửi thì người đó mau thành tựu Chánh quả. Phải chửi chính cái tâm của mình.

Ví dụ, tâm tham dục khởi lên, mình dùng Như Lý Tác Ý nói: “Đây là cái đồ bất tịnh, đây là tội lỗi, đây là thú vật, không có phù hợp với Thánh hạnh”.  Chửi mạnh chừng nào thì cái tâm đó hoảng sợ, khiếp sợ. Điều này rất quan trọng, cái này gọi là Như Lý Tác Ý. Pháp này xuyên suốt từ ngày mình tu cho đến khi thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải chuyện đơn giản, về đọc Tạng kinh rồi sẽ thấy Như Lý Tác Ý quan trọng lắm.

Ví dụ, buổi trưa tới giờ mình đi học, hồi nãy chùa cúng lễ Trai Tăng, mình là người lo nấu nướng, sắp quả đường này nọ. Tới giờ đi học, nó nói: “Nay mệt, trời mưa, coi chừng bệnh”. Nó nói đó, chính nó đó, chính hắn đấy! Lời nói đó là Hành Uẩn – lời nói thầm trọng nội tâm, nhớ cho kĩ, chỗ này rất là quan trọng. Nếu mình nói đó là tâm của mình là chết liền. Còn khi suy nghĩ về một người nào đó thì hình bóng của người đó hiện ra, đó gọi là Tưởng Uẩn, chứ nó không phải tâm của mình. Vậy mà mình luôn luôn nghĩ những hình ảnh, những lời nói là tâm của mình, vậy mới chết. Vì vậy, chỗ này là chỗ đi vào trong bóng tối, không có tuệ giác để soi sáng. Còn nhận rõ được cảm giác, hình bóng, những suy nghĩ, lời nói, nhận rõ ba cái trước, đó gọi là Thức Uẩn. Thức này thuộc về ý thức, còn tiền ngũ thức thì nói sau, đây là đang nói về thức thứ sáu. Thức thứ sáu này chỉ biết được lúc đó có cảm giác gì, lúc đó có những hình bóng gì trong nội tâm, và có những lời nói thầm, suy nghĩ gì, đó là ý thức. Ý thức, nó chỉ biết được thọ, tưởng, hành, ngoài ra nó không biết gì hết. Cho nên, đòi hỏi mình phải có công phu tu tập để nhận diện ra các pháp ở trong nội tâm của mình. Vì vậy, toàn bộ tạng kinh Nikāya, Đức Phật nói về trí tuệ thấu suốt năm uẩn. Chính chỗ năm uẩn này là chỗ chết của mình, cứ tưởng đây là “tôi”, đây là “của tôi”, đây là “tự ngã của tôi”, mà không biết đều là năm uẩn. Khi thành tựu trí năm uẩn này thì mình phá được một cái gọi là si mê ngàn đời, tỉ kiếp, một cái nhận lầm. Danh từ chuyên môn gọi là Thân Kiến – kiến chấp về thân.

Trở lại vấn đề, nó nói: “Trời ơi, mệt quá, hôm rồi thức khuya, sáng làm việc, sắp xếp này nọ kia, trời mưa nữa, đi học là có thể bệnh”, đó là hành uẩn nói chuyện. Mình phải nói: “Mình đi tu để làm gì ? Mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết, đi lên thành phố, đăng kí vào trường này để học, mà tại sao tới giờ học mình muốn ở nhà?” Đập lên đầu nó, kí nó cái cốp, tự mình kí mình, kí một cái là sửng sốt, xách xe chạy đi liền. Đó là Minh Thành tiết lộ cho quý huynh đệ biết một điều rất là quan trọng là Như Lý Tác Ý. “Bỏ hết cha mẹ để sân hận với nhau hả, để đố kị với nhau hả, để ganh tị với nhau hả, để tìm cái dở, cái xấu của nhau hả. Si mê!”. Chửi nó như vậy gọi là tuệ lực, sức mạnh trí tuệ: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Cái gọi là hùng lực, sức mạnh của trí tuệ là nhận ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức vận hành, có những lời nói mạnh để đánh đập, đạp đổ, đó gọi là tuệ lực – sức mạnh của trí tuệ. Nào giờ tu, có thấy cái này không? Có, nhưng mình không biết nó là sức mạnh của trí tuệ. Thường thường mình bị hành uẩn lật “chìm thiền”, “lủng thiền” luôn. Vào ngồi thiền nhắm mắt lại, tu 1-3-5 năm rồi nhưng vẫn ngồi kiểu đó, không có chiến đấu, phấn đấu, không có nỗ lực. Đau đớn thay, hoang phí thay, hổ thẹn thay, thanh xuân của mình sẽ đi qua. Lâu ngày mình lên Ni sư, cuối cùng mình lên Ni trưởng, cuối cùng sau đó mình lên Ni cố, và cuối cùng còn một chỗ lên nữa là không ngồi dưới đất lên “bàn” ngồi, thêm chữ “thờ” nữa.

Cho nên Như Lý Tác Ý quan trọng lắm. Phải thường sử dụng nó, nó giống như là cái roi quất con trâu, là sợi dây để nắm mũi con trâu giựt. Đó là hình ảnh trong bài kinh “Đàn tỳ bà”, Tương Ưng bộ kinh, Đức Phật có dạy về phương pháp chăn trâu. Những điều này trong kinh Nikāya có hết, sau này Thiền Tông mới mượn và làm theo, nhưng không chính xác như lời Đức Phật dạy. Thành ra, học trong tạng kinh Nikāya là mình học cội nguồn, cái gốc, cái tủy của Phật Pháp, cái lõi của Chánh Pháp. Ví dụ như tới giờ công phu, tới giờ ngồi thiền, nó muốn ngủ thêm, mình nói: “Ngủ ngàn năm không nghe chân diệu pháp hả? Muốn ngủ luôn một ngàn năm hả? Ngủ bảy ngàn năm rồi chưa đủ hay sao?” La nó mạnh lên, tự động là bật dậy liền, rồi đắp y hậu, súc miệng, vào ngồi thiền. Mình như võ sĩ Nhật Bản vậy, mạnh mẽ lên. Cho nên nhiều khi mình thấy bên Việt Nam tụng nghe giống như gần cấp cứu, đi vô bệnh viện. Mà qua bên Nhật Bản, nghe rất mạnh mẽ. Bởi vậy người khác nhau tinh thần làm việc, cách nói chuyện, cách chào cũng khác nhau. Người ta chào cúp đầu xuống gần tới đầu gối, còn mình riết gặp cứ gật gật, gặp thầy giáo thọ đi ngang thì cười một cái, có khi không dòm, giả bộ không thấy. Đó là cái tệ, không học pháp cung kính, không kính những bậc đáng kính. Đây là thiếu học pháp, nên không có thành tựu giới, dẫn tới không thành tựu định, không thành tri kiến như thật. Một khi không thành tựu tri kiến như thật thì không bao giờ nhàm chán, cho nên không li tham, cuối cùng là không giải thoát. Đây là quy trình, định lí của tạng kinh Nikāya mà Đức Phật dạy. Cho nên phải có đầy đủ học pháp, đầy đủ sự cung kính, đầy đủ sự hổ thẹn, đầy đủ sự sợ hãi đối với các lỗi nhỏ nhặt, tôn trọng các học pháp, chấp nhận các học pháp.

Cho nên học thì mới thấy được sự tu hay lắm, không đơn giản như mình suy nghĩ. Vì nghĩ đơn giản như vayah nên lúc ngồi thiền thấy cái tâm bình bình, mình để cho cái tâm khỏi suy nghĩ gì, cho nó khỏe. Đó là do tính của chúng sanh giải đãi, nhu nhược, yếu hèn, làm biếng, không muốn động não, không muốn suy tư, quán chiếu. Đọc hết trong tạng kinh Nikāya mình thấy Đức Phật toàn vận dụng tuệ quán. Sau này các huynh đệ học thì thấy, cái lưỡi thôi mà quán hết những quy trình như vậy, nhưng đây là mới nói gọn. Chứ nói hết mười hai nhân duyên thì mình tưởng đâu là thần chú nên mình nói nhiêu đây thôi, vì mình thích những gì đơn giản. Tại vì rất thích giản đơn, cho nên mình làm chúng sanh mãi mãi. Cứ nghĩ là: “Một câu A Di Đà Phật cho khỏe, học chi nhiều quá, không nhớ đâu. Chữ nhẫn này suốt đời làm không xong”. Cho nên cứ làm phàm phu vô lượng vô biên kiếp, không chịu hướng thượng; không chịu cần, cầu, cung kính; không chịu tiến lên; không chịu tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, nỗ lực. Cho nên Phật Pháp sẽ hoại diệt cũng trong tay người xuất gia mình, bởi vì mình không có tinh tấn, nỗ lực, chỉ muốn đơn giản, học khó thì nghĩ: “Nói chi khó quá vậy, tu gì khó vậy”.

Cũng như khi đến một ngôi chùa, chẳng lẽ xuống đến nhà bếp, ăn tô bún riêu rồi xong đi về, là coi như đã đi hết ngôi chùa? Ai hỏi thì nói đi chùa rồi. Hỏi lên chánh điện lạy Phật chưa thì nói chưa. Hỏi làm cái gì, thì trả lời là vào ăn tô bún xong rồi về. Vậy thì sao nói mình đi Chùa được. Mình phải biết hết chánh điện, nhà tổ, giảng đường, nhà bếp, phòng tiếp khách, nhà kho,… như thế nào. Phải biết hết như vậy mới là hiểu tổng thể một ngôi chùa. Còn đằng này chỉ thấy chút xíu, rồi cho rằng ngôi chùa đó chỉ có cái nhà bếp thì không chính xác. Sự tu học thành tựu Chánh Tri Kiến đại viên mãn cũng giống vậy. Mình học được chút xíu Phật Pháp, thấy đó là quan trọng nhất, là ngon, không nghe gì nữa thì đây là chỗ chết của biết bao người. Vì vậy không đi được trên Thánh đạo, không đạt đến Thánh quả. Nếu chỉ cần biết một điều, thì Phật nói Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo làm gì? Phải biết pháp của Phật không thêm một chữ nào, không bớt được chữ nào: “Này các Tỳ-kheo, nếu có người nào nghĩ rằng thêm vào, để rõ biết, làm sáng tỏ Như Lai là người đó thấy mà không thấy. Này các Tỳ-kheo, nếu có người nào nghĩ rằng bớt lời của Như Lai để làm sáng tỏ giáo pháp này thì người đó thấy mà không thấy ”. Cho nên Minh Thành có giảng bài kinh “Thanh tịnh ” ở trong Trường bộ kinh, với tựa đề: Không thêm không bớt. Mình phải học hết Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, chứ không thể học một cái rồi cho đó là nhất, dẹp hết mấy cái kia, như vậy rất nguy hiểm. Giống như vào chùa mà chỉ biết nhà bếp thôi, là mình chết ngay, vì không có tri kiến đại viên mãn về Phật Pháp.

Trong sự tu tập cũng vậy, tu được một chút, nói thích môn đó nên làm chút xíu vậy thôi, mình không y cứ vào tất cả những lời dạy của Đức Phật ở trong Tạng kinh Nikāya thì vĩnh viễn không đi trên Thánh đạo, thì làm sao tới Thánh quả. Ví dụ con đường đó đến Linh Quy Pháp Ấn. Mình trải qua hai trăm mấy chục cây số, tới Bảo Lộc, rồi xuống dốc, tới ngã ba Đại Bình, rồi phải quẹo vào, đi thêm mười bảy cây số, rồi tới chân núi, phải bò lên. Lên tới núi, dừng lại ở chỗ nhà khách, thư viện, rồi tiếp tục tới chỗ Quán Chiếu Đường, đứng trước cổng trời, lúc đó mới thấy bao la thiên địa. Phật Pháp cũng giống vậy, không được “cử nhất phế chư”, tức là được một cái rồi bỏ hết mấy cái khác, điều này rất nguy hiểm. Phải học cho viên mãn, thành tựu thì mới tới Thánh đạo, Thánh quả, còn nếu không vĩnh viễn tu học không bao giờ có được kết quả giống như Đức Phật nói. Cho nên, phải chịu khó.

Vì vậy, quán chiếu khi ngồi thiền thấy khó lắm, tâm bị dao động nên ngồi yên cho khỏe, nhưng không phải vậy. Vấn đề không phải khỏe hay không khỏe, mà đó là đi tìm cảm giác chứ không phải tu. Tu là để thấy đạo, thấy pháp, thấy rõ bản chất sự thật của thân, tâm, ngũ uẩn. “Này các Tỳ-kheo, dầu cho da thịt, máu, xương có khô kiệt đi nữa, thì vẫn cần sự tinh cần giới, dũng mãnh giới, tinh tấn giới; vẫn cần sự tinh tấn sự nỗ lực để chứng đắc những điều chưa chứng đắc, để chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, để thành tựu những điều chưa thành tựu”, phải tu như vậy. Đó là lời của Đức Thế Tôn, Chánh Đẳng Giác. Phật còn tu như vậy, còn mình thì nói thôi, tu nhiều mệt lắm. Như vậy là đâu có tương ưng lời Phật dạy. Cho nên Phật tu càng ngày càng giải thoát, chỉ còn bình bát với cái y. Còn mình tu riết càng chở xe tải, mỗi lần dời chỗ ở là mướn xe bự chở, một chiếc chở không hết. Đó là không có tương ưng. Thế nên, mình đi ngược với lời Phật thì sao mà thành tựu trí tuệ như Phật nói. Chỗ đó là cái chỗ sâu sắc, nói rộng ra như vậy.

Có một vị hỏi rằng lúc ngồi thiền có cảm giác hòa tan ra nhưng mà không thở được, hơi thở bị dồn dập. Đó là Khinh An, mình cảm thấy nhẹ nhàng, lâng lâng giống như bông gòn, có khi thấy thân mình như nhấc bổng lên. Phải ghi nhận cảm giác khinh an đó, không đắm trước và chấp thủ vào cảm giác đó. Đừng nghĩ rằng mình được cái gì, mình chứng cái gì, mình đắc cái gì, mà đó là khinh an thôi. Còn thở không được, hơi thở dồn dập, là tại vì mình muốn điều khiển hơi thở. Mình cứ để hơi thở nó vào ra tự nhiên. Nhận biết rõ hơi thở vào ra, mình không xen vô, không điều khiển hơi thở, không kéo nó dài ra, không rút lại cho ngắn hay làm gì khác là không được. Cho nên, nhiều người tu tập hơi thở bị cái này lắm. Người này cứ muốn xen vô, thích xen vô chuyện của người ta, ở ngoài xen quen rồi tu cũng muốn xen nữa. Khi xen như vậy, mình làm cho hơi thở không được tự nhiên nữa. Lúc đó nó dồn dập, mệt, mình xả ra. Phải tập từ từ, nhận biết hơi thở vào, hơi thở ra, rõ biết thôi, đừng xen vô.

Có một cô nói tập được hơi thở thứ tư rồi nhưng mấy hơi thở sau chưa tập được. Minh Thành giới thiệu một bài Nhập Thất Chia Sẻ, đó là pháp hành chỉ cách ngồi thiền và cách quán chiều năm uẩn. Pháp hành này là pháp hành trong tạng kinh Nikāya, tóm thâu tất cả các pháp hành, đó là con đường của Đức Phật đi. Nếu mình tu đúng theo như vậy thì có thể thành tựu được Thánh quả ngay trong kiếp hiện tại, có thể phá vỡ được cái nhìn sai trong thân năm uẩn này, có thể đoạn trừ được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Câu hỏi: “Thưa thầy, cho con hỏi Rừng Thiền nơi thầy sắp mở tu pháp thiền gì, có giống với thiền Vipassana, tức là thiền nguyên thủy không?”

Xin thưa, Minh Thành tu theo kinh Nikāya, không phải tu theo mấy hệ thống của bây giờ. Hệ thống bây giờ người ta lấy một phần nhỏ theo vị này, vị kia, chia ra chỗ này quán thân, chỗ này quán thọ, chỗ này quán tâm,…còn Minh Thành thì không chia như vậy. Minh Thành lấy pháp năm uẩn là tóm thâu đầy đủ hết Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo. Thành ra nếu sau này đủ duyên mở, thì tất cả đường lối học và tu là theo những lời dạy của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Pháp hành quán chiếu năm uẩn tóm thâu hết chứ không chia riêng ra một bộ phận nhỏ phồng, xẹp, hay chỉ là hơi thở thôi mà phải tu đầy đủ.

Cũng như phương pháp Quán Thân, trước nay mình tu ba phần đầu, bỏ ba phần sau, trong khi ba phần sau rất là quan trọng. Thường thường mình chỉ tu ba bước đầu: Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động. Ba bước sau cực kỳ quan trọng là: Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược và Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, thì mình bỏ qua. Cho nên tu nhưng mình không phá trừ được thân kiến, không diệt được tham ái, tham dục, vô minh. Ba bước đầu với phương Tây là đầy đủ để giúp cho người ta sống nhẹ nhàng thỏai mái. Nhưng mình tu đâu phải tới chỗ đơn giản vậy, mà phải phá luôn chấp ngã, vô minh, tham ái, cho nên phải đầy đủ, riêng phần quán thân này là sáu phương diện.

Cho nên Đức Thế Tôn là Toàn Giác, Chánh Đẳng Giác, Ngài đánh một trận tuyến tâm linh, đánh dồn dập, đánh tan tành, đánh tới tấp, đánh tơi tả, đánh không còn manh giáp, đó gọi là sát tặc. Còn bây giờ khi tu, mình khoái môn nào là chỉ lấy một môn và cho rằng là đủ, vì vậy không đi tới Thánh quả, tại vì phiền não của mình trùng trùng vô tận, riêng cái tham đã là đủ thứ kiểu hết. Nếu mình không thành tựu trí tuệ, không nắm vững được những phương pháp thiện xảo của Đức Phật, thì lúc đó không biết lấy cái gì trị cái gì, mình lấy lộn chỗ. Ví dụ như khi mình nấu nồi nước lớn, nhưng lại lấy bếp ga bé xíu, thì nấu cỡ ba chục năm vẫn chưa sôi. Cho nên tu hoài không có kết quả là tại vì mình không biết pháp, không rõ pháp, không biết sử dụng cái nào, cái nào cần, cái nào nên, cái nào tương xứng với cái nào. Vì vậy khi học hết mình có một cái thấy biết viên mãn, pháp hành trọn vẹn, cần cái gì mình lấy cái đó ra. Giống như trong tiệm thuốc, sổ mũi thì phải đưa thuốc sổ mũi chứ không phải tiêu chảy, hay chỉ có một món thuốc thôi, ai bệnh cũng đưa một món thuốc đó thì thật nguy hiểm. Nhiều người nói thôi dẹp hết, chỉ cần “A Di Dà Phật” thôi, thì rất nguy hiểm, không đúng lời Đức Phật dạy. Cho nên học trong tạng kinh Nikāya mình sẽ thấy có từng pháp để trị từng loại phiền não, vô minh, rất là hay.

Câu hỏi: “Thầy cho con hỏi, lúc mới tu học con thấy vui thích lắm. Tu học lâu con cảm giác sao giống như đứa bé lạc vào rừng, không biết đường ra. Con xin thầy giải thích giúp con ạ.”

Trước đây Minh Thành cũng có cảm giác như vậy, lúc đó mình không biết phải đi hướng nào vì nhiều hướng quá. “Thưa thầy, niệm Phật con thấy an lạc lắm. Trì chú con cũng thấy ô-kê lắm. Tụng kinh thì con thấy nhẹ nhàng. Ngồi thiền thì con thấy đã lắm”. Đó là ba phải, cái gì cũng làm nên cuối cùng không có cái nào hết. Tại mình không xác định, không biết Thánh đạo là gì thì làm sao biết phiền não nằm chỗ nào, không biết căn cứ địa của nó, không biết dùng cái gì trị. Mình học tùm lum mà lời Đức Phật lại để qua một bên và cho rằng đó là Tiểu Thừa, không quan trọng. Điều này rất nguy hiểm, mình vô tình phỉ báng Đức Như Lai. Trong Tạng kinh Nikāya là lời dạy gốc của Đức Phật, phải học ở trong đó, phải để tấm lòng và trái tim vào trong đó, thì mình sẽ thấy được đạo lộ giải thoát, con đường tu tập. Tất cả kinh sách khác để qua một bên hoặc khoan hãy học. Đầu tiên là đi sâu vô lời Phật dạy trước đã, mình sẽ thấy. Khi đã nắm vững, học kĩ tạng kinh Nikāya rồi, nếu mấy huynh đệ lười biếng thì cứ nghe mấy bài của Minh Thành. Nghe từ bài Nhập Thất Chia Sẻ trở về sau trong bốn tháng nay, khoảng một trăm bài Minh Thành giảng thuần túy về tạng kinh Nikāya và có pháp hành ở trong đó. Mấy huynh đệ nghe thì quý huynh đệ lấy ba chục năm của Minh Thành đi cầu học khắp trong nước, ngoài nước, quốc tế, trên thế giới. Thật ra đọc tạng kinh Nikāya để hiểu cũng khó lắm, đòi hỏi phải có tri kiến về Phật Pháp, cũng như thực tập tương đối sâu sắc, vững, thì mình mới hiểu nổi lời của Đức Phật. Cho nên hãy để tâm nghe từ bài Nhập Thất Chia Sẻ, cứ coi bài đó là ngày mấy, từ ngày đó tính lên những bài trước đừng nghe. Bởi vì những bài trước chưa nhất hướng, còn bây giờ đã nhất hướng, rõ ràng đạo lộ tu tập. Quý huynh đệ nghe rồi sẽ thấy được kim chỉ nam, thấy được đạo lộ, Đức Phật gọi là con đường cổ xưa.

Kết luận buổi nói chuyện hôm nay, Minh Thành nhắc lại một bài kinh của Đức Phật. Giống như một người đang đi ở trong rừng, phát hiện ra một lối mòn cũ kĩ cổ xưa. Người này đi theo lối mòn, cứ đi như vậy, tự dưng người này giật mình vì nhìn thấy trong khu rừng có một ngôi thành trì, tòa lâu đài cổ xưa rất cao, rất lớn, rất rộng, rất vĩ đại, hoành tráng, có nước chảy, có suối, có hoa, có cỏ, rất đẹp. Ngôi thành trì này bỏ hoang không ai biết, người này mới trở về tâu với nhà vua. Nhà vua dẫn quân lính tới, thấy đẹp liền thiết lập cung điện ngay chỗ đó, làm cho nơi đó phồn vinh, thịnh vượng, trở thành một quốc gia hưng thịnh. Người phát hiện con đường cổ xưa đó là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vị vua đó chính là tất cả chúng ta. Đức Phật đã phát hiện và chỉ lại con đường đó, nếu chúng ta cứ y theo như vậy mà đi thì sẽ tới được thành trì an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn./.