Sự vận hành của tham - sân - si
SỰ VẬN HÀNH CỦA THAM SÂN SI
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò: PAGEREF _Toc59992406 \h 2
II. Pháp trần: PAGEREF _Toc59992407 \h 5
1. Tham thụy miên: PAGEREF _Toc59992408 \h 7
2. Sân thụy miên: PAGEREF _Toc59992409 \h 8
3. Si thùy miên: PAGEREF _Toc59992410 \h 9
4. Vì sao tham? Thức ăn của tham? Làm sao diệt tham? PAGEREF _Toc59992411 \h 9
5. Vì sao sân? Thức ăn của sân? Làm sao diệt sân? PAGEREF _Toc59992412 \h 10
6. Vì sao si? Thức ăn của si? Làm sao diệt si? PAGEREF _Toc59992413 \h 11
I. Dặn dò:
Hôm nay chúng ta tiếp tục hỏi đáp hay ôn thi? Chúng ta nên xem lại bài Con đường tuần tự hay là Đạo lộ tuần tự tu tập. Trong đó có mấy bước? Mình trình bày bảy bước đó, sau đó mình ứng dụng vào đời sống tu học thực tiễn.
Đầu tiên là giữ giới hạnh…Ngoài bảy bước thì còn nội dung gì? Là tứ thiền, mình chỉ nói một câu thôi không cần trình bày, ứng dụng những nội dung trên vào đời sống sinh hoạt hằng ngày trong thiền môn, mình ứng dụng như thế nào, ví như mình tâm đắc ra sao. Giờ mình phải hiểu giữ giới hạnh, hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống là như thế nào, những gì thiết yếu nhất, tinh hoa quan trọng nhất mình phải ghi ra, phải học thuộc lòng không được lật tài liệu vì có tới 90 phút làm bài. Tiếp theo là Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác như thế nào, từ bỏ năm triền cái ra sao mình phải ghi ra, và phải có ứng dụng những điều trên vào đời sống thực tế như thế nào. Ví dụ như giữ giới hạnh cho ví dụ trong đời sống thực tế, hộ trì căn rồi đến tiết độ trong ăn uống, cái nào mình tâm đắc nhất thì mình khai triển cái đó nhiều nhất, vậy tiết độ trong ăn uống là như thế nào, khi ăn phải ăn như thế nào, liên hệ đời sống thực tế.
Có hai phần, phần một trình bày về lý thuyết, trong kinh Đức Phật dạy, phải trình bày được phần đó, phần thứ hai là ứng dụng vào thực tiễn, phần đó là phần của mình thực tập.
Các bài kinh trước đã có giải thích, còn bài Đạo lộ tuần tự tu tập là một sự tổng kết tất cả những cái trước nay mình đã học cho có hệ thống, có trình tự, mình tu thì đương nhiên mình phải giữ giới, hộ trì căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý của mình thì mình phải đừng để nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì làm sanh khởi ra, những tham ưu, những ác bất thiện pháp thì mình phải nhiếp phục những nguyên nhân đó.
Tiết độ trong ăn uống không phải là để mình vui đùa, để hưởng thụ, để đam mê, ưa thích, làm đẹp. Mình phải sử dụng đúng từ của Đức Phật, không dùng từ của mình được, sau khi mình ứng dụng vào đời sống thực tế thì lúc đó mình mới đưa từ của mình được.
Phần đầu lúc nào cũng là phần kinh văn, tiếp theo là chú tâm cảnh giác như thế nào, chánh niệm như thế nào, hằng ngày lúc ngồi hay đi thì đầu buổi đêm, giữa đêm như thế nào, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp như thế nào, đây mới là Phật pháp cơ bản, thật sự là gốc rễ của giáo pháp, mình nắm được những cái này là cả một đời tu của mình hành trì, không ra ngoài những chữ này.
Viễn ly là chọn những nơi xa vắng, vậy ứng dụng vào những đời sống thực tế như thế nào? Khi mình ăn thì phải kiểm soát, tâm dục tham ái của mình trong khi ăn như thế nào, trong khi mình đi đứng, mình chánh niệm như thế nào? Nên những phần này là những phần thực dụng của pháp học và pháp hành, tất cả người tu nào cũng phải biết, không biết những điều này thì không thành tựu một người tu đúng nghĩa.
Vậy nên chữ hộ trì căn ở đây là khi con mắt mình tiếp xúc với sắc, tai mình nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm thì đừng cho tâm của mình dính mắc vô, nên câu không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng tức là sự nắm giữ đó là sự dính mắc, chấp thủ.
Ví dụ như giờ mình nhìn thấy một người đó, tự nhiên mình chỉ nhìn thấy mặt, dáng vẻ mình thấy không thích, không ưa, thấy người này sao vô duyên, ăn nói kì cục, hành động sỗ sàng, hoặc là người tu hay người không tu, tự nhiên mình thấy có một sự khó chịu trong này sanh khởi lên, thì đó là sự tiếp xúc sanh ra cảm giác.
Trong lúc đó mình đừng nắm giữ tướng đó, đừng nắm giữ cảm thọ sân hận đó mà mình phải tác ý thêm một người bạn tốt hay một người thù tốt, biết đâu đây cũng là oan gia trái chủ, những nghiệp trong quá khứ của mình, người ta chưa nói gì với mình mà mình nhìn thôi đã thấy ghét người ta. Tâm sân này lại làm hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, tâm sân này đốt cháy mình chốt cháy người, làm cho mình bất an, người bất an.
Vậy thì mình tẩy sạch cảm thọ sân hận và phá tan hình ảnh, tưởng về người đó, hình ảnh của người mình cảm thấy khó chịu đó phải phá tan suy nghĩ đó, nghĩ tưởng, cảm giác đó và mình làm cho mình nhìn thấy người đó và không cho cảm giác sân hận, khó chịu, bực bội sanh khởi, phá tan cảm thọ, suy nghĩ đó. Mình phải nghĩ là mình là người đáng thương, người kia cũng là người đáng thương.
Chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, đừng để sự thương ghét, bản ngã sanh khởi, giờ nếu nói người đó thấy ghét thì thấy người dễ thương thì mình có bị dính mắc nữa không? Như vậy có bị nắm giữ tướng chung, tướng riêng không? Điều đó nhỏ nhưng thật sự không nhỏ, tâm chống đối rất nguy hiểm, phải nhìn ra được tâm tư của mình, đó không phải là chống đối với Minh Thành mà chống đối với pháp, pháp đó là thầy của chư Phật nên những suy nghĩ, lời nói đó tạo cho mình mất nhân duyên, Chánh Pháp về sau, trong hiện tại và tương lai. Vì những cái mình được học ở đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, không được sai một chữ, chỉ cần sai một chữ thì pháp sẽ bị đảo lộn.
Vì vậy, phần lý thuyết ở trên là phải giống như trong kinh, phần vận dụng trong đời sống thực tế thì lúc đó mình mới viết sự thực tập của mình trong mức độ nào. Nên hằng ngày cái thấy, cái nghe của mình, cái ngửi, nếm, tiếp xúc của mình là hết sức vi tế, nhanh, mình không kiểm soát được, nên có khi mình phát biểu lên hoặc suy nghĩ, hành động trong vô minh mà mình không biết, tự nhiên sanh ra hành, tức là trong sự không sáng suốt nhìn thấy năm uẩn đó phát ra một suy nghĩ, lời nói, hành động thì hành động đó là hành động của nghiệp, vô minh, duyên hành, hành đó là hành nghiệp, nhưng việc này là bất cứ mọi lúc mọi nơi, không phải chỉ quá khứ không.
Vậy nên khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân tiếp xúc có rất nhiều những ác nghiệp bất thiện pháp, tham, sân, si mà mình không biết, trong lúc đó mình phải phòng hộ, nếu không phòng hộ thì suốt ngày mình vận hành trong tham, sân, si, bản ngã không. Khi mình thực tập nhận diện năm uẩn là căn bản nhất để mình nhận diện được thân tâm của mình và từ nhận diện năm uẩn thì những cái này mình tu mới có kết quả, vì năm uẩn là thân tâm của mình.
Giờ cần một người lên giải thích ý nhận thức các pháp xem sao, hôm trước chúng ta đã có giải thích rồi, giờ nói chưa có là vọng ngữ, do không chịu chú tâm lắng nghe, không chịu ghi bài.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị và thân đụng chạm và giờ thì ý nhận thức các pháp là nhận thức gì? Là nhận thức pháp trần, là thọ, tưởng, hành, vậy hãy cho một ví dụ về đó. Mời khổ hạnh đại sư.
Phật tử thứ nhất:
Bạch thầy, ý nhận thức các pháp là những pháp trần hiện khởi trong tâm mình, ví dụ như đang ngồi thiền mà bụng đói thì trong đầu mình hiện khởi một tô mì đang bốc khói thì khi đó ý nhận diện được là nó đang khởi lên hình ảnh của một tô mì, đó là ý nhận thức pháp trần.
Nên nói rõ hơn chút nữa! Về cả thọ, tưởng, hành, lúc đó như thế nào?
Khi hình ảnh tô mì hiện lên thì sẽ có cảm thọ bụng đói và rất muốn ăn, lòng mình thúc giục là muốn ăn, rất thèm và cứ nghĩ đến tô mì đó, trong tưởng của mình ngửi được cả mùi thơm của tô mì, trong tưởng hiện khởi những cái mình đã tiếp xúc qua, hiện khởi lên sắc, thanh, hương, vị, xúc của tô mì.
Phật tử thứ hai:
Thưa thầy con chỉ nói theo đúng ý thầy giảng thôi, không nói ngoài vì sợ nói thì sai pháp, càng nói càng sai, vì tụi con đang trong quá trình tu tập. Về thọ thầy đã giảng cho con có ba loại thôi là khổ, vui, không khổ không vui. Về tưởng, khi thầy đưa ra ví dụ là khi mình hình dung ra, mình vừa nói là “Cha mẹ không biết giờ này làm sao?” thì ngay lúc đó hình bóng của cha mẹ trong tâm của mình hiện ra, là hình bóng của cha mẹ đi như thế nào, làm việc gì đều là tưởng trong tâm mình. Về hành, những sanh diệt lúc mình làm thì mình quên, nhưng khi ngồi lại thì mình vẫn nhớ hình ảnh của cha mẹ ở trong tâm của mình thì đó là sự vận hành của tưởng. Ba cái thọ, tưởng, hành này tác động làm cho người mình, ngũ uẩn vận hành, rất chi li mà mình không triệt phá được thì rất khó tu.
II. Pháp trần:
Sư phụ giảng giải:
Phật tử Hương Tuệ nói gần đúng rồi, chỉ có một cái nữa chưa nói rõ về cái hành nhưng như vậy là tốt rồi. Việc này rất quan trọng mà không chỉ bài thi mà để mình ứng dụng khi tu, tới giờ này còn chưa nắm được pháp trần là không được.
Vậy pháp trần này là gì? Là thọ, tưởng, hành. Giờ mình lấy ví dụ khi nãy của cô nói. Khi mình đang ngồi thiền hay đang ngồi học bài, mình để ý trở lại trong thân mình thì thấy có vẻ là đói bụng, thì có hình bóng của tô mì, thì hình bóng đó là tưởng, xuất hiện cảm giác đói bụng, nếu ăn thì cảm giác ngon, suy nghĩ muốn đi ăn, muốn đi nấu mì, chọn mì nào đó. Khi đó tất cả những việc đó là pháp trần.
Lúc đó thì mình có rõ biết là mình đang có hình bóng tô mì, đang có cảm giác, suy nghĩ như vậy thì đó là ý thức. Mà mình để ý lại thì mình mới thấy, không để ý là mình không thấy, nếu mình chỉ để ý bên ngoài thôi thì mình sẽ quên việc đói bụng.
Một ví dụ khác, mình đang ngồi học kinh hay ở trong phòng một mình, thì bỗng nhiên mình để ý lại trong tâm mình thì nhìn thấy hình bóng của sư muội lúc sáng nói mà cãi lại. Hình bóng của người mới vào tu, còn nhỏ và tu sau mình, mà mình nói đã dám cãi lại, cảm giác khó chịu sanh khởi, suy nghĩ bực mình, khó chịu. Lúc đó thì mình có rõ biết được hình bóng người đó, cảm giác và suy nghĩ như vậy có rõ biết không? Thì ba cái trên gọi là pháp trần.
Những việc này hằng ngày, hằng giờ có không? Hay buồi chiều đang đi lòng vòng trong chùa, đi kinh hành thì tự nhiên nhớ lại “Hôm qua mình có gặp người đó dễ thương!” thì hình bóng của người đó hiện ra, cảm giác hỷ thọ, suy nghĩ muốn gặp lại thì lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ như vậy mà sở dĩ có được là do sự để ý lại trong tâm của mình. Đó là ý nhận thức pháp.
Mình đang ngồi thiền thì tự nhiên mình nhớ về cha mẹ, hay tin cha mình bệnh hoặc mẹ bệnh, thì hình bóng cha mẹ hiện ra, có cảm giác khó chịu, lo lắng, có suy nghĩ “Không biết cha mẹ có sao không, như thế nào, bệnh ra sao?” Lúc đó mình rõ biết được các việc này đang diễn ra, là do sự để ý lại, đó là ý nhận thức các pháp.
Những ví dụ nãy giờ gồm có tham, sân, si, ái, người mình giận là sân, tô mì là tham, người dễ thương là ái… Pháp trần có thiện và bất thiện, nếu mình suy nghĩ những cái làm tăng trưởng thiện pháp, thì đó được gọi là tu tập, nếu như mình nghĩ cha mẹ mình đang bệnh thì phải cố gắng tu tập, tinh tấn, thành công trong sự tu học, thành tựu trí huệ thì mình mới báo ơn cho cha mẹ, suy nghĩ đó gọi là tu tập tâm. Còn suy nghĩ về người dễ thương khi nãy muốn tiếp xúc, muốn gặp gỡ, muốn này kia thì pháp ô nhiễm sanh thì đó gọi là tâm không tu tập.
Cũng là pháp trần nhưng là suy nghĩ của tu và suy nghĩ không tu, là suy nghĩ của thối đọa và tăng thượng. Đây là không có người không có cảnh gì mà chỉ một mình mình thôi, mới gọi là pháp trần, tức là những cái đã tiếp xúc rồi, giờ hiện khởi trong tâm thì đó gọi là pháp trần. Còn nếu mình đứng gặp người đó thì lúc đó gọi là sắc, sau khi trở về mà hình bóng người đó vẫn còn trong tâm thì đó gọi là sắc tưởng. Hình bóng của người làm mình tức giận trong tâm thì gọi là sắc tưởng, cảm giác giận khi nãy giờ nhớ lại vẫn còn thì những cái đó là pháp trần, là những cái đã tiếp xúc rồi, giờ hiện khởi trở lại trong tâm, gọi là ý nhận thức các pháp, ý là ý căn.
1. Tham thụy miên:
Như vậy một ngày xảy ra khoảng bao nhiêu lần? Vô số lần mà mình không đếm được hết thì gọi là vô minh. Mỗi lần khởi lên thọ, tưởng, hành của tham ái thì mỗi lần cái tham tùy miên tăng trưởng, giống như mình cho nó ăn. Như ví dụ khi nãy, người dễ thương có hình bóng đi vào trong tâm của mình, cảm giác thọ nhận rồi, mỗi lần mà mình nhớ lại, gặp lại, nói chuyện hay tiếp xúc thì lạc thọ sanh khởi lên mà mỗi lần cảm giác hân hoan, sung sướng, thích thú, yêu thích đó thì tham ái tùy tăng, như mỗi lần tăng là một nét vẽ, càng ngày thì tham tùy miên, aí tùy miên tăng trưởng theo mỗi lần tiếp xúc lạc thọ.
Những bài này Đức Phật đã dạy rất sâu trong tương ưng thọ, mỗi lần cảm giác vui sướng sanh khởi lên thì mỗi một lần cái tham trong cảm giác đó sẽ nâng lên thêm, lớn mạnh lên. Đây gọi là tham tùy miên (tùy tăng theo lạc thọ).
Nên những gì Đức Phật chứng ngộ được rất thâm sâu, không thể tưởng tượng nổi. Lần đầu tiên khi hai người mới quen biết nhau, họ chỉ gặp phớt qua thôi, họ chỉ có vẻ thích thích, mến mến vậy thôi, gặp lần hai thì sự yêu thích đó có tăng lên thêm và cho tới khi gặp nhiều lần đến khi nếu như người này có chuyện gì xảy ra thì người kia thậm chí có thể chết theo được. Như vậy là tham ái tùy miên đó tùy tăng theo lạc thọ đó.
Trong món ăn cũng vậy, mình có dịp được ăn một món ngon mà trước giờ mình chưa từng được ăn, ví dụ như món cao lầu ở Hội An, được người ta đãi món đó mà chỉ ở chỗ đó mới có thì khi mình đi ăn về thì mình cũng nhớ nhớ, thích thích nhưng giờ thì không có nữa, thì tham về món ăn đó nhẹ thôi, nếu như được ăn thêm lần thứ hai, thứ ba thì mình càng thích thì tham ở trong món ăn có tăng lên thêm. Có một lúc mình ghiền cả món đó. Như khi hút thuốc phiện hay ma túy cũng vậy, tức là cái tham này sẽ tăng theo cảm giác vui sướng đó, tăng theo mỗi lần mà mình tiếp xúc với nó. Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật trong Tương Ưng Thọ, nên về nghe loạt bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ.
2. Sân thụy miên:
Vậy thì sân tăng theo cảm giác khổ thọ đó, trong cảm giác bực bội thì miên man, lúc nào cũng có sân trong đó, nhưng giờ mình chỉ gặp một lần thì chỉ ghét nhẹ nhẹ thôi, khó chịu, không ưa, nếu gặp nữa không sao nhưng nếu gặp lần thứ hai thì cái ghét đó có tăng lên nữa không, nếu mình gặp đến lần thứ ba, thứ tư thì sân tùy miên tùy tăng theo khổ thọ. Tại sao lại sanh ra khổ thọ này? Là do xúc, tiếp xúc, nên việc tiếp xúc rất quan trọng, nên ông bà ta có câu, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, chính nói về xúc.
Vì vậy, tham, sân tùy miên tăng theo những cảm giác khó chịu đó, nó lớn từ từ lên mà mình không biết gì, ví khi tu bảy năm hay mười năm mà hỏi tham, sân, si nhiếp phục tới đâu mà trả lời rằng “Tới đâu tới chứ đâu biết tới đâu! Ngày mai chẳng biết có ra sao nữa, mà có ra sao cũng chẳng sao.” Vậy mà có thể viết treo lên được đó là vô minh, cần gỡ xuống vì câu đó không đúng pháp. Vì giờ mình tu mà không biết trong cảm thọ có tham, sân, si, cũng không biết tại sao nó sanh và cả phương pháp nhiếp phục tham, sân, si mình không biết gì nên mình tu bảy năm hay chục năm thì hỏi đều không biết.
Ví dụ như một người đang đi ngoài đường thì có người lại hỏi “Sư cô đi đâu?” thì trả lời “Không biết! Tới đâu thì tới chứ cũng không biết đi đâu.” Mà chỉ đi lang thang, lơ ngơ ngoài đường như vậy, nhưng đó chính là sự tu hiện nay của chúng ta.
3. Si thùy miên:
Vậy nên si tùy miên này sẽ tùy tăng theo cảm giác không khổ không vui mà là cảm giác thường thường, đều đều, đơ đơ, trơ trơ như vậy thì si tăng trưởng mà mình không biết gì hết. Chỉ thích như vậy thôi mà không muốn làm gì hết, như “Ngày hai thời như vậy được rồi, đừng tu thêm gì hết, tới gì cứ đi ngủ, tới giờ cứ lên ăn, vậy được rồi, đừng làm thêm gì hết!” Những điều đó hết sức nguy hiểm, là nuôi lớn si, vô minh, tùy miên. Cảm giác thường thường, đều đều, đơ đơ, trơ trơ đó rất nguy hiểm, cực kì nguy hiểm vì sẽ giết mình chết, cả đời tu của mình có thể bị cái đó giết chết. Cái tham hay sân thấy như vậy mà ít, vì không lẽ một ngày mình nổi cơn lôi đình lên hoài hay mình cứ thích hoài? Nhưng cảm giác đều đều này rất nhiều, nếu mình không nhận ra được cái này thì mình chết, đó chính là vô minh, tùy miên.
Vô xuất gia sáu tháng rồi hỏi ra sao thì nói cũng vậy hay xuất gia được hai ba năm hỏi đến thì cũng vậy, bảy tám năm cũng vậy, mười lăm năm cũng vậy, người tu đúng Chánh Pháp thì sẽ tiến bộ từng giờ, trí sáng của mình về tứ niệm xứ, Chánh Quán, Chánh Trí, soi thấu được ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, kiểm soát tất cả thân, khẩu, ý; thân, hành, niệm của mình phải được thắp sáng lên, nhìn thấy được những tham, sân, si vận hành, hoạt động, an trú như thế nào thì mình phải nhìn thấy, bản ngã của mình vận hành như thế nào. Chúng ta thấy mỗi lần cảm giác đều đều như vậy mà mình yên phận ở trong đó là mình đang cho si ăn, cho vô minh ăn.
4. Vì sao tham? Thức ăn của tham? Làm sao diệt tham?
Thức ăn của tham là gì? Tại sao có tham? Phải nói trong kinh Nikāya, không được nói “Theo ý con thấy rằng, quan điểm rằng, suy nghĩ rằng, cho là rằng…” vì học như vậy vĩnh viễn là phàm phu, vì trong kinh Nikāya Đức Phật đã nói. Vậy tại sao có sân, si? Đây là bài học cuối cùng, tối hậu trước khi ra trường.
Mời cô lớp trưởng.
Thưa thầy và đại chúng, tham, sân, si xuất phát từ cảm giác. Tức là khi mình cảm thọ lạc thì sanh khởi tham, thọ khổ thì sanh khởi sân, không khổ không lạc thì sanh khởi si.
Đó là chỗ ở của tham, sân, si. Giờ là khác, tại sao có tham, sân, si? Chúng ta sẽ cần nghe bài giảng cho lớp Trung cấp giảng sư ở chùa Hòa Khánh là tại sao có tham, sân, si? Tham, sân, si ở đâu? Làm sao nhiếp phục được tham, sân, si? Rồi chúng ta sẽ nghe bài Thánh Trí Của Tham, Sân, Si.
Tham xuất phát từ sự dính mắc của lạc thọ.
Chưa đúng.
Mời cô Phật tử khác.
Thưa thầy, sáng hôm nay con lạy sám hối diệt ngã, thì có một đoạn nói là: Do chấp thủ vào ngũ thủ uẩn, mỗi lần ngũ thủ uẩn sinh ra thì bản ngã của mình sinh ra và từ bản ngã sinh ra đó thì tất cả tham, sân, si của mình sinh ra thêm nữa. Mỗi lần nó diệt, sanh thì bản ngã tăng lên thì tham, sân, si của mình sẽ tăng lên theo. Nên con nghĩ là do truất ngũ thủ uẩn.
Sư phụ giảng giải:
Các cô nói không sai nhưng chung chung, giờ Đức Phật chỉ cho mình nguyên nhân thật sự là do: Mình cho nó là đẹp thì tham chưa sanh nay sanh khởi, tham đã sanh nay tăng trưởng, phát triển quảng đại, danh từ chuyên môn là tịnh tướng, theo thông thường là sạch sẽ, đẹp đẽ, hấp dẫn. Mình cho nó là đẹp thì chính cái cho là đẹp đó làm cho tham chưa sanh, nay sanh khởi, tham đã sanh thì nay tăng trưởng, phát triển quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Có cái nào mình tham, thích nhưng đó là xấu không? Là đẹp mình mới thích. Nên chính các cho là đẹp này là thức ăn của tham.
Vậy làm sao để diệt tham? Là bất tịnh tướng, làm cho tham chưa sanh không sanh khởi, tham đã sanh sẽ đi đến chỗ đoạn tận, chấm dứt, từ bỏ.
Nên việc học kinh Nikāya rất tuyệt diệu, không phải chuyện như mình học bây giờ là suy nghĩ đại, nói đại mà chính Đức Phật nói, vì mình nghĩ trong phàm tình của mình thì làm sao đi đến Thánh quả, Thánh trí?
5. Vì sao sân? Thức ăn của sân? Làm sao diệt sân?
Vậy tại sao có sân? Dù mình có suy nghĩ trăm ngàn kiếp cũng không ra nên phải nghe lời của Đức Phật nói, mình căn cứ theo đó mình thực hành theo thì mới có kết quả. Có sân là vì chướng ngại tướng, tức là chướng tai, gai mắt. Đây là thức ăn của sân. Mình cho đối tượng đó là chướng tai, gai mắt, thì sân chưa sanh, nay sanh khởi, sân đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo, đốt cháy mình hết và đốt cháy cả người khác. Đó là thức ăn của sân, chướng ngại tướng (hay đối ngại tướng).
Như là tô mì cho sân, ăn cho mập ra, cho tham, sân, si ăn sẽ mập thêm, không mập trí huệ mà mập tham, sân, si. Chỉ cho nó thức ăn hoài, cho nó mập thêm rồi nó lại đài đọa, hành hạ mình, mình làm đầy tớ cho nó. Vậy khổ cho kiếp tu hành.
Vậy làm sao để phá sân? Là từ tâm giải thoát. Tức là mở khỏi quan điểm cho rằng người kia là chướng tai gai mắt, mình giải tỏa quan điểm đó và dùng tình thương của mình quán chiếu, trải tâm từ. Những điều này Minh Thành đã giảng rất kỹ trên trang linhquyphapan.vn, các cô nên về chịu khó nghe như các bài: Thực tập tâm từ, Từ vô lượng tâm, Trải tâm từ rộng lớn, Tâm từ vi diệu, Hóa giải oan gia trái chủ…
6. Vì sao si? Thức ăn của si? Làm sao diệt si?
Vậy si là gì? Tại sao sanh khởi ra si? Si lấy gì làm thức ăn? Tại sao có si? Là do không phấn khởi, không hân hoan, làm biếng, ăn no, buồn ngủ, uể oải, rã rượi đó là thức ăn của si, làm cho si chưa sanh nay sanh khởi, si đã sanh thì nay tăng trưởng phát triển quảng đại vì lấy những cái đó cho nó ăn. Đây là định lí, không nên có ý kiến, cần theo đó tu, không nên nói “Con có ý kiến con thấy…” là không được, không có cái đó, vì đây là chứng ngộ của Đức Phật.
Như khi tối tới giờ chuẩn bị ngồi thiền rồi ăn tô mì lớn rồi ăn xong lại đi kinh hành, đó chính là thức ăn cho si. Lúc nào cũng than rằng “Sao rã rượi quá, buồn ngủ quá, mệt mỏi quá, uể oải quá!” đó là tướng của si, lúc nào mặt cũng chỉ như vậy. Và có một điều, tướng người biểu hiện ở gương mặt, chúng ta nhìn thấy trong phim Tam Quốc Chí, gương mặt của ông Gia Cát Lượng nhìn thấy mặt sáng, thông minh, trí tuệ còn trong phim Tây Du Kí nhìn mặt Trư Bát Giới thì ra sao.
Ở trong phim như vậy thì ngoài đời cũng vậy, người thường tu tập về trí huệ thì dung sắc quang minh, người tu tập phước đức nhiều thì nhìn như chữ phước trên mặt, còn người hay sân, hở là chút giận, chút bực, chút quạo, chút rắc rối thì nhìn mặt ra sao? Tất cả đều biểu hiện ra hết, gọi là tướng tự tâm sanh.
Mình đã nói về thức ăn cho si, vậy thì làm sao để phá si mê? Đức Phật dạy nên tinh cần, tinh tấn, như lý tác ý và sự tu tập trí tuệ, tinh cần giới, dũng mãnh giới, tinh tấn giới, khởi lên ước muốn sắc bén tu tập các thiện pháp, tu tập trí huệ, đánh tan cảm giác trơ trơ, đơ đơ, ngơ ngơ ngáo ngáo, trí huệ như lý tác ý, tác động tâm ý để mình thoát ra khỏi cảm giác đó thì đó là nhiếp phục tham, sân, si, nhiếp phục tham, sân, si và sự đoạn tận tham, sân, si trong cảm giác.
Nên khi nãy có một cô nói với Minh Thành là ở nhà lạy sám hối nhiệt ngã thì Minh Thành rất hoan hỷ, các cô cố gắng có quyển nghi thức Nikāya, những bài trong đó Minh Thành đang phổ ra thành thiền quán, các cô nên nghe bài Thiền quán đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất. Minh Thành có đọc bằng cách thiền quán, tức là đọc để đưa mình vào dòng cảm thọ của mình để cho mình trào dâng lên những cảm xúc sâu sắc trong thân tâm của mình, mình nên mở lên đọc và thiền quán theo, lạy theo.
Trong sự tu tập của kinh Nikāya, cốt lõi của vấn đề là làm cho phát sanh cảm thọ, nếu tu mà trơ trơ không có gì thì việc tu đó không có tiến bộ, tu là phải khai mở các dòng cảm thọ trí huệ, cảm xúc bên trong, nước mắt của mình sẽ tuôn trào thường xuyên và liên tục, khai mở các dòng cảm thọ si mê, vô minh, sân si, các trí huệ đưa vô sẽ phá vỡ, sẽ mở ra thì mình sẽ thấy cảm giác của mình khinh an, nhẹ nhõm lạ thường. Sau này, dòng cảm thọ của mình khi tuôn ra rồi thì nước mắt của mình đầm đìa, là thường xuyên khi mình tu tập, quán chiếu, ngồi thiền, quán bất tịnh thì nước mắt của mình sẽ tuôn trào ra, tuôn trào một cách đầm đìa, lúc đó là những lúc rất quan trọng, đừng sợ, cứ để tuôn ra vì là cảm xúc của Thánh trí huệ đang gội rửa những cảm thọ của tham, sân, si, vô minh, chấp thủ,
Nên trong tu tập, kinh Nikāya dạy mình khai thông các dòng cảm thọ, khai mở ra. Vì hiện giờ cảm thọ của mình rất nặng nề, còn rất trì trệ, nếu mình ứng dụng thực tập chịu khó, liên tục, thường xuyên nghe pháp và thực tập thiền chỉ, thiền quán. Trên trang linhquyphapan.vn có những bài thiền quán thì mình mở rồi nghe theo, chiêm nghiệm, đừng chạy theo tiếng mà nghe và nhìn vào cảm thọ của mình, đây là bí quyết nghe, nghe và quay lại, hướng vào cảm thọ của mình, để cho các lời trí huệ rót vào, đi thẳng vào trong dòng cảm thọ của mình sẽ khơi mở, mở tung ra cánh cửa, mà vô lượng kiếp vừa qua bị đóng kín, để cho ánh sánh Thánh trí huệ của Đức Phật được soi vào.
Chúng ta chỉ chia sẻ đôi chút như vậy, để làm món quà cuối khóa. Chúc cho tất cả các cô tinh tấn, không phải chỉ làm bài thi, mà phải nắm được pháp học, pháp hành, nên lên trang linhquyphapan.vn nghe thật kỹ các bài thiền quán, thực tập, các bài pháp để mình nắm được pháp hành, sẽ đem lại lợi ích, an lạc cho mình ở hiện tại và tương lai.
-Thích Minh Thành-
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò: PAGEREF _Toc59992406 \h 2
II. Pháp trần: PAGEREF _Toc59992407 \h 5
1. Tham thụy miên: PAGEREF _Toc59992408 \h 7
2. Sân thụy miên: PAGEREF _Toc59992409 \h 8
3. Si thùy miên: PAGEREF _Toc59992410 \h 9
4. Vì sao tham? Thức ăn của tham? Làm sao diệt tham? PAGEREF _Toc59992411 \h 9
5. Vì sao sân? Thức ăn của sân? Làm sao diệt sân? PAGEREF _Toc59992412 \h 10
6. Vì sao si? Thức ăn của si? Làm sao diệt si? PAGEREF _Toc59992413 \h 11
I. Dặn dò:
Hôm nay chúng ta tiếp tục hỏi đáp hay ôn thi? Chúng ta nên xem lại bài Con đường tuần tự hay là Đạo lộ tuần tự tu tập. Trong đó có mấy bước? Mình trình bày bảy bước đó, sau đó mình ứng dụng vào đời sống tu học thực tiễn.
Đầu tiên là giữ giới hạnh…Ngoài bảy bước thì còn nội dung gì? Là tứ thiền, mình chỉ nói một câu thôi không cần trình bày, ứng dụng những nội dung trên vào đời sống sinh hoạt hằng ngày trong thiền môn, mình ứng dụng như thế nào, ví như mình tâm đắc ra sao. Giờ mình phải hiểu giữ giới hạnh, hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống là như thế nào, những gì thiết yếu nhất, tinh hoa quan trọng nhất mình phải ghi ra, phải học thuộc lòng không được lật tài liệu vì có tới 90 phút làm bài. Tiếp theo là Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác như thế nào, từ bỏ năm triền cái ra sao mình phải ghi ra, và phải có ứng dụng những điều trên vào đời sống thực tế như thế nào. Ví dụ như giữ giới hạnh cho ví dụ trong đời sống thực tế, hộ trì căn rồi đến tiết độ trong ăn uống, cái nào mình tâm đắc nhất thì mình khai triển cái đó nhiều nhất, vậy tiết độ trong ăn uống là như thế nào, khi ăn phải ăn như thế nào, liên hệ đời sống thực tế.
Có hai phần, phần một trình bày về lý thuyết, trong kinh Đức Phật dạy, phải trình bày được phần đó, phần thứ hai là ứng dụng vào thực tiễn, phần đó là phần của mình thực tập.
Các bài kinh trước đã có giải thích, còn bài Đạo lộ tuần tự tu tập là một sự tổng kết tất cả những cái trước nay mình đã học cho có hệ thống, có trình tự, mình tu thì đương nhiên mình phải giữ giới, hộ trì căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý của mình thì mình phải đừng để nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì làm sanh khởi ra, những tham ưu, những ác bất thiện pháp thì mình phải nhiếp phục những nguyên nhân đó.
Tiết độ trong ăn uống không phải là để mình vui đùa, để hưởng thụ, để đam mê, ưa thích, làm đẹp. Mình phải sử dụng đúng từ của Đức Phật, không dùng từ của mình được, sau khi mình ứng dụng vào đời sống thực tế thì lúc đó mình mới đưa từ của mình được.
Phần đầu lúc nào cũng là phần kinh văn, tiếp theo là chú tâm cảnh giác như thế nào, chánh niệm như thế nào, hằng ngày lúc ngồi hay đi thì đầu buổi đêm, giữa đêm như thế nào, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp như thế nào, đây mới là Phật pháp cơ bản, thật sự là gốc rễ của giáo pháp, mình nắm được những cái này là cả một đời tu của mình hành trì, không ra ngoài những chữ này.
Viễn ly là chọn những nơi xa vắng, vậy ứng dụng vào những đời sống thực tế như thế nào? Khi mình ăn thì phải kiểm soát, tâm dục tham ái của mình trong khi ăn như thế nào, trong khi mình đi đứng, mình chánh niệm như thế nào? Nên những phần này là những phần thực dụng của pháp học và pháp hành, tất cả người tu nào cũng phải biết, không biết những điều này thì không thành tựu một người tu đúng nghĩa.
Vậy nên chữ hộ trì căn ở đây là khi con mắt mình tiếp xúc với sắc, tai mình nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm thì đừng cho tâm của mình dính mắc vô, nên câu không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng tức là sự nắm giữ đó là sự dính mắc, chấp thủ.
Ví dụ như giờ mình nhìn thấy một người đó, tự nhiên mình chỉ nhìn thấy mặt, dáng vẻ mình thấy không thích, không ưa, thấy người này sao vô duyên, ăn nói kì cục, hành động sỗ sàng, hoặc là người tu hay người không tu, tự nhiên mình thấy có một sự khó chịu trong này sanh khởi lên, thì đó là sự tiếp xúc sanh ra cảm giác.
Trong lúc đó mình đừng nắm giữ tướng đó, đừng nắm giữ cảm thọ sân hận đó mà mình phải tác ý thêm một người bạn tốt hay một người thù tốt, biết đâu đây cũng là oan gia trái chủ, những nghiệp trong quá khứ của mình, người ta chưa nói gì với mình mà mình nhìn thôi đã thấy ghét người ta. Tâm sân này lại làm hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, tâm sân này đốt cháy mình chốt cháy người, làm cho mình bất an, người bất an.
Vậy thì mình tẩy sạch cảm thọ sân hận và phá tan hình ảnh, tưởng về người đó, hình ảnh của người mình cảm thấy khó chịu đó phải phá tan suy nghĩ đó, nghĩ tưởng, cảm giác đó và mình làm cho mình nhìn thấy người đó và không cho cảm giác sân hận, khó chịu, bực bội sanh khởi, phá tan cảm thọ, suy nghĩ đó. Mình phải nghĩ là mình là người đáng thương, người kia cũng là người đáng thương.
Chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, đừng để sự thương ghét, bản ngã sanh khởi, giờ nếu nói người đó thấy ghét thì thấy người dễ thương thì mình có bị dính mắc nữa không? Như vậy có bị nắm giữ tướng chung, tướng riêng không? Điều đó nhỏ nhưng thật sự không nhỏ, tâm chống đối rất nguy hiểm, phải nhìn ra được tâm tư của mình, đó không phải là chống đối với Minh Thành mà chống đối với pháp, pháp đó là thầy của chư Phật nên những suy nghĩ, lời nói đó tạo cho mình mất nhân duyên, Chánh Pháp về sau, trong hiện tại và tương lai. Vì những cái mình được học ở đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, không được sai một chữ, chỉ cần sai một chữ thì pháp sẽ bị đảo lộn.
Vì vậy, phần lý thuyết ở trên là phải giống như trong kinh, phần vận dụng trong đời sống thực tế thì lúc đó mình mới viết sự thực tập của mình trong mức độ nào. Nên hằng ngày cái thấy, cái nghe của mình, cái ngửi, nếm, tiếp xúc của mình là hết sức vi tế, nhanh, mình không kiểm soát được, nên có khi mình phát biểu lên hoặc suy nghĩ, hành động trong vô minh mà mình không biết, tự nhiên sanh ra hành, tức là trong sự không sáng suốt nhìn thấy năm uẩn đó phát ra một suy nghĩ, lời nói, hành động thì hành động đó là hành động của nghiệp, vô minh, duyên hành, hành đó là hành nghiệp, nhưng việc này là bất cứ mọi lúc mọi nơi, không phải chỉ quá khứ không.
Vậy nên khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân tiếp xúc có rất nhiều những ác nghiệp bất thiện pháp, tham, sân, si mà mình không biết, trong lúc đó mình phải phòng hộ, nếu không phòng hộ thì suốt ngày mình vận hành trong tham, sân, si, bản ngã không. Khi mình thực tập nhận diện năm uẩn là căn bản nhất để mình nhận diện được thân tâm của mình và từ nhận diện năm uẩn thì những cái này mình tu mới có kết quả, vì năm uẩn là thân tâm của mình.
Giờ cần một người lên giải thích ý nhận thức các pháp xem sao, hôm trước chúng ta đã có giải thích rồi, giờ nói chưa có là vọng ngữ, do không chịu chú tâm lắng nghe, không chịu ghi bài.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị và thân đụng chạm và giờ thì ý nhận thức các pháp là nhận thức gì? Là nhận thức pháp trần, là thọ, tưởng, hành, vậy hãy cho một ví dụ về đó. Mời khổ hạnh đại sư.
Phật tử thứ nhất:
Bạch thầy, ý nhận thức các pháp là những pháp trần hiện khởi trong tâm mình, ví dụ như đang ngồi thiền mà bụng đói thì trong đầu mình hiện khởi một tô mì đang bốc khói thì khi đó ý nhận diện được là nó đang khởi lên hình ảnh của một tô mì, đó là ý nhận thức pháp trần.
Nên nói rõ hơn chút nữa! Về cả thọ, tưởng, hành, lúc đó như thế nào?
Khi hình ảnh tô mì hiện lên thì sẽ có cảm thọ bụng đói và rất muốn ăn, lòng mình thúc giục là muốn ăn, rất thèm và cứ nghĩ đến tô mì đó, trong tưởng của mình ngửi được cả mùi thơm của tô mì, trong tưởng hiện khởi những cái mình đã tiếp xúc qua, hiện khởi lên sắc, thanh, hương, vị, xúc của tô mì.
Phật tử thứ hai:
Thưa thầy con chỉ nói theo đúng ý thầy giảng thôi, không nói ngoài vì sợ nói thì sai pháp, càng nói càng sai, vì tụi con đang trong quá trình tu tập. Về thọ thầy đã giảng cho con có ba loại thôi là khổ, vui, không khổ không vui. Về tưởng, khi thầy đưa ra ví dụ là khi mình hình dung ra, mình vừa nói là “Cha mẹ không biết giờ này làm sao?” thì ngay lúc đó hình bóng của cha mẹ trong tâm của mình hiện ra, là hình bóng của cha mẹ đi như thế nào, làm việc gì đều là tưởng trong tâm mình. Về hành, những sanh diệt lúc mình làm thì mình quên, nhưng khi ngồi lại thì mình vẫn nhớ hình ảnh của cha mẹ ở trong tâm của mình thì đó là sự vận hành của tưởng. Ba cái thọ, tưởng, hành này tác động làm cho người mình, ngũ uẩn vận hành, rất chi li mà mình không triệt phá được thì rất khó tu.
II. Pháp trần:
Sư phụ giảng giải:
Phật tử Hương Tuệ nói gần đúng rồi, chỉ có một cái nữa chưa nói rõ về cái hành nhưng như vậy là tốt rồi. Việc này rất quan trọng mà không chỉ bài thi mà để mình ứng dụng khi tu, tới giờ này còn chưa nắm được pháp trần là không được.
Vậy pháp trần này là gì? Là thọ, tưởng, hành. Giờ mình lấy ví dụ khi nãy của cô nói. Khi mình đang ngồi thiền hay đang ngồi học bài, mình để ý trở lại trong thân mình thì thấy có vẻ là đói bụng, thì có hình bóng của tô mì, thì hình bóng đó là tưởng, xuất hiện cảm giác đói bụng, nếu ăn thì cảm giác ngon, suy nghĩ muốn đi ăn, muốn đi nấu mì, chọn mì nào đó. Khi đó tất cả những việc đó là pháp trần.
Lúc đó thì mình có rõ biết là mình đang có hình bóng tô mì, đang có cảm giác, suy nghĩ như vậy thì đó là ý thức. Mà mình để ý lại thì mình mới thấy, không để ý là mình không thấy, nếu mình chỉ để ý bên ngoài thôi thì mình sẽ quên việc đói bụng.
Một ví dụ khác, mình đang ngồi học kinh hay ở trong phòng một mình, thì bỗng nhiên mình để ý lại trong tâm mình thì nhìn thấy hình bóng của sư muội lúc sáng nói mà cãi lại. Hình bóng của người mới vào tu, còn nhỏ và tu sau mình, mà mình nói đã dám cãi lại, cảm giác khó chịu sanh khởi, suy nghĩ bực mình, khó chịu. Lúc đó thì mình có rõ biết được hình bóng người đó, cảm giác và suy nghĩ như vậy có rõ biết không? Thì ba cái trên gọi là pháp trần.
Những việc này hằng ngày, hằng giờ có không? Hay buồi chiều đang đi lòng vòng trong chùa, đi kinh hành thì tự nhiên nhớ lại “Hôm qua mình có gặp người đó dễ thương!” thì hình bóng của người đó hiện ra, cảm giác hỷ thọ, suy nghĩ muốn gặp lại thì lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ như vậy mà sở dĩ có được là do sự để ý lại trong tâm của mình. Đó là ý nhận thức pháp.
Mình đang ngồi thiền thì tự nhiên mình nhớ về cha mẹ, hay tin cha mình bệnh hoặc mẹ bệnh, thì hình bóng cha mẹ hiện ra, có cảm giác khó chịu, lo lắng, có suy nghĩ “Không biết cha mẹ có sao không, như thế nào, bệnh ra sao?” Lúc đó mình rõ biết được các việc này đang diễn ra, là do sự để ý lại, đó là ý nhận thức các pháp.
Những ví dụ nãy giờ gồm có tham, sân, si, ái, người mình giận là sân, tô mì là tham, người dễ thương là ái… Pháp trần có thiện và bất thiện, nếu mình suy nghĩ những cái làm tăng trưởng thiện pháp, thì đó được gọi là tu tập, nếu như mình nghĩ cha mẹ mình đang bệnh thì phải cố gắng tu tập, tinh tấn, thành công trong sự tu học, thành tựu trí huệ thì mình mới báo ơn cho cha mẹ, suy nghĩ đó gọi là tu tập tâm. Còn suy nghĩ về người dễ thương khi nãy muốn tiếp xúc, muốn gặp gỡ, muốn này kia thì pháp ô nhiễm sanh thì đó gọi là tâm không tu tập.
Cũng là pháp trần nhưng là suy nghĩ của tu và suy nghĩ không tu, là suy nghĩ của thối đọa và tăng thượng. Đây là không có người không có cảnh gì mà chỉ một mình mình thôi, mới gọi là pháp trần, tức là những cái đã tiếp xúc rồi, giờ hiện khởi trong tâm thì đó gọi là pháp trần. Còn nếu mình đứng gặp người đó thì lúc đó gọi là sắc, sau khi trở về mà hình bóng người đó vẫn còn trong tâm thì đó gọi là sắc tưởng. Hình bóng của người làm mình tức giận trong tâm thì gọi là sắc tưởng, cảm giác giận khi nãy giờ nhớ lại vẫn còn thì những cái đó là pháp trần, là những cái đã tiếp xúc rồi, giờ hiện khởi trở lại trong tâm, gọi là ý nhận thức các pháp, ý là ý căn.
1. Tham thụy miên:
Như vậy một ngày xảy ra khoảng bao nhiêu lần? Vô số lần mà mình không đếm được hết thì gọi là vô minh. Mỗi lần khởi lên thọ, tưởng, hành của tham ái thì mỗi lần cái tham tùy miên tăng trưởng, giống như mình cho nó ăn. Như ví dụ khi nãy, người dễ thương có hình bóng đi vào trong tâm của mình, cảm giác thọ nhận rồi, mỗi lần mà mình nhớ lại, gặp lại, nói chuyện hay tiếp xúc thì lạc thọ sanh khởi lên mà mỗi lần cảm giác hân hoan, sung sướng, thích thú, yêu thích đó thì tham ái tùy tăng, như mỗi lần tăng là một nét vẽ, càng ngày thì tham tùy miên, aí tùy miên tăng trưởng theo mỗi lần tiếp xúc lạc thọ.
Những bài này Đức Phật đã dạy rất sâu trong tương ưng thọ, mỗi lần cảm giác vui sướng sanh khởi lên thì mỗi một lần cái tham trong cảm giác đó sẽ nâng lên thêm, lớn mạnh lên. Đây gọi là tham tùy miên (tùy tăng theo lạc thọ).
Nên những gì Đức Phật chứng ngộ được rất thâm sâu, không thể tưởng tượng nổi. Lần đầu tiên khi hai người mới quen biết nhau, họ chỉ gặp phớt qua thôi, họ chỉ có vẻ thích thích, mến mến vậy thôi, gặp lần hai thì sự yêu thích đó có tăng lên thêm và cho tới khi gặp nhiều lần đến khi nếu như người này có chuyện gì xảy ra thì người kia thậm chí có thể chết theo được. Như vậy là tham ái tùy miên đó tùy tăng theo lạc thọ đó.
Trong món ăn cũng vậy, mình có dịp được ăn một món ngon mà trước giờ mình chưa từng được ăn, ví dụ như món cao lầu ở Hội An, được người ta đãi món đó mà chỉ ở chỗ đó mới có thì khi mình đi ăn về thì mình cũng nhớ nhớ, thích thích nhưng giờ thì không có nữa, thì tham về món ăn đó nhẹ thôi, nếu như được ăn thêm lần thứ hai, thứ ba thì mình càng thích thì tham ở trong món ăn có tăng lên thêm. Có một lúc mình ghiền cả món đó. Như khi hút thuốc phiện hay ma túy cũng vậy, tức là cái tham này sẽ tăng theo cảm giác vui sướng đó, tăng theo mỗi lần mà mình tiếp xúc với nó. Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật trong Tương Ưng Thọ, nên về nghe loạt bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ.
2. Sân thụy miên:
Vậy thì sân tăng theo cảm giác khổ thọ đó, trong cảm giác bực bội thì miên man, lúc nào cũng có sân trong đó, nhưng giờ mình chỉ gặp một lần thì chỉ ghét nhẹ nhẹ thôi, khó chịu, không ưa, nếu gặp nữa không sao nhưng nếu gặp lần thứ hai thì cái ghét đó có tăng lên nữa không, nếu mình gặp đến lần thứ ba, thứ tư thì sân tùy miên tùy tăng theo khổ thọ. Tại sao lại sanh ra khổ thọ này? Là do xúc, tiếp xúc, nên việc tiếp xúc rất quan trọng, nên ông bà ta có câu, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, chính nói về xúc.
Vì vậy, tham, sân tùy miên tăng theo những cảm giác khó chịu đó, nó lớn từ từ lên mà mình không biết gì, ví khi tu bảy năm hay mười năm mà hỏi tham, sân, si nhiếp phục tới đâu mà trả lời rằng “Tới đâu tới chứ đâu biết tới đâu! Ngày mai chẳng biết có ra sao nữa, mà có ra sao cũng chẳng sao.” Vậy mà có thể viết treo lên được đó là vô minh, cần gỡ xuống vì câu đó không đúng pháp. Vì giờ mình tu mà không biết trong cảm thọ có tham, sân, si, cũng không biết tại sao nó sanh và cả phương pháp nhiếp phục tham, sân, si mình không biết gì nên mình tu bảy năm hay chục năm thì hỏi đều không biết.
Ví dụ như một người đang đi ngoài đường thì có người lại hỏi “Sư cô đi đâu?” thì trả lời “Không biết! Tới đâu thì tới chứ cũng không biết đi đâu.” Mà chỉ đi lang thang, lơ ngơ ngoài đường như vậy, nhưng đó chính là sự tu hiện nay của chúng ta.
3. Si thùy miên:
Vậy nên si tùy miên này sẽ tùy tăng theo cảm giác không khổ không vui mà là cảm giác thường thường, đều đều, đơ đơ, trơ trơ như vậy thì si tăng trưởng mà mình không biết gì hết. Chỉ thích như vậy thôi mà không muốn làm gì hết, như “Ngày hai thời như vậy được rồi, đừng tu thêm gì hết, tới gì cứ đi ngủ, tới giờ cứ lên ăn, vậy được rồi, đừng làm thêm gì hết!” Những điều đó hết sức nguy hiểm, là nuôi lớn si, vô minh, tùy miên. Cảm giác thường thường, đều đều, đơ đơ, trơ trơ đó rất nguy hiểm, cực kì nguy hiểm vì sẽ giết mình chết, cả đời tu của mình có thể bị cái đó giết chết. Cái tham hay sân thấy như vậy mà ít, vì không lẽ một ngày mình nổi cơn lôi đình lên hoài hay mình cứ thích hoài? Nhưng cảm giác đều đều này rất nhiều, nếu mình không nhận ra được cái này thì mình chết, đó chính là vô minh, tùy miên.
Vô xuất gia sáu tháng rồi hỏi ra sao thì nói cũng vậy hay xuất gia được hai ba năm hỏi đến thì cũng vậy, bảy tám năm cũng vậy, mười lăm năm cũng vậy, người tu đúng Chánh Pháp thì sẽ tiến bộ từng giờ, trí sáng của mình về tứ niệm xứ, Chánh Quán, Chánh Trí, soi thấu được ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, kiểm soát tất cả thân, khẩu, ý; thân, hành, niệm của mình phải được thắp sáng lên, nhìn thấy được những tham, sân, si vận hành, hoạt động, an trú như thế nào thì mình phải nhìn thấy, bản ngã của mình vận hành như thế nào. Chúng ta thấy mỗi lần cảm giác đều đều như vậy mà mình yên phận ở trong đó là mình đang cho si ăn, cho vô minh ăn.
4. Vì sao tham? Thức ăn của tham? Làm sao diệt tham?
Thức ăn của tham là gì? Tại sao có tham? Phải nói trong kinh Nikāya, không được nói “Theo ý con thấy rằng, quan điểm rằng, suy nghĩ rằng, cho là rằng…” vì học như vậy vĩnh viễn là phàm phu, vì trong kinh Nikāya Đức Phật đã nói. Vậy tại sao có sân, si? Đây là bài học cuối cùng, tối hậu trước khi ra trường.
Mời cô lớp trưởng.
Thưa thầy và đại chúng, tham, sân, si xuất phát từ cảm giác. Tức là khi mình cảm thọ lạc thì sanh khởi tham, thọ khổ thì sanh khởi sân, không khổ không lạc thì sanh khởi si.
Đó là chỗ ở của tham, sân, si. Giờ là khác, tại sao có tham, sân, si? Chúng ta sẽ cần nghe bài giảng cho lớp Trung cấp giảng sư ở chùa Hòa Khánh là tại sao có tham, sân, si? Tham, sân, si ở đâu? Làm sao nhiếp phục được tham, sân, si? Rồi chúng ta sẽ nghe bài Thánh Trí Của Tham, Sân, Si.
Tham xuất phát từ sự dính mắc của lạc thọ.
Chưa đúng.
Mời cô Phật tử khác.
Thưa thầy, sáng hôm nay con lạy sám hối diệt ngã, thì có một đoạn nói là: Do chấp thủ vào ngũ thủ uẩn, mỗi lần ngũ thủ uẩn sinh ra thì bản ngã của mình sinh ra và từ bản ngã sinh ra đó thì tất cả tham, sân, si của mình sinh ra thêm nữa. Mỗi lần nó diệt, sanh thì bản ngã tăng lên thì tham, sân, si của mình sẽ tăng lên theo. Nên con nghĩ là do truất ngũ thủ uẩn.
Sư phụ giảng giải:
Các cô nói không sai nhưng chung chung, giờ Đức Phật chỉ cho mình nguyên nhân thật sự là do: Mình cho nó là đẹp thì tham chưa sanh nay sanh khởi, tham đã sanh nay tăng trưởng, phát triển quảng đại, danh từ chuyên môn là tịnh tướng, theo thông thường là sạch sẽ, đẹp đẽ, hấp dẫn. Mình cho nó là đẹp thì chính cái cho là đẹp đó làm cho tham chưa sanh, nay sanh khởi, tham đã sanh thì nay tăng trưởng, phát triển quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình. Có cái nào mình tham, thích nhưng đó là xấu không? Là đẹp mình mới thích. Nên chính các cho là đẹp này là thức ăn của tham.
Vậy làm sao để diệt tham? Là bất tịnh tướng, làm cho tham chưa sanh không sanh khởi, tham đã sanh sẽ đi đến chỗ đoạn tận, chấm dứt, từ bỏ.
Nên việc học kinh Nikāya rất tuyệt diệu, không phải chuyện như mình học bây giờ là suy nghĩ đại, nói đại mà chính Đức Phật nói, vì mình nghĩ trong phàm tình của mình thì làm sao đi đến Thánh quả, Thánh trí?
5. Vì sao sân? Thức ăn của sân? Làm sao diệt sân?
Vậy tại sao có sân? Dù mình có suy nghĩ trăm ngàn kiếp cũng không ra nên phải nghe lời của Đức Phật nói, mình căn cứ theo đó mình thực hành theo thì mới có kết quả. Có sân là vì chướng ngại tướng, tức là chướng tai, gai mắt. Đây là thức ăn của sân. Mình cho đối tượng đó là chướng tai, gai mắt, thì sân chưa sanh, nay sanh khởi, sân đã sanh thì tăng trưởng, phát triển quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo, đốt cháy mình hết và đốt cháy cả người khác. Đó là thức ăn của sân, chướng ngại tướng (hay đối ngại tướng).
Như là tô mì cho sân, ăn cho mập ra, cho tham, sân, si ăn sẽ mập thêm, không mập trí huệ mà mập tham, sân, si. Chỉ cho nó thức ăn hoài, cho nó mập thêm rồi nó lại đài đọa, hành hạ mình, mình làm đầy tớ cho nó. Vậy khổ cho kiếp tu hành.
Vậy làm sao để phá sân? Là từ tâm giải thoát. Tức là mở khỏi quan điểm cho rằng người kia là chướng tai gai mắt, mình giải tỏa quan điểm đó và dùng tình thương của mình quán chiếu, trải tâm từ. Những điều này Minh Thành đã giảng rất kỹ trên trang linhquyphapan.vn, các cô nên về chịu khó nghe như các bài: Thực tập tâm từ, Từ vô lượng tâm, Trải tâm từ rộng lớn, Tâm từ vi diệu, Hóa giải oan gia trái chủ…
6. Vì sao si? Thức ăn của si? Làm sao diệt si?
Vậy si là gì? Tại sao sanh khởi ra si? Si lấy gì làm thức ăn? Tại sao có si? Là do không phấn khởi, không hân hoan, làm biếng, ăn no, buồn ngủ, uể oải, rã rượi đó là thức ăn của si, làm cho si chưa sanh nay sanh khởi, si đã sanh thì nay tăng trưởng phát triển quảng đại vì lấy những cái đó cho nó ăn. Đây là định lí, không nên có ý kiến, cần theo đó tu, không nên nói “Con có ý kiến con thấy…” là không được, không có cái đó, vì đây là chứng ngộ của Đức Phật.
Như khi tối tới giờ chuẩn bị ngồi thiền rồi ăn tô mì lớn rồi ăn xong lại đi kinh hành, đó chính là thức ăn cho si. Lúc nào cũng than rằng “Sao rã rượi quá, buồn ngủ quá, mệt mỏi quá, uể oải quá!” đó là tướng của si, lúc nào mặt cũng chỉ như vậy. Và có một điều, tướng người biểu hiện ở gương mặt, chúng ta nhìn thấy trong phim Tam Quốc Chí, gương mặt của ông Gia Cát Lượng nhìn thấy mặt sáng, thông minh, trí tuệ còn trong phim Tây Du Kí nhìn mặt Trư Bát Giới thì ra sao.
Ở trong phim như vậy thì ngoài đời cũng vậy, người thường tu tập về trí huệ thì dung sắc quang minh, người tu tập phước đức nhiều thì nhìn như chữ phước trên mặt, còn người hay sân, hở là chút giận, chút bực, chút quạo, chút rắc rối thì nhìn mặt ra sao? Tất cả đều biểu hiện ra hết, gọi là tướng tự tâm sanh.
Mình đã nói về thức ăn cho si, vậy thì làm sao để phá si mê? Đức Phật dạy nên tinh cần, tinh tấn, như lý tác ý và sự tu tập trí tuệ, tinh cần giới, dũng mãnh giới, tinh tấn giới, khởi lên ước muốn sắc bén tu tập các thiện pháp, tu tập trí huệ, đánh tan cảm giác trơ trơ, đơ đơ, ngơ ngơ ngáo ngáo, trí huệ như lý tác ý, tác động tâm ý để mình thoát ra khỏi cảm giác đó thì đó là nhiếp phục tham, sân, si, nhiếp phục tham, sân, si và sự đoạn tận tham, sân, si trong cảm giác.
Nên khi nãy có một cô nói với Minh Thành là ở nhà lạy sám hối nhiệt ngã thì Minh Thành rất hoan hỷ, các cô cố gắng có quyển nghi thức Nikāya, những bài trong đó Minh Thành đang phổ ra thành thiền quán, các cô nên nghe bài Thiền quán đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất. Minh Thành có đọc bằng cách thiền quán, tức là đọc để đưa mình vào dòng cảm thọ của mình để cho mình trào dâng lên những cảm xúc sâu sắc trong thân tâm của mình, mình nên mở lên đọc và thiền quán theo, lạy theo.
Trong sự tu tập của kinh Nikāya, cốt lõi của vấn đề là làm cho phát sanh cảm thọ, nếu tu mà trơ trơ không có gì thì việc tu đó không có tiến bộ, tu là phải khai mở các dòng cảm thọ trí huệ, cảm xúc bên trong, nước mắt của mình sẽ tuôn trào thường xuyên và liên tục, khai mở các dòng cảm thọ si mê, vô minh, sân si, các trí huệ đưa vô sẽ phá vỡ, sẽ mở ra thì mình sẽ thấy cảm giác của mình khinh an, nhẹ nhõm lạ thường. Sau này, dòng cảm thọ của mình khi tuôn ra rồi thì nước mắt của mình đầm đìa, là thường xuyên khi mình tu tập, quán chiếu, ngồi thiền, quán bất tịnh thì nước mắt của mình sẽ tuôn trào ra, tuôn trào một cách đầm đìa, lúc đó là những lúc rất quan trọng, đừng sợ, cứ để tuôn ra vì là cảm xúc của Thánh trí huệ đang gội rửa những cảm thọ của tham, sân, si, vô minh, chấp thủ,
Nên trong tu tập, kinh Nikāya dạy mình khai thông các dòng cảm thọ, khai mở ra. Vì hiện giờ cảm thọ của mình rất nặng nề, còn rất trì trệ, nếu mình ứng dụng thực tập chịu khó, liên tục, thường xuyên nghe pháp và thực tập thiền chỉ, thiền quán. Trên trang linhquyphapan.vn có những bài thiền quán thì mình mở rồi nghe theo, chiêm nghiệm, đừng chạy theo tiếng mà nghe và nhìn vào cảm thọ của mình, đây là bí quyết nghe, nghe và quay lại, hướng vào cảm thọ của mình, để cho các lời trí huệ rót vào, đi thẳng vào trong dòng cảm thọ của mình sẽ khơi mở, mở tung ra cánh cửa, mà vô lượng kiếp vừa qua bị đóng kín, để cho ánh sánh Thánh trí huệ của Đức Phật được soi vào.
Chúng ta chỉ chia sẻ đôi chút như vậy, để làm món quà cuối khóa. Chúc cho tất cả các cô tinh tấn, không phải chỉ làm bài thi, mà phải nắm được pháp học, pháp hành, nên lên trang linhquyphapan.vn nghe thật kỹ các bài thiền quán, thực tập, các bài pháp để mình nắm được pháp hành, sẽ đem lại lợi ích, an lạc cho mình ở hiện tại và tương lai.