Kinh Nikāya Giảng Giải Giới Đức Của Người Tu Hiền Lành và Khiêm Hạ
Kinh Nikāya Giảng Giải
GIỚI ĐỨC CỦA NGƯỜI TU HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM HẠ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tu tập hiền tâm PAGEREF _Toc112607604 \h 1
II.Nhiếp phục bản ngã PAGEREF _Toc112607605 \h 8
III. Thực tập lạy diệt ngã PAGEREF _Toc112607606 \h 9
Tu tập hiền tâm
Sau đây là bài kinh “Cung kính” và kinh “Siva”, trong Tương Ưng Bộ - tập 1.
Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Đoạn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy,
Đã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Đối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Đại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Đẳng Giác.
(Tương Ưng Bộ Kinh - tập I, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, bài kinh Cung kính)
***
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Được tuệ không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn,
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
(Tương Ưng Bộ Kinh - tập I, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, bài kinh Siva)
Buổi chia sẻ hôm nay, Minh Thành muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh của một người tu. Nhất là đối với những Phật tử về đây tu học và các sư cô mới vừa bước vào vòng Pháp này và toàn thể người xuất gia chúng ta, đây là điều tuyệt đối quan trọng,
Hãy thân với người lành, hãy gần gũi người thiện, biết được diệu Pháp người hiền, chỉ tốt hơn không xấu, được trí tuệ, không sầu muộn giữa những người khổ đau, chói sáng giữa bà con, quyến thuộc.
Sau khi mạng chung qua đời được sanh về cõi lành, ngay hiện tại thường hưởng được sự an vui, an lạc, an bình, cuối cùng là giải thoát hết tất cả mọi khổ đau. Những vị mới về hãy nhìn tấm gương của các sư cô tu tập lâu năm, trang nghiêm, thanh tịnh, oai nghi như thế nào, phải nhìn để tu học. Nếu mình không tu học, không để tâm về oai nghi, nết hạnh, không khéo làm phiền nhiễu hội chúng thanh tịnh, phải tập hiền, thiện, lành.
Chúng ta thấy trong bài kinh Siva, Đức Phật dùng người lành, thiện, hiền: Hãy thân cận, hãy gần gũi với người lành, người thiện, người hiền, như vậy tốt hơn không xấu. Đại chúng của chúng ta là những người hiền lành, những người chân thành tu học, để nhìn, cố gắng nhiếp phục những thói quen, tập khí, thô tháo, thô kệch, thô bỉ, của phàm phu, phàm tình, phàm tục, phàm mê; phải đặt mình vào trong oai nghi, giới hạnh, phải thường xuyên và liên tục luyện tâm hiền, thường xuyên và liên tục tác ý, niệm tâm hiền, nguyện làm một người lành, người thiện, người hiền; thường tác ý như vậy nhắc nhở mình, tưới tẩm, nuôi dưỡng những chất liệu của một người hiền, thiện ở trong thân tâm của mình. Một chất liệu hiền thiện, hiền lành, hiền hoà, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền nhân. Khi mình phát ra lời nói, hành động đậm chất của một hiền giả. Chúng ta đọc trong kinh, thấy đầy rẫy những danh từ: Hiền giả, bậc hiền giả. Đây là điều tuyệt đối quan trọng,
Hiền giả là biểu hiện lên rằng người tu tâm phải là một cái tâm hiền lương, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền dịu, hiền thiện, hiền lành nên phải thường xuyên và liên tục niệm cái tâm hiền này. Hiền nha, thiện nha, lành nha, ngoan nha, lắng dịu nha, dễ chịu nha!
Như vậy, hàng ngày mình được huấn tập, tưới tẩm, được những thức ăn thực dưỡng của hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức thì tự nhiên những suy nghĩ cũng sẽ hiền, những lời nói, hành động, ngôn ngữ, cử chỉ sẽ thêm hoà kính, từ ái. Cái gì cũng phải có nhân - quả, không phải tự nhiên mình biến thành một người hiền được. Đừng nghĩ mình tu là hiền, khi có ai chạm tới thì có hiền không? Bình thường thấy hiền tới khi có chuyện gì chạm tới có hiền không? Hay mất đi hết mọi sự hiền lành? Như vậy, vì cái chất hiền trong tâm chưa được đầy đủ, sung mãn cho nên phải tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, tu tập, làm cho quảng đại, làm thành cỗ xe, thành căn cứ địa, làm sao cho từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông, cọng tóc phải đậm chất của một hiền giả, hiền nhân.
Luôn luôn tự nhắc nhở mình, nhất là những khi gặp chuyện khó chịu, bực bội, bị chỉ trích thì càng phải tác ý nhiều để nhiếp phục cơn sân giận đó. Mọi lúc mọi nơi đều phải xem lại dáng đi, cách nói chuyện, làm việc, hành động có hiền chưa? Có an tịnh, nhẹ nhàng, lắng dịu không? Ví dụ, dọn dẹp mà làm thau, muỗng, tô kêu rầm rầm thì như vậy là chưa có hiền. Lâu lâu Minh Thành vẫn còn nghe dưới nhà bếp có nhiều tiếng ồn, tất cả những chỗ này chính là bài thực tập của chúng ta. Trong suy nghĩ, mình xem thử có hiền hay không? Nếu không hiền, còn hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung tàn, hung dữ, hung hãn thì phải huấn luyện, dạy dỗ, rèn luyện, tu tập, giáo dục tư tưởng những suy nghĩ này. Khi có gì bực bội, khó chịu, sân giận, cảm giác trở nên hung hăng thì phải huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, cải tạo, cải cách, cải thiện, hoàn thiện, làm cho cảm giác được “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào”. Những câu này không phải chỉ nói suông trên miệng mà cần thực tập những cảm giác hiền thiện, ngọt ngào hàng ngày, hàng giờ.
Đức Thế Tôn dạy, phải nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm. Đây là bài mấu chốt quan trọng phải học thuộc lòng. Trong sinh hoạt người xuất gia, từ nơi thân, miệng, ý mình đã sống hoà hợp chưa? Những suy nghĩ có hoà hợp, hoà kính, hoà ái, tương thân, tương ái đi đến nhất trí không? Có như nước với sữa hoà hợp, hoan hỷ, không tranh cãi với nhau không? Có sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm hay không? Lấy những điều này làm đề mục để tu tập, thực tập liên tục nhiều lần trong mùa An cư kiết hạ, chứ không phải một bài kinh học qua rồi thôi. Thực tập tâm hiền, suy nghĩ từ bi, lời nói từ ái, hành động từ ái, thực tập tâm hoà hợp, cung kính, hoan hỷ, thực tập nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm, chỉ tốt hơn không xấu. Thực tập như vậy sẽ không có sầu muộn giữa những người sầu muộn, sẽ được chói sáng giữa những quyến thuộc bà con.
Đại chúng có nhìn thấy cha mẹ, chú thím, cô bác, anh em của Minh Thành, dù con ở chỗ núi rừng xa xôi hàng 400, 500 cây số vẫn trở về quây quanh không? Thực tập Pháp này sẽ được chói sáng giữa quyến thuộc, rực sáng giữa bà con, bừng sáng giữa bóng đêm, tỏa sáng giữa núi rừng hoang vu và xa vắng. Thực tập tâm hiền, tâm từ này chúng sanh sẽ thường hưởng an lạc, bình an, hạnh phúc, vui vẻ, vui sướng. Tuyệt vời, chúng sanh sẽ được sinh ở cõi lành, giải thoát mọi khổ đau.
Phải để ý lời ăn tiếng nói, dù tu ở đâu thì khẩu nghiệp cũng phải từ hoà. Trong giới luật có mười giới, riêng về cái miệng đã có bốn giới, chiếm 40%. Cho nên chúng ta thường nghe “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, bệnh từ miệng vào, hoạ từ miệng phát ra. Trong Tiểu kinh rừng Sừng bò, ba vị Tôn giả không nói chuyện, năm ngày tụ hội một lần Pháp đàm, đàm đạo suốt thâu đêm suốt sáng, các ngài được an lạc. Chúng ta chưa được tịnh khẩu hoàn toàn nhưng phải tập những gì cần nói thì nói, ngoài ra chỉ nói Pháp, không nói lung tung. Nếu chuyện gì cũng nói, gặp gì, thấy gì cũng nói là một hồi có chuyện xảy ra, mà cũng không phải tâm hiền. Tu cái miệng trở thành kim khẩu - miệng vàng. Miệng trở thành hoa sen, nói ra là Chánh pháp, trí tuệ và tình thương, nói ra là từ ái, cảm thông, bao dung, là ban vô vi cứu khổ.
Chúng ta khổ từ nơi đâu? Có phải phần lớn là từ nơi mình nói không? Cho nên trước khi nói suy xét, lời này là thiện hay bất thiện, lợi mình lợi người hay là có hại. Lời này là chánh pháp hay phi pháp, lời này cần nói hay không cần phải nói, lời này đem lại an lạc hay đem lại phiền não cho nhau. Suy xét trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói, điều đó Đức Phật gọi là Pháp soi gương. Soi gương nội tâm, hàng ngày phải soi gương, soi tâm. Phải thực tập oai nghi hành động, mọi cái của mình nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, không phải lúc nào có mặt mình cũng ồn ào, lúc nào cũng xao động, dao động, lăng xăng, trong năm triền cái thì đó là trạo cử, trạo hối, không an tịnh, không thanh tịnh, dao động, lăng xăng, lóc chóc, lao xao, vội vội vàng vàng, không an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, trầm mặc. Thế Tôn là bậc an tịnh, nói Pháp là dẫn dắt chúng sanh đạt đến an tịnh.
Mọi cử chỉ động tác phải tập niệm oai nghi từ ánh mắt, chỉ tay, bước chân, mọi động tác phải tuệ tri; phải rõ biết, được thắp sáng với một ánh sáng của trí tuệ, lúc nào cũng phải rực sáng, chói sáng và bừng sáng trong trí tuệ. Nhẹ nhàng, dịu dàng, an tịnh, trầm mặc, tĩnh lặng, hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, dễ thương, dễ nói, dễ nghe. Tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, ngọt ngào, dễ thương, mát mẻ, mát dịu. Nếu không được tu tập đúng cách, để tâm, huấn luyện thì cái tâm của mình rất cứng cỏi, ương ngạnh, khó huấn luyện, khó dạy, khó bảo, khó nói. Tôn giả Xá Lợi Phất nói tâm này giống như con bò bị cưa cái sừng, đó là tâm của bậc Thánh. Vì chỗ hung hăng nhất của con bò là hai cái sừng mà bị cưa, như vậy mới trở thành tâm hiền, tâm Thánh. Tự xem lại cái sừng của mình còn không?
Trong sự tu tập của chúng ta, hai Pháp tuyệt đối quan trọng là tâm hiền và diệt ngã. Nếu hai pháp này không được tu tập một cách sâu sắc thì không thể nào chúng ta vào dòng Pháp này được. Cho nên, phải luôn luôn coi lại nội tâm, cái sừng của mình bị bẻ gãy hay chưa, có mòn chưa, kiểm tra hai cái sừng. Nếu còn hung hăng, hung bạo, hung tợn, hung hãn, hung dữ thì phải tu tập thiệt là nhiều, nhiếp phục, chế ngự và đánh gục. Đây là tuyệt đối quan trọng trong sự tu tập đường lối này, mình phải kiểm tra mình là ai. Đức hạnh của ngài Xá Lợi Phất không phải chỉ nhìn lên để khác ngưỡng đức hạnh của ngài mà mình phải học để làm theo.
Tập tâm như nước, rửa sạch, tẩy sạch hết, cuốn trôi hết tất cả những cấu uế; phải tập tâm như lửa, ai quăng rác bẩn, phân.. thì thiêu đốt, đốt cháy hết không chất chứa những đồ cấu nhiễm đó, dùng lửa trí tuệ đốt hết, đốt để trở thành một người hiền thiện, hiền hòa.
Tập tâm như gió đi qua, không bị vướng mắc bởi lời khen tiếng chê, lời tung hô xưng tán hay lời ủy nhục chê bai, ngọn gió đều đi qua không dừng lại, hàng ngày phải lạy diệt ngã, lạy đức hạnh ngài Xá Lợi Phất, phải bào mòn cái sừng bò, cưa cái cặp sừng bén nhọn, từ từ bẻ gãy cặp sừng đó làm cho mình trở thành một con người thiệt là hiền hòa, từ ái, làm đứa con ngoan ngoãn của Đức Thế Tôn.
Trong mọi hành vi, cử chỉ, tập an tịnh nhẹ nhàng, dịu dàng, nhu nhuyến, mềm mại, tâm mình thật dễ sử dụng. Giống như bột làm bánh, muốn làm bánh tròn, bánh vuông cũng được, bánh hình tam giác, hình thoi, lục giác… Tâm thật bình an, an trú cảm giác toàn thân là ở nơi cảm giác toàn thân, không chạy lung tung. Chánh niệm trước mặt tỏa rực, tỏa sáng và mình trú trong nội tâm tịnh giác, lúc đó tất cả thọ, tử, hành đều không qua mặt được mình. Trú trong một cái tâm từ là dào dạt một tình thương, bao la, thênh thang, bi mẫn. Thật là một cái tâm hiền, thiện, nhu nhuyến mềm mại và dễ sử dụng! Thật là tuyệt vời một cái tâm tu tập! Tâm không tu tập là nó sẽ cứng cỏi, ương ngạnh, khó nói, khó nghe, khó dạy, khó bảo, khó chịu. Ai chạm nhẹ cũng sừng sộ, phẫn nộ, sân hận. Đức Phật gọi đó là tâm vết thương của phàm phu, chạm tới là giật lên, la lên, tâm của người bị thương, tâm của người khuyết tật, bệnh hoạn, tâm bệnh. Còn tâm khỏe mạnh, vững mạnh sẵn sàng đón nhận tất cả những mũi tên, Đức Thế Tôn nói Ngài như voi giữa trận hứng chịu bao nhiêu mũi tên.
Thế giới sống ác có rất nhiều người mà giữa cuộc đời Ngài sống bình an, thanh tịnh bất động. Chỗ tối thượng, cốt lõi của giáo pháp này là mặc bên ngoài có chuyện gì, mình chỉ việc quay trở lại thân tâm nhiếp phục cảm thọ, giáo dục huấn luyện những tưởng hành, cảm giác nghĩ tưởng đó, làm chủ và nhiếp phục, chế ngự nó. Đó là sức mạnh của tự thân, cũng là hải đảo của tự thân, cũng là nương tựa chính mình chớ có nương tựa một điều gì khác. Đó là tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình soi sáng, tức là một sự quay trở về tu tập các dòng cảm thọ, cảm xúc, các tưởng, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ.
Tuyệt vời, tuyệt diệu thù thắng tối thượng, một pháp tu, lối tu mà Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho chúng ta, không phải hướng ngoại cầu xin, van xin ai hết, mà là chính mình nhiếp phục tự thân và tự mình chứng ngộ được sự giải thoát, an lạc. Từ cái tâm dữ mà trở thành hiền, thiện, lành, tự mình thấy mình biết trong tâm của mình. Chúng ta có thấy cái tâm hiền ra không? Từ khi lên núi đến giờ có thấy hiền ra chút đỉnh không? Phải làm cho tâm mình ngày càng hiền, càng ngày càng lành, càng thiện. Mỗi ngày phải thấy được kết quả của sự tu tập tâm này.
Nhiếp phục bản ngã
Như vậy, hai cái sừng của con bò, thứ nhất là hung dữ cần phải được bẻ gãy, nhiếp phục và chế ngự. Thứ hai là bản ngã, cái tôi, cái ta, cái tao, cái mi, cái mình, cái người, cái ngã, ngã sở, cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi. Một cái bản ngã to lớn không tu được, không thể tu được thì phải tập xin lỗi, nhận lỗi, tập xấu hổ với tội lỗi, tập biết lỗi sửa lỗi, hối lỗi. Khi nhìn thấy được điều đó tức là bản ngã đã được nhiếp phục, còn nếu không thì nó đã không nhận lỗi.
Nếu không tu tập, nhiếp phục, không có sự nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục cảm thọ, khi ai có góp ý, chỉ trích gì thì không biết người đó thiện ý hay ác ý là cứ việc phản kháng, chống đối, dùng hết mọi ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm; giống như cầu thủ đá banh, đá qua đá lại. Tại người kia, tại cô kia, chú kia không phải tại con. Đó chính là bản ngã, tráo trở và lật lọng, nó không chịu nhìn lỗi, chính vì chỗ đó mà không thể nào sửa lỗi, giảm lỗi, hết lỗi và đi tới chỗ hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện.
Cho nên đầu tiên, phương pháp thứ hai là phải đánh gục bản ngã, nhiếp phục, chế ngự bản ngã này. Phải tập xin lỗi, nhận lỗi, chịu mình có lỗi, nhận thấy mình dở, cảm thấy mình sai, chưa có ra gì hết, đó là bản ngã đã cúi đầu; còn bình thường là không chịu nhận lỗi, lỗi sờ sờ nhưng được nhắc nhở thì hờn giận, phiền não, bào chữa, ngụy biện, quanh co. Thế nên phải tự bắt mình nhận lỗi, xin lỗi, sám hối, mỗi lần sám hối phải lạy đại chúng. Dù có phiền não với người không biết đúng hay sai, nhưng hễ có phiền não có sân, có bản ngã thì mình cũng có sai, ra dập đầu lạy ngay dưới gót chân người mà mình phiền não. Đó là một sự chiến thắng bản ngã, khi có sự nhiếp phục bản ngã, đánh gục bản ngã, giáo dục bản ngã thì mới làm được như vậy, huấn luyện tâm trở nên hết sức ngoan hiền. Khi nhìn thấy bản ngã sanh khởi, phải dạy dỗ, huấn luyện, giáo hóa, đào tạo, cải tạo, giáo dục cho hiền xuống, ngoan lại, dễ dạy, dễ biểu, dễ nghe, dễ thương, dễ tu. Đây là cả một công trình.
Nếu không có nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần, tha thiết, chân thành tu tập thì hai pháp này không thành tựu. Hai pháp này không thành tựu ở mức sâu thì không thể thể nhập vào dòng thánh pháp. Một người còn hung dữ, hung hăng, hung bạo, một người còn bản ngã, ta đây, kiêu ngạo, vênh váo thì làm sao có thể đi vào dòng thánh pháp này. Phải là một người hiền, lành, thiện, đức hạnh, đạo hạnh, đức độ, giới đức khiêm hạ. Giới đức từ đâu mà có? Lời nói thể hiện giới đức; hành động, cử chỉ, oai nghi thể hiện giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh, nết hạnh của một người tu. Những cử chỉ, hành động ở trong sinh hoạt thường nhật, bất cứ mọi lúc mọi nơi, khi chúng ta bị tác động bởi tham, sân, si, bản ngã là lúc mình thấy rõ nhất, còn lúc ngồi trên thiền đường thì không thấy. Nếu không nhìn sâu trong nội tâm thì không thấy sự hoạt động ở trong đó, không có tác ý. Những lúc mình bị chỉ trích, bị những tác động bên ngoài mà mình nổi sân lên, cái ta, sân khởi lên, dục khởi lên. Những lúc đó là lúc mà mình thấy rõ nhất. Cho nên phải tu để không uổng cuộc đời xuất gia của chúng ta, phải thành tựu hai pháp này, đại chúng của chúng ta thành tựu được hai pháp này là đại chúng tinh ba, hiền thiện, từ ái, mọi người sống trong an tịnh, lắng dịu, hiền ngoan, dễ thương, khả ái, tuyệt vời. Phải làm cho bằng được.
Thực tập lạy diệt ngã
Mỗi ngày phải nhớ lạy sám hối diệt ngã, đừng quên. Trong các thời thiền phải có một thời thực tập tâm hiền, tối thiểu là thời chung của đại chúng, còn những người mới, các sư cô mới về tất cả thời thiền đều thực tập tâm hiền và diệt ngã.
Khi thực hành được những pháp này thì tâm mình trở nên đẹp lắm. Không chỉ người ta lên Linh Quy Pháp Ấn để ngắm cổng trời, biển mây, cảnh đẹp mà còn lên để ngắm được chiếc huỳnh y, ngắm được những con người hiền thiện, thoát tục ly trần, nhìn được một đại chúng bình an, từ hòa, từ ái, thật dễ thương, hòa hợp, thật là an lạc. Tu phải đẹp, phải thật là đẹp, làm cho nó tuyệt vời và trên cả tuyệt vời của một chuyến đi xả ly vĩ đại này, chúng ta phải làm cho nó thật đẹp. Dù lúc nào, ở đâu, đối xử với ai phải luôn nhớ hiền, ngoan, dễ chịu, lắng dịu, cảm thông, tha thứ, từ ái, hòa hợp, hoan hỷ, nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm.
Lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc, Đức Phật gọi là không sầu giữa sầu muộn. Những người chạy theo tham, sân, si, cái tâm hung dữ, hung hăng, cái bản ngã to lớn họ sầu đau khổ sở nhưng mình sống giữa đời sống không sầu, vô ưu, chói sáng giữa quyến thuộc, luôn thường hưởng được an lạc, đời sau sanh cõi lành, giải thoát mọi khổ đau. Còn gì tuyệt vời bằng Thánh Pháp này, còn gì vui sướng bằng, còn con đường nào quang minh sáng lạn hơn con đường này nữa. Những tâm hiền, thiện gặp nhau, những con người hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền lành, hiền dịu cùng tụ hội lại với nhau, đó là những thiện nhân, thượng thiện nhân, thượng hiền. Tu rất dễ thương, tâm rất là dễ nghe, dễ huấn luyện, dễ dạy, tâm của mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, hết sức hiền, cái tâm bẻ hai cái sừng, cái tâm bất cứ lúc nào cũng sụp xuống lạy tất cả mọi người dầu cho người thấp kém nhất.
Những người phiền não với nhau hãy tập lạy nhau, mỗi buổi công phu tối về lạy nhau mới ngủ, đại chúng có hoan hỷ không? Lạy Phật xong, lạy Pháp xong rồi lạy Tăng, chính người đối diện với mình lạy chân thành cung kính tha thiết, phải quán chiếu về bản ngã, không phải lạy hình thức. Hình thức là tốt rồi nhưng phải đi sâu vào nội dung cho đầy đủ, lạy cho đầu chạm ngay mũi chân của người đứng phía trước đứng yên, xong rồi người đó lạy lại người kia, hai người lạy nhau, hoan hỷ không? Cái này con đã có dự ý từ lâu, đại chúng hoan hỷ đồng ý không? Tập lạy nhau, cung kính nhau, tập hạ thấp bản ngã. Nhất là người nào có phiền não là tối đó phải lạy cho nhiều.
Bất cứ một người nào xài xể, chê bai, mắng nhiếc mình, dù cho đó là một người hết sức thấp hèn, mình sẵn sàng quỳ hai đầu gối xuống, nói với họ những lời chân thành: Con xin lỗi, xin sám hối, con còn cấu uế, lậu hoặc, uế nhiễm, con xin sư tỷ, sư muội tha thứ. Con rất là xấu hổ, nhục nhã. Con sẽ cố gắng tẩy sạch, gội rửa cái này. Xin hứa sẽ cố gắng làm một người hiền, hiền nhân, hiền giả, hiền thiện. Con xấu hổ, tủi hổ, tủi nhục, tủi thân, tủi phận mình đi tu đến giờ này cái tâm vẫn còn hung dữ, ngang ngạnh, cứng cỏi như vậy, cang cường như vậy, xin hãy thương xót con, cảm thông, tha thứ cho con, trải tâm từ đến con. Con muốn, rất muốn và tha thiết trở thành một hiền nhân, con sẽ lạy người, buông xả cái tâm, bản ngã, cái tâm hơn thua này, tâm ganh tị, đố kỵ, nhân ngã này. Con xin xả ra, ói mửa, khạc nhổ nó ra để thân tâm được trong sạch, thanh tịnh để thể nhập vào dòng Thánh pháp thần diệu, vi diệu, thù diệu, thắng diệu, thượng diệu, tối diệu này. Nhất định, Nhất định, Nhất định! Trong đời này con phải thể nhập vào dòng pháp tối thượng, thần diệu này.
Lạy xuống một cách chân thành. Không những lạy huynh đệ của mình, những người thấp kém lạy xuống. Lạy để con diệt bản ngã này, cái tôi, cái ta, diệt thủ phạm sầu, bi, khổ, ưu não này, cho con buông xả cái bản ngã ác độc, quái ác, tai nạn hiểm nạn hoạn nạn hiểm nạn ách nạn nguy nan. Lạy xuống bằng tất cả tấm lòng, sự cung kính, thiết tha chân thành tu học Thánh pháp. Con xin lạy, xin đảnh lễ đại chúng.
Sau những lời phát lồ sám hối của sư cô, xin đại chúng chứng minh cho cô gội rửa những cấu uế để từ đây về sau, biết quay lại chính mình, không trách hờn các thầy các bậc đạo sư, mà trách chính cấu uế của mình. Cô nói theo: Con nguyện từ đây về sau, không hờn trách các bậc đạo sư, quay lại thân tâm mình, nhìn thấy những cấu nhiễm rác bẩn để gội rửa tẩy sạch, con nguyện sẽ làm mới, sống với một nội tâm hiền lành, từ hòa, từ ái, cung kính tất cả. Con nguyện tu tập tâm lắng dịu, dễ chịu, tâm từ hòa, từ ái, con nguyện cảm thông với nỗi khổ đau của mình và nỗi khổ đau của những người khác. Con nguyện thực tập tình thương đối với chính mình, từ nay về sau sẽ biết thương mình thật sự. Con nguyện từ nay về sau sẽ thương thật nhiều chính mình, nhiếp phục những cảm thọ tham, sân, si, bản ngã; con nguyện suy nghĩ từ ái, nói lời từ ái, hành động từ ái, sống hòa hợp với đại chúng, hoan hỷ với mọi người như nước với sữa, nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp thanh tịnh tối thượng này, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp tối thượng này, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp tối thượng thù thắng này.
Pháp sẽ nối kết chúng ta khắp trời đất này, khi có Pháp thì không có gì chướng ngại hết để đại chúng trải tâm từ.
./.
GIỚI ĐỨC CỦA NGƯỜI TU HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM HẠ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tu tập hiền tâm PAGEREF _Toc112607604 \h 1
II.Nhiếp phục bản ngã PAGEREF _Toc112607605 \h 8
III. Thực tập lạy diệt ngã PAGEREF _Toc112607606 \h 9
Tu tập hiền tâm
Sau đây là bài kinh “Cung kính” và kinh “Siva”, trong Tương Ưng Bộ - tập 1.
Chư Phật thời quá khứ,
Chư Phật thời vị lai,
Và đức Phật hiện tại,
Đoạn sầu muộn nhiều người.
Tất cả các vị ấy,
Đã, đang và sẽ sống,
Cung kính và tôn trọng,
Pháp chơn chánh vi diệu,
Pháp nhĩ là như vậy,
Đối với chư Phật-đà.
Do vậy, muốn lợi ích,
Ước vọng làm Đại nhân,
Hãy cung kính, tôn trọng
Pháp chơn chánh vi diệu,
Hãy ghi nhớ giáo pháp,
Chư Phật Chánh Đẳng Giác.
(Tương Ưng Bộ Kinh - tập I, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, bài kinh Cung kính)
***
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Được tuệ không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn,
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu Pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
(Tương Ưng Bộ Kinh - tập I, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, bài kinh Siva)
Buổi chia sẻ hôm nay, Minh Thành muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của giới hạnh, đạo hạnh, đức hạnh của một người tu. Nhất là đối với những Phật tử về đây tu học và các sư cô mới vừa bước vào vòng Pháp này và toàn thể người xuất gia chúng ta, đây là điều tuyệt đối quan trọng,
Hãy thân với người lành, hãy gần gũi người thiện, biết được diệu Pháp người hiền, chỉ tốt hơn không xấu, được trí tuệ, không sầu muộn giữa những người khổ đau, chói sáng giữa bà con, quyến thuộc.
Sau khi mạng chung qua đời được sanh về cõi lành, ngay hiện tại thường hưởng được sự an vui, an lạc, an bình, cuối cùng là giải thoát hết tất cả mọi khổ đau. Những vị mới về hãy nhìn tấm gương của các sư cô tu tập lâu năm, trang nghiêm, thanh tịnh, oai nghi như thế nào, phải nhìn để tu học. Nếu mình không tu học, không để tâm về oai nghi, nết hạnh, không khéo làm phiền nhiễu hội chúng thanh tịnh, phải tập hiền, thiện, lành.
Chúng ta thấy trong bài kinh Siva, Đức Phật dùng người lành, thiện, hiền: Hãy thân cận, hãy gần gũi với người lành, người thiện, người hiền, như vậy tốt hơn không xấu. Đại chúng của chúng ta là những người hiền lành, những người chân thành tu học, để nhìn, cố gắng nhiếp phục những thói quen, tập khí, thô tháo, thô kệch, thô bỉ, của phàm phu, phàm tình, phàm tục, phàm mê; phải đặt mình vào trong oai nghi, giới hạnh, phải thường xuyên và liên tục luyện tâm hiền, thường xuyên và liên tục tác ý, niệm tâm hiền, nguyện làm một người lành, người thiện, người hiền; thường tác ý như vậy nhắc nhở mình, tưới tẩm, nuôi dưỡng những chất liệu của một người hiền, thiện ở trong thân tâm của mình. Một chất liệu hiền thiện, hiền lành, hiền hoà, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền nhân. Khi mình phát ra lời nói, hành động đậm chất của một hiền giả. Chúng ta đọc trong kinh, thấy đầy rẫy những danh từ: Hiền giả, bậc hiền giả. Đây là điều tuyệt đối quan trọng,
Hiền giả là biểu hiện lên rằng người tu tâm phải là một cái tâm hiền lương, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền dịu, hiền thiện, hiền lành nên phải thường xuyên và liên tục niệm cái tâm hiền này. Hiền nha, thiện nha, lành nha, ngoan nha, lắng dịu nha, dễ chịu nha!
Như vậy, hàng ngày mình được huấn tập, tưới tẩm, được những thức ăn thực dưỡng của hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức thì tự nhiên những suy nghĩ cũng sẽ hiền, những lời nói, hành động, ngôn ngữ, cử chỉ sẽ thêm hoà kính, từ ái. Cái gì cũng phải có nhân - quả, không phải tự nhiên mình biến thành một người hiền được. Đừng nghĩ mình tu là hiền, khi có ai chạm tới thì có hiền không? Bình thường thấy hiền tới khi có chuyện gì chạm tới có hiền không? Hay mất đi hết mọi sự hiền lành? Như vậy, vì cái chất hiền trong tâm chưa được đầy đủ, sung mãn cho nên phải tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, tu tập, làm cho quảng đại, làm thành cỗ xe, thành căn cứ địa, làm sao cho từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông, cọng tóc phải đậm chất của một hiền giả, hiền nhân.
Luôn luôn tự nhắc nhở mình, nhất là những khi gặp chuyện khó chịu, bực bội, bị chỉ trích thì càng phải tác ý nhiều để nhiếp phục cơn sân giận đó. Mọi lúc mọi nơi đều phải xem lại dáng đi, cách nói chuyện, làm việc, hành động có hiền chưa? Có an tịnh, nhẹ nhàng, lắng dịu không? Ví dụ, dọn dẹp mà làm thau, muỗng, tô kêu rầm rầm thì như vậy là chưa có hiền. Lâu lâu Minh Thành vẫn còn nghe dưới nhà bếp có nhiều tiếng ồn, tất cả những chỗ này chính là bài thực tập của chúng ta. Trong suy nghĩ, mình xem thử có hiền hay không? Nếu không hiền, còn hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung tàn, hung dữ, hung hãn thì phải huấn luyện, dạy dỗ, rèn luyện, tu tập, giáo dục tư tưởng những suy nghĩ này. Khi có gì bực bội, khó chịu, sân giận, cảm giác trở nên hung hăng thì phải huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, cải tạo, cải cách, cải thiện, hoàn thiện, làm cho cảm giác được “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào”. Những câu này không phải chỉ nói suông trên miệng mà cần thực tập những cảm giác hiền thiện, ngọt ngào hàng ngày, hàng giờ.
Đức Thế Tôn dạy, phải nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm. Đây là bài mấu chốt quan trọng phải học thuộc lòng. Trong sinh hoạt người xuất gia, từ nơi thân, miệng, ý mình đã sống hoà hợp chưa? Những suy nghĩ có hoà hợp, hoà kính, hoà ái, tương thân, tương ái đi đến nhất trí không? Có như nước với sữa hoà hợp, hoan hỷ, không tranh cãi với nhau không? Có sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm hay không? Lấy những điều này làm đề mục để tu tập, thực tập liên tục nhiều lần trong mùa An cư kiết hạ, chứ không phải một bài kinh học qua rồi thôi. Thực tập tâm hiền, suy nghĩ từ bi, lời nói từ ái, hành động từ ái, thực tập tâm hoà hợp, cung kính, hoan hỷ, thực tập nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm, chỉ tốt hơn không xấu. Thực tập như vậy sẽ không có sầu muộn giữa những người sầu muộn, sẽ được chói sáng giữa những quyến thuộc bà con.
Đại chúng có nhìn thấy cha mẹ, chú thím, cô bác, anh em của Minh Thành, dù con ở chỗ núi rừng xa xôi hàng 400, 500 cây số vẫn trở về quây quanh không? Thực tập Pháp này sẽ được chói sáng giữa quyến thuộc, rực sáng giữa bà con, bừng sáng giữa bóng đêm, tỏa sáng giữa núi rừng hoang vu và xa vắng. Thực tập tâm hiền, tâm từ này chúng sanh sẽ thường hưởng an lạc, bình an, hạnh phúc, vui vẻ, vui sướng. Tuyệt vời, chúng sanh sẽ được sinh ở cõi lành, giải thoát mọi khổ đau.
Phải để ý lời ăn tiếng nói, dù tu ở đâu thì khẩu nghiệp cũng phải từ hoà. Trong giới luật có mười giới, riêng về cái miệng đã có bốn giới, chiếm 40%. Cho nên chúng ta thường nghe “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, bệnh từ miệng vào, hoạ từ miệng phát ra. Trong Tiểu kinh rừng Sừng bò, ba vị Tôn giả không nói chuyện, năm ngày tụ hội một lần Pháp đàm, đàm đạo suốt thâu đêm suốt sáng, các ngài được an lạc. Chúng ta chưa được tịnh khẩu hoàn toàn nhưng phải tập những gì cần nói thì nói, ngoài ra chỉ nói Pháp, không nói lung tung. Nếu chuyện gì cũng nói, gặp gì, thấy gì cũng nói là một hồi có chuyện xảy ra, mà cũng không phải tâm hiền. Tu cái miệng trở thành kim khẩu - miệng vàng. Miệng trở thành hoa sen, nói ra là Chánh pháp, trí tuệ và tình thương, nói ra là từ ái, cảm thông, bao dung, là ban vô vi cứu khổ.
Chúng ta khổ từ nơi đâu? Có phải phần lớn là từ nơi mình nói không? Cho nên trước khi nói suy xét, lời này là thiện hay bất thiện, lợi mình lợi người hay là có hại. Lời này là chánh pháp hay phi pháp, lời này cần nói hay không cần phải nói, lời này đem lại an lạc hay đem lại phiền não cho nhau. Suy xét trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói, điều đó Đức Phật gọi là Pháp soi gương. Soi gương nội tâm, hàng ngày phải soi gương, soi tâm. Phải thực tập oai nghi hành động, mọi cái của mình nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, không phải lúc nào có mặt mình cũng ồn ào, lúc nào cũng xao động, dao động, lăng xăng, trong năm triền cái thì đó là trạo cử, trạo hối, không an tịnh, không thanh tịnh, dao động, lăng xăng, lóc chóc, lao xao, vội vội vàng vàng, không an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, trầm mặc. Thế Tôn là bậc an tịnh, nói Pháp là dẫn dắt chúng sanh đạt đến an tịnh.
Mọi cử chỉ động tác phải tập niệm oai nghi từ ánh mắt, chỉ tay, bước chân, mọi động tác phải tuệ tri; phải rõ biết, được thắp sáng với một ánh sáng của trí tuệ, lúc nào cũng phải rực sáng, chói sáng và bừng sáng trong trí tuệ. Nhẹ nhàng, dịu dàng, an tịnh, trầm mặc, tĩnh lặng, hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, dễ thương, dễ nói, dễ nghe. Tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, ngọt ngào, dễ thương, mát mẻ, mát dịu. Nếu không được tu tập đúng cách, để tâm, huấn luyện thì cái tâm của mình rất cứng cỏi, ương ngạnh, khó huấn luyện, khó dạy, khó bảo, khó nói. Tôn giả Xá Lợi Phất nói tâm này giống như con bò bị cưa cái sừng, đó là tâm của bậc Thánh. Vì chỗ hung hăng nhất của con bò là hai cái sừng mà bị cưa, như vậy mới trở thành tâm hiền, tâm Thánh. Tự xem lại cái sừng của mình còn không?
Trong sự tu tập của chúng ta, hai Pháp tuyệt đối quan trọng là tâm hiền và diệt ngã. Nếu hai pháp này không được tu tập một cách sâu sắc thì không thể nào chúng ta vào dòng Pháp này được. Cho nên, phải luôn luôn coi lại nội tâm, cái sừng của mình bị bẻ gãy hay chưa, có mòn chưa, kiểm tra hai cái sừng. Nếu còn hung hăng, hung bạo, hung tợn, hung hãn, hung dữ thì phải tu tập thiệt là nhiều, nhiếp phục, chế ngự và đánh gục. Đây là tuyệt đối quan trọng trong sự tu tập đường lối này, mình phải kiểm tra mình là ai. Đức hạnh của ngài Xá Lợi Phất không phải chỉ nhìn lên để khác ngưỡng đức hạnh của ngài mà mình phải học để làm theo.
Tập tâm như nước, rửa sạch, tẩy sạch hết, cuốn trôi hết tất cả những cấu uế; phải tập tâm như lửa, ai quăng rác bẩn, phân.. thì thiêu đốt, đốt cháy hết không chất chứa những đồ cấu nhiễm đó, dùng lửa trí tuệ đốt hết, đốt để trở thành một người hiền thiện, hiền hòa.
Tập tâm như gió đi qua, không bị vướng mắc bởi lời khen tiếng chê, lời tung hô xưng tán hay lời ủy nhục chê bai, ngọn gió đều đi qua không dừng lại, hàng ngày phải lạy diệt ngã, lạy đức hạnh ngài Xá Lợi Phất, phải bào mòn cái sừng bò, cưa cái cặp sừng bén nhọn, từ từ bẻ gãy cặp sừng đó làm cho mình trở thành một con người thiệt là hiền hòa, từ ái, làm đứa con ngoan ngoãn của Đức Thế Tôn.
Trong mọi hành vi, cử chỉ, tập an tịnh nhẹ nhàng, dịu dàng, nhu nhuyến, mềm mại, tâm mình thật dễ sử dụng. Giống như bột làm bánh, muốn làm bánh tròn, bánh vuông cũng được, bánh hình tam giác, hình thoi, lục giác… Tâm thật bình an, an trú cảm giác toàn thân là ở nơi cảm giác toàn thân, không chạy lung tung. Chánh niệm trước mặt tỏa rực, tỏa sáng và mình trú trong nội tâm tịnh giác, lúc đó tất cả thọ, tử, hành đều không qua mặt được mình. Trú trong một cái tâm từ là dào dạt một tình thương, bao la, thênh thang, bi mẫn. Thật là một cái tâm hiền, thiện, nhu nhuyến mềm mại và dễ sử dụng! Thật là tuyệt vời một cái tâm tu tập! Tâm không tu tập là nó sẽ cứng cỏi, ương ngạnh, khó nói, khó nghe, khó dạy, khó bảo, khó chịu. Ai chạm nhẹ cũng sừng sộ, phẫn nộ, sân hận. Đức Phật gọi đó là tâm vết thương của phàm phu, chạm tới là giật lên, la lên, tâm của người bị thương, tâm của người khuyết tật, bệnh hoạn, tâm bệnh. Còn tâm khỏe mạnh, vững mạnh sẵn sàng đón nhận tất cả những mũi tên, Đức Thế Tôn nói Ngài như voi giữa trận hứng chịu bao nhiêu mũi tên.
Thế giới sống ác có rất nhiều người mà giữa cuộc đời Ngài sống bình an, thanh tịnh bất động. Chỗ tối thượng, cốt lõi của giáo pháp này là mặc bên ngoài có chuyện gì, mình chỉ việc quay trở lại thân tâm nhiếp phục cảm thọ, giáo dục huấn luyện những tưởng hành, cảm giác nghĩ tưởng đó, làm chủ và nhiếp phục, chế ngự nó. Đó là sức mạnh của tự thân, cũng là hải đảo của tự thân, cũng là nương tựa chính mình chớ có nương tựa một điều gì khác. Đó là tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình soi sáng, tức là một sự quay trở về tu tập các dòng cảm thọ, cảm xúc, các tưởng, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ.
Tuyệt vời, tuyệt diệu thù thắng tối thượng, một pháp tu, lối tu mà Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho chúng ta, không phải hướng ngoại cầu xin, van xin ai hết, mà là chính mình nhiếp phục tự thân và tự mình chứng ngộ được sự giải thoát, an lạc. Từ cái tâm dữ mà trở thành hiền, thiện, lành, tự mình thấy mình biết trong tâm của mình. Chúng ta có thấy cái tâm hiền ra không? Từ khi lên núi đến giờ có thấy hiền ra chút đỉnh không? Phải làm cho tâm mình ngày càng hiền, càng ngày càng lành, càng thiện. Mỗi ngày phải thấy được kết quả của sự tu tập tâm này.
Nhiếp phục bản ngã
Như vậy, hai cái sừng của con bò, thứ nhất là hung dữ cần phải được bẻ gãy, nhiếp phục và chế ngự. Thứ hai là bản ngã, cái tôi, cái ta, cái tao, cái mi, cái mình, cái người, cái ngã, ngã sở, cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi. Một cái bản ngã to lớn không tu được, không thể tu được thì phải tập xin lỗi, nhận lỗi, tập xấu hổ với tội lỗi, tập biết lỗi sửa lỗi, hối lỗi. Khi nhìn thấy được điều đó tức là bản ngã đã được nhiếp phục, còn nếu không thì nó đã không nhận lỗi.
Nếu không tu tập, nhiếp phục, không có sự nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục cảm thọ, khi ai có góp ý, chỉ trích gì thì không biết người đó thiện ý hay ác ý là cứ việc phản kháng, chống đối, dùng hết mọi ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm; giống như cầu thủ đá banh, đá qua đá lại. Tại người kia, tại cô kia, chú kia không phải tại con. Đó chính là bản ngã, tráo trở và lật lọng, nó không chịu nhìn lỗi, chính vì chỗ đó mà không thể nào sửa lỗi, giảm lỗi, hết lỗi và đi tới chỗ hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện.
Cho nên đầu tiên, phương pháp thứ hai là phải đánh gục bản ngã, nhiếp phục, chế ngự bản ngã này. Phải tập xin lỗi, nhận lỗi, chịu mình có lỗi, nhận thấy mình dở, cảm thấy mình sai, chưa có ra gì hết, đó là bản ngã đã cúi đầu; còn bình thường là không chịu nhận lỗi, lỗi sờ sờ nhưng được nhắc nhở thì hờn giận, phiền não, bào chữa, ngụy biện, quanh co. Thế nên phải tự bắt mình nhận lỗi, xin lỗi, sám hối, mỗi lần sám hối phải lạy đại chúng. Dù có phiền não với người không biết đúng hay sai, nhưng hễ có phiền não có sân, có bản ngã thì mình cũng có sai, ra dập đầu lạy ngay dưới gót chân người mà mình phiền não. Đó là một sự chiến thắng bản ngã, khi có sự nhiếp phục bản ngã, đánh gục bản ngã, giáo dục bản ngã thì mới làm được như vậy, huấn luyện tâm trở nên hết sức ngoan hiền. Khi nhìn thấy bản ngã sanh khởi, phải dạy dỗ, huấn luyện, giáo hóa, đào tạo, cải tạo, giáo dục cho hiền xuống, ngoan lại, dễ dạy, dễ biểu, dễ nghe, dễ thương, dễ tu. Đây là cả một công trình.
Nếu không có nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần, tha thiết, chân thành tu tập thì hai pháp này không thành tựu. Hai pháp này không thành tựu ở mức sâu thì không thể thể nhập vào dòng thánh pháp. Một người còn hung dữ, hung hăng, hung bạo, một người còn bản ngã, ta đây, kiêu ngạo, vênh váo thì làm sao có thể đi vào dòng thánh pháp này. Phải là một người hiền, lành, thiện, đức hạnh, đạo hạnh, đức độ, giới đức khiêm hạ. Giới đức từ đâu mà có? Lời nói thể hiện giới đức; hành động, cử chỉ, oai nghi thể hiện giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh, nết hạnh của một người tu. Những cử chỉ, hành động ở trong sinh hoạt thường nhật, bất cứ mọi lúc mọi nơi, khi chúng ta bị tác động bởi tham, sân, si, bản ngã là lúc mình thấy rõ nhất, còn lúc ngồi trên thiền đường thì không thấy. Nếu không nhìn sâu trong nội tâm thì không thấy sự hoạt động ở trong đó, không có tác ý. Những lúc mình bị chỉ trích, bị những tác động bên ngoài mà mình nổi sân lên, cái ta, sân khởi lên, dục khởi lên. Những lúc đó là lúc mà mình thấy rõ nhất. Cho nên phải tu để không uổng cuộc đời xuất gia của chúng ta, phải thành tựu hai pháp này, đại chúng của chúng ta thành tựu được hai pháp này là đại chúng tinh ba, hiền thiện, từ ái, mọi người sống trong an tịnh, lắng dịu, hiền ngoan, dễ thương, khả ái, tuyệt vời. Phải làm cho bằng được.
Thực tập lạy diệt ngã
Mỗi ngày phải nhớ lạy sám hối diệt ngã, đừng quên. Trong các thời thiền phải có một thời thực tập tâm hiền, tối thiểu là thời chung của đại chúng, còn những người mới, các sư cô mới về tất cả thời thiền đều thực tập tâm hiền và diệt ngã.
Khi thực hành được những pháp này thì tâm mình trở nên đẹp lắm. Không chỉ người ta lên Linh Quy Pháp Ấn để ngắm cổng trời, biển mây, cảnh đẹp mà còn lên để ngắm được chiếc huỳnh y, ngắm được những con người hiền thiện, thoát tục ly trần, nhìn được một đại chúng bình an, từ hòa, từ ái, thật dễ thương, hòa hợp, thật là an lạc. Tu phải đẹp, phải thật là đẹp, làm cho nó tuyệt vời và trên cả tuyệt vời của một chuyến đi xả ly vĩ đại này, chúng ta phải làm cho nó thật đẹp. Dù lúc nào, ở đâu, đối xử với ai phải luôn nhớ hiền, ngoan, dễ chịu, lắng dịu, cảm thông, tha thứ, từ ái, hòa hợp, hoan hỷ, nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm.
Lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc, Đức Phật gọi là không sầu giữa sầu muộn. Những người chạy theo tham, sân, si, cái tâm hung dữ, hung hăng, cái bản ngã to lớn họ sầu đau khổ sở nhưng mình sống giữa đời sống không sầu, vô ưu, chói sáng giữa quyến thuộc, luôn thường hưởng được an lạc, đời sau sanh cõi lành, giải thoát mọi khổ đau. Còn gì tuyệt vời bằng Thánh Pháp này, còn gì vui sướng bằng, còn con đường nào quang minh sáng lạn hơn con đường này nữa. Những tâm hiền, thiện gặp nhau, những con người hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền lương, hiền đức, hiền lành, hiền dịu cùng tụ hội lại với nhau, đó là những thiện nhân, thượng thiện nhân, thượng hiền. Tu rất dễ thương, tâm rất là dễ nghe, dễ huấn luyện, dễ dạy, tâm của mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, hết sức hiền, cái tâm bẻ hai cái sừng, cái tâm bất cứ lúc nào cũng sụp xuống lạy tất cả mọi người dầu cho người thấp kém nhất.
Những người phiền não với nhau hãy tập lạy nhau, mỗi buổi công phu tối về lạy nhau mới ngủ, đại chúng có hoan hỷ không? Lạy Phật xong, lạy Pháp xong rồi lạy Tăng, chính người đối diện với mình lạy chân thành cung kính tha thiết, phải quán chiếu về bản ngã, không phải lạy hình thức. Hình thức là tốt rồi nhưng phải đi sâu vào nội dung cho đầy đủ, lạy cho đầu chạm ngay mũi chân của người đứng phía trước đứng yên, xong rồi người đó lạy lại người kia, hai người lạy nhau, hoan hỷ không? Cái này con đã có dự ý từ lâu, đại chúng hoan hỷ đồng ý không? Tập lạy nhau, cung kính nhau, tập hạ thấp bản ngã. Nhất là người nào có phiền não là tối đó phải lạy cho nhiều.
Bất cứ một người nào xài xể, chê bai, mắng nhiếc mình, dù cho đó là một người hết sức thấp hèn, mình sẵn sàng quỳ hai đầu gối xuống, nói với họ những lời chân thành: Con xin lỗi, xin sám hối, con còn cấu uế, lậu hoặc, uế nhiễm, con xin sư tỷ, sư muội tha thứ. Con rất là xấu hổ, nhục nhã. Con sẽ cố gắng tẩy sạch, gội rửa cái này. Xin hứa sẽ cố gắng làm một người hiền, hiền nhân, hiền giả, hiền thiện. Con xấu hổ, tủi hổ, tủi nhục, tủi thân, tủi phận mình đi tu đến giờ này cái tâm vẫn còn hung dữ, ngang ngạnh, cứng cỏi như vậy, cang cường như vậy, xin hãy thương xót con, cảm thông, tha thứ cho con, trải tâm từ đến con. Con muốn, rất muốn và tha thiết trở thành một hiền nhân, con sẽ lạy người, buông xả cái tâm, bản ngã, cái tâm hơn thua này, tâm ganh tị, đố kỵ, nhân ngã này. Con xin xả ra, ói mửa, khạc nhổ nó ra để thân tâm được trong sạch, thanh tịnh để thể nhập vào dòng Thánh pháp thần diệu, vi diệu, thù diệu, thắng diệu, thượng diệu, tối diệu này. Nhất định, Nhất định, Nhất định! Trong đời này con phải thể nhập vào dòng pháp tối thượng, thần diệu này.
Lạy xuống một cách chân thành. Không những lạy huynh đệ của mình, những người thấp kém lạy xuống. Lạy để con diệt bản ngã này, cái tôi, cái ta, diệt thủ phạm sầu, bi, khổ, ưu não này, cho con buông xả cái bản ngã ác độc, quái ác, tai nạn hiểm nạn hoạn nạn hiểm nạn ách nạn nguy nan. Lạy xuống bằng tất cả tấm lòng, sự cung kính, thiết tha chân thành tu học Thánh pháp. Con xin lạy, xin đảnh lễ đại chúng.
Sau những lời phát lồ sám hối của sư cô, xin đại chúng chứng minh cho cô gội rửa những cấu uế để từ đây về sau, biết quay lại chính mình, không trách hờn các thầy các bậc đạo sư, mà trách chính cấu uế của mình. Cô nói theo: Con nguyện từ đây về sau, không hờn trách các bậc đạo sư, quay lại thân tâm mình, nhìn thấy những cấu nhiễm rác bẩn để gội rửa tẩy sạch, con nguyện sẽ làm mới, sống với một nội tâm hiền lành, từ hòa, từ ái, cung kính tất cả. Con nguyện tu tập tâm lắng dịu, dễ chịu, tâm từ hòa, từ ái, con nguyện cảm thông với nỗi khổ đau của mình và nỗi khổ đau của những người khác. Con nguyện thực tập tình thương đối với chính mình, từ nay về sau sẽ biết thương mình thật sự. Con nguyện từ nay về sau sẽ thương thật nhiều chính mình, nhiếp phục những cảm thọ tham, sân, si, bản ngã; con nguyện suy nghĩ từ ái, nói lời từ ái, hành động từ ái, sống hòa hợp với đại chúng, hoan hỷ với mọi người như nước với sữa, nhìn nhau bằng cặp mắt thiện cảm, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp thanh tịnh tối thượng này, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp tối thượng này, con nguyện sẽ được tham dự vào dòng chánh pháp tối thượng thù thắng này.
Pháp sẽ nối kết chúng ta khắp trời đất này, khi có Pháp thì không có gì chướng ngại hết để đại chúng trải tâm từ.
./.